LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành chương trình học và viết khóa luận tốt nghiệp với đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học và viết khóa luận tốt nghiệp với đề
tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang”, em đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô trường Đại học
Lâm Nghiệp Việt Nam
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cám ơn đến các thầy cô trong khoa quản lý tài nguyên rừng và môi trường.Đặc biệt cám ơn cô giáo TS Nguyễn Thị Thanh An giảng viên khoa quản lý tài nguyên rừng và môi trường đã hết lòng giúp đỡ em trong cả quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này!
Cám ơn bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần – tỉnh Hà Giang và đặc biệt là khoa kiểm soát nhiễm khuẩn của bệnh viện đã tạo điều kiện cho em học tập và đóng góp nhiều ý kiến quý bấu giúp em hoàn thành tốt khóa luận tốt nghiệp này Cuối cùng em xin bày tỏ lòng biết ơn đối với gia đình, bạn bè đã theo sát và giúp
đỡ em trong thời gian qua
Do thời gian và trình độ bản thân còn hạn chế nên khóa luận không thể tránh những thiếu sót, em rất mong nhận được sự chỉ bảo và đóng góp của thầy cô
để bài khóa luận được hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cám ơn!
Hà Nội, ngày 22 tháng 05 năm 2019
Sinh viên
Vàng Thị Nhất
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG
DANH MỤC CÁC HÌNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Các khái niệm cơ bản 3
1.2 Phân loại chất thải y tế 4
1.2.1 Chất thải lây nhiễm 4
1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại 4
1.2.4 Bình chứa áp suất 5
1.2.5 Chất thải thông thường 5
1.3 Thành phần và nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 5
1.3.1 Thành phần 5
1.3.2 Nguồn phát sinh 7
1.4 Ảnh hưởng của chất thải y tế 8
1.4.1 Đối với con người 8
1.4.2 Đối với môi trường 11
1.4.2.1 Đối với môi trường không khí 11
1.5 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn 12
1.5.1 Cơ sở pháp lý quản lý chất thải rắn y tế 12
1.6 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 15
1.6.1 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới 15
1.6.2 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế ở Việt Nam 16
PHẦN 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
2.1 Mục tiêu 19
2.1.1 Mục tiêu chung 19
Trang 32.1.2 Mục tiêu cụ thể 19
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 19
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu 19
2.3 Nội dung nghiên cứu 19
2.4 Phương pháp nghiên cứu 20
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liêu 20
2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu ngoại nghiệp 20
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 22
2.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp 23
PHẦN 3 ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN XÍN MẦN - TỈNH HÀ GIANG 24
3.1 Giới thiệu chung về bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần 24
3.2 Chức năng,nhiệm vụ của bệnh viện [13] 24
3.3 Quy mô hoạt động của bệnh viện 25
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 26
4.1 Đặc điểm chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang 26
4.1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế 26
4.1.2 Khối lượng và thành phần của chất thải rắn y tế bệnh viện Đa khoa huyện Xín-tỉnh Hà Giang 29
4.2 Thực trạng công tác quản lý, thu gom, vận chuyển, xử lý và tái chế chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần 31
4.2.1 Quy trình quản lý chất thải rắn y tế áp dụng tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 31
4.2.2 Công tác thu gom và phân loại chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần 32
4.3 Đánh giá nhận thức của cán bộ y tế, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, người dân xung quanh về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 38
Trang 44.3.1 Đánh giá nhận thức của cán bộ y tế về công tác quản lý chất thải rắn y tế
của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 38
4.3.2 Đánh giá nhận thức của bệnh nhân và người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 43
4.3.3 Đánh giá nhận thức của cộng đồng về công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 46
4.3.4 Đánh giá chung về công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang 48
4.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả xử lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 49 4.4.1 Giải pháp về chính sách 49
4.4.2 Giải pháp về thiết bị, dụng cụ 49
PHẦN 5 KẾT LUẬN-TỒN TẠI-KIẾN NGHỊ 50
5.1 Kết luận 50
5.2 Tồn tại 50
5.3 Kiến nghị 51 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Thành phần chất thải rắn y tế 6
Bảng 1.2: Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam 7
Bảng 1 3: Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn y tế 8
Bảng 1.4 Lượng chất thải phát sinh trong các khoa tại bệnh viện[10] 14
Bảng 1.5 Lượng chất thải phát sinh tại các bệnh viện 14
Bảng 4.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế 26
Bảng 4.2 Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các khoa trong 3 ngày (ngày 02,04,06 tháng 04 năm 2019) 27
Bảng 4.3 Thống kê lượng CTRYT qua các năm của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang 29
Bảng 4.4 Khối lượng chất thải rắn y tế qua các tháng 1,2,3 năm 2019 30
Bảng 4.5 Khối lượng chất thải rắn y tế thông thường phát sinh tại bệnh viện Đa khao huyện Xín Mần 32
Bảng 4.6 Phân loại chất thải rắn y tế bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 33
Bảng 4.7 Công tác xử lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang 37
Bảng 4.8 Kết quả điều tra phỏng vấn đối với cán bộ y tế(n=15) 39
Bảng 4.9 Kết quả điều tra phỏng vấn đối với bệnh nhân và người nhà bệnh nhân (n=15) 43
Bảng 4.10 Kết quả điều tra phỏng vấn đối với người dân xung quanh bệnh viện(n=10) 47
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 3.1 Bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 24
Hình 4.1 Sơ đồ phát sinh CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần 26
Hình 4.2 Lượng rác thải bình quân/ngày tại các khoa đo đếm được 28
Hình 4.3.Bảng hướng dẫn phân loại CTRYT 35
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, vấn đề môi trường đang là mối quan tâm hàng đầu của toàn nhân loại Sự phát triển vượt bậc của xã hội và khoa học kỹ thuật nhằm đáp ứng các nhu cầu ngày càng cao của con người đã làm cho môi trường sống của chúng ta đang xấu dần đi Thiên tai, lũ lụt, cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên….Xảy ra thường xuyên, nghiêm trọng hơn, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người Đứng trước hiện trạng môi trường sống đang bị suy thoái, sức khỏe của con người cũng bị đe dọa Nhiều bệnh viện đã được thành lập nhằm phục vụ cho nhu cầu chăm sóc sức khỏe cho người dân và gặt hái được nhiều kết quả tốt đẹp Vì thế mà công tác khám chữa bệnh ngày càng phát triển
và được chú trọng nhiều hơn Trong các bệnh viện cũng đang dần bổ sung thêm các thiết bị mới, ký thuật cao và hiện đại hơn phục vụ cho nhu cầu khám chữa bệnh của nhân dân
Cùng với sự phát triển và nhiều sự đóng góp tích cực của các bệnh viện đã thải ra môi trường những chât thải phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh, xét nghiệm, phẫu thuật, sinh hoạt của bệnh nhân, Đó là vấn đề môi trường hiện nay tại các bệnh viện là bài toán khó cho các cơ quan chức năng Chất thải nói chung và chất thải rắn nói riêng tại các bệnh viện hầu hết vẫn chưa được xử lý, nên không đạt tiêu chuẩn, cũng như chưa có chiến lược quản lý một cách có hiệu quả Trong thời gian gần đây, hầu hết các bệnh viện đã xử lý chất thải rắn nhưng bên cạnh đó công tác xử lý và quản lý chất thải rắn vẫn còn nhiều hạn chế ở các tuyến bệnh viện Các loại chất thải dạng rắn,chất thải rắn nguy hại,lỏng hoặc khí
có chứa các chất hữu cơ,nhiễm mầm bệnh gây ô nhiễm,bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện,ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người
Bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang đã được hình thành và phát triển mạnh trong những năm qua đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng mà bệnh viện đã đạt được những thành quả đáng kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho người dân Bên cạnh đó
Trang 9thì chất thải rắn y tế (CTRYT) được thải ra với khối lượng lớn, việc phát sinh và thải bỏ CTRYT nếu không được kiểm soát chặt chẽ sẽ gây nguy hại môi trường xung quanh và sức khỏe con người
Từ những mối nguy hại đó, chúng ta cần có những biện pháp hữu hiệu để nâng cao nhận thức của cộng đồng nói chung và nhân viên y tế nói riêng về những nguy cơ đó,nâng cao năng lực tổ chức, trách nhiệm và từng bước hoàn thiện hệ thống quản lý chất thải cũng như nâng cao chất lượng cảnh quan vệ sinh cho bệnh viện Vì vậy, việc đánh giá hiệu quả quản lý cụ thể hơn là chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang, kết hợp với quá trình giám sát thực tế giúp tìm hiểu những thiếu sót còn tồn tại trong công tác quản lý hiện nay của bệnh viện, góp phần làm tăng hiểu biết và nâng cao ý thức cũng như chất lượng điều trị, giảm tị lệ nhiễm khuẩn và rủi ro bệnh nghề nghiệp cho nhân viên
y tế Để góp phần giải quyết một phần nội dung trên tôi lựa chọn đề tài “Nghiên cứu đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang” với mong
muốn góp phần bảo vệ môi trường và hạn chế do CTRYT gây ra
Trang 10PHẦN 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm cơ bản
Chất thải y tế(CTYT): là chất thải ở dạng rắn phát sinh trong các cơ sở y
tế từ các hoạt động khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động nghiên cứu và đào
tạo về y học[2]
Chất thải y tế không nguy hại: là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, đễ cháy, dễ nổ CTRYT không nguy hại có thể bao gồm các vật liệu, bao gói: giấy, thùng carton, chai nhựa, chai thủy tinh không ô nhiễm,… Có nguồn gốc phát sinh từ các khu hành chính, từ các khoa, phòng không cách ly trong cơ sở y tế Đối với loại chất thải này không cần lưu trữ
và xử lý đặc biệt, nhưng để bảo vệ môi trường và cộng đồng, chúng cần thu gom
và xử lý phù hợp[2]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải có một trong các thành phần nhời: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết; các bộ phận hoặc cơ quan của người, động vật; bơm kim tiêm và các vật sắc nhọn; dược phẩm; hóa chất và các chất phóng xạ dùng trong y tế Nếu những chất thải này không được tiêu hủy sẽ gây nguy hại trực tiếp hoặc gián tiếp tới môi trường và sức khỏe con người[2]
Chất thải rắn (CTR): được hiểu là tất cả các chất thải phát sinh trong quá trình hoạt động của con người và động vật ở dạng rắn, được thải bỏ khi không
còn hữu dụng hay không còn dùng nữa[2]
Chất thải nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hóa chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, ăn mòn, dễ lây nhiễm với các đặc tính nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy
hại tới môi trường và sức khỏe con người[2]
Chất thải rắn y tế: được định nghĩa theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT bao gồm tất cả các CTRYT của Tổ chức y tế Thế Giới-WHO thêm vào đó bao gồm cả những chất thải có nguồn gốc từ các nguồn nhỏ hơn, như: khám chữa bệnh, chăm
sóc, xét nghiệm, nghiên cứu và đào tạo về y học[2]
Trang 11 Quản lý chất thải y tế: là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái chế, xử lý tiêu hủy chất thải y tế và kiểm
tra,giám sát, thực hiện[2]
1.2 Phân loại chất thải y tế
Khoảng 75-90% chất thải bệnh viện là chất thải thông thường,tương tự như chất thải sinh hoạt Căn cứ theo quy chế của Bộ y tế số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2017 về việc ban hành quy chế quản lý chất thải y tế chất thải y tế
được chia làm 5 nhóm sau[3]:
1.2.1 Chất thải lây nhiễm
Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật
1.2.2 Chất thải hóa học nguy hại
Dược phẩm quán hạn, kém phẩm chất không có còn khả năng sử dụng
Chất hóa học sử dụng nguy hại sử dụng tromg y tế
Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh điều trị bằng hóa trị liệu
Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân
bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa, cacdimi (Cd) ( từ pin, ắc quy), chì (Pb) (
từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chí sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
Trang 121.2.3 Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuấ
Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chuẩn đoán và điều trị kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT Ngày 24 tháng 10 năm 2006
của bộ trưởng bộ y tế[11]
1.2.4 Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng oxy, CO₂, Bình gas, bình khi dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
1.2.5 Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất chất thải không chứa các yêu tố lây nhiễm, hóa hoc nguy hai, phóng xạ, dễ cháy, nổ bao gồm:
Chất thải phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dinh máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đụng phim
Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu ngoại cảnh
1.3 Thành phần và nguồn phát sinh chất thải rắn y tế
1.3.1 Thành phần
Hầu hết các CTRYT là các chất thải sinh học độc hại và mang tính đặc thù so với các loại chất thải khác Xét về các thành phần chất thải dựa trên đặc tính lý hóa thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm 25% tổng lượng CTRYT như giấy, bìa, các vật liệu nhựa, thủy tinh,… chưa kể 52 % CTRYT là các chất hữu cơ Trong thành phần CTRYT có lượng lớn chất hữu
cơ và thường có độ ẩm tương đối cao, ngoài ra còn có thành phần chất nhựa chiếm khoảng 10%, vì vậy khi lựa chọn công nghệ thiêu đốt cần lưu ý đốt triệt
để và không phát sinh khí độc hại
Trang 13Thành phần và khối lƣợng của từng loại CTRYT có đặc trƣng theo chức năng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện
1.3.1.1 Thành phần vật lý
- Đồ bông vải sợi gồm: Bông gạc, băng, quần áo cũ, khan lau, vải trải,…
- Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh,…
- Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tính, ống nghiệm,…
- Đồ nhựa: hộp dựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng,…
- Đồ kiêm loại: kiêm tiêm, dao mổ, hộp dựng,…
Theo kết quả điều tra của GS.TS Nguyễn Đức Khiển về quản lý chất thải
rắn nguy hại ở Việt Nam trong bảng 1.1[8]
Chai lọ thủy tinh, xylanh thủy tinh, ống
thuốc thủy tinh
Đất cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,9 Không
Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6
(Nguồn: Quản lý chất thải rắn nguy hại - Nguyễn Đức Khiển)
Trang 14Theo kết quả điều tra trong dự án hợp tác giữa Bộ Y tế và tổ chức
WHO thành phần một số chất thải rắn ở Việt Nam tại bảng 1.2
Bảng 1.2 Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam STT Thành phần rác thải ở bệnh viện Việt Nam Tỷ lệ(%)
3 Thủy tinh,ống tiêm,chai lọ thuốc,bơm kim tiêm nhựa 3,2
(Nguồn: Bộ Y tế,2006) Qua đây ta có thể thấy mức độ nguy hiểm của chất thải rắn là rất cực kỳ cao, gây nguy hiểm trực tiếp cho người tiếp xúc trực tiếp và môi trường xung quanh
Trong đó chất thải hữu cơ chiếm tới 50%, lượng CTRYT nguy hại chiếm 22,6% thấp hơn chất thải hữu cơ tuy nhiên mức độ nguy hại đối với con người
và môi trường mà nó gây ra là rất lớn Ngoài ra lượng CTRYT có thể tái chế, tái sử dụng được cũng tương đối thấp khoảng 5%
Trang 15Bảng 1.3 Nguồn phát sinh các loại chất thải rắn y tế
Chất thải rắn sinh hoạt Nhà bếp, các khu hành chính, từ các giường bệnh,
người nhà chăm bệnh nhân……
Các thành phần thải ra sau khi dùng cho bệnh nhân, các
chất thải từ quá trình lau cọ sàn nhà…
Chất thải rắn đặc biệt
Các loại chất thải độc hại hơn các loại chất thải trên: các chất phóng xạ, hóa chất …được thải từ các khoa khám, chữa bệnh, hoạt động thực nghiệm, khoa
ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí
1.4.1 Đối với con người
Ngày nay, các BV được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người CTYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh qua đường máu cho nhân viên y tế, đặc biệt là sự cố thương tích do chất thải sắc nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm
Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn:Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây
Trang 16bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C, (HCV) và virus HIV,
Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm:CTYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản
lý CTYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong BV Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến BV, nhưng khi đến và làm việc trong BV sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở
Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp
và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các
cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:
Thủy ngân là một chất độc hại trong CTYT Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân, và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ;
Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính
ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn;
Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận;
Trang 17 Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận
Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào:Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một
số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu và viêm
da Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong BV, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền
Chất thải phóng xạ: bên cạnh việc gây ra hàng loạt các triệu chứng cho nười trực tiếp tiếp xúc với chất phóng xạ như đau đầu, ngủ gà, buồn nôn thì chất thải phóng xạ có thể tạc động đến gen từ đó ảnh hưởng đến vật chất duy truyền của con người và gây ra những trường hợp quái thai, di dạng ở thế hệ sau
Tính nhạy cảm của cộng đồng: Bện cạnh việc gây ra những nguy hại về sức khỏe thì cộng đồng rất nhạy cảm với chất thải từ bệnh viện nhất là những chất thải từ hoạt động phẫu thuật nếu như họ nhìn thấy các bộ phận, các cơ quản trên cơ thể hay các bào thai Điều này đặc biệt đúng đối với một số nền văn hóa Châu Á Theo tập quán tín ngưỡng của người dân tại đây thì các bộ phận bị cắt bỏ phải được cho vào quan tài nhỏ và đem về quê hương người
bệnh chôn
Trang 181.4.2 Đối với môi trường
1.4.2.1 Đối với môi trường không khí
Ở bệnh viện đặc biệt là khoa truyền nhiễm chứa rất nhiều mầm bệnh như Shetococcus, Corynebacterium diphteriea, Mycobacterium tuberculosis, Stphylococcus và không khí là môi trường truyền các loại virus như virus cúm, virus sởi, quai bị có thể gây ra những vụ dịch lớn trong cộng đồng
Môi trường chịu rất nhiều tác động của việc xử lý chất thải
Rác thải vứt bừa bãi, tồn dọng sẽ gây mùi hôi thối cho bệnh viện, khu vực dân cư xung quanh và là ổ truyền nhiễm các loại dịch bệnh
Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa, phòng trong bệnh viện như khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí
CTRYT được phát sinh từ các phòng bệnh viện được thu gom, vận chuyển đến nơi lưu trữ và bãi chôn lấp Nhưng nhiều khi quy trình này không được thực hiện đúng kỹ thuật Trong quá trình thug om vận chuyển có thể bị bụi rác, kèm theo mùi và các mầm bệnh phát tán vào không khí Ở các khu vực lưu giữ và bãi chôn lấp, dưới sự tác động của nhiệt độ, độ ẩm và vi sinh vật, sẽ sinh ra khi như CH₄,… và các vi khuẩn gây bệnh phát tán vào không khí gây nguy hiểm cho con người
Bên cạnh hoạt động chôn lấp chất thải rắn y tế, việc xử lý CTRYT bằng phương pháp thiêu đốt cũng đang được quan tâm và đầu tư Việc sử dụng các lò đốt CTRYT có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp khác như là giảm thể tích rác tối thiểu, nhưng có một vấn đề cần quan tâm đó là lượng khí thải phát sinh trong quá trình đốt rác Có thể do kinh phí vận hành, hoặc có thể do quy trình vận hành không đúng kỹ thuật nên tại một số lò đốt rác, chất thải rắn
y tế không được tiêu hủy hoàn toàn, nên phát sinh một số khi độc hại với sức khỏe con người như: Dioxin, furan, oxit nito,…
1.4.2.2 Đối với môi trường nước, đất
CTRYT của bệnh viện có chứa nhiều hóa chất độc hại, phóng xạ, tác nhân gây bệnh có khả năng lây nhiễm cao như: Samonella, coliform, tụ cầu, liên cầu
Trang 19Trực khuẩn Gram âm đa kháng Do đó, CTRYT nếu không được xử lý trước khi thải bỏ thì có thể gây ra tình trạng ô nhiễm nghiêm trọng nguồn nước Mặt khác nếu áp dụng công nghệ chôn lấp, nếu không thực hiện đúng kỹ thuật và không hợp vệ sinh Đặc biệt là CTRYT được chôn lấp chung với chất thải sinh hoạt có thể gây ô nhiễm nguồn nước ngầm
Khi chất thải rắn bỏ vào môi trường chưa được xử lý đúng cách gây ra các tác động xấu đến môi trường như các vi sinh vật gây bệnh, hóa chất độc hại, các
vi khuẩn có thể ngấm vào môi trường đất gây nhiễm độc cho môi trường sinh thái, các tầng sâu trong đất, sinh vật kém phát triển,… Làm cho việc khắc phục hậu quả về sau khó khăn
1.5 Hiện trạng quản lý và xử lý chất thải rắn
1.5.1 Cơ sở pháp lý quản lý chất thải rắn y tế
Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm: Các hoạt động quy hoạch quản
lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý chất thải rắn, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vẫn chuyển, tái xử dụng, tái chế và tái sử dụng và xử lý chất thải rắn nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe [Thông tu liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT]
Phân loại: các chất thải y tế được phân loại ngay tại nơi phát sinh và tại thời điểm phát sinh Được sử dụng trong các dụng cụ đựng chất thải rắn.[ Nghị định
chính phủ số 59/2007/ND-CP][6]
Thu gom: Sau khi phân loại thì các rác thải được thug om theo từng nhóm và được vận chuyển đến nơi lưu trữ tạm thời Nơi đã được cơ sở y tế phan công [Thông tư liên tịch 58/2015/TTLT-BYT-BTNMT]
Lưu giữ: Nơi cơ sở y tế bố trí để lưu giữ các chất thải y tế đáp ứng các yêu cầu theo quy định trong một thời gian nhất định.[Nghị định chính phủ số
59/2007/NĐ-CP][6]
Vận chuyển: Quá trình đưa CTRYT từ nơi lưu trữ đến nơi xử lý hoặc tái chế
[ Nghị định 59/2007/ND-CP][6]
Xử lý: Quá trình xử dụng các biện pháp công nghệ, kỹ thuật làm giảm, loại
bỏ, tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích chất thải rắn theo các quy
Trang 20chuẩn lỹ thuật quốc gia về mooii trường, thu hồi tái chế, tái sử dụng các thành
phần có ích trong chất thải rắn [Nghị định chính phủ số 59/2007/ND-CP][6]
Tiêu hủy: Quá trình sử dụng công nghệ nhằm cô lập (bao gồm cả chôn lấp) chất thải nguy hại làm mất khả nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con
người [ Luật bảo vệ môi trường sô 55/2015/QH13][2]
Chôn lấp: Hoạt động chôn lấp phù hợp với các yêu cầu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh [ Nghị định chính phủ số
59/2007/ND-CP][6]
1.5.2 Thực trạng thu gom, vận chuyển, lưu trữ và xử lý chất thải rắn y tế
1.5.2.1 Thực trang thu gom, vận chuyển, lưu trữ chất thải rắn y tế
Theo kết quả khảo sát bệnh viên của Viện y học lao động vệ sinh môi trường và từ các cơ sở y tế
- Có 95,6% bênh viện đã phải phân loại chất thải trong đó có 91,1 % đã sử dụng dụng cụ tách riệng vật sắc nhọn
- Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi có thành dày đúng quy chế
- Chất thải rắn y tế đã được chứa trong các thùng đựng chất thải, tuy nhiên chỉ
có 1 số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo quy chế
- Hầu hết các bệnh viên, CTRYT được thu gom hằng ngày, nhưng chỉ có 53% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, 53,4% bệnh viện có nơi lưu chất thải có mái che, 45,3% đạt quy chuẩn quản lý chất thải rắn y tế
- Phương tiện thu gom CTRYT còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn Theo báo cáo của JICA(2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố: Hải phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nẵng, và Tp Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện có
sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xa tay, dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Nhìn chung các phương tiện còn thiếu, đặc biệt là xe chuyên dụng Hoạt động , thu gom, vận chuyển, chôn lấp chất thải rắn y tế từ bệnh viện, cơ sở y tế đều do Công ty môi trường đô thị tại địa phương đảm nhiệm, không có các trang thiết
bị đảm bảo cho quá trình vận chyển an toàn
1.5.2.2 Thực trạng xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam
Trong những năm qua công tá quản lý chất thải rắn trong bệnh viện đang được quan tâm và ngày càng tiến bộ trong các khấu thu gom, xử lý, chất thải
Trang 21song vẫn còn nhiều mặt hạn chế Công tác phân loại CTRYT chưa đúng quy định, thiếu cán bộ hoặc kỹ năng chưa cao
- Thiếu kinh phí đầu tư cho hoạt động quản lý chất thải rắn y tế
- Chưa quy định cụ thể về mô hình quản lý chất thải tại bệnh viện
- Nhận thức và trình độ cận hành xử lý CTRYT của nhân viên y tế vẫn còn chưa cao
- Các giải pháp xử lý chất thải rắn chưa đồng bộ, sự phối hợp liên ngành còn kém hiệu quả trong mọi công đoạn xử lý chất thải
- Hiện ở Việt Nam chưa phổ biến công nghệ đốt,, như công nghệ khử khuẩn bằng nhiệt ướt hoặc lò vi sóng các công nghệ thân thiện hơn với môi trường
Bảng 1.4 Lượng chất thải phát sinh trong các khoa tại bệnh viện[10]
BVTW BV
Tỉnh
BV Huyện TB BVTW
BV Tỉnh
BV Huyệ
Trang 221.6 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam
1.6.1 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế trên thế giới
Nghiên cứu về CTRYT được tiến hành tai nhiều nước trên thế giới đặc biêt là các nước phát triển như: Mỹ, Nhật Bản, Anh, Italia,Canada, theo tổ chức y tế thế giới, có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế, 12,5% công nhân xử lý chất thải bị tổn thương do kim đâm xay ra trong quá trình xử lý chất thải rắn y tế Tổn thương này cũng là nguồi phơi nhiễm nghề nghiệp, với máu phổ biến nhất,chủ yếu là tháo lắp kim
và thu gom thiêu hủy vật nhọn Có khoảng 50% số bệnh viện trong diện điều tra tuyến vận chuyển CTRYT đi qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong thùng xe có nắp đậy Theo H.Ô-ga-oa, cố vấn tổ chức y tế thế giới về sức khỏe, môi trường khu vực Châu Á, phần lớn các nước đang phát triển không kiểm soát tốt chất thải y tế, chưa có khả năng phân loại CTRYT mà xử lý cùng tất cả các loại rác thải Từ những năm 90, nhiều quốc gia như Nhật Bản, Singapo,Australia, đã đi đầu trong công tác xử lý chất thải y tế, Malixia có phương tiện xử lý rác thải tập trung trên bán đảo và các hệ thống xử lý rác thải riêng biệt rằng cho các bệnh viện ở xa tại Boocneo
Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTRYT đáng tin cậy như đốt bằng lò vi sóng Tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng
ở các nước đang phát triển Vì vậy các nhà khoa học ở các nước Châu Á đã tìm
ra một sô phương pháp xử lý chất thải khác để thay thế như Philipin đã áp dụng phương pháp xử lý rác thải bằng các thùng đựng có nắp kín bằng việc gắn chúng vào các thùng có những thiết bị cọ rửa, Indonexia chủ trương nâng cao nhận thức trước hét cho bệnh viện về mối nguy hại của CTRYT gây ra để bệnh viện có biện pháp lựa chọn cho phù hợp
Năm 1988, cả nước Mỹ có 6.200 lò đốt CTRYT nhưng đến năm 2006 chỉ còn lại 62 lò hoạt động Ở Cannada, năm 1995 có 219 lò đốt nhưng đến năm 2003 chỉ còn 56 lò đốt vận hành Nhiều nước Châu Âu đã đưa ra các biện pháp nhằm kiên quyết đóng của các lò đốt chất thải y tế Tại Đức năm 1984 có
554 lò đốt hoạt động nhưng đến năm 2002 không còn lò đốt nào còn vận hành,
Trang 23hay tại Bồ Đào Nha, năm 1995 có 40 lò đốt còn hoạt động, nhưng đến năm 2004 chỉ còn một lò đôt hoạt động Ailen có 150 lò đốt hoạt động năm 1990 nhưng đến năm 2005 đã ngưng hoạt động toàn bộ lò đốt chất tahir y tế Hiện nay lò đốt đã được thay thế bằng các công nghệ không đôt thân thiện với môi trường hơn điển hình như:
- Quy trình nhiệt: Khủ khuẩn bằng nhiệt ướt như nồi hấp hay hệ thồng hấp ướt tiên tiến, khử khuẩn bằng nhiệt khô, công nghệ vi sóng, là công nghệ phổ biến nhât của các nước hiện nay
- Quy trình hóa học: không dung clo, thủy ngân, kiềm
- Quy trình bức xạ: tia cực tím, cobalt
- Quy trình sinh học: xử lý bằng enzim
1.6.2 Tình hình nghiên cứu về chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Đề tài của Lê Thị Thanh Hương (2012) nghiên cứu về quản lý CTRYT
tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắc Đề tài nguyên cứu[4]:
- Thực trạng quản lý CTRYT: Lượng chất thải phát sinh hàng ngày (tính trung bình 6 tháng đầu năm 2012) đang ở mức cao: 1552,5 kg, tương ứng với 2,07 kg/giường bệnh trong đó lượng CTRYTNH là 0,64 kg/giường bệnh,chiếm 29%
so với tổng lượng CTRYT hằng ngày, chất thải y tế được bệnh viện phân nhóm theo quy định của Bộ Y tế, đặc niệt là nhóm chât thải lây nhiễm đã tách chất thải sắc nhọn ra thành một loại để hạn chế chấn thương nguy hiểm, vấn đề thu gom, vận chuyển CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắc, việc vận chuyển CTRYT nguy hại và chất thải thông thường Số xe chuyên dụng chỉ đáp ứng được 60% nhưng không đảm bảo yêu cầu như có nắp đậy, thùng kín Đường vẫn chuyển chất thải không được quy hoạch riêng, không theo đúng hướng dẫn quyết định 43/2007/Q Đ-BYT
- Hình thức xử lý CTRYT: Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đăk Lăk không gặp khó khăn trong việc zử lý CTRYT như tình hình chung của nhiều bệnh viện khác trong cả nước Bệnh viện hiện sử dụng công nghệ hấp tiệt trùng hơi nước ở hơi nước ở nhiệt độ 1500°C với công suất từ 100 – 150kg chất thải trong 90 phút, chi phí vận hành bình quân xử lý bình quân khoảng 3.000đ/ 1kg rác, tình trạng
Trang 24hoạt động hiện tại của thiết bị hiện còn rất tốt, tình trạng khí thải, nguy cơ ô nhiễm môi trường khi hoạt động mức cho phép Mỗi ngày bệnh viện vận hành hấp khoảng 4-5 mẻ rác, phát huy được công suất tối đa, không để tồn đọng rác qua 48h
Đề tài của Nguyễn Thị Vân Anh (2011), điều tra, nghiên cứu hiện trạng
CTRYT tại Thanh Hóa và đề suất giải pháp thực hiện[5]:
- Tổng lượng phát sinh chất thả rắn y tế nguy hại tại 15 bệnh viện tuyến tỉnh (
11 bệnh viên), tư nhân ( 4 bệnh viện, các bệnh viện tư nhân tại thành phố Thanh Hóa) là 577,55 kg/ngày, gần bằng tổng lượng phát sinh lượng chất thải rắn nguy hại trung bình tại bệnh viện tuyến huyện là 600,6 = 5kg/ngày Tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình tại bệnh viện tuyến tỉnh, tư nhân là 0,174kg/giường/ngày, cáo hơn tại bệnh viện tuyến huyện là 0,167 kg/giưởng/ngày Tỉ lệ phát sinh CTRYT nguy hại trung bình tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tư nhân và tuyến huyện tại Thanh Hóa thấp hơn so với mức bình quân (Theo “ dự thảo báo cáo Quản lý môi trường của dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện – nguồn vốn vay ngân hàng thế giới’’ trong “Văn kiện dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện” năm 2010 của BYT thì mức độ phát sinh chất thải rắn nguy hại tạo các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 0,225 kg/giường/ngày, bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 0,2kg/giường/ngày, bệnh viện huyện là 0,175 kg/giường/ngày)
- Thanh hóa hiện chưa có xe đông lạnh để vận chuyển CTRYTNH
- Đối với các cơ sở y tế không có lò đốt, phải hợp đồng đốt chất thải rắn y tế bên ngoài thì việc vận chuyển sẽ do các đồng đẵng viên phụ trách CTRYT sẽ được cho vào các thùng bơm kim tiêm và vận chuyển bằng xe máy, xe thồ
- Công tác thực hành phân loại CTRYT ngay tại nguồn của các bệnh viện tương đối tốt, với 100% bệnh viện điều tra sử dụng hộp cartong, túi đụng chất thải rắn theo đúng mã màu quy định của Bộ Y Tế, chỉ có 7,32% bệnh viện có
sử dụng thêm hộp cát tông khác Có 85,4% bệnh viện có thùng nhựa có bánh
xe, 80,5% bệnh viện được điều tra có xe đẩy để thu gom và vận chuyển CTRYT nguy hại bên trong cơ sở y tế
Trang 25- Hiện trạng hệ thống xử lý chất thải rắn nguy hại: 26/26 bệnh viện tuyến huyện
đã được trang bị lò đốt hoạt động tốt Chỉ có 3/11 bệnh viện tuyến tỉnh có lò đốy là bệnh viên Đa Khoa Tỉnh, bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Lặc, bệnh viện Lao và Phổi 7/11 bệnh viện tuyến tỉnh hợp đồng thuê đốt CTRYT nguy hại với bệnh viện Đa khoa Tỉnh Tuy nhiên, lò đốt của bệnh viên Dda khoa Tỉnh đã quá tải và xuống cấp, cần phải thay thế Các trạm y tế xác, phường chỉ
xử lý CTRYT nguy hại bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp thiếu an toàn
Nhận thức của cán bộ, nhân viên y tế về tấc hại của CTRYT nguy hại:
Trong quá trình đi phỏng vấn, điều tra cho thấy nhận thức của cán bộ nhân viên y tế về tác hại của CTRYT, cũng như nội dung trong Quy chế Quản lý chất thải rắn y tế, cũng như những nội dung trong Quy chế Quản lý Chất thải Y tế (ban hành kèm theo quy định số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30/11/2007) là tương đối đầy
đủ
Trang 26PHẦN 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế
2.2.2 Phạm vi nghiên cứu
- Thời gian nghiên cứu: 1/3/2019 đến 15/5/2019
- Phạm vi không gian: Bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần – tỉnh Hà Giang
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được những mục tiêu trên, đề tài đã tiến hành nghiên cứu với những nội dung cụ thể như sau:
- Nội dung 1: Nghiên cứu thực trạng CTRYT của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang
- Nội dung 2: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lý CTRYT tại bệnh viên đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang
- Nội dung 3: Đánh giá nhận thức của cán bộ y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và người dân xung quanh về công tác quản lý CTRYT của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần
- Nội dung 4: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần
Trang 272.4 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liêu
Đây là phương pháp sử dụng nhằm giảm bớt thời gian và công việc ngoài thực địa, trong phòng thí nghiệm Phương pháp này rất cần thiết và được nhiều người sử dụng trong quá trình nghiên cứu Các tài liệu thu thập được giúp
đề tài tổng kết được kinh nghiệm và kế thừa có chọn lọc những tài liệu đã được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học tại khu vực ngiên cứu, các công trình nghiên cứu có tính chất tường đương, những văn bản mag tính pháp
lý, những giá trình đã được in ấn từ đó thu thập, phân tích thông tin, tài liệu, số liệu và tổng hợp để phục vụ báo cáo
Để phục vụ cho quá trình làm khóa luận, tôi đã lế thừa tài liệu từ các nguồn như sau:
- Tài liệu và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Hà Giang
- Tài liệu về quy mô,vị trí địa lý…về bệnh viện đa khoa huyện Xín tỉnh Hà Giang
Mần Các báo cáo quản lý chất thải rắn, báo cáo về tình hình khám chữa bệnh của Bệnh viên Đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang
- Tài liệu Internet, sách, báo chí,…
- Các khóa luận có liên quan của các năm trước
2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu ngoại nghiệp
2.4.2.1 Khảo sát thực tế
Điều tra khảo sát thực tế là một trong những phương pháp quan trọng
để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài Phương pháp này nhằm củng cố thêm tính xác thực của tài liệu kế thừa và tham khải về hiện trạng chất thải rắn tại bệnh viên Đa khoa huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang.Trong quá trình khảo sát thực tế tại bệnh biện đã áp dụng phương pháp cụ thể sau:
- Khảo sát điều tra các nguồn và thành phần rác thải rắn trong bệnh viện; quan sát bằng mắt, trong và ngoài khu vực bệnh viện
Trang 28- Tìm hiều điều tra quá trình vận chuyển, lưu trữ và xử lý rác
2.4.2.2 Phương pháp đo tính trực tiếp
- Thực hiện trong 3 ngày: ngày 02, 04, 06 tháng 04 năm 2019, ngày thu gom 2 lần vào các buối sáng và chiều sau khi rác thải đã được thu gom tại các khoa do hỗ
lý thực hiện, tiến hành dùng cân đo khối lượng của rác thải, sau đó lấy kết quả trung bình của các lần cân, ghi chép lại theo mẫu biểu 01 Việc thực hiện cân đo được tiến hành như sau:
Dụng cụ tiến hành gồm: cân đồng hồ, túi nilong, găng tay, giấy, bút để ghi chép số liệu thu được
Cách tiến hành: sau khi rác thải y tế của mỗi khoa được thu gom, tiến hành phân loại rác thải y tế của mỗi khoa cho vào túi nilong rồi tiến hành cân đo và ghi chép số liệu và lấy kết quả trung bình của 2 lần cân trong ngày ghi vào mẫu biểu 04
- Một số khoa đặc biệt được thu gom vận chuyển nhiều hơn các khoa khác trong ngày nên cần nắm bắt để có thể thực hiện đo khối lượng đúng nhất có thể
- Sau khi đã có số liệu thì đem tổng hợp, đánh giá lượng chất thải bệnh viện
Trang 29Mẫu biểu 04: Khối lượng chất thải nguy hại phát sinh tại các khoa trong 3
ngày (ngày 02, 04, 06 tháng 04 năm 2019) STT Khoa phòng phát thải Khối lượng (kg/ngày)
Khoa nội tổng hợp Khoa nội tiết Khoa khám bệnh theo yêu cầu Khoa truyền nhiễm
Khoa sản Khoa ngoại Khoa chấn thương Khoa tai,mũi,họng Khoa răng hàm mặt-Mắt Khoa phẫu-GMSH Khoa hồi phục chức năng Khoa dược
2 Khoa cận lâm sang
Tổng
2.4.3 Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này dùng để đánh giá sự hiểu biết của mọi người trong quản lý chất thải rắn, cách thức quản lý và xử lý trong môi trường bệnh viện Mức ảnh hưởng của chát thải rắn y tế đến sức khỏe và môi trường xung quanh
Chuẩn bị 3 mẫu phiếu câu hỏi được thể hiện trong mẫu biểu 02, 03, 04; mẫu phiếu giành cho cán bộ là 15 phiếu, mẫu phiếu giành cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân là 15 phiếu, mẫu phiếu giành cho người dân xung quanh là
10 phiếu:
Trang 30- Phiếu câu hỏi giành cho cán bộ nhân viên bệnh viện gồm 18 câu hỏi được thể hiện trong phần mẫu biểu 01, và thực hiện phỏng vấn vào ngày 03/04/2019 với đối tượng là các y tá,y sĩ,bác sĩ,nhân viên dọn dẹp vệ sinh trong bệnh viện,các cán bộ bên khoa kiểm soát nhiễm khuẩn,…
- Phiếu câu hỏi giành cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân gồm 15 câu hỏi được thể hiện trong phần mẫu biểu 02, và thực hiện phỏng vấn vào ngày 08/04/2019 với các bệnh nhân khu cách li, bệnh nhân bên khoa sản,người nhà đến trông và thăm bệnh nhân,khoa nhi,ngoại chấn thương,…
- Phiếu câu hỏi giành cho người dân xung quanh bệnh viện gồm 6 câu hỏi được thể hiện trong phần mẫu biểu 03, và thực hiện phỏng vấn vào ngày 09/04/2019 với các hộ gia đình ở gần bệnh viện…
Phiếu câu hỏi được bố trí các câu hỏi đều dễ trả lời Các câu hỏi tập trung vào các vấn đề liên quan đến mục tiêu, nội dung nghiên cứu của đề tài, để thu thập đủ các thông tin cần thiết từ ý kiến của người dân Để tăng độ chính xác của câu trả lời, các đối tượng được phỏng vấn đã được giải thích rõ ràng và hướng dẫn cách thức trả lời
2.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp
- Phương pháp tính toán khối lượng rác thải: tính khối lượng trung bình từng ngày của rác thải sau đó cộng các giá trị trung bình lại với nhau
- Phương pháp phân tích tài liệu dựa trên những thông tin sẵn có hoặc đã có nghiên cứu trước đó
- Phương pháp đánh giá công tác quản lý CTRYT bằng cách tổng hợp các phiếu phỏng vấn lại và tính ra %
Trang 31PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM CỦA BỆNH VIỆN ĐA KHOA
HUYỆN XÍN MẦN - TỈNH HÀ GIANG 3.1 Giới thiệu chung về bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần
Hình 3.1 Bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần
- Tên cơ sở: Bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần – tỉnh Hà Giang
- Địa chỉ: tổ 4, xã Cốc Pài, huyện Xín Mần, tỉnh Hà Giang
Bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần – tỉnh Hà Giang là bệnh viện hạng II tuyến huyện trực thuộc Sở Y tế Hà Giang thành lập ngày 19-02-2009 với quy
mô giường bệnh là 176 giường[13]
3.2 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện tiếp nhận tất cả các trường hợp người bệnh từ ngoài hoặc
từ các cơ sở y tế tuyến dưới chuyển đến cấp cứu, khám, chữa bệnh nội trú hoặc ngoại trú Hoạt động của bệnh viện tuân thủ theo các quy định của nhà nước, tuân thủ theo các quy định của Bộ Y Tế
Bệnh viện tổ chức chuyển người bệnh lên tuyến trên khi vượt quá khả năng chữa trị của bệnh viện Tổ chức khám sức khỏe, giám định sức khỏe, giải quyết các bệnh thông thường về nội khoa và các trường hợp cấp cứu về ngoại khoa
Trang 323.3 Quy mô hoạt động của bệnh viện
- Bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần nằm trong trung tâm huyện với diện tích mặt bằng khoảng 11080m²
- Số lượng cán bộ viên chức, lao động hợp đồng là 105 người, trong đó
có 22 bác sỹ Hiện tại,bệnh viện có 8 bác sỹ chuyên khoa I, 14 bác sĩ đa khoa, 1 dược sỹ chuyên khoa cấp I, 10 cử nhân điều dưỡng và đông đảo cán bộ có trình
độ cao đẳng, trung cấp
- Hiện trạng các công trình hiện có của bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần gồm có: 24 khoa, phòng, trong đó có 5 phòng chức năng, 14 khoa lâm sàng, 4 khoa cận lâm sàng, 1 phòng khám đa khoa khu vực Ngán Chiên 24 khoa gồm có: Khoa nhi, Khoa truyền nhiễm, Khoa dược, Khoa phụ sản, Khoa phẫu thuậ t- Gây mê - Hồi sức cấp cứu, Khoa răng hàm mặt, Khoa chống nhiễm khuẩn, Khoa xét nghiệm…
Ngoài ra bệnh viện còn có các công trình phụ trợ khác như: nhà để xe cho cán bộ và người nhà bệnh nhân, khu xử lý nước thải,…
Trong đó với khoa nhi của bệnh viện có diện tích là 500m², với 10 phòng bệnh và 30 giường bệnh
Khoa truyền nhiễm với tổng diện tích là 400m² với 7 phòng bệnh và 20 giường bệnh,…
Trang 33PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Thực trạng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần - tỉnh Hà Giang
4.1.1 Nguồn gốc phát sinh chất thải rắn y tế
Quá trình điều tra khảo sát đề tài xác định được ngồn gốc phát sinh bao gồm phất sinh CTRYT trong bệnh viện từ nhiều nguồn khác nhau, bao gồm từ các hoạt động chăm sóc người bệnh, khám chữa bệnh, xét nghiệm, đến các hoạt động sinh hoạt của cán bộ nhân viên, bệnh nhân và người nhà bệnh nhân trong bệnh viện,…
Hình 4.1 Sơ đồ phát sinh CTRYT tại bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần
- Khu khám chữa bệnh: CTRYT hát thải ra từ các quá trình khám chữa bệnh Đây
là nơi phát sinh CTRYT như: bông băng, bơm kim tiêm, chai lọ đựng hóa chất, mảnh thủy tinh vỡ, vật liệu thấm máu, bột bó, dây truyền máu, đinh mổ, …
- Khu sinh hoạt bệnh nhân: phát thải chất thải như: túi nilong, thức ăn thừa, vật
liệu gói thực phẩm, giấy báo,…
Bảng 4.1 Nguồn phát sinh chất thải rắn y tế STT Nguồn phát sinh Khối lượng chất
(Nguồn: Báo cáo quản lý CTRYT bệnh viện Đa khoa huyện Xín Mần, 2018)
Quả bảng thống kê trên cho thấy khối lượng CTRYT từ 2 nguồn chính
đó là khu khám chữa bệnh và khu sinh hoạt của bệnh nhân và người nhà, trong
đó khu khám chữa bệnh chiếm phần lớn lượng rác (55,7%) Khối lượng rác thải
Khám chữa bệnh
Khu sinh hoạt
bệnh nhân
CTRYT bệnh viện
Trang 34bệnh viện phát sinh phụ thuộc chủ yếu vào số lượng bệnh nhân điều trị nội trú, người nhà đến thăm bệnh nhân và hoạt động chuyên môn của bệnh viện
Để có được lượng rác phát thải ra trong một ngày, tôi tiến hành cân rác trong 3 ngày, kết quả đạt được cho trong bảng sau:
Bảng 4.2 Khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các khoa trong 3 ngày
(ngày 02, 04, 06 tháng 04 năm 2019) STT Khoa phòng phát thải Khối lượng (kg/ngày)
Khoa điều trị theo yêu cầu 5,8 7,2 5,5 6,2
Khoa khám bệnh theo yêu cầu
(Nguồn: Khóa luận tốt nghiệp, 2019)
Rác thải bệnh viện được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau, khối lượng rác thải ra thay đổi theo từng năm, theo từng thời điểm trong năm và có sự khác
Trang 35nhau giữa các khoa Lượng chất thải ở mỗi khoa có sự khác nhau rõ rệt Khoa Lâm sàng gồm các khoa điều trị bệnh như: khoa cấp cứu, khoa ngoại, khoa phẫu thuật,…nên lượng chất thải được thải ra tương đối cao Cùng với đó các khoa điều trị và khám bệnh theo yêu cầu cũng phát sinh lượng chất thải tương đối cao, do đời sống nhân dân được nâng cao, nhu cầu khám chứa bệnh với dịch vụ tốt và nhanh hơn giúp người bệnh giảm bớt thời gian điều trị
Khoa cận lâm sàng gồm các khoa như khoa xét nghiệm, khoa đông y,…
Là những khoa trợ giúp cho việc thăm khám, hạn chế tiếp xúc trực tiếp với bệnh nhân nên lượng chất thải được thải ra cũng ít hơn khoa lâm sàng
Hình 4.2 Lượng rác thải bình quân/ngày tại các khoa đo đếm được
Lượng chất thải rắn y tế trung bình của bệnh viện là 52,5kg/ngày.Lượng chất thải trung bình tính trên một giường bệnh (một giường thường có 2 người) là 0,2kg/giường bệnh/ngày nằm trong khoảng lượng chất thải phát sinh CTRYT ở bệnh viện thuộc tuyến huyện tại các nước trên thế giới
từ 0,1-0,4 (kg/GB/người-ngày đêm) là phù hợp (theo Tổ chức y tế thế giới, năm
2002 về lượng CTRYT phát sinh theo các tuyến bệnh viện) Lượng rác thải bình quân cân được trong 3 ngày là 157,9 kg/ so với lượng rác thải bình quân trong 3 ngày đầu của tháng 1 năm 2019 (ngày: 01, 02, 03) do bệnh viện cung
3.6
6.2
1.7 2.3 2.5
6.3 5.4 4.8
3.2 2.4 1.6 1.3
3.5
1.2 0.9 5.6
Khoa Rác/ngà
Trang 36cấp là 120 kg, khối lượng CTRYT nguy hại tăng lên so với tháng 1 năm 2019 là 37.9kg, cho thấy lượng rác thải nguy hại đang có xu hướng tăng lên
Biểu đồ trên phản ánh về số lượng rác thải của mỗi khoa trong vòng một ngày Qua biểu đồ ta có thế biết được số lượng rác trung bình được thải ra một ngày của bệnh viện tại mỗi khoa, để có biện pháp xử lý phù hợp
4.1.2 Khối lượng và thành phần của chất thải rắn y tế bệnh viện Đa khoa huyện Xín-tỉnh Hà Giang
4.1.2.1 Khối lượng chất thải rắn y tế bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần qua các
năm
Qua quá trình điều tra khỏa sát đề tài đã xác định được khối lượng CTRYT tại bệnh viện Đa khoa Xín Mần cụ thể được biểu hiện bằng kết quả điều tra chất thải rắn y tế từ năm 2016 – 2019 được trình bày qua bảng sau:
Bảng 4.3 Thống kê lượng CTRYT qua các năm của bệnh viện đa khoa
huyện Xín Mần-tỉnh Hà Giang
Năm Chất thải(kg)
Nguyên nhân:
-Số giường bệnh có sự giao động, bệnh viện với 176 giường bệnh thực tế
và có thể tăng lên nếu như bệnh nhân tăng, ví dụ vào dịp tết nguyên đán có lúc một giường bệnh nằm đến 2-3 bệnh nhân
Trang 37Lượng chất thải nguy hại cũng có biến đổi từ năm 2016 là 15022kg đến năm 2018 giảm xuống 11772kg và giảm 3250kg Lượng chất thải nguy hại giảm
do bệnh viện được đầu tư trang thiết bị hiện đại, tiên tiến hơn Cùng với đó các cán bộ nhân viên y tế đã được đào tạo và có sự hiểu biết về phân loại CTRYT, bên cạnh đó là sự nhận thức của người dân về phân loại CTRYT ngày càng được nâng cao góp phần làm giảm thiểu CTRYT nguy hại
Chất thải nguy hại nói chung và CTRYT nguy hại nói riêng nếu như không có phương pháp xử lý đúng sẽ gây nguy cơ lây nhiễm cao, gây hại đến sức khỏe con người và ảnh hưởng xấu tới môi trường
Cùng với đó lượng chất thải tái chế có xu hướng tăng lên từ năm 2016 là 5500kg đến năm 2018 là 9566kg và tăng lên 4066kg khối lượng chất thải được tái chế Chất thải tái chế tăng lên do sự hiểu biết, nhận thức và ý thức của mọi người về phân loại CTRYT được nâng cao, cùng với sự quản lý chặt chẽ của phòng tài nguyên môi trường
Qua đó lượng CTRYT của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần – tỉnh Hà Giang qua 3 năm đang chuyển biến theo hướng tích cực Lượng rác thải được tái chế tăng lên, lượng CTRYT nguy hại lại giảm đi
4.1.2.2 Khối lượng và thành phần của chất thải rắn y tế bệnh viện Đa khoa huyện Xín-tỉnh Hà Giang tại thời điểm nghiên cứu
Lượng phát sinh CTRYT của bệnh viện đa khoa huyện Xín Mần trong 3 tháng
đầu năm 2019:
Bảng 4.4 Khối lượng chất thải rắn y tế qua các tháng 1,2,3 năm 2019
Loại chất thải Khối lượng chất thải rắn(kg/tháng) TB