LƢỢC SỬ NGHIÊN CỨU THÚ Ở VIỆT NAM
Lƣợc sử nghiên cứu thú ở việt nam
Vào thế kỷ XIX, nhiều tài liệu về hệ thú ở Việt Nam đã được công bố trên các phương tiện truyền thông quốc tế, đặc biệt là từ các nước Châu Âu Trong thời kỳ Pháp xâm lược, các nhà khoa học Pháp đã bắt đầu nghiên cứu thiên nhiên Việt Nam, đặc biệt chú trọng đến lớp thú Các công tác điều tra và thu thập mẫu ban đầu chủ yếu được thực hiện bởi các nhà động vật học nghiệp dư Những tài liệu đầu tiên về thú ở Nam Bộ và Trung Bộ đã được nhiều nhà khoa học như Jouan (1868), Dr Hamy (1876), Germain (1887), Harmand (1881), và Heude (1888) công bố.
Vào năm 1887, Brousmiche đã xuất bản cuốn tài liệu “Nhìn chung về lịch sử tự nhiên của Bắc Bộ”, trong đó giới thiệu về một số loài thú có giá trị kinh tế và dược liệu cùng khu phân bố của chúng Tiếp theo, năm 1894, A.Huede công bố tài liệu về loài Sơn Dương (Capricornis marritinus) Năm 1896, Billet viết cuốn “Hai năm ở miền núi Bắc Bộ”, trong khi De Pousargues thông báo về loài Vƣợn mới (Hylobates henrici) tìm thấy ở Lai Châu và loài Voojooc đen (Pythecus Francoisi) ở Bắc Bộ và Trung Bộ.
Cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, nghiên cứu về động vật ở Việt Nam có những bước tiến đáng kể Đặc biệt, đoàn nghiên cứu do Pavie dẫn đầu đã tiến hành khảo sát và thu thập dữ liệu từ năm 1879 đến 1898 tại nhiều địa điểm trên lãnh thổ Việt Nam Kết quả của nghiên cứu này được công bố trong cuốn sách “Nghiên cứu về lịch sử tự nhiên của Đông Dương” (1879 – 1898), đánh dấu công trình nghiên cứu đầu tiên và tương đối hoàn chỉnh về động vật ở Đông Dương.
De Pousaguses đã thống kê được 200 loài và loài phụ thú tại Việt Nam, Lào, Campuchia và Thái Lan Đặc biệt, Việt Nam đã công bố 117 loài và loài phụ trong số đó.
Trong giai đoạn này, đoàn nghiên cứu khảo sát động vật miền Bắc Việt Nam do Boutan dẫn dắt đã công bố nhiều kết quả quan trọng trong tạp chí Bulltine Museum Naturelle vào năm 1905 Năm 1906, Boutan tiếp tục cho ra mắt cuốn sách "Mười năm nghiên cứu về động vật," trong đó trình bày các thông tin chi tiết về hình thái, sinh học và sự phân bố của 10 loài thú.
Năm 1932, H Osgood đã tổng hợp tài liệu từ nhiều tác giả về loài thú, thống kê được 172 loài và phân loài, tạo thành một nguồn tư liệu quý giá cho nghiên cứu phân loại và khu hệ thú tại Việt Nam Tuy nhiên, vào năm sau, chỉ có một vài thông báo nhỏ từ E Blaune.
(1932) và J.Delacour (1934) về Vƣợn Bên cạnh đó có nhiều cuốn sách về việc săn bắt thú ở Việt Nam do các nhà săn bắt người Pháp biên tập
Trong giai đoạn kháng chiến chống Pháp (1945 – 1954), nghiên cứu về động vật ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, trong thời gian này, nhiều nhà khoa học Pháp đã thu thập dữ liệu từ các mẫu vật và ghi chép thực địa để tổng hợp và công bố thông tin về động vật ở Việt Nam và Đông Dương.
Sau năm 1954, nghiên cứu về động vật có vú ở miền Nam Việt Nam gần như bị đình trệ cho đến cuối thập kỷ 60 Vào thời điểm đó, P.F.D Van Peenen đã tiến hành khảo sát khu hệ thú ở một số tỉnh Kết quả nghiên cứu của ông được ghi lại trong cuốn sách "Preliminary Mammals of South Viet Nam".
(1969) Ông đã mô tả sơ bộ 217 loài và phân loài thú có ở miền Nam Việt
Sau khi hòa bình lập lại, nghiên cứu về động vật ở miền Bắc Việt Nam đã có nhiều tiến bộ nhờ công sức của các nhà khoa học Việt Nam Năm 1968, Đặng Huy Huỳnh đã công bố một phần kết quả nghiên cứu liên quan đến thú ăn thịt và thú móng guốc, góp phần quan trọng vào việc hiểu biết về sự phân bố của chúng.
4 ở miền Bắc Việt Nam trong cuốn “Sinh học và sinh thái các loài thú móng guốc ở Bắc Việt Nam” NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nôi
Năm 1973, trong cuốn sách "Thú kinh tế miền Bắc Việt Nam", tác giả Lê Hiền Hào đã trình bày các đặc điểm sinh vật học quan trọng và sự phân bố của những loài thú kinh tế tại miền Bắc Việt Nam.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, nghiên cứu về động vật, đặc biệt là thú, đã phát triển mạnh mẽ Nhiều công trình nghiên cứu quan trọng đã được xuất bản, bao gồm “Những loài gặm nhấm Việt Nam” của Cao Văn Sung, Đăng Huy Huỳnh và Bùi Kính (1980), “Khảo sát thú miền Bắc Việt Nam” của Đào Văn Tiến (1985), và “Thú linh trưởng Việt Nam” của Phạm Nhật (2002).
Thời gian gần đây, các nghiên cứu về tình trạng bảo tồn các loài thú ở Việt Nam ngày càng được chú trọng, không chỉ dừng lại ở các chuyên đề hẹp Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, nhiều tài liệu liên quan đến bảo tồn đã được xuất bản để nâng cao nhận thức và hành động bảo vệ động vật hoang dã.
Việc phát hiện ba loài thú quý hiếm ở Việt Nam, bao gồm Sao La, Mang Lớn và Mang Trường Sơn, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nghiên cứu động vật hoang dã từ năm 1975 Những thành tựu này không chỉ khẳng định năng lực nghiên cứu của các nhà khoa học Việt Nam mà còn cho thấy rằng tài nguyên thú rừng Việt Nam vẫn còn nhiều điều bí ẩn và chưa được khám phá.
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ -XÃ HỘI CỦA KHU BẢO TỒN THIÊN NHIÊN KẺ GỖ
Điều kiện tự nhiên
Khu BTTN Kẻ Gỗ tọa lạc ở phía Tây Nam tỉnh Hà Tĩnh, nằm bên Đông dãy Trường Sơn Bắc và thuộc quản lý của ba huyện: Cẩm Xuyên, Kỳ Anh và Hương Khê.
* Có ranh giới tiếp giáp nhƣ sau:
- Đông giáp Khu phòng hộ Cẩm Xuyên và khu phòng hộ Nam Hà Tĩnh
- Tây giáp Khu phòng hộ Thạch Hà và Khu phòng hộ Ngàn Sâu
- Bắc giáp Hồ Bộc Nguyên và khu dân cƣ xã Cẩm Thạch - Cẩm Xuyên
- Nam giáp tỉnh Quảng bình
* Toạ độ địa lý: 19 0 91’ đến 20 0 16’ Độ vĩ Bắc
Khu BTTN Kẻ Gỗ nằm trong địa hình vùng đồi núi thấp của Miền Trung, với độ cao phổ biến từ 150m đến 500m Địa hình nơi đây bị chia cắt phức tạp bởi các khe suối, đặc biệt là vùng thượng nguồn Kẻ Gỗ Nhìn chung, địa hình có nhiều cấp độ dốc khác nhau.
- Độ dốc cấp I (< 9 0 ) có diện tích ít
Độ dốc cấp II (15 - 20 độ) chiếm ưu thế trong khu vực dự án, bao gồm các lưu vực như Rào Cời, Rào Len, Rào Bưởi, Rào Trường, Rào Bội, Rào Pheo, Rào Cái, và thung lũng Cát Bịn thuộc thượng nguồn Kẻ Gỗ.
3.1.3 Khí hậu thuỷ văn a) Khí hậu: Khu vực Kẻ Gỗ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa
- Lƣợng mƣa trung bình hàng năm 2.700 mm chủ yếu tập trung vào các tháng 8, 9,10
- Gió: Gió Tây nam khô nóng thổi từ tháng 4 - 8, gió mùa Đông bắc thổi từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau
- Nhiệt độ trung bình hàng năm: 24 0 C
Khu vực có độ ẩm trung bình hàng năm đạt 84%, được hình thành bởi 7 lưu vực và hệ thống khe suối dày đặc Hồ chứa nước Kẻ Gỗ nằm ở hạ lưu, nơi chịu ảnh hưởng lớn từ địa hình cao dốc và chế độ mưa theo mùa Mùa khô, dòng chảy giảm mạnh, dẫn đến cạn kiệt nước trong hồ Kẻ Gỗ, trong khi mùa mưa, lượng dòng chảy tăng cao gây ra lũ lụt, xói mòn và sạt lở.
Theo bản đồ đất tỉnh Hà Tĩnh (1995) của Viện ĐTQH rừng, các nhóm đất chính thuộc vùng dự án đƣợc hình thành trên các nền địa chất sau:
- Nhóm đá tạo đất là sa thạch bao gồm các loại trầm tích hạt thô
- Nhóm đá phiến thạch sét có kết cấu hạt mịn
Nhóm đá Mắcma axít kết tinh chua bao gồm Grarít và Rolít, trong khi đất Feralít được hình thành từ phiến thạch sét và sa thạch Sự phân bổ phức tạp của các loại đá này tạo ra đất với độ phì khác nhau Đặc điểm địa hình, độ cao và độ dốc ảnh hưởng đến chất lượng đất, nơi vẫn còn lớp thực bì che phủ dày, giàu mùn, thích hợp cho việc trồng cây ăn quả và cây bản địa.
Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ từng là nơi có rừng kín thường xanh với nhiều loài cây gỗ quý Theo điều tra mới nhất, khu vực này có 567 loài thực vật thuộc 117 họ và 367 chi Tuy nhiên, do mật độ dân cư đông, địa hình bằng phẳng và giao thông thuận lợi, tài nguyên rừng đã bị khai thác mạnh mẽ trong quá khứ.
Mức độ tác động đến rừng khác nhau ở từng vùng, với diện tích rừng nguyên sinh bị tác động nhẹ hiện còn rất ít Rừng nghèo kiệt chiếm 36% tổng diện tích rừng tự nhiên, trong khi đất trống chiếm 19% đất lâm nghiệp, chủ yếu ở trạng thái Ic với cây bụi và cây tái sinh trung bình 300 - 500 cây/ha Vùng này phù hợp cho khoanh nuôi và áp dụng biện pháp lâm sinh Rừng trồng chỉ chiếm 7,8% đất lâm nghiệp, chủ yếu nằm ven hồ Kẻ Gỗ, với cây trồng chủ yếu là Keo lá tràm và Thông nhựa, trong khi một phần nhỏ là cây Lim Xanh trồng dưới tán rừng, hầu hết diện tích đã kép tán.
Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ, nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, là nơi sinh sống của 364 loài động vật, bao gồm thú, chim, bò sát và lưỡng cư Nơi đây còn bảo tồn nhiều loài động vật quý hiếm được ghi trong sách đỏ thế giới như hổ, gấu, bò tót, sao la và ngan cánh trắng Đặc biệt, khu vực này còn có hai loài gà đặc hữu là gà lôi lam đuôi trắng và gà lôi lam mào đen.
Tình hình dân sinh, kinh tế, xã hội và các vấn đề liên quan
3.2.1 Tình hình dân sinh kinh tế a) Dân số : Dân số khu vực vùng đệm có gần 50.000 người Số người trong tuổi lao động trên 15.000 người
- Huyện Cẩm Xuyên có 6 xã nằm trong vùng đệm gồm: 35.451 người
- Huyện Kỳ Anh có 1 xã nằm trong vùng đệm gồm: 6.892 người
- Huyện Hương Khê có 1 xã nằm trong vùng đệm gồm: 7.500 người b) Dân sinh kinh tế:
Các xã trong vùng đệm có diện tích đất sản xuất nông nghiệp hạn chế, trung bình chỉ khoảng 0,7 - 1 sào cho mỗi lao động Người dân chủ yếu sống dựa vào nông nghiệp, trong khi thu nhập từ các nghề thủ công và dịch vụ không đáng kể, dẫn đến đời sống của họ còn thấp.
Trình độ dân trí trong vùng đệm còn thấp và không đồng đều, dẫn đến sự hiểu biết hạn chế về lợi ích của rừng cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước Điều này đã gây khó khăn cho công tác quản lý và bảo vệ rừng trong những năm qua.
Cơ sở hạ tầng tại Khu BTTN Kẻ Gỗ hiện còn thiếu thốn và xuống cấp, bao gồm điện, đường, thông tin liên lạc cùng các công trình phục vụ sản xuất và đời sống Hệ thống giao thông phục vụ công tác tuần tra bảo vệ rừng và phát triển du lịch sinh thái cũng rất hạn chế, cần được nâng cấp và cải tạo để đáp ứng nhu cầu.
Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ sở hữu hệ động, thực vật phong phú và cảnh quan thiên nhiên tuyệt đẹp, tạo ra tiềm năng lớn cho phát triển du lịch sinh thái Đất đai tại đây có điều kiện thuận lợi cho việc trồng cây ăn quả và phát triển rừng nguyên liệu với năng suất cao, cần được đầu tư khai thác hiệu quả để mang lại lợi ích kinh tế Các xã vùng đệm cũng có tiềm năng cho sản xuất nông lâm kết hợp và kinh tế trang trại, nhưng chưa được khai thác triệt để do hạn chế về trình độ dân trí và chính sách Đặc biệt, khu vực này có tiềm năng phát triển chăn nuôi gia súc như trâu, bò, hươu, dê Chính quyền và các ngành liên quan cần có giải pháp phù hợp để khai thác tiềm năng, tạo việc làm và tăng thu nhập cho người lao động, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm áp lực lên tài nguyên rừng.
ĐỐI TƢỢNG – ĐỊA ĐIỂM – THỜI GIAN – NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu về sự phân bố và tình trạng của các loài thú quý hiếm tại khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh là rất quan trọng, nhằm tạo cơ sở cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học trong khu vực này Việc hiểu rõ đặc điểm của các loài thú sẽ hỗ trợ hiệu quả trong việc xây dựng các biện pháp bảo vệ và duy trì hệ sinh thái tại Kẻ Gỗ.
Đối tƣợng, địa điểm, và thời gian nghiên cứu
Đối tƣợng là các loài thú quý hiếm tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ
Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu tại Khu bảo tồn thiên nhiên Kẻ Gỗ - Hà Tĩnh.
Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Khóa luận đƣợc thực hiện từ ngày 14 tháng 02 năm 2011 đến ngày 13 tháng 05 năm 2011.
Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu của đề tài, tôi tiến hành các nội dung sau:
- Lập danh lục các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Nghiên cứu tình trạng của các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Nghiên cứu đặc điểm phân bố của các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn
- Xác định mối đe dọa đến các loài thú quý hiếm
- Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn.
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và đặc điểm khu vực nghiên cứu
Chuẩn bị bản đồ khu vực nghiên cứu gồm: Bản đồ địa hình và hiện trạng tài nguyên rừng
Chuẩn bị dụng cụ, trang thiết bị như: Ống nhòm, máy ảnh, thước dây, địa bàn
Xác định sơ bộ các tuyến điều tra trên bản đồ (chủ yếu là điều tra theo các đường mòn)
Dựa trên các tuyến điều tra sơ bộ đã được lập trên bản đồ, chúng tôi tiến hành khảo sát thực địa để xác định lại các dạng sinh cảnh chính của khu vực và điều chỉnh tuyến điều tra cho phù hợp với điều kiện địa hình Kết quả khảo sát cho thấy có 4 tuyến điều tra đã được xác định.
Tuyến 1 gồm Trạm Mũi Tru, Trạm Cát Bịn và xã Kỳ Thượng, là tuyến điều tra dài nhất với tổng chiều dài khoảng 16 km Khoảng cách giữa Mũi Tru và Cát Bịn là 8 km, và từ Cát Bịn đến xã Kỳ Thượng cũng là 8 km.
Tuyến số 1 bắt đầu từ trạm Mũi Tru, đi qua sinh cảnh cây bụi và rừng trồng tre, sau đó tiếp tục vào khu vực rừng thứ sinh phục hồi Địa hình dốc và trữ lượng gỗ thấp là đặc điểm nổi bật dọc theo tuyến đường, với hầu hết chiều dài đều đi qua sinh cảnh rừng thứ sinh phục hồi.
- Tuyến 2: Trạm Mũi Tru – Khe Dơi Tuyến này dài khoảng 6 km
Tuyến đường bắt đầu từ trạm Mũi Tru, đi qua sinh cảnh cây bụi và rừng trồng Lim xanh một năm tuổi Sau đó, tuyến đường theo dọc suối, với hai bên là rừng thứ sinh phục hồi có trữ lượng gỗ thấp, và tiếp tục đi qua sinh cảnh rừng trồng.
-Tuyến 3:Trạm Mũi Tru – Rào Môn Tuyến này dài khoảng 6 km
Tuyến điều tra số 3 đi qua các sinh cảnh đa dạng, bắt đầu từ cây bụi và rừng trồng tre, sau đó tiến vào rừng thứ sinh phục hồi với loài cây chủ yếu là Táu Cuối cùng, tuyến đường dẫn đến sinh cảnh rừng tự nhiên và kết thúc tại khu vực giáp ranh với bờ hồ.
-Tuyến 4:Trạm Mũi Tru – Xe cháy Tuyến này dài khoảng 7 km
Tuyến đường bắt đầu từ trạm Mũi Tru, đi qua sinh cảnh cây bụi rừng trồng tre, tiếp tục dẫn đến rừng thứ sinh phục hồi Khi theo con đường mòn, bạn sẽ đi hết rừng thứ sinh phục hồi và đến rừng tự nhiên, nơi rừng đã bị khai thác mạnh.
Chúng tôi thực hiện điều tra theo các tuyến đã được xác định, sử dụng phương pháp quan sát mô tả kết hợp với sách nhận dạng động vật ngoài thực địa Kết quả của cuộc điều tra được ghi chép trong biểu 01.
Biểu 01: Kết quả điều tra loài các loài thú
Người điều tra………… ngày điều tra………
Thời tiết ……… Địa điểm điều tra………
Tuyến điều tra………… chiều dài tuyến ………
Thời gian bắt đầu …… Thời gian kết thúc ………
Thời gian Loài Số lƣợng Tuổi/giới tính
4.6.2.2 Phỏng vấn thợ săn và nhân dân địa phương
* Đối tƣợng phỏng vấn và mục đích phỏng vấn:
Mục đích của phỏng vấn là thu thập thông tin sơ bộ về sự hiện diện và số lượng các loài thú quý hiếm Đồng thời, phỏng vấn cũng nhằm tìm hiểu các hoạt động của người dân liên quan đến việc sử dụng tài nguyên, từ đó đánh giá ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến các loài thú quý hiếm tại khu vực này.
Đối tượng phỏng vấn bao gồm người dân địa phương, thợ săn, và những người sống xung quanh vùng đệm của Khu bảo tồn Họ thường xuyên vào rừng để thực hiện các hoạt động như săn thú, kiếm củi, chăn nuôi trâu bò, lấy mật ong và thu thập thuốc.
Công việc điều tra phỏng vấn đƣợc thông qua hệ thống các câu hỏi đơn gian, ngắn gọn, dễ hiểu
Tại Khu bảo tồn, tôi đã gặp nhiều loài thú khác nhau, trong đó có loài thú tên địa phương là "thú hoang" Số lượng cá thể của loài này hiện nay khá ít, và chúng được biết đến là loài dễ săn bắt nhất trong khu vực Lần gặp gần đây nhất của tôi với loài thú này là vào tháng trước, khi tôi tham gia một chuyến thám hiểm tại khu vực bảo tồn.
Kết quả phỏng vấn đƣợc ghi vào biểu 02
Biểu 02: Kết quả phỏng vấn người dân địa phương
Người điều tra: Ngày điều tra: ……… Tên thợ săn: Dântộc Tuổi: Địa chỉ: ………
Tên loài Địa điểm bắt gặp
Số lƣợng Ghi chú Địa phương Phổ thông
Dựa vào các sản phẩm của động vật, thợ săn và người dân địa phương lưu giữ kỷ niệm từ mỗi cuộc đi săn Biểu 03 cung cấp thông tin về thời gian, địa điểm, số lượng và bộ phận của các mẫu vật quý hiếm đã được thu thập Thông qua đó, chúng ta có thể nhận biết tình trạng hiện tại của các loài và khả năng gặp gỡ các loài thú quý hiếm tại những địa điểm còn tồn tại.
Kết quả phân tích mẫu vật đƣợc ghi vào biểu 03
Mẫu biểu 03: Phiếu phân tích mẫu vật
Nơi giữ mẫu vật:……… Người thu mẫu:……… Ngày phân tích:……… Dân tộc:………
Thời gian thu mẫu Địa điểm thu mẫu
Tình trạng loài hiện nay
Vùng còn khả năng bắt gặp
4.6.2.4 Xác định các mối đe dọa đến các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Dựa trên khảo sát sinh cảnh sống và tác động của con người như thợ săn, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến môi trường tự nhiên Qua việc khảo sát thực địa, các tác động từ hoạt động đốt nương, khai thác gỗ, tạo ra các đường mòn, cháy rừng, cùng với việc sử dụng bẫy và súng đã được ghi nhận.
Biểu 04: Biểu ghi chép về tác động của con người Địa điểm điều tra ………… Ngày: ………
Thời gian bắt đầu………… Thời gian kết thúc …………
Tuyến số……… Quãng đường đi ………
2 súng 6 đường đi lại trong rừng
3 làm nương rẫy 7 những hoạt động khác
Thời gian Hoạt động Vị trí* Hoạt động Ghi chú**
4.6.2.5 Đề xuất các giải pháp bảo tồn các loài thú quý hiếm tại khu vực nghiên cứu
Qua quá trình điều tra thực địa, các tuyến sẽ đánh giá các mối đe dọa chính đối với các loài thú quý hiếm tại Khu bảo tồn Từ đó, sẽ đề xuất các biện pháp nhằm giảm thiểu tối đa tác hại từ những mối đe dọa này.
Kết quả thu thập được đã được phân tích và xử lý theo từng nội dung nghiên cứu, sử dụng các phần mềm như Excel, Photoshop và MapInfo Cụ thể, Excel được dùng để thống kê tọa độ trong quá trình điều tra, Photoshop hỗ trợ chỉnh sửa hình ảnh, và MapInfo giúp thiết kế các tuyến điều tra cũng như xây dựng bản đồ phân bố các loài thú quý hiếm và bản đồ phân cấp mức độ đe dọa.