Chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý bằng biện pháp thiêu đốt ngay tại bệnh viện, chất thải rắn thông thường sau khi được thu gom và tập kết tại nhà lưu giữ chất thải của bệnh viện sẽ
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình đại học và viết khóa luận tốt nghiệp với đề
tài “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”, tôi
đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của quý thầy cô trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam
Trước hết, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến quý thầy cô trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các thầy cô đã tận tình dạy bảo tôi trong suốt thời gian học tập tại trường
Tôi xin gửi lời biết ơn sâu sắc đến TS Bùi Xuân Dũng giảng viên bộ môn Quản lý môi trường, Khoa Quản Lý Tài nguyên rừng và Môi trường, trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam, người đã tận tình giúp đỡ và hướng dẫn tôi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến các cán bộ bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
đã tạo điều kiện cho tôi đến thực tập và đóng góp nhiều ý kiến quý báu giúp tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này
Cuối cùng, tôi xin tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè đã luôn theo sát, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp
Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian và trình độ có hạn nên bài khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, tôi rất mong nhận được sự góp ý của quý thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Thanh Huyền
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI TRƯỜNG
============o0o============
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên khóa luận: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”
2 Sinh viên thực hiện: Trần Thị Thanh Huyền
3 Giáo viên hướng dẫn: TS Bùi Xuân Dũng
4 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viên Đa khoa huyện Tứ Kỳ
5 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện
Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ đến môi trường
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
6 Kết quả đạt được
- Nguồn phát sinh CTR y tế của bệnh viện rất đa dạng nhưng hầu hết phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và tất cả các nhân viên, cán bộ y tế, các khu hành chính, dịch vụ tại bệnh viện
Trang 3- Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ thải ra khoảng 65 tấn chất thải trong một năm Ước tính, hàng ngày bệnh viện đã thải ra môi trường khoảng
182 kg chất thải rắn y tế gồm 152 kg chất thải rắn thông thường (chiếm 83,5%), 30 kg chất thải rắn y tế nguy hại (chiếm 16,5%) Khối lượng chất thải rắn tăng dần qua các năm, trung bình tăng 1,8 tấn/năm
- Công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện tương đối tốt, bệnh viện đã tiến hành phân loại chất thải rắn tại nguồn, thu gom và vận chuyển chất thải đến nơi lưu giữ chất thải theo đúng quy định Chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý bằng biện pháp thiêu đốt ngay tại bệnh viện, chất thải rắn thông thường sau khi được thu gom và tập kết tại nhà lưu giữ chất thải của bệnh viện sẽ được công ty Môi trường Tre Xanh Tứ Kỳ thu gom mang đi chôn lấp ở bãi rác của huyện
- Chất thải rắn y tế của bệnh viện không ảnh hưởng nhiều tới chất lượng môi trường Qua khảo sát thực tế cho thấy môi trường bệnh viện tương đối sạch, không có hiện tượng tồn đọng chất thải gây mùi hôi thối Ngoài ra, dựa vào thông số quan trắc môi trường cho thấy các thông số quan trắc tại bệnh viện đều nằm trong quy chuẩn cho phép, không gây ảnh hưởng đến môi trường xung quanh
- Khóa luận cũng đưa ra được một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Các giải pháp tập trung chủ yếu vào công tác tuyên truyền, giáo dục mọi người nâng cao nhận thức về bảo vệ môi trường của bệnh viện, hoàn thiện các trang thiết bị thu gom, vận chuyển và lưu giữ chất thải
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG viii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ x
DANH MỤC HÌNH xi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn y tế 3
1.1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế 3
1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế 3
1.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế 6
1.2.1 Quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới 6
1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 7
1.2.3 Quản lý chất thải rắn y tế tại Hải Dương 9
1.2.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam 10
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 12
2.3 Thời gian nghiên cứu 12
2.4 Nội dung nghiên cứu 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
Trang 52.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu 13
2.5.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 13
2.5.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp 16
CHƯƠNG 3.TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TỨ KỲ 17
3.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.1 Vị trí địa lý 17
3.1.2 Điều kiện khí hậu 17
3.2 Giới thiệu chung về bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 18
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện 18
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện 18
3.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện 20
CHƯƠNG 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 22
4.1 Hiện trạng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 22
4.1.1 Nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện 22
4.1.2 Dự báo xu hướng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện 29
4.2 Thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 32
4.2.1 Quy trình quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa Tứ Kỳ 32
4.2.2 Công tác phân loại, thu gom chất thải rắn y tế của bệnh viện 32
4.2.3 Thực trạng vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 38
4.2.4 Đánh giá ưu, nhược điểm của công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện 41
Trang 64.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến chất lượng môi trường khu vực
nghiên cứu 45
4.3.1 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường không khí 45
4.3.2 Ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường nước 47
4.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 48
4.4.1 Cơ sở đưa ra đề xuất 48
4.4.2 Giải pháp về chính sách nói chung 48
4.4.4 Nâng cao nhận thức về công tác bảo vệ môi trường 52
CHƯƠNG 5.KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KIẾN NGHỊ 54
5.1 Kết luận 54
5.2 Tồn tại 55
5.3 Kiến nghị 55 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các nước trên thế giới theo tuyến bệnh viện 6 Bảng 4.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế của bệnh viện 22 Bảng 4.2 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính hóa lý 23 Bảng 4.3 Khối lượng CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ tháng 1,
2, 3, 4 năm 2015 25 Bảng 4.4 Lượng chất thải rắn y tế thông thường phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh viện 25 Bảng 4.5 Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh viện 27 Bảng 4.6 Số lượng bệnh nhân và lượng chất thải rắn y tế phát sinh của bệnh viện giai đoạn 2010 - 2014 29 Bảng 4.7 Kết quả dự báo gia tăng số lượng bệnh nhân của bệnh viện giai đoạn 2015 - 2020 30 Bảng 4.8 Kết quả dự báo gia tăng lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện giai đoạn 2015 - 2020 31 Bảng 4.9 Kết quả khảo sát dụng cụ thu gom chất thải rắn thông thường tại các khoa của bệnh viện (n = 52) 34 Bảng 4.10 Kết quả khảo sát dụng cụ thu gom chất thải rắn lây nhiễm loại B,
C, D tại các khoa của bệnh viện (n = 40) 36 Bảng 4.11 Kết quả khảo sát dụng cụ thu gom chất thải sắc nhọn tại 37 các khoa của bệnh viện (n = 40) 37 Bảng 4.12 Kết quả khảo sát phương tiện vận chuyển chất thải rắn y tế của bệnh viện (n = 7) 39
Trang 9Bảng 4.13 Kết quả khảo sát khu vực lưu giữ chất thải rắn y tế nguy hại 40 Bảng 4.14 Kết quả đánh giá về công tác quản lý CTR của bệnh viện qua thăm dò đối tượng (n = 100) 42 Bảng 4.15 Những hạn chế trong công tác quản lý CTR y tế của bệnh viện 44 Bảng 4.16 Kết quả phân tích chất lượng không khí tại khu vực lò đốt chất thải rắn y tế của bệnh viện năm 2014 45 Bảng 4.17 Kết quả đánh giá về chất lượng môi trường qua thăm dò đối tượng (n = 100) 46 Bảng 4.18 Kết quả phân tích nước thải sau quá trình xử lý của bệnh viện năm 2014 47
Trang 10DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa 24 Biểu đồ 4.2 Lượng CTR thông thường phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh viện 26 Biểu đồ 4.3 Lượng CTR nguy hại phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh viện 28 Biểu đồ 4.4 Gia tăng số lượng bệnh nhân của bệnh viện giai đoạn 2010 –
2014 29 Biểu đồ 4.5 Biểu đồ biểu diễn mối tương quan giữa số lượng bệnh nhân và tổng lượng chất thải rắn y tế phát sinh của bệnh viện giai đoạn 2010 - 2014 30
Trang 11DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Hoạt động cân chất thải rắn y tế tại bệnh viện 15
Hình 3.1 Bản đồ huyện Tứ Kỳ và vị trí bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 17
Hình 3.2 Sơ đồ mặt bằng bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 20
Hình 3.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Huyện Tứ Kỳ 21
Hình 4.1 Sơ đồ quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ 32
Hình 4.2 Thùng đựng chất thải của bệnh viện 34
Hình 4.3 Dụng cụ tự tạo (chai nước) đựng đầu kim tiêm trên xe tiêm 37
các khoa của bệnh viện (n = 40) 37
Hình 4.4 Nơi lưu giữ chất thải của bệnh viện 39
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Kinh tế ngày càng phát triển, chất lượng cuộc sống của người dân không ngừng được cải thiện kéo theo các nhu cầu về vui chơi, giải trí và chăm sóc sức khỏe cũng không ngừng tăng lên Ngày nay, số lượng người dân được tiếp cận với các dịch vụ y tế cũng như số lượng người dân tham gia bảo hiểm y tế ngày một gia tăng Các bệnh viện trong nước đã không ngừng nâng cao cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị, máy móc hiện đại và có rất nhiều bệnh viện, trạm y tế được xây mới để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Ngoài nhiệm vụ quan trọng là chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe của con người thì các bệnh viện, cơ sở y tế cũng là nơi phát sinh ra nhiều chất thải rắn y tế Những chất thải này có chứa nhiều thành phần độc hại, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường nếu không được thu gom, phân loại và xử lý đúng cách
Theo nghiên cứu điều tra của Cục khám chữa bệnh – Bộ Y tế và Viện Kiến trúc, Quy hoạch Đô thị và Nông thôn – Bộ Xây dựng, năm 2009 – 2010 tổng lượng chất thải rắn y tế trong toàn quốc khoảng 100 – 140 (tấn/ngày), trong đó có 16 - 30 tấn/ngày là chất thải rắn y tế nguy hại Lượng chất thải rắn trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó chất thải rắn y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 – 0,2 kg/giường/ngày Chất thải rắn y tế ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng
số lượng cơ sở y tế và tăng số giường bệnh; tăng cường sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế; dân số gia tăng [3]
Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ là trung tâm khám và chữa bệnh lớn của huyện Tứ Kỳ Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng kể trong công tác khám chữa, phòng bệnh và chăm lo cho sức khỏe của người dân Với quy mô là 220 giường bệnh với đủ các khoa như khoa nội nhi, khoa sản, khoa hồi sức cấp cứu… cùng với đội ngũ y bác sĩ rất tâm huyết với nghề, bệnh viện đã trở thành địa điểm khám chữa bệnh đáng tin cậy của người dân Với số lượng người dân tới bệnh viện
Trang 13khám chữa và điều trị bệnh ngày càng tăng đã tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển về y tế nhưng đó cũng là nguyên nhân làm gia tăng lượng chất thải rắn y
tế trong bệnh viện Nằm ở trung tâm huyện, là nơi tập trung đông dân cư nên những thiếu sót trong công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện sẽ gây ảnh hưởng rất lớn tới môi trường cũng như sức khỏe của người dân Xuất
phát từ những vấn đề trên tôi tiến hành đề tài nghiên cứu: “Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương”
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số vấn đề cơ bản về chất thải rắn y tế
1.1.1 Khái niệm về chất thải rắn y tế
Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc hoạt động khác [10]
Chất thải rắn y tế là chất thải ở thể rắn phát sinh từ các hoạt động y tế bao gồm chất thải nguy hại và chất thải thông thường [14]
Chất thải y tế nguy hại là chất thải y tế chứa yếu tố nguy hại cho sức khỏe con người và môi trường như dễ lây nhiễm, gây ngộ độc, phóng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn hoặc có đặc tính nguy hại khác nếu như những chất thải này không được tiêu hủy an toàn [14]
Chất thải y tế thông thường là chất thải y tế không có khả năng gây độc, gây hại tới môi trường và sức khỏe con người như thực phẩm dư thừa, giấy vụn… Đối với loại chất thải này không cần lưu giữ và xử lý đặc biệt nhưng để bảo vệ sức khỏe cộng đồng chúng ta cần thu gom và xử lý phù hợp
1.1.2 Phân loại chất thải rắn y tế
Căn cứ vào các đặc điểm lý học, hóa học, sinh học và tính chất nguy hại, chất thải trong các cơ sở y tế được phân thành 5 nhóm như sau [14]:
- Chất thải lây nhiễm
- Chất thải hóa học nguy hại
- Chất thải phóng xạ
- Bình chứa áp suất
- Chất thải thông thường
a) Chất thải lây nhiễm
- Chất thải sắc nhọn (loại A): là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các loại hoạt động y tế
Trang 15- Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách
ly
- Chất thải có nguy cơ lây nhiễm cao (loại C): là chất thải phát sinh trong các phòng xét nghiệm như bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm
- Chất thải giải phẫu (loại D): bao gồm các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, rau thai, bào thai và xác động vật thí nghiệm
b) Chất thải hóa học nguy hại
- Dược phẩm quá hạn, kém phẩm chất không còn khả năng sử dụng
- Các chất hóa học nguy hại sử dụng trong y tế như: Formaldehyde, các chất quang hóa học, các dung môi, các chất hóa học hỗn hợp
- Chất gây độc tế bào gồm vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh được điều trị bằng hóa trị liệu
- Chất thải chứa kim loại nặng: thủy ngân (từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa), cadimi (từ pin, ắc quy), chì (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chì sử dụng trong ngăn tia xạ từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị)
c) Chất thải phóng xạ
Chất thải phóng xạ gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất
d) Bình chứa áp suất
Bao gồm bình đựng oxy, CO2, bình ga, bình khí dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt
e) Chất thải thông thường
Chất thải thông thường là chất thải không chứa các yếu tố lây nhiễm, hóa học nguy hại, phóng xạ, dễ cháy, nổ bao gồm:
Trang 16- Chất thải sinh hoạt phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)
- Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gẫy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại
- Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng các tông, túi nilon, túi đựng phim
- Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu ngoại cảnh
1.1.3 Quản lý chất thải rắn y tế
Quản lý chất thải rắn y tế là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, lưu giữ, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý, tiêu
hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát việc thực hiện [14]
- Thu gom chất thải tại nơi phát sinh là quá trình phân loại, tập hợp, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải tại địa điểm phát sinh chất thải trong
cơ sở y tế
- Vận chuyển chất thải là quá trình chuyên chở chất thải từ nơi phát
sinh tới nơi xử lý ban đầu, lưu giữ, tiêu hủy
- Xử lý ban đầu là quá trình khử khuẩn hoặc tiệt khuẩn các chất thải
có nguy cơ lây nhiễm cao tại nơi chất thải phát sinh trước khi vận chuyển tới
nơi lưu giữ hoặc tiêu hủy
- Xử lý và tiêu hủy chất thải là quá trình sử dụng các công nghệ nhằm làm mất khả năng gây nguy hại của chất thải đối với sức khỏe con người và
Trang 171.2 Thực trạng quản lý chất thải rắn y tế
1.2.1 Quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới
a) Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế trên thế giới
Khối lượng CTR y tế phát sinh thay đổi theo từng tuyến, khu vực, theo mùa và phụ thuộc vào các yếu tố khác như quy mô bệnh viện, cơ cấu bệnh tật, phương pháp và thói quen của nhân viên y tế trong việc khám chữa bệnh…
Bảng 1.1 Lượng chất thải rắn y tế phát sinh tại các nước trên thế giới
theo tuyến bệnh viện
Tuyến bệnh viện
Tổng lượng chất thải
rắn y tế (kg/giường/ngày)
Lượng chất thải rắn
y tế nguy hại (kg/giường/ngày)
Nguồn: Môi trường bệnh viện nhìn từ góc độ quản lý an toàn chất thải, 2004 b) Công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới
- Phân loại [13]
Ở Mỹ, phân loại chất thải rắn y tế thành 8 loại: chất thải cách ly; chất nuôi cấy và dự trữ các tác nhân truyền nhiễm cùng các chế phẩm sinh học có liên quan; các vật sắc nhọn được dùng trong điều trị; máu và các sản phẩm của máu; chất thải động vật; các vật sắc nhọn không sử dụng; các chất thải gây độc tế bào; chất phóng xạ
Ở Vương quốc Anh, chất thải rắn y tế được phân thành 8 nhóm bao gồm: mô người và chất truyền nhiễm; các vật sắc nhọn; mầm bệnh và các chất thải phòng thí nghiệm; các chất thải biệt dược; nước tiểu, phân và các sản phẩm vệ sinh; các chất thải Cytotoxic; các chất thải phóng xạ; các biệt dược bị kiểm soát
Trang 18Ở Hồng Kông, chất thải rắn y tế chia thành 7 nhóm gồm: các đồ sắc nhọn đã nhiễm bẩn; chất thải phòng thí nghiệm; mô tế bào người và động vật; chất gây nhiễm bệnh; thuốc mỡ bôi vết thương đã bị nhiễm bẩn, các bông gạc
và tất cả các chất thải khác từ các lần điều trị; các chất thải Cytotoxic; các chất thải biệt dược và các chất thải hóa học
- Thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế trên thế giới
Các nước tiên tiến có 2 mô hình thu gom và vận chuyển chất thải rắn y
tế là hệ thống hút chân không tự động và hệ thống thu gom, vận chuyển bằng
hệ thống xe chuyên dụng với các dụng cụ phương tiện thu gom theo đúng tiêu chuẩn quy định
- Hiện trạng xử lý chất thải rắn y tế trên thế giới [13]
Trên thế giới phương pháp thiêu đốt và khử khuẩn là 2 phương pháp được sử dụng phổ biến hiện nay Tùy thuộc vào điều kiện cụ thể như: kinh phí, công nghệ, quỹ đất, quan điểm và các quy định về bảo vệ môi trường, mỗi quốc gia có những biện pháp xử lý riêng
Ở Mỹ, Luật phòng chống ô nhiễm không khí đã làm giảm đáng kể việc
áp dụng phương pháp thiêu đốt trong xử lý chất thải rắn y tế Hiện nay, phương pháp khử khuẩn được phát triển và áp dụng rộng rãi
Tại Anh, thiêu hủy chất thải rắn y tế là biện pháp được sử dụng phổ biến Thiêu hủy ở nhiệt độ cao với thiết bị làm sạch khí thải hợp lý để thỏa mãn các tiêu chuẩn Châu Âu về kiểm soát chất phát thải là chiến lược tối ưu cho việc thiêu hủy chất thải rắn y tế Chiến lược này đã được áp dụng trong quá khứ và sẽ tiếp tục được áp dụng trong tương lai
Tại Hồng Kông, chất thải rắn y tế được xử lý theo phương pháp thiêu đốt tập trung đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế cao nhất về làm sạch khí thải Khu vực thiêu đốt được xây dựng ở khu vực ngoại thành, xa các khu vực
nhạy cảm
1.2.2 Quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
a) Hiện trạng phát sinh chất thải rắn y tế
Trang 19Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, cả nước có 25 bệnh viện chuyên khoa tuyến trung ương, 743 bệnh viện tuyến tỉnh/thành phố, 595 bệnh viện đa khoa quận/huyện/thị xã, 11.810 trung tâm y tế các cấp và 88 trung tâm/nhà điều dưỡng/bệnh viện tư nhân Tổng lượng CTR y tế trong toàn quốc năm
2010 khoảng 100 – 140 tấn/ngày, trong đó có 16 – 30 tấn/ngày là CTR y tế nguy hại Lượng CTR trung bình là 0,86 kg/giường/ngày, trong đó CTR y tế nguy hại tính trung bình là 0,14 – 0,2 kg/giường/ngày [3]
CTR y tế phát sinh ngày càng gia tăng ở hầu hết các địa phương, xuất phát từ một số nguyên nhân như: gia tăng số lượng cơ sở y tế, tăng số giường
bệnh, tăng số bệnh nhân…
b) Phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý và tiêu hủy chất thải rắn y tế
Công tác thu gom, lưu trữ CTR y tế nói chung đã được quan tâm bởi các cấp từ trung ương đến địa phương, thể hiện ở mức độ thực hiện quy định
ở các bệnh viện khá cao Theo khảo sát, có 95,6% bệnh viện đã thực hiện phân loại chất thải, trong đó 91,1% đã sử dụng dụng cụ tách riêng vật sắc nhọn; có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng nhựa PE, PP; chỉ có 29,3% sử dụng túi đựng có thành dày theo đúng quy chế Tuy nhiên, các bệnh viện có các mức độ đáp ứng yêu cầu khác nhau, chỉ có số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo đúng quy chế [3]
Chất thải y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại các lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở hoặc ký hợp đồng vận chuyển và xử lý đối với các cơ sở xử lý chất thải đã được cấp phép tại địa bàn cơ sở khám chữa bệnh đó Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở y tế quản lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn
CTR y tế không nguy hại ở hầu hết các tỉnh, thành phố đều do Công ty môi trường đô thị thu gom, vận chuyển và được xử lý tại các khu xử lý CTR
Trang 20tập trung của địa phương Đối với CTR y tế nguy hại, khối lượng CTR y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh CTR y tế nguy hại trên toàn quốc CTR y tế xử lý không đạt chuẩn (32%) là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng Các thành phố lớn như Hà Nội, Tp Hồ Chí Minh đã có xí nghiệp xử lý CTR y tế nguy hại vận hành tốt CTR y tế nguy hại của các tỉnh, thành phố khác hiện được xử lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: một số địa phương như Hải Phòng, Thái Nguyên, Cần thơ đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hành và thu gom xử lý CTR y tế nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố; Nghệ
An có lò đốt đặt tại bệnh viện tỉnh xử lý CTR y tế nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã [3]
1.2.3 Quản lý chất thải rắn y tế tại Hải Dương
Hải Dương hiện có 22 bệnh viện, trong đó có 14 bệnh viện đa khoa, 5 bệnh viện chuyên khoa và 1.407 cơ sở hành nghề y dược tư nhân được cấp phép hoạt động Lượng chất thải rắn y tế phát sinh từ các bệnh viện, cơ sở y
tế chiếm một lượng đáng kể trong tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn tỉnh Tổng lượng CTR y tế trong toàn thành phố năm 2014 là 1,2 tấn/ngày
Trong những năm gần đây, hoạt động quản lý CTR y tế ở tỉnh Hải Dương đã được quan tâm đầu tư Từ năm 2008, các bệnh viện tuyến huyện được đầu tư đồng bộ hóa hệ thống xử lý CTR y tế theo công nghệ hiện đại của Nhật Bản với công suất thiết kế từ 15 – 20 kg/giờ Sự đầu tư này đã góp phần xóa bỏ tình trạng nhức nhối do xử lý chất thải rắn y tế theo cách truyền thống là chôn lấp Lò đốt có khả năng hoạt động liên tục ngày đêm, lượng khói xả ra không đáng kể
Theo Sở Y tế, toàn tỉnh hiện có 18 cơ sở y tế công lập có lò đốt chất thải rắn y tế còn hoạt động Một số trung tâm y tế, trạm y tế và các cơ sở y tế tư
Trang 21nhân đã hợp đồng với các bệnh viện để xử lý chất thải Tuy nhiên, nhiều cơ
sở y tế vẫn phải xử lý bằng phương pháp chôn lấp gây ô nhiễm môi trường
1.2.4 Một số nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế ở Việt Nam
Ở nước ta, CTR y tế được quản lý bằng hệ thống các văn bản pháp luật, tuy nhiên việc thực hiện chưa thực sự nghiêm ngặt Những năm gần đây, CTR y tế của bệnh viện đang là vấn đề được quan tâm do tính chất nguy hại của loại chất thải này Chất thải rắn y tế này có chứa nhiều thành phần độc hại, gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và môi trường nếu không được thu gom, phân loại và xử lý đúng cách Các nghiên cứu về vấn đề này
đã đưa ra những kết quả về thực trạng của công tác quản lý CTR y tế như sau:
- Năm 2009, qua kết quả đánh giá về “Thực trạng quản lý chất thải rắn y
tế tại các cơ sở y tế trong nước” cho thấy: chỉ có 50% các bệnh viện phân loại, thu gom, xử lý CTR y tế đúng cách; thiêu hủy CTR y tế bằng lò đốt chiếm 33% Quản lý CTR y tế tại các tuyến xã chưa được quan tâm, hầu hết các trạm y tế chưa thực hiện việc phân loại CTR y tế trước khi xả ra môi trường
- Báo cáo môi trường quốc gia năm 2011về chất thải rắn đưa ra kết luận: + Chất thải rắn y tế phát sinh từ các cơ sở khám chữa bệnh trực thuộc sự quản lý của Bộ Y tế, phần lớn được thu gom và vận chuyển đến các khu vực lưu giữ sau đó được xử lý tại lò thiêu đốt nằm ngay trong cơ sở
+ Đối với các cơ sở khám chữa bệnh ở địa phương do các Sở Y tế quản
lý, công tác thu gom, lưu giữ và vận chuyển CTR chưa được chú trọng, đặc biệt là công tác phân loại và lưu giữ chất thải tại nguồn
+ Trong vận chuyển CTR y tế, chỉ có 53% số bệnh viện sử dụng xe có nắp đậy để vận chuyển CTR y tế nguy hại, 53,4% bệnh viện có mái che để lưu giữ CTR
- Năm 2013, tác giả Trần Thái An, sinh viên trường Đại học Lâm Nghiệp đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu đánh giá
Trang 22thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức – Hà Nội” Đề tài đã đưa ra thực trạng quản lý CTR y tế và các giải pháp khắc phục nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR y tế tại bệnh viện Hữu nghị Việt Đức; tuy nhiên các giải pháp này chỉ mang tính chung chung và chưa đánh giá được tính khả thi, hiệu quả của các đề xuất
- Nhìn chung các tác giả chủ yếu tập trung vào vấn đề phát sinh chất thải
ở các bệnh viện mà ít đề cập đến vấn đề đánh giá tổng thể công tác quản lý CTR y tế từ công đoạn phân loại, thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý CTR
y tế Riêng đối với bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, chưa có nghiên cứu nào
về công tác quản lý CTR y tế của bệnh viện Xuất phát từ vấn đề trên tôi đã lựa chọn đề tài này để nghiên cứu nhằm đánh giá tổng thể công tác quản lý CTR y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý CTR y tế tại bệnh viện
Trang 23CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu chung: Góp phần vào việc nâng cao hiệu quả quản lý chất
thải rắn y tế và bảo vệ môi trường tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, tỉnh
Hải Dương
- Mục tiêu cụ thể
+ Đánh giá được hiện trạng và công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
+ Đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn
y tế tại bệnh viên Đa khoa huyện Tứ Kỳ
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Chất thải rắn y tế
Phạm vi nghiên cứu: Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
2.3 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 07/02/2015 đến ngày 10/05/2015
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện trạng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện
Tứ Kỳ
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý chất thải rắn y tế của bệnh viện
Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải rắn y tế đến môi trường bệnh viện
Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
Trang 242.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa số liệu
Kế thừa số liệu là một trong những phương pháp phổ biến trong nghiên cứu khoa học Trên cơ sở kế thừa có chọn lọc những kết quả nghiên cứu đã
có sẵn, thu thập phân tích các báo cáo từ các đề tài nghiên cứu trước đó tại khu vực nghiên cứu Để phục vụ cho quá trình hoàn thành khóa luận, những tài liệu được thu thập từ bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ bao gồm:
- Tài liệu về lịch sử hình thành và quá trình phát triển của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Bản đồ huyện Tứ Kỳ và vị trí bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
- Sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện Đa khoa huyện
Tứ Kỳ
- Tài liệu về khối lượng CTR y tế của bệnh viện 4 tháng đầu năm 2015
- Tài liệu về số lượng bệnh nhân và lượng chất thải rắn y tế phát sinh của bệnh viện giai đoạn 2010 – 2014
- Kết quả phân tích chất lượng không khí tại khu vực lò đốt chất thải rắn y tế, kết quả phân tích nước thải sau quá trình xử lý của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ năm 2014
2.5.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
a) Phương pháp khảo sát thực tế
Phương pháp quan sát mô tả
Việc điều tra khảo sát thực tế là một phương pháp rất quan trọng trong quá trình nghiên cứu Để thu thập thông tin về hiện trạng quản lý CTR y tế của bệnh viện, khóa luận tiến hành lập các bảng điều tra (Phụ lục 02, 03, 04,
05, 06, 07) và tiến hành điều tra tại các khoa của bệnh viện Cách điều tra như sau:
+ Tiến hành thu thập thông tin về số lượng, màu sắc và chất lượng của các trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế của bệnh viện bằng cách quan sát trực tiếp xem có bao nhiêu dụng cụ thu gom, màu sắc và chất lượng
Trang 25của các dụng cụ này (bị vỡ/sứt mẻ, có nắp đậy…) tại các khoa/phòng và trong khuôn viên bệnh viện, ghi lại kết quả thu thập được theo bảng điều tra trang thiết bị thu gom, vận chuyển CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ
Kỳ (Phụ lục 02)
+Thu thập thông tin về hiện trạng phân loại CTR y tế của bệnh viện bằng cách quan sát trực tiếp quá trình phân loại CTR y tế của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân, các nhân viên y tế trong việc điều trị cho bệnh nhân ngay tại các buồng bệnh (bơm kim tiêm, vỏ lọ vacxin, bông băng thấm máu… được phân loại riêng hay để chung với các loại chất thải khác) và ghi kết quả thu thập được theo bảng điều tra hoạt động phân loại CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ (Phụ lục 03)
+ Thu thập thông tin về hiện trạng thu gom, vận chuyển chất thải rắn y
tế của bệnh viện bằng cách quan sát hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải của các nhân viên vệ sinh vào các giờ thu gom, vận chuyển được quy định trong ngày, tiến hành quan sát trong một tuần và ghi lại kết quả thu thập được theo bảng điều tra hoạt động thu gom, vận chuyển CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ (Phụ lục 04, 05)
+ Thu thập thông tin về quá trình lưu giữ CTR y tế của bệnh viện bằng cách quan sát nơi lưu giữ chất thải (có đủ diện tích lưu giữ chất thải, có mái che, có hàng rào bảo vệ, có hệ thống bảo quản lạnh… hay không) và ghi lại kết quả thu thập được theo bảng điều tra quá trình lưu giữ CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ (Phụ lục 06)
+ Thu thập thông tin về quá trình xử lý CTR y tế của bệnh viện theo bảng điều tra quá trình xử lý CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ (Phụ lục 07)
Phương pháp cân đo chất thải rắn
Để thu thập thông tin về hiện trạng nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, khóa luận tiến hành lập bảng điều tra (Phụ lục 01) Cách điều tra như sau:
Trang 26- Khóa luận tiến hành cân chất thải tại nơi tập kết chất thải ở các khoa của bệnh viện và ở nhà lưu giữ chất thải của bệnh viện trong thời gian 1 tuần, mỗi ngày tiến hành cân 2 lần vào buổi sáng và buổi chiều Lấy kết quả trung bình của các lần cân
+ Dụng cụ tiến hành: cân đồng hồ, túi nilon, giấy bút để ghi chép số liệu…
+ Thời gian tiến hành: 11h đến 12h và 17h đến 18h
+ Cách tiến hành: sau khi chất thải y tế của bệnh viện được thu gom về nơi tập kết, khóa luận tiến hành sử dụng gắp chuyên dụng để tách riêng từng loại chất thải của bệnh viện vào các túi nilon rồi tiến hành cân đo và ghi chép
số liệu theo bảng điều tra nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ (Phụ lục 01và hình 2.1)
Hình 2.1 Hoạt động cân chất thải rắn y tế tại bệnh viện
Trang 27b) Phương pháp phỏng vấn
Phương pháp này được sử dụng để lấy ý kiến đánh giá của cán bộ y tế, bệnh nhân, người nhà bệnh nhân về công tác quản lý chất thải rắn và những ảnh hưởng của CTR y tế đến môi trường bệnh viện Cách tiến hành như sau:
+ Phỏng vấn trực tiếp các cán bộ nhân viên y tế của bệnh viện bằng bảng phỏng vấn gồm 15 câu hỏi (Phụ lục 08), số lượng cán bộ nhân viên phỏng vấn là 30 người trong đó phỏng vấn 10 nhân viên chuyên về vệ sinh môi trường và 20 cán bộ y tế chuyên khoa như bác sĩ, điều dưỡng, hộ lý…
+ Phỏng vấn trực tiếp 70 người gồm bệnh nhân và người nhà bệnh nhân bằng bảng phỏng vấn gồm 12 câu hỏi (Phụ lục 09)
2.5.3 Phương pháp xử lý nội nghiệp
- Sử dụng phần mềm excel để xử lý số liệu, vẽ biểu đồ; phần mềm Microsoft Word để soạn thảo văn bản
- Ước tính khối lượng chất thải rắn y tế phát sinh của bệnh viện
Để dự báo được khối lượng CTR y tế của bệnh viện giai đoạn 2015 –
2020, dựa theo số lượng bệnh nhân gia tăng để ước tính sự gia tăng khối lượng CTR y tế Cách tính như sau:
+ Số bệnh nhân năm sau = Số bệnh nhân năm gần nhất + số lượng bệnh nhân gia tăng trung bình (người)
+ Khối lượng chất thải rắn y tế = số lượng bệnh nhân*hệ số phát thải (kg/năm)
Trang 28CHƯƠNG 3 TỔNG QUAN VỀ BỆNH VIỆN ĐA KHOA HUYỆN TỨ KỲ
3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ nằm ở trung tâm Trị trấn Tứ Kỳ, huyện Tứ Kỳ, tỉnh Hải Dương Thị trấn Tứ Kỳ nằm cách trung tâm thành phố Hải Dương 10 km về phía Tây Bắc Phía Bắc giáp xã Quang Phục, phía Nam giáp xã Văn Tố, phía Đông giáp xã Đông Kỳ, phía Tây giáp xã Minh Đức Giới hạn khu vực nghiên cứu được xác định theo bản đồ do phòng địa chính – UBND huyện Tứ Kỳ cung cấp thì bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ có tọa
độ địa lý: 20°48'56"N; 106°24'23"E
Hình 3.1 Bản đồ huyện Tứ Kỳ và vị trí bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
3.1.2 Điều kiện khí hậu
Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa Một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa nóng ẩm từ tháng 4 đến tháng 10, mùa khô từ
tháng 11 đến tháng 3 năm sau
Trang 293.2 Giới thiệu chung về bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
3.2.1 Quá trình hình thành và phát triển của bệnh viện
Năm 1990 bệnh viện có tên là bệnh viện khu vực hay còn gọi là bệnh viện Tứ Lộc 2, nhưng từ năm 1990 đến năm 2004 đổi tên thành Trung tâm y
tế Tứ Kỳ Đến ngày 23 – 8 – 2005 đổi tên thành bệnh viện Đa khoa huyện Tứ
Kỳ theo Quyết định của Ủy Ban Nhân Dân tỉnh Hải Dương Trải qua hơn 20 năm xây dựng và phát triển, bệnh viện đã từng bước vươn lên làm tốt nhiệm
vụ bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho người dân Bệnh viện đã đào tạo được đội ngũ cán bộ khoa học, kỹ thuật giàu trí tuệ, có lòng yêu nghề và tinh thần trách nhiệm Bệnh viện cũng không ngừng đầu tư nhiều thiết bị máy móc hiện đại, cơ sở hạ tầng được xây mới để đáp ứng tốt hơn công tác khám
và chữa bệnh Thường xuyên cử cán bộ đi học thêm về chuyên môn nghiệp
vụ, nâng cao dần trình độ cho cán bộ công nhân viên Với lòng nhiệt tình chăm sóc bệnh nhân, hiện nay bệnh viện không chỉ tiếp nhận những ca bệnh nhẹ, đơn giản mà còn tiếp nhận những ca bệnh khó, đòi hỏi thiết bị máy móc hiện đại, trình độ chuyên môn kỹ thuật cao Chính vì vậy, đơn vị đã nhận được nhiều bằng khen của tỉnh về thành tích lao động cho tập thể và cá nhân xuất sắc Với phương châm “Lương y như từ mẫu” đặt sức khỏe của bệnh nhân lên hàng đầu, các cán bộ luôn tận tình chăm sóc bệnh nhân, được nhân dân yêu mến tin tưởng
3.2.2 Chức năng, nhiệm vụ của bệnh viện
Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ kỳ là bệnh viện Đa khoa hoàn chỉnh, đảm trách nhiệm vụ bệnh viện vùng, có chức năng:
- Khám, chữa bệnh, phòng bệnh và phục hồi chức năng cho nhân dân khu vực huyện và các khu vực lân cận;
- Khám sức khỏe cho các đối tượng đi công tác, học tập, lao động ở nước ngoài và kết hôn với người nước ngoài;
- Tham gia khám định kỳ y khoa theo yêu cầu của các Hội đồng Giám định Y khoa trên cơ sở phân cấp của Bộ Y tế;
Trang 30- Phục hồi chức năng điều trị và phục hồi chức năng cộng đồng;
- Phối hợp với các cơ sở y tế trên địa bàn để phát hiện và dập tắt dịch;
- Tham gia đào tạo cán bộ: Là cơ sở thực hành của 1 số trường y, dược, tham gia đào tạo cán bộ y tế ở bậc sau Đại học, Cao đẳng Đào tạo lại và nâng cao trình độ cho cán bộ, công chức, viên chức trong bệnh viện
- Nghiên cứu khoa học: Nghiên cứu và tham gia nghiên cứu khoa học, triển khai ứng dụng những tiến bộ khoa học để phục vụ khám chữa bệnh, phòng bệnh, phục hồi chức năng, đào tạo, góp phần phát triển kinh tế xã hội trong khu vực Chủ trì và tham gia công trình nghiên cứu khoa học các cấp,
tổ chức các Hội nghị khoa học cấp bệnh viện, trong khu vực tại bệnh viện, tổ chức các chương trình hợp tác nghiên cứu khoa học phối hợp trong nước và nước ngoài theo sự phân công
- Quản lý bệnh viện: Quản lý và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của bệnh viện như: nhân lực, tài chính, cơ sở vật chất và trang thiết bị y tế Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của Nhà nước về thu, chi ngân sách bệnh viện, từng bước cải tiến hạch toán thu chi theo quy định của pháp luật Tạo thêm nguồn kinh phí cho bệnh viện từ các dịch vụ y tế: Viện phí, bảo hiểm y tế
Bệnh viện được quyền tự chủ trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn được giao theo phân cấp của Bộ Y tế, chịu trách nhiệm trước Bộ Y
tế và trước pháp luật về hoạt động của mình
Trang 313.2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện
D3 – Khoa vệ sinh môi trường
D4 – Bể thu gom nước thải
D5 – Lò đốt chất thải rắn nguy hại
A1 – Tầng 1: Nơi thanh toán viện phí và trả thẻ bảo hiểm y tế
– Tầng 2: Khu lãnh đạo và đóng dấu
– Tầng 3: Khoa dược A2 – Tầng 1: Khoa sản – Tầng 2: Khoa ngoại – Tầng 3: Khoa nội nhi C1 – Khoa YHCT & PHCN C2 – Khu dinh dưỡng tiết chế C3 – Nhà bảo vệ
Hình 3.2 Sơ đồ mặt bằng bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
A2
D5
Trang 32Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của bệnh viện gồm: ban giám đốc, 4
phòng chức năng, 7 khoa lâm sàn, 3 khoa cận lâm sàn
Hình 3.3 Sơ đồ cơ cấu tổ chức của bệnh viện Đa khoa Huyện Tứ Kỳ
- Khoa nội nhi
- Khoa truyền nhiễm
Trang 33CHƯƠNG 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng chất thải rắn y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
4.1.1 Nguồn phát sinh, thành phần, khối lượng chất thải rắn y tế của bệnh viện
a) Nguồn phát sinh
Nguồn phát sinh CTR y tế của bệnh viện rất đa dạng nhưng hầu hết phát sinh từ các hoạt động khám chữa bệnh, sinh hoạt hàng ngày của bệnh nhân, người nhà bệnh nhân và tất cả các nhân viên, cán bộ y tế, các khu hành chính, dịch vụ tại bệnh viện Các nguồn xả chất thải lây lan độc hại chủ yếu
là ở các khu vực xét nghiệm, khu phẫu thuật (Bảng 4.1).
Bảng 4.1 Nguồn phát sinh các loại CTR đặc thù từ hoạt động y tế của
bệnh viện
Chất thải sinh hoạt Các chất thải ra từ các khu nhà hành chính, khu
Các phế thải từ phẫu thuật, các cơ quan nội tạng của người sau khi mổ, các gạc bông lẫn máu mủ của bệnh nhân
Chất thải sắc nhọn
Các ống kim tiêm, dây truyền dịch, dao kéo hay các dụng cụ sắc nhọn sử dụng trong quá trình phẫu thuật, khám chữa bệnh
Chất thải hóa học nguy
Trang 34được phân loại cẩn thận trước khi xả chung với các loại CTR sinh hoạt sẽ gây
ra những nguy hại đáng kể
Xét về thành phần chất thải dựa trên đặc tính hóa lý thì tỷ lệ các thành phần có thể tái chế là khá cao, chiếm trên 15% tổng lượng CTR y tế, chưa kể 62,5% CTR y tế là chất thải hữu cơ
Bảng 4.2 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính hóa lý
(kg/ngày)
Tỷ lệ
%
3 Thủy tinh, chai lọ thuốc, bơm kim tiêm
nhựa, ống xét nghiệm máu, nước tiểu 42,8 23,5
5 Bông băng, bột bó gãy xương, bộ phận cơ
Trang 35Biểu đồ 4.1 Thành phần CTR y tế dựa trên đặc tính lý hóa
Nhận xét: Qua biểu đồ 4.1 cho thấy bệnh viện phát sinh lượng chất
thải hữu cơ tương đối lớn (113,7 kg/ngày chiếm 62,5%) Chất thải hữu cơ là các cơm canh, rau thừa, vỏ các loại hoa quả… Các chai lọ thuốc, thủy tinh, bơm kim tiêm chiếm một khối lượng đáng kể trong tổng lượng CTR y tế phát sinh của bệnh viện (42,8 kg/ngày chiếm 23,5%) vì hoạt động tiêm cho bệnh nhân đều được thực hiện hàng ngày và diễn ra ở hầu hết các khoa của bệnh viện Vỏ hộp thuốc, giấy các loại chiếm khối lượng nhỏ nhất trong tổng lượng chất thải phát sinh của bệnh viện (0,7 kg/ngày) và phát sinh ở các phòng hành chính, phòng in, phòng photo, phòng đóng dấu
- Lượng phát sinh CTR y tế
Kết quả khảo sát về lượng CTR y tế phát sinh từ các nguồn khác nhau
tại bệnh viện trong 4 tháng đầu năm 2015 được nêu trong (Bảng 4.3)
Bông băng, bột bó gãy xương, bộ phận cơ thể người, rau thai
Bệnh phẩm và dụng cụ đựng, dính bệnh phẩm Rác hữu cơ
Trang 36Bảng 4.3 Khối lượng CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ
“Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ”
Nhận xét: Qua thống kê từ bảng 4.3 ta thấy lượng CTR y tế của bệnh
viện tăng dần theo các tháng sau dịp nghỉ Tết Nguyên Đán, trong đó CTR thông thường chiếm khối lượng lớn Riêng tháng 2, lượng CTR y tế phát sinh giảm nhẹ so với tháng trước và các tháng sau là do dịp tết rơi vào tháng 2 vì vậy số lượng cán bộ y tế của bệnh viện cũng như bệnh nhân, người nhà bệnh nhân ở lại bệnh viện giảm so với những ngày thường dẫn đến lượng CTR phát sinh theo đó cũng giảm
Lượng CTR y tế phát sinh tại các phòng, khoa của bệnh viện có sự khác biệt phụ thuộc vào hoạt động chuyên môn của từng khoa/phòng; số lượng giường bệnh và số lượng bệnh nhân nằm điều trị
Bảng 4.4 Lượng chất thải rắn y tế thông thường phát sinh tại các
khoa/phòng của bệnh viện
STT Khoa/phòng
phát thải
Số giường bệnh (chiếc)
Lượng phát thải (kg/GB/ngày)
Lượng phát thải (kg/ngày)
Trang 37“Nguồn: Đề tài thực hiện năm 2015”
Biểu đồ 4.2 Lượng CTR thông thường phát sinh tại các khoa/phòng của
bệnh viện Nhận xét: Qua bảng 4.4 và biểu đồ 4.2 ta thấy lượng CTR thông
thường phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh viện có sự khác nhau Khoa phát sinh lượng CTR thông thường lớn là khoa nội nhi (52,4 kg/ngày chiếm 34,5%) Khoa nội nhi có số lượng bệnh nhân nằm điều trị và số lượng người nhà bệnh nhân lớn, vì vậy lượng CTR thông thường ở khoa nội nhi lớn hơn hẳn so với các khoa khác Chất thải ở khoa nội nhi chủ yếu là bỉm, thức ăn thừa, vỏ hoa quả Khoa sản, khoa ngoại và khoa HSCC cũng phát sinh ra
Khoa YHCT vàPHCN
Khoa sản Khoa ngoại Khoa nội nhi Khoa truyền nhiễm
Trang 38lượng CTR thông thường tương đối lớn do số lượng bệnh nhân ở các khoa này khá đông Chất thải chủ yếu ở các khoa này là chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh, các vật liệu nhựa phát sinh từ hoạt động khám chữa bệnh; bên cạnh đó còn có thức ăn dư thừa, vỏ các loại hoa quả Khoa YHCT và PHCN phát sinh lượng chất thải nhỏ nhất (3,2 kg/ngày) do khoa này có số bệnh nhân nằm điều trị tương đối ít
Bảng 4.5 Lượng chất thải rắn y tế nguy hại phát sinh tại các khoa/phòng
của bệnh viện
STT Khoa/phòng
phát thải
Số giường bệnh (chiếc)
Lượng phát thải (kg/GB/ngày)
Lượng phát thải (kg/ngày)
Trang 39Biểu đồ 4.3 Lượng CTR nguy hại phát sinh tại các khoa/phòng của bệnh
viện Nhận xét: Qua bảng 4.5 và biểu đồ 4.3 cho thấy khoa sản là nơi phát
sinh CTR y tế nguy hại lớn nhất (13,2 kg/ngày chiếm 44%), CTR y tế nguy hại phát sinh ở khoa sản chủ yếu là rau thai, bào thai, bông băng thấm máu CTR y tế nguy hại phát sinh ở khoa sản lớn là do hàng ngày tại khoa đều có bệnh nhân đến sinh nở, trung bình khoảng 10 người/ngày Các khoa khác như khoa nội nhi, khoa ngoại cũng phát sinh một lượng lớn CTR y tế nguy hại Khoa nội nhi phát sinh 6,1 kg/ngày (chiếm 20,3%), khoa ngoại phát sinh 4,2 kg/ngày (chiếm 14%), CTR y tế nguy hại phát sinh tại các khoa này là các các mô, cơ quan, bộ phận cơ thể người, bơm kim tiêm, bông băng thấm máu Các khoa khác như khoa truyền nhiễm, khoa HSCC, khoa khám bệnh, khoa chuẩn đoán hình ảnh đều phát sinh CTR y tế nguy hại, lượng chất thải phát sinh ít hơn các khoa khác, trung bình là 1,2 kg/ngày Khoa dược không phát sinh CTR nguy hại
Khoa YHCT vàPHCN
Khoa sản Khoa ngoại Khoa nội nhi Khoa truyền nhiễm
Trang 404.1.2 Dự báo xu hướng phát sinh chất thải rắn y tế của bệnh viện
Để có được những giải pháp hiệu quả cho công tác quản lý CTR y tế của bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ, khóa luận đã tìm hiểu về số lượng bệnh
nhân và xu hướng phát sinh chất thải của bệnh viện qua các năm (Bảng 4.6)
Bảng 4.6 Số lượng bệnh nhân và lượng chất thải rắn y tế phát sinh của
bệnh viện giai đoạn 2010 - 2014
“Nguồn: Bệnh viện Đa khoa huyện Tứ Kỳ”
Biểu đồ 4.4 Gia tăng số lượng bệnh nhân của bệnh viện giai đoạn 2010 –
2014 Nhận xét: Qua biểu đồ 4.4 ta thấy số lượng bệnh nhân của bệnh viện
tăng dần qua các năm, trung bình tăng 1133 (người/năm) Số lượng bệnh nhân thay đổi qua các năm được thể hiện qua phương trình y = 1133.x - 2.172.279