1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa huyện quảng xương tỉnh thanh hóa

84 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 1,19 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hiện nay, chất thải rắn ngày càng gia tăng, đặc biệt do xu thế sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y tế khiến lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều hơn, trong đó có cả nhóm c

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Được sự phân công của Khoa Quản Lý Tài Nguyên Rừng và Môi Trường, trường Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam Và sự đồng ý của thầy giáo

hướng dẫn Trần Quang Bảo, em đã thực hiện đề tài: “ Đánh giá hiện trạng và

đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa huyện Quảng Xương – tỉnh Thanh Hóa”

Để hoàn thành khóa luận này, em xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tận tình hướng dẫn, giảng dạy em trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu Đại học Lâm Nghiệp Việt Nam

Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Trần Quang Bảo đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em thực hiện khóa luận này

Mặc dù đã có rất nhiều cố gắng, nỗ lực để thực hiện đề tài một cách hoàn chỉnh nhất Song do buổi đầu mới làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, tiếp cận thực tế, cũng như hạn chế về kiến thức và kinh nghiệm cho nên không tránh khỏi những thiếu sót nhất định Em rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy giáo, cô giáo và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh tốt hơn

Em xin chân thành cảm ơn !

Hà nôi, ngày tháng năm 2019

Sinh viên

Trang 2

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

DANH MỤC BẢNG v

DANH MỤC HÌNH ẢNH vi

DANH MỤC SƠ ĐỒ vii

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vii

DANH MỤC VIẾT TẮT viii

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ 3

1.1 Định nghĩa CTYT 3

1.2 Phân loại CTYT 4

1.3 Thành phần chất thải rắn y tế 5

1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và con người 7

1.4.1 Tác động của CTRYT đến con người 7

1.4.2 Tác động của CTRYT đến môi trường không khí 10

1.4.3 Tác động của CTRYT đến môi trường nước, đất 11

1.5 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam 12

1.5.1 Quản lý CTRYT thế giới 12

1.5.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 15

1.5.3 Thực trạng thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam 17

1.6 Tình trạng nghiên cứu về CTRYT 19

1.6.1 Tình hình nghiên cứu về CTRYT trên thế giới 19

1.6.2 Tình hình nghiên cứu về CTRYT ở Việt Nam 23

CHƯƠNG 2 : MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26

2.1 Mục tiêu 26

2.1.1 Mục tiêu chung 26

Trang 3

2.1.2 Mục tiêu cụ thể 26

2.2 Nội dung nghiên cứu 26

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu 27

2.3.2 Phạm vi và thời gian 27

2.4 Phương pháp nghiên cứu 27

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liêu 27

2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu ngoại nghiệp 28

2.4.3 Phương pháp phỏng vấn 28

2.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp 30

CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 31

3.1 Huyện Quảng Xương 31

3.1.1 Điều kiện tự nhiên 31

3.1.2.Tình hình kinh tế - xã hội 32

3.2 Giới thiệu về bệnh viện đa khoa Quảng Xương 35

3.2.1 Giới thiệu chung về bệnh viện 35

3.2.2 Chức năng và nhiệm vụ của bệnh viện 35

3.2.3 Cơ cấu tổ chức và tình hình nhân sự của bệnh viện 36

3.2.4 Hoạt động khám chữa bệnh trong những năm gần đây 38

CHƯƠNG 4 : KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 39

4.1 Kết quả nghiên cứu đánh giá về thành phần, khối lượng CTRYT phát sinh từ bệnh viện 39

4.1.1 Nguồn phát sinh CTRYT 39

4.1.2 Khối lượng và thành phần của CTRYT bệnh viện Đa khoa Quảng Xương 40 4.2 Kết quả nghiên cứu đánh giá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý và quản lý 47

4.2.1 Công tác phân loại CTRYT tại nguồn 48

4.2.2 Thực trạng thu gom chất thải ở bệnh viện 49

Trang 4

4.2.3 Thực trạng vận chuyển chất thải rắn y tế tại bệnh viện 52

4.2.4 Hoạt động lưu trữ chất thải rắn y tế tại bệnh viện 53

4.2.5 Công tác xử lý chất thải rắn tại bệnh viện 56

4.2.6 Nguồn lực cho công tác quảng lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện 58

4.3 Đề xuất các giải pháp cho quản lý và xử lý CTRYT trong tương lai tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương 59

4.3.1 Giải pháp quản lý 59

4.3.2 Giải pháp công nghệ 62

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 64

1 Kết luận 64

2 Tồn tại 65

3 Kiến nghị 65 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 5

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1: Thành phần CTRYT ở Việt Nam 6

Bảng 1.2: Lượng chất thải phát sinh theo các tuyến bệnh viện 12

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các Châu lục 12

Bảng 1.4: Khối lượng chất thải y tế phát sinh theo mức thu nhập của người dân 13

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh trong các khoa tại bệnh viện 16

Bảng 1.6: bảng lượng phát sinh tại các bệnh viện 17

Bảng 1.7: Lượng phát sinh CTYT tại một số khu vực và quốc gia trên thế giới 20 Bảng 3.1: Trình độ cán bộ nhân viên của bệnh viện (Người) 36

Bảng 3.2: Số liệu cơ bản về hoạt động khám chữa bệnh tại bệnh viện Đa khoa Quảng Xương 38

Bảng 4.1: Nguồn phát sinh chất thải y tế 39

Bảng 4.2: Số liệu thống kê lượng CTRYT nguy hại tại bệnh viện năm 2017-2018 (kg/tháng) 41

Bảng 4.3: Số liệu thống kê lượng CTRTT tại bệnh viện năm 2017-2018 (kg/tháng) 42

Bảng 4.4: Lượng chất thải phát sinh trung bình tại các khu của bệnh viện Đa khoa Quảng Xương năm 2019 (Kg/tháng) 44

Bảng 4.5: Kết quả điều tra CTRYT các ngày trong tuần (kg/ngày) 45

Bảng 4.6: Lượng chất thải phát sinh trong quý I năm 2019 (Kg/tháng) 46

Bảng 4.7:Điều tra thu gom vận chuyển chất thải rắn 50

Bảng 4.8: Dụng cụ chứa đựng, vận chuyển chất thải tại bệnh viện Đa khoa huyện Quảng Xương 53

Bảng 4.9: Kết quả khảo sát tình trạng lưu giữ chất thải rắn y tế 54

Bảng 4.10: Thực trạng xử lý rác thải 57

Bảng 4.11: Công tác xử lý chất thải rắn tại bệnh viện Đa khoa Quảng Xương 57

Bảng 4.12: Kết quả điều tra cán bộ, nhân viên về quy chế quản lý chất thải của BYT (n=20) 58

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình ảnh 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa 31Hình ảnh 4.1: Công tác phân loại chất thải rắn tại phòng, khoa bệnh viện Đa

khoa Quảng Xương 49Hình ảnh 4.2: Thùng chứa rác thải sinh hoạt tại bệnh viện 51Hình ảnh 4.3: Xe chở rác sinh hoạt 53Hình ảnh 4.4: Khu vực lưu giữ rác thải sinh hoạt trong ngày tại bệnh viện Đa

khoa huyện Quảng Xương 55Hình ảnh 4.5: Thùng chứa rác y tế nguy hại sau khi thu hom ở bệnh viện 55Hình ảnh 4.6: Nhà lưu trữ CTYT tại bệnh viện 56Hình ảnh 4.7 Sơ đồ công nghệ đốt chất thải rắn nguy hại VHI-18B 62Hình ảnh 4.8: Hình ảnh lò đốt chất thải rắn y tế VHI – 18B 63

Trang 7

viện Đa khoa Quảng Xương năm 2017-2018 43Biểu đồ 4:thể hiện sự biến động CTRYT phát sinh trong tuần tháng 3/2019

45Biểu đồ 5:Thể hiện lượng chất thải phát sinh tại bệnh viện 3 tháng đầu năm

2019 46

Trang 8

DANH MỤC VIẾT TẮT

CTYTNH Chất thải y tế nguy hại

CTRTT Chất thải rắn thông thường

Trang 9

ĐẶT VẤN ĐỀ

Dân số gia tăng, cùng với điều kiện sống ngày càng được nâng cao thì đòi hỏi quan tâm chăm sóc sức khỏe ngày càng nhiều Đáp ứng nhu cầu đó mạng lưới y tế bệnh viện cũng phát triển theo Hơn một thế kỷ qua, y học đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và bệnh viện bước bảo một kỷ nguyên hiện đại hóa Những tiến bộ khoa học kỹ thuật và y học được đưa vào thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu chữa trị, chăm sóc sức khỏe cộng đồng hiệu quả hơn

Theo thống kê chưa đầy đủ của BYT năm 2013 cả nước có 1087 bệnh viện, bao gồm 1023 bệnh viện nhà nước, 64 bệnh viện tư nhân với tổng sô 140.000 giường bệnh Ngoài ra còn có hơn 10.000 trạm y tế xã, hơn 10.000 phòng khám tư nhân Các bệnh viện trong nước đã không ngừng nâng cao cơ sở hạ tầng, đầu tư trang thiết bị y tế và rất nhiều cơ sở y tế được xây dựng để đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của người dân Hiện nay, chất thải rắn ngày càng gia tăng, đặc biệt do xu thế sử dụng các sản phẩm dùng một lần trong y

tế khiến lượng chất thải rắn phát sinh ngày càng nhiều hơn, trong đó có cả nhóm chất thải thuộc loại nguy hiểm đối với con người và môi trường Theo ước tính, chất thải rắn y tế trên toàn quốc khoảng 100 – 140(tấn/ngày), trong

đó có 16-30(tấn/ngày) là chất thải nguy hại Song bên cạnh đó công tác xử lý

và quản lý chất thải rắn còn hạn chế ở các tuyến bệnh viện Các dạng chất thải dạng rắn, lỏng, khí có chứa các chất hữu cơ, nhiễm nhiều mần bệnh gây ô nhiễm môi trường, bệnh tật nghiêm trọng cho môi trường bệnh viện và xung quanh bệnh viện, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người [6]

Bệnh viện Đa khoa huyện Quảng Xương đã được hình thành và đang phát triển mạnh mẽ trong những năm qua đã khẳng định được vai trò quan trọng của mình trong quá trình phát triển chung của đất nước Nhờ những nỗ lực phấn đấu không ngừng nghỉ mà bệnh viện đã đạt được nhiều thành quả đáng

kể trong công tác khám chữa bệnh, phòng bệnh và chăm lo sức khỏe cho nhân dân Bệnh cạnh những thành tự đã đạt được thì hiện nay, tình trạng chất thải rắn y tế thải ran khối lượng khá lớn, việc phát sinh và thải bỏ chất thải rắn y tế nếu không được kiểm soát chặt chẽ gây nguy hại cho môi trường xung quanh

và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người

Trang 10

Do đó, vấn đề quản lý và xử lý chất thải rắn tại các bệnh viện thuộc các tỉnh và huyện luôn là vấn đề quan tâm đến toàn xã hội CTRYT là một trong những chất thải nguy hại bậc nhất, việc quản lý và xử lý các loại chất thải này rất phước tạp và gặp nhiều khó khăn Nếu không có các biện pháp quản lý hợp lý, xử lý không tốt thì đây là nguồn lây lan mầm bệnh, ảnh hưởng đến sức khỏe con người, gây ra những vấn đề ô nhiễm môi trường một cách nghiêm

trọng.Từ thực tế trên, đề tài “ Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương – Thanh Hóa” được thực hiện nhằm mục tiêu có được một bước tranh tổng quát về

hiện trạng CTRYT tại huyện Quảng Xương hiện nay Từ đó đề xuất các biện pháp nâng cao hiệu quả trong quản lý, xử lý, tái chế CTRYT, hướng tới nên kinh tế vững về mặt môi trường trên cơ sở một nền sản xuất sạch và một xã hội tiêu dùng xanh

Trang 11

CHƯƠNG 1 : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ 1.1 Định nghĩa CTYT

Chất thải y tế: Là chất thải phát sinh trong các cơ sở y tế, từ các hoạt động khám chữa bệnh, các dịch vụ chăm sóc sưc khỏe, xét nghiệm, chuẩn đoán, các hoạt động trong công tác phòng bệnh, các hoạt động nghiên cứu và đào tạo về y học [11]

Chất thải y tế nguy hại: Là chất thải có một trong các thành phần như: máu, dịch cơ thể, chất bài tiết, các bộ phận hoặc cơ quan con người, động vật, bơm, kim tiêm và các vật sắc nhọn, dược phầm, hóa chất và các chất phóng

xạ dùng trong y tế Những chất này gây hại trực tiếp hặc gián tiếp cho sức khỏe con người

Chất thải y tế thông thường: gồm những chất thải không có khả năng gây độc và gây hại tới môi trường và sức khỏe con người, bao gồm giấy, chai nhựa, thực phẩm dư thừa,… có nguồn gốc chính từ các khoa, các phòng không cách ly trong cơ sở y tế Đối với loại chất thải này không cần xử lý đặc biệt, nhưng để bảo vệ môi trường và công đồng, chúng cần thu gom và xử lý phù hợp [11]

Chất thải nguy hại: Là chất thải có chứa các chất hoặc hóa chất có một trong các đặc tính gây nguy hại trực tiếp (dễ cháy, dễ nổ, làm ngộ độc, gây ăn mòn, dễ lây nhiễm với các đặc tính nguy hại), hoặc tương tác với các chất khác gây nguy hại tới môi trường và sức khỏe con người [11]

Chất thải rắn y tế: Được định nghĩa theo quyết định 43/2007/QĐ-BYT bao gồm tất cả các chất thải rắn y tế của Tổ chức y tế Thế Giới – WHO thêm vào đó là bao gồm cả chất thải có nguồn gốc từ các nguồn nhỏ hơn như: Khám chữa bệnh, chăm sóc, xét nghiệm, nghiên cứu, đào tạo

Quản lý chất thải y tế: Là hoạt động quản lý việc phân loại, xử lý ban đầu, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lý tiêu hủy chất thải y tế và kiểm tra, giám sát, thực hiện

Trang 12

1.2 Phân loại CTYT

Theo quy chế BYT số 43/2007/QĐ-BYT ngày 30 tháng 11 năm 2017 về việc ban hành quy chế quản lý CTYT CTYT được chia làm 5 nhóm sau[2]

a Chất thải lây nhiễm

 Chất thải sắc nhọn (loại A): Là chất thải có thể gây ra các vết cắt hoặc chọc thủng, có thể nhiễm khuẩn, bao gồm: bơm kim tiêm, đầu sắc nhọn của dây truyền, lưỡi dao mổ, đinh mổ, cưa, các ống tiêm, mảnh thủy tinh vỡ và các vật sắc nhọn khác sử dụng trong các hoạt động y tế

 Chất thải lây nhiễm không sắc nhọn (loại B): Là chất thải bị thấm máu, thấm dịch sinh học của cơ thể và các chất thải phát sinh từ buồng bệnh cách

b Chất thải hóa học nguy hại

 Dược phẩm quán hạn, kém phẩm chất không có còn khả năng sử dụng

 Chất hóa học sử dụng nguy hại sử dụng tromg y tế

 Chất gây độc tế bào, gồm: vỏ các chai thuốc, lọ thuốc, các dụng cụ dính thuốc gây độc tế bào và các chất tiết từ người bệnh điều trị bằng hóa trị liệu

 Chất thải chứa kim loại nặng: Thủy ngân ( từ nhiệt kế, huyết áp kế thủy ngân bị vỡ, chất thải từ hoạt động nha khoa, cacdimi (Cd) ( từ pin, ắc quy), chì (Pb) (từ tấm gỗ bọc chì hoặc vật liệu tráng chí sử dụng trong ngăn tia xạ

từ các khoa chuẩn đoán hình ảnh, xạ trị)

c Chất thải phóng xạ

Chất thải phóng xạ: Gồm các chất thải phóng xạ rắn, lỏng và khí phát sinh

từ các hoạt động chuẩn đoán, điều trị, nghiên cứu và sản xuất

Trang 13

Danh mục thuốc phóng xạ và hợp chất đánh dấu dùng trong chuẩn đoán và điều trị kèm theo Quyết định số 33/2006/QĐ-BYT Ngày 24 tháng 10 năm

2006 của bộ trưởng BYT

d Bình chứa áp suất

Bao gồm bình đựng oxy, CO₂ , Bình gas, bình khi dung Các bình này dễ gây cháy, gây nổ khi thiêu đốt

e Chất thải thông thường

Chất thải thông thường là chất chất thải không chứa các yêu tố lây nhiễm, hóa học nguy hai, phóng xạ, dễ cháy, nổ bao gồm:

 Chất thải phát sinh từ các buồng bệnh (trừ các buồng bệnh cách ly)

 Chất thải phát sinh từ các hoạt động chuyên môn y tế như các chai lọ thủy tinh, chai huyết thanh các vật liệu nhựa, các loại bột bó trong gãy xương kín Những chất thải này không dính máu, dịch sinh học và các chất hóa học nguy hại

 Chất thải phát sinh từ các công việc hành chính: Giấy, báo, tài liệu, vật liệu đóng gói, thùng carton, túi nilon, túi đụng phim

 Chất thải ngoại cảnh: lá cây và rác từ các khu ngoại cảnh

1.3 Thành phần chất thải rắn y tế

Thành phần và khối lượng của từng loại CTRYT có đặc trưng theo chức năng và nhiệm vụ chuyên môn của từng bệnh viện

a Thành phần vật lý

 Đồ bông vải sợi gồm: Bông gạc, băng, quần áo cũ, khăn lau, vải trải…

 Đồ giấy: hộp đựng dụng cụ, giấy gói, giấy thải từ nhà vệ sinh…

 Đồ thủy tinh: chai lọ, ống tiêm, bơm tiêm thủy tính, ống nghiệm,…

 Đồ nhựa: hộp dựng, bơm tiêm, dây chuyền máu, túi đựng hàng,…

 Đồ kim loại: kim tiêm, dao mổ, hộp dựng,…

 Bệnh phẩm, máu mủ dính ở băng gạc,…

 Rác rưởi, lá cây, đất đá,…

Trang 14

Theo kết quả điều tra của GS.TS Nguyễn Đức Khiển về quản lý chất thải rắn nguy hại ở Việt Nam trong bảng 1.1

Bảng 1.1: Thành phần CTRYT ở Việt Nam

Thành phần rác thải y tế Tỷ lệ

(%)

Thành phần chất thải nguy hại

Chai lọ thủy tinh, xylanh thủy tinh,

ống thuốc thủy tinh

Đất cát, sành sứ và các chất rắn khác 20,9 Không

Tỷ lệ phần chất thải nguy hại 22,6

(Nguồn: Quản lý chất thải nguy hại, Nguyễn Đức Khiên)

Trang 15

Qua đây ta có thể thấy mức độ nguy hiểm của chất thải rắn là rất cực kỳ cao, gây nguy hiểm trực tiếp cho người tiếp xúc trực tiếp và môi trường xung quanh

Trong đó chất thải hữu cơ chiếm tới 50%, lượng CTRYT nguy hại chiếm 22,6% thấp hơn chất thải hữu cơ tuy nhiên mức độ nguy hại đối với con người

và môi trường mà nó gây ra là rất lớn Ngoài ra lượng CTRYT có thể tái chế, tái sử dụng được cũng tương đối thấp khoảng 5%

1.4 Ảnh hưởng của chất thải rắn đến môi trường và con người

Bệnh viện trong quá trình hoạt động của mình sẽ thải ra các loại chất thải khác nhau Nếu việc quản lý chất thải rắn không tốt chúng có thể gây ra ảnh hưởng: Thứ nhất, chúng có thể gây ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người Thứ hai, chúng có thể gây ảnh hưởng tới môi trường thông qua việc làm ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí

1.4.1 Tác động của CTRYT đến con người

Ngày nay, các bệnh viện được cho là môi trường có nguy cơ rủi ro cho sức khỏe con người CTRYT có thể gây ra nhiều tác động xấu tới sức khỏe con người như: lây bệnh qua đường máu cho NVYT, đặc biệt là sự cố thương tích

do chất thải sắc nhọn Dạng phơi nhiễm nghề nghiệp phổ biến nhất qua đường máu của nhân viên y tế trong quá trình thực hiện quản lý chất thải là bị thương do các kim tiêm lây nhiễm

Ảnh hưởng của chất thải sắc nhọn: Chất thải sắc nhọn được coi là loại chất thải nguy hiểm, có nguy cơ gây tổn thưởng kép tới sức khỏe con người nghĩa

là vừa gây chấn thương do vết cắt, vết đâm và thông qua vết chấn thương để gây bệnh truyền nhiễm nếu trong chất thải có các mầm bệnh viêm gan B (HBV), viêm gan C (HCV) và virus HIV,

Ảnh hưởng của chất thải lây nhiễm: CTRYT lây nhiễm cơ thể chứa các vi sinh vật gây bệnh truyền nhiễm như: tụ cầu, HIV, viêm gan B,… chúng có thể xâm nhập vào cơ thể người thông qua các hình thức: qua da: (vết trầy xước, vết đâm xuyên hoặc vết cắt trên da); qua các niêm mạc (màng nhầy); qua

Trang 16

đường hô hấp (do xông, hít phải); qua đường tiêu hóa (do nuốt hoặc ăn phải) Việc quản lý CTRYT lây nhiễm không đúng cách còn có thể là nguyên nhân lây nhiễm bệnh cho con người thông qua môi trường trong bệnh viện Chẳng hạn một số người có khả năng bị lây nhiễm các bệnh mà họ không mắc phải trước khi đến bệnh viện, nhưng khi đến và làm việc trong bệnh viện sau một thời gian bị mắc bệnh hoặc đem mầm bệnh đến nơi họ ở

Ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm: Mặc dù chiếm tỉ lệ nhỏ, nhưng chất thải hóa học và dược phẩm có thể gây ra các nhiễm độc cấp tính, mãn tính, chấn thương và bỏng, Hóa chất độc hại và dược phẩm ở các dạng dung dịch, sương mù, hơi,… có thể xâm nhập vào cơ thể qua đường da, hô hấp và tiêu hóa, gây bỏng, tổn thương da, mắt, màng nhầy đường hô hấp và các cơ quan trong cơ thể như: gan, thận,… Một số ví dụ về ảnh hưởng của chất thải hóa học và dược phẩm:

 Thủy ngân là một chất độc hại trong CTRYT Thủy ngân có mặt trong một số thiết bị y tế, nhất là các thiết bị chẩn đoán như: nhiệt kế thủy ngân, huyết áp kế thủy ngân, và một số nguồn khác như khi bóng đèn huỳnh quang, compact sử dụng bị vỡ

 Chất khử trùng được dùng với số lượng lớn trong BV, chúng thường có tính ăn mòn và có thể kết hợp thành các hợp chất có độc tính cao hơn

 Dư lượng các hóa chất sử dụng tại các phòng xét nghiệm khi thải vào hệ thống thoát nước có thể ảnh hưởng tới hoạt động của hệ thống xử lý nước thải bằng phương pháp sinh học hoặc các hệ sinh thái tự nhiên của các nguồn nước tiếp nhận

 Tương tự như vậy đối với dư lượng dược phẩm trong các chất thải có chứa dược phẩm Dư lượng dược phẩm thải có thể bao gồm: các loại kháng sinh, các thuốc khác nếu không được xử lý khi thải vào các nguồn nước tiếp nhận sẽ gây ảnh hưởng đến môi trường sống và các loài thủy sinh trong các nguồn nước tiếp nhận

Trang 17

Ảnh hưởng của chất gây độc tế bào:Chất gây độc tế bào có thể xâm nhập vào cơ thể con người bằng các con đường: hô hấp khi hít phải, qua da, qua đường tiêu hóa; hoặc tiếp xúc với chất thải dính thuốc gây độc tế bào; hoặc tiếp xúc với các chất tiết ra từ người bệnh đang được điều trị bằng hóa trị liệu Một số chất gây độc tế bào có thể gây hại trực tiếp tại nơi tiếp xúc, đặc biệt là

da và mắt, một số triệu chứng thường gặp là: chóng mặt, buồn nôn, nhức đầu

và viêm da Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ: Ảnh hưởng của chất thải phóng xạ tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong

BV, các chất phóng xạ thường có chu kỳ bán rã ngắn (kéo dài từ vài giờ, vài ngày cho đến vài tuần) Các triệu chứng hay gặp là đau đầu, hoa mắt, chóng mặt, buồn nôn và nôn nhiều bất thường,… ở mức độ nghiêm trọng hơn có thể gây ung thư và các vấn đề về di truyền

Chất thải phóng xạ: bên cạnh việc gây ra hàng loạt các triệu chứng cho người trực tiếp tiếp xúc với chất phóng xạ như đau đầu, ngủ gà, buồn nôn thì chất thải phóng xạ có thể tạc động đến gen từ đó ảnh hưởng đến vật chất duy truyền của con người và gây ra những trường hợp quái thai, di dạng ở thế hệ sau Đã có nhiều số liệu minh chứng được rằng việc thanh toán và xử lý các nguyên liệu trong trị liệu hạt với số lượng lớn đã gây ra những tổn thương cho cộng đồng Tùy thuộc vào loại phóng xạ, cường độ và thời gian tiếp xúc Trong bệnh viện, các chất phóng xạ có chu kỳ bán rã ngắn Ở brazil, đã có tài liều đầy đủ tài liệu chứng minh một trường hợp ảnh hưởng của ung thư lên cộng đồng có liên quan đến việc rò rỉ chất phóng xạ bên trong bệnh viện Một bệnh viên chuyên về trị liệu bằng phóng xạ khi di chuyển địa điểm đã làm thất thoát ra địa phương cũ một số nguồn xạ trị đã được niêm phong, một người dân chuyển đến địa điểm này đã nhặt được và mang về nhà Hậu quả là có

249 người tiếp xúc với nguồn phóng xạ này, nhiều người trong số họ đã chết hoặc gặp hàng loạt vấn đề về sức khỏe ( theo IEAE) Ngoại trừ biến cố sảy ra

ở Brazil, không còn dữ liệu khoa học nào đáng tin cậy phản ánh ảnh hưởng của các chất phóng xạ bệnh viện đối với sức khỏe con người Chỉ có các cảnh

Trang 18

báo về các vụ tai nạn liên quan đến việc tiếp xúc với chất phóng xạ ion hóa trong các cơ sở điều trị do hậu quả từ các thiết bị X-quang hoạt động không

an toàn, do việc chuyên trở các dung dịch xạ trị không đảm bảo hoặc thiếu các biện pháp giám sát trong xạ trị liệu

Tính nhạy cảm của cộng đồng: Bên cạnh việc gây ra những nguy hại về sức khỏe thì cộng đồng rất nhạy cảm với chất thải từ bệnh viện nhất là những chất thải từ hoạt động phẫu thuật nếu như họ nhìn thấy các bộ phận, các cơ quản trên cơ thể hay các bào thai Điều này đặc biệt đúng đối với một số nền văn hóa Châu Á Theo tập quán tín ngưỡng của người dân tại đây thì các bộ phận bị cắt bỏ phải được cho vào quan tài nhỏ và đem về quê hương người

bệnh chôn

1.4.2 Tác động của CTRYT đến môi trường không khí

Ở bệnh viện đặc biệt là khoa truyền nhiễm chứa rất nhiều mầm bệnh như Shetococcus, Corynebacterium diphteriea, Mycobacterium tuberculosis, Stphylococcus và không khí là môi trường truyền các loại virus như virus cúm, virus sởi, quai bị có thể gây ra những vụ dịch lớn trong cộng đồng Môi trường chịu rất nhiều tác động của việc xử lý chất thải

 Rác thải vứt bừa bãi, tồn đọng sẽ gây mùi hôi thối cho bệnh viện, khu vực dân cư xung quanh và là ổ truyền nhiễm các loại dịch bệnh

 Hơi khí độc phát sinh từ một số khoa, phòng trong bệnh viện như khoa chuẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm không được xử lý đúng cũng là một nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí

CTRYT được phát sinh từ các phòng bệnh viện được thu gom, vận chuyển đến nơi lưu trữ và bãi chôn lấp Nhưng nhiều khi quy trình này không được thực hiện đúng kỹ thuật Trong quá trình thu gom vận chuyển có thể bị bụi rác, kèm theo mùi và các mầm bệnh phát tán vào không khí Ở các khu vực lưu giữ và bãi chôn lấp, dưới sự tác động của nhiệt độ, độ ẩm và vi sinh vật, sẽ sinh ra khi như CH₄ ,… và các vi khuẩn gây bệnh phát tán vào không khí gây nguy hiểm cho con người

Trang 19

Bên cạnh hoạt động chôn lấp CTRYT, việc xử lý CTRYT bằng phương pháp thiêu đốt cũng đang được quan tâm và đầu tư Việc sử dụng các lò đốt CTRYT có nhiều ưu điểm hơn so với các phương pháp khác như là giảm thể tích rác tối thiểu, nhưng có một vấn đề cần quan tâm đó là lượng khí thải phát sinh trong quá trình đốt rác Có thể do kinh phí vận hành, hoặc có thể do quy trình vận hành không đúng kỹ thuật nên tại một số lò đốt rác, CTRYT không được tiêu hủy hoàn toàn, nên phát sinh một số khi độc hại với sức khỏe con người như: Dioxin, furan, oxit nito,[3]…

1.4.3 Tác động của CTRYT đến môi trường nước, đất

Không phải tất cả các bệnh viện đều có điều kiện xử lý CTRYT hằng ngày Chất thải sau khi được phân loại sẽ được tập trung về nơi lưu trữ tạm thời nếu nơi lưu trữ này không đảm bảo vệ sinh để cho nhiều loài côn trùng, loài gặm nhấm xâm nhập thì đây chính là các tác nhân trung gian sẽ mang mầm bệnh phát tán ra bên ngoài do vậy ảnh hưởng đến môi trường trong và ngoài bệnh viện Các chất độc hại như gạc, bông băng nhiễm khuẩn, hóa chất chưa được

xử lý lại thu gom đổ cùng với chất thải sinh hoạt và đem đi chôn lấp không đảm bảo yêu cầu có thể ảnh hưởng đến môi trường đất và mạch nước ngầm Hiện nay, rác thải nhiều bệnh viện, phòng khám tư nhân,…được thu gom, vận chuyển đến bãi chôn lấp Trong quá trình đó, nhiều khi nhân viên xử lý rác thải không thực hiện đúng kỹ thuật, quy trình, nên ở các bãi chôn lấp chất thải rắn thông thường đôi khi có lẫn cả chất thải rắn y tế Ở một số bãi chôn lấp không có hệ thống xử lý nước rác, hoặc có hệ thống xử lý nước rác không đúng tiêu chuẩn kỹ thuật nên lượng nước rỉ rác sẽ phát sinh do thấm nước mưa hoặc do độ ẩm trong bãi chôn lấp Lượng nước rỉ rác này có chứa các mầm bệnh, chất hữu cơ độc hại, kim loại nặng do sự hòa tan nước rác với chất thải rắn y tế Nước rỉ rác sẽ ngấm vào trong lòng đất, thay đổi cấu trúc thành phần của đất, đồng thời khi vào mạch nước ngầm làm ô nhiễm mạch nước ngầm gây nguy hiểm cho con người và sinh vật.[10]

Trang 20

1.5 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế trên thế giới và Việt Nam

1.5.1 Quản lý CTRYT thế giới

1.5.1.1 Tình hình phát sinh chất thải rắn trên thế giới

Theo tài liệu của Tổ chức y tế Thế giới, lượng chất thải phát sinh tại các nước trên thế giới được thể hiện dưới các bảng sau:

Bảng 1.2: Lượng chất thải phát sinh theo các tuyến bệnh viện

Tuyến bệnh viện Tổng lượng chất thải

( Nguồn: Tổ chức y tế thế giới, năm 2002)

Lượng chất thải phát sinh theo từng tuyến bệnh viện có sự khác nhau rõ rệt, các bệnh viện tuyến trên luôn tập trưng lượng bệnh nhân tới khám chữa bệnh lớn, tạo nên áp lực cho bệnh viện tuyến trung ương và tuyến tỉnh

Bảng 1.3: Lượng chất thải phát sinh tại các Châu lục

Châu lục Tổng lượng chất thải

0,3 – 0,8 0,2 – 0,5

(Nguồn: Tổ chức y tế thế giới, năm 2002)

Trang 21

Bảng 1.4: Khối lượng chất thải y tế phát sinh theo mức thu nhập của người dân

Chất thải y tế chung (kg/người)

Chất thải y tế nguy hại (kg/người)

Nước có thu nhập trung

bình

(Nguồn:Ủy ban liên minh Châu Âu)

GDP đầu người cao và các nước có thu nhập cao, lượng chất lượng rắn y tế phát sinh nhiều hơn, nhu cầu sử dụng các dịch vụ y tế tiên tiến, các sản phẩm

sử dụng một lần trong y tế làm tăng lượng chất thải phát sinh

1.5.1.2 Tình hình phân loại, thu gom và vận chuyển rác thải y tế trên Thế giới

a Phân loại chất thải rắn y tế

Trước những năm 80 của thế kỷ XX Thế giới chưa hề có khái niệm về phân loại CTYT ngay tại nguồn phát sinh kể cả các nước Châu Âu và Nam

Mỹ Ngày nay việc phân loại chất thải rắn y tế ngay tại nguồn đang phổ biến hơn trên tất cả các bệnh viện

b Thu gom và vận chuyển;

 Các nước tiên tiến trên thế giới có 2 mô hình gom và vận chuyển chất thải rắn y tế đó là:

- Hệ thống hút chân không thụ động: Hệ thống này được lắp đặt lần đầu tiên tại bệnh viện Solleftea – Thụy Điển vào năm 1996 Nguyên tắc là rác sau khi bị phân loại nhờ áp lực hút chân không thụ động ( được lắp ở trạm hay trên xe chuyên dụng) tạo ra chuyển động theo đường ống ngầm đặt dưới mặt đất đến xe chuyên dụng chở rác Luồng không khí được lọc cẩn thận đảm bảo iêu chuẩn cho phép khi thải ra bên ngoài môi trường Phương pháp này có ưu

là hạn chế được lượng lớn xe vào lấy rác trong thành phố do vậy sẽ giảm tắc đường vào giờ cao điểm, hạn chế được con người tiếp xúc với chất thải rắn y

tế tránh phơi nhiễm Nhưng bên cạnh đó hệ thống còn hạn chế do kinh phí

Trang 22

đầu tư lớn, công tác vận hành bảo trì cần yêu cầu công nhân có kỹ thuật cao

Do vậy tính tới thời điểm hiện nay chỉ có 500 hệ thống và được lắp đặt ở các nước phát triển

- Hệ thống thu gom và vận chuyển chất thải rắn y tế bẳng hệ thống xe chuyên dụng với các dụng cụ, phương tiện thu gom đúng tiêu chuẩn quy định Phương pháp này được phổ biến rộng rãi tại nhiều nước hơn do kinh phí không tốn lớn, không yêu cầu công nhân có trình độ cao

1.5.1.3 Tình hình xử lý chất thải rắn trên Thế Giới

Xử lý chất thải rắn y tế hiện trên thế giới đã và đang áp dụng rất nhiều phương pháp như:

 Phương pháp thiêu đốt chất thải y tế ở nhiệt độ cao

- Ưu điểm của phương pháp này là: Có thể xử lý được mọi loại rác thải, chất thải ở dạng vụn, đặc biệt là chất thải không thể xử lý bằng phương pháp khác (trừ chất phóng xạ), nó làm giảm khối lượng lớn và trọng lượng của rác sau quá trình đốt, có thể sử dụng lại nhiệt độ sinh ra trong quá trình đốt rác

- Nhưng nhược điểm của phương pháp này có thể tạo ra nhiều khí độc hại như Dioxin, Furan nếu không có biện pháp xử lý thì có thể gây thất thoát khí này ra bên ngoài môi trường và gây nên nhiều tác hại tiêu cực như ung thư, biến đổi gen, xuất hiện quái thai, dị dạng cho thế hệ sau Ngoài ra việc đốt rác còn tạo ra một số hơi độc chứa các kim loại nặng như chì, thủy ngân

Vì thế đây là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và các bệnh về đường

Trang 23

hoạt thông thường chất thải y tế sau khi được khử khuẩn sẽ đưa đi tiêu hủy cuối cùng tại những nơi xử lý Trong công nghệ khử khuẩn có thể chia làm nhiều loại khác nhau:

- Khử khuẩn bằng phương pháp hóa học: dùng trong các trường hợp đặc biệt Vì có thể tạo ra ô nhiễm dạng thứ cấp nguy hiểm và độc hại hơn

- Khử khuẩn bằng nhiệt độ khô, nhiệt ẩm và bằng vi sóng: trong đó khử khuẩn bằng nhiệt độ kho đòi hỏi phải bảo trì các bộ phận và theo dõi sát sao trong khâu vận hành Khử khuẩn bằng nhiệt ẩm tức là làm ấm rác trước khí khử khuẩn Khi khử khuẩn bằng lò vi sóng đòi hỏi có sự kiểm soát chặt chẽ không thể áp dụng cho chất phóng xạ và một số hóa chất trong y tế khác Hiện nay các nhà khoa học đang áp dụng phương pháp nghiền nát chất thải, xử lý dưới nhiệt độ và áp suất cao để tránh khí thoát ra ngoài trong quá trình xử lý Theo phương pháp này thì chất thải rắn y tế tại các bệnh viện sẽ cho qua máy nghiền rồi chuyển vào phòng hơi có nhiệt độ 138⁰ C và áp suất 3,8 bar (1 bar tương đương với 1 atmosphere) Phế thải sau khi được xử lý sẽ được chở đến bãi rác thông thường vì đã đạt tiêu chuẩn khử trùng Phương pháp này có ưu điểm là giảm được khối lượng chất thải, giảm được chi phí và không tạo ra khí thải vào không khí

1.5.2 Hoạt động quản lý chất thải rắn y tế tại Việt Nam

1.5.2.1 Tình hình phát thải chất thải rắn y tế tai Việt Nam

Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường, ngoài việc thực hiện chính là bảo vệ môi trường trong hoạt động của ngành y tế, Bộ Y Tế còn được giao nhiệm vụ khác như: Bảo vệ môi trường trong hoạt động mai táng, quan trắc môi trường y tế, đánh giá hoạt động môi trường của các dự án do Bộ Y Tế phê duyệt Nhiều hoạt động của Bộ Y tế có liên quan đến bảo vệ môi trường như: Xây dựng, hướng dẫn, kiểm tra các iêu chuẩn vệ sinh nước sinh hoạt, nước ăn uống, tiêu chuẩn vệ sinh của các công trình công cộng, đặc biệt là đánh giá tác động môi trường đối với sức khỏe người lao động trong các khu công nghiệp và trong các làng nghề truyền thống đối cới sức khỏe người lao

Trang 24

động, đánh giá tác động của các chất gây ô nhiễm môi trường (như chất độc màu da cam,…) đến sức khỏe nhân dân, đánh giá tác động môi trường học đường đối với sức khỏe nhân dân

Tính đến năm 2008, Việt Nam có 13.506 cơ sở y tế, hơn 200 nghìn giường bệnh gồm: 774 bệnh viện Đa khoa, 136 bệnh viện chuyên khoa, 5 bệnh viện ngành, 83 bệnh viện tư nhân và các cơ sở dịch vụ khám chữa bệnh khác Việc tăng các cơ sở y tế đồng nghĩa với việc gia tăng khối lượng chất thải rắn y tế, trong đó có cả thành phần chất thải gia tăng

Hiện nay cả nước, lượng chất thải rắn trung bình thải ra mỗi ngày là 0,86 kg/giường bệnh Trọng lượng chất thải răn của các bệnh viện trên toàn quốc lên đến 100 tấn và 16 tấn chất thải rắn y tế cần xử lý Tỷ lệ này khác nhau giữa các bệnh viện, tùy thuộc giường bệnh, tùy thuộc chuyên khoa hay đa khoa

Theo Bộ Y tế về báo cáo quy hoạch quản lý chất thải y tế về sự biến động

về khối lượng chất thải y tế nguy hại phát sinh tại các cơ sở y tế như sau:

Bảng 1.5: Lượng chất thải phát sinh trong các khoa tại bệnh viện

BV Tỉnh

BV Huyện TB Hồi sức

Trang 25

Bảng 1.6: bảng lượng phát sinh tại các bệnh viện

Trong những năm qua công tác quản lý chất thải rắn bệnh viện đang được quan tâm và ngày càng tiến bộ trong khâu thu gom, xử lý chất thải song vẫn còn nhiều mặt hạn chế Công tác phân loại chất thải rắn y tế chưa đúng quy định, thiếu cán bộ hoặc kỹ năng chưa cao

- Thiếu kinh phí đầu tư cho hoạt động quản lý chất thải rắn y tế

- Chưa quy định cụ thể về mô hình quản lý chất thải tại bệnh viện

- Nhận thức và trình độ vận hành xử lý chất thải rắn y tế của nhân viện

1.5.3 Thực trạng thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải rắn y

tế tại Việt Nam

1.5.3.1 Thực trang thu gom, vận chuyển, lưu trữ CTRYT

Theo kết quả khảo sát bệnh viên của Viện y học lao động vệ sinh môi trường và từ các cơ sở y tế[7]

- Có 95,6% bênh viện đã phải phân loại chất thải trong đó có 91,1 % đã

sử dụng dụng cụ tách riệng vật sắc nhọn

Trang 26

- Có 63,6% sử dụng túi nhựa làm bằng PE, PP Chỉ có 29,3% sử dụng túi

có thành dày đúng quy chế

- CTRYT đã được chứa trong các thùng đựng chất thải, tuy nhiên chỉ có

1 số ít bệnh viện có thùng đựng chất thải theo quy chế

- Hầu hết các bệnh viên, CTRYT được thu gom hằng ngày, nhưng chỉ có 53% bệnh viện có nơi lưu giữ chất thải có mái che, 53,4% bệnh viện có nơi lưu chất thải có mái che, 45,3% đạt quy chuẩn quản lý CTRYT

- Phương tiện thu gom CTRYT còn thiếu, chưa đồng bộ và chưa đạt tiêu chuẩn Theo báo cáo của JICA(2011), các cơ sở y tế của 5 thành phố: Hải phòng, Hà Nội, Huế, Đà Nãng, và Tp Hồ Chí Minh, hầu hết các bệnh viện có

sử dụng thùng nhựa có bánh xe, xa tay, dụng cụ vận chuyển bằng tay khác Nhìn chung các phương tiện còn thiếu, đặc biệt là xe chuyên dụng Hoạt động, thu gom, vận chuyển, chôn lấp CTRYT từ bệnh viện, cơ sở y tế đều do Công ty môi trường đô thị tại địa phương đảm nhiệm, không có các trang thiết

bị đảm bảo cho quá trình vận chyển an toàn

1.5.3.2 Thực trạng xử lý CTRYT tại Việt Nam

Theo báo cáo môi trường quốc gia 2011

Khối lượng chất thải rắn y tế nguy hại được xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại trên toàn quốc Chất thải rắn y tế xử lý đạt tiêu chuẩn chiếm 68% tổng lượng phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại trên toàn quốc Chất thải rắn y tế xửu lý không đạt tiêu chuẩn là 32%, đó là nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng

Hiện nay, ở các thành phố lớn như Hà Nội đã có xí nghiệp xử lý chất thải rắn y tế nguy hại vận hành tốt, tổ chức thu gom và xử lý, tiêu hủy chất thải rắn trên địa bàn Còn ở các tỉnh khác, chất thải rắn y tế nguy hại được xử

lý và tiêu hủy với các mức độ khác nhau: ở Thái Bình, Hải Phòng, Cần Thơ

đã tận dụng tốt lò đốt trang bị cho cụm bệnh viện, chủ động chuyển giao lò đốt cho công ty môi trường đô thị tổ chức vận hạnh và thu gom xử lý chất thải

Trang 27

rắn nguy hại cho toàn tỉnh, thành phố Nghệ An có lò đốt đặt tại bệnh viện bệnh viện tỉnh xử lý chất thải rắn nguy hại cho các bệnh viện khác thuộc địa bàn thành phố, thị xã

Tại Hà Nội sử dụng lò đốt chất thải rắn y tế EL-MONEGO công suất 200kg/h ở Cầu Diễn do Công ty TNHH Nhà nước Một thành viên Môi trường

đô thị (URENCO) quản lý để xử lý chất thải rắn y tế trong địa bàn Hà Nội

Tại Đà Nẵng, sử dụng lò đố HOVAL công suất 200kg/h ở khu vực xử

lý chất thải rắn khánh Sơn do Công ty Môi trường đô thị (CITENCO) quản lý chất thải rắn y tế trong địa bàn thành phố

Tại thành phố Hồ Chí Minh, sử dụng hai lò đốt Hoval công suất 150kg/h và 300kg/h đặt tại nhà máy xử lý chất thải rắn y tế và công nghệ, do Công ty Môi trường thành phố quản lý để xử lý chất thải rắn y tế cho các cở

sở y tế trong và ngoài thành phố

Nhìn chung, ở Việt Nam việc xử lý chất thải rắn y tế bằng biện pháp thiêu đốt vẫn còn nhiều hạn chế: Chi phí đầu tư, hiệu suất vận hành, chi phí

xử lý khí thải lớn Giá nhiện liệu cao, dẫn đến tình trạng một số cơ sở không

có lò đốt, hoặc lò đốt không triệt để Bên cạnh đó, nhân viên phân loại đôi khi thiếu y thức trách nhiệm nên có tình trạng chất thải thông thường và chất thải rắn y tế nguy hại lẫn với nhau khi đốt, điều này gây tốn kém chi phí vận hành

và không kiểm soát được khí thải lò đốt, dẫn đến chi phí xử lý cao

Chất thải rắn y tế ở Việt Nam vẫn đang là một vấn đề đang được quan tâm Vì vậy, cần phải có các phương pháp quản lý và xử lý phù hợp nhất để giảm thiểu các tác động nguy hại đến môi trường và con người

1.6 Tình trạng nghiên cứu về CTRYT

1.6.1 Tình hình nghiên cứu về CTRYT trên thế giới

Trên thế giới, quản lý CTRYT bệnh viện được nhiều quốc gia quan tâm và

tiến hành một cách triệt để từ rất lâu Về quản lý, một loạt những chính sách, quy định đã được ban hành nhằm kiểm soát chặt chẽ loại chất thải này Các hiệp ước quốc tế, các nguyên tắc, pháp luật và quy định về chất thải nguy hại

Trang 28

Công ước Basel: Được ký kết bởi hơn 100 quốc gia, quy định về sự vận

chuyển các chất độc hại qua biên giới, đồng thời áp dụng cả đối với CTYT Công ước này đưa ra nguyên tắc chỉ vận chuyển hợp pháp chất thải nguy hại

từ các quốc gia không có điều kiện và công nghệ thích hợp sang các quốc gia

có điều kiện vật chất kỹ thuật để cử lý an toàn một số chất thải đặc biệt

Theo tổ chức y tế thế giới có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử

lý chất thải đúng cách

Lượng phát thải y tế tại một số khu vực và quốc gia trên thể giới thể hiện mối quan hệ giữa mức thu nhập và khối lượng CTRYT phát sinh

Bảng 1.7: Lượng phát sinh CTYT tại một số khu vực và quốc gia trên thế giới

Vùng Tổng lượng chất thải phát sinh hàng ngày

Trang 29

Ở những nước có nền kinh tế phát triển, mức sống của người dân cao do

ý thức bảo vệ sức khỏe của mình và sự đầu tư của chính phủ cho y tế rất cao nên thường có số lượng chất thải phát sinh cao, cao nhất ở các nước Tây Âu

và Bắc Mỹ, thấp nhất là Thái Lan

Nghiên cứu về CTYT đã được tiến hành ở nhiều nước trên thế giới, đặc

biệt là các nước phát triển như Anh, Mỹ, Nhật, Hoa Kỳ,Canada,… Các nghiên cứu đã quan tâm đến việc như phát sinh, phân loại CTRYT, quản lý CTRYT như các biện phát nhằm giảm thiểu chất thải, tái sử dụng chất thải, xử lý chất

thải, đánh giá hiệu quả của các biện pháp xử lý chất thải,…

a Phân loại CTRYT trên thế giới

Theo quy định của Tổ chức y tế thế giới WHO thì việc thu gom CTYT được thực hiện theo từng loại riêng biệt Mỗi loại rác đựng trong các túi nilon

có màu sắc khác nhau được quy định cụ thể ở từng quốc gia

Ví dụ: Malayxia

 Túi màu vàng đựng chất thải phải đốt

 Túi màu đen đựng chất thải sinh hoạt

 Túi màu xanh đựng chất thải cần khử khuẩn trước khi tiêu hủy

b Vận chuyển chất thải rắn trên thế giới

Theo quy định của Tổ chức Y tế thế giới, việc vận chuyển chất thải phải tuân thu theo những nguyên tắc nghiêm ngặt

Đường vận chuyển chất thải phải tránh đi qua các khu vực đông người Khi chất thải bị đổ, nhân viên cần cọ rửa nền nhà ngay Xe dùng vận chuyển phải là xe chuyên dụng, để cho chất thải vào, dễ làm vệ sinh,… Nhân viên được trang bị đồ bảo hộ đầy đủ, được học nội quy phòng cháy, chữa cháy, quy trình thu gom rác

Tuy nhiên việc tuân thủ theo những quy định còn chưa cao Theo tổ chức

y tế thế giới thì có khoảng 50% bệnh nhân thuộc viện điều tra vận chuyển CTYT qua khu vực bệnh nhân và không đựng trong xe thùng có nắp đậy Nhưng hiện tại nhu cầu xã hội hóa càng cao thì việc đầu tư cho phương tiện

Trang 30

vận chuyển được nâng cao hơn và vấn đề môi trường càng được quan tâm

hơn (WHO,1997)

c Xử lý chất thải rắn trên thế giới

Hiện nay trên thế giới người ta đã và đang áp dụng rất nhiều phương pháp trong việc xử lý CTRYT

 Phương pháp thiêu đốt rác thải y tế ở nhiệt độ cao

Ưu điểm của phương pháp này là có thể xử lý được mọi loại rác, chất thải ở dạng vụn đặc biệt là các chất thải không thể xử lý được bằng phương pháp khác ( trừ trường hợp đó là chất thải phóng xạ), nó giảm được khối lượng lớn và trọng lượng của các loại rác sau quá trình đốt, có thể sử dụng lại nhiệt độ sinh ra trong quá trình đốt rác Nhưng nhược điểm của phương pháp nay có thể tạo ra nhiều khí độc hại như dioxin và furan

 Phương pháp xử lý bằng hóa chất

Ưu điểm của phương pháp này là có ít sản phẩm phụ độc hại sinh ra sau quá trình hấp so với phương pháp thiêu đốt Nhưng phương pháp này có nhược điểm là hình dạng rác vẫn giữ nguyên không thay đổi về khối lượng, tạo ra luồng khí thải và hơi nóng có thể không đủ sức diệt khuẩn hoàn toàn các loại rác thải y tế

 Công nghệ khử khuẩn

Mục đích của phương pháp này là biến chất thải nguy hại thành các chất thải không nguy hại tương tự như các chất thải sinh hoạt thông thường CTRYT sau khi được khử khuẩn sẽ đưa đi tiêu hủy rồi cuối cùng tại những nơi xử lý Trong công nghệ khử khuẩn sẽ đưa đi tiêu hủy cuối cùng tại những nơi xử lý Trong công nghệ khử khuẩn lại được chia thành nhiều loại khác nhau như khử khuẩn bằng các phản ứng hóa học

Bảo vệ môi trường và bảo vệ sức khỏe là mục tiêu hàng đầu, các nước phát triển như Mỹ, Châu Âu ngày càng thắt chặt các tiêu chuẩn khí thải lò đốt CTRYT Trong tình hình như vậy nhiều loại lò đốt được sản xuất tại Mỹ và Châu Âu cũng không đáp ứng được tiêu chuẩn môi trường và tìm cách xuất

Trang 31

khẩu sang các nước đang phát triển, nơi mà các tiêu chuẩn môi trường còn

lỏng lẻo hoặc chưa có các biện pháp kiểm soát chặt chẽ (Nguồn: Tổng cục môi trường 2014)

Theo tổ chức y tế thế giới, có 18 – 64% cơ sở y tế chưa có biện pháp xử

lý chất thải đúng cách Tại các cơ sở y tế 12,5% công nhân xử lý chất thải bị

tổn thương do kim đâm xảy ra trong quá trình xử lý CTYT (WHO 1997)

Ở các nước phát triển đã có công nghệ xử lý CTYT đáng tin cậy như đốt rác bằng lò vi sóng, tuy nhiên đây không phải là biện pháp hữu hiệu được áp dụng ở các nước đang phát triển

1.6.2 Tình hình nghiên cứu về CTRYT ở Việt Nam

Đề tài “Nghiên cứu về quản lý chất thải rắn y tế tại bệnh viện Đa khoa tỉnh Đắc Lắc” của tác giả Lê Thị Thanh Hương, năm 2012 Đề tài nghiên cứu

- Thực trạng quản lý CTRYT: Lượng chất thải phát sinh hàng ngày (tính trung bình 6 tháng đầu năm 2012) đang ở mức cao: 1552,5 kg, tương ứng với 2,07 kg/giường bệnh ( biểu đồ 1) trong đó lượng CTRYTNH là 0,64 kg/giường bệnh,chiếm 29%so với tổng lượng CTRYT hằng ngày, CTYT được bệnh viện phân nhóm theo quy định của BYT, đặc biệt là nhóm chât thải lây nhiễm đã tách chất thải sắc nhọn ra thành một loại để hạn chế chấn thương nguy hiểm, vấn đề thu gom, vận chuyển CTRYT tại bệnh viện đa khoa tỉnh Đắk Lắc, việc vận chuyển CTRYT nguy hại và chất thải thông thường Số xe chuyên dụng chỉ đáp ứng được 60% nhưng không đảm bảo yêu cầu như có nắp đậy, thừng kín Đường vẫn chuyển chất thải không được quy hoạch riêng, không theo đúng hướng dẫn quyết định 43/2007/QD-BYT

- Hình thức xử lý chất thải rắn y tế: Bệnh viện Đa Khoa Tỉnh Đăk Lăk không gặp khó khăn trong việc sử lý CTRYT như tình hình chung của nhiều bệnh viện khác trong cả nước Bệnh viện hiện sử dụng công nghệ hấp tiệt trùng hơi nước ở hơi nước ở nhiệt độ 1500°C với công suất từ 100 – 150kg chất thải trong 90 phút, chi phí vận hành bình quân xử lý bình quân khoảng 3.000đ/ 1kg rác, tình trạng hoạt động hiện tại của thiết bị hiện còn rất tốt, tình

Trang 32

trạng khí thải, nguy cơ ô nhiễm môi trường khi hoạt động mức cho phép Mỗi ngày bệnh viện vận hành hấp khoảng 4-5 mẻ rác, phát huy được công suất tối

đa, không để tồn đọng rác qua 48h

Đề tài “Nghiên cứu hiện trạng chất thải rắn y tế tại Thanh Hóa và đề xuất giải pháp thực hiện” của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh, năm 2011 Đề tài đã

nghiên cứu:

- Tổng lượng phát sinh chất thả rắn y tế nguy hại tại 15 bệnh viện tuyến tỉnh (11 bệnh viên), tư nhân (4 bệnh viện, các bệnh viện tư nhân tại thành phố Thanh Hóa) là 577,55 kg/ngày, gần bằng tổng lượng phát sinh lượng CTRNH trung bình tại bệnh viện tuyến huyện là 600,6=5kg/ngày Tỉ lệ phát sinh chất thải rấn y tế nguy hại trung bình tại bệnh viện tuyến tỉnh, tư nhân là 0,174kg/giường/ngày, cao hơn tại bệnh viện tuyến huyện là 0,167 kg/giường/ngày Tỉ lệ phát sinh chất thải rắn y tế nguy hại trung bình tại các bệnh viện tuyến tỉnh, tư nhân và tuyến huyện tại Thanh Hóa thấp hơn so với mức bình quân (Theo “ dự thảo báo cáo Quản lý các nguy có môi trường của

dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện – nguồn vốn vay ngân hàng thế giới ’’ trong “ Văn kiện dự án hỗ trợ xử lý chất thải bệnh viện ” năm 2010 của BYT thì mức độ phát sinh CTRNH tạo các bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 0,225 kg/giường/ngày, bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh là 0,2kg/giường/ngày, bệnh viện huyện là 0,175 kg/giường/ngày

- Đối với các cơ sở y tế không có lò đốt,phải hợp đồng đốt CTRYT bên ngoài thì việc vận chuyển sẽ do các đồng đẵng viên phụ trách CTRYT sẽ được cho vào các thùng bơm kim tiêm và vận chuyển bằng xe máy, xe thồ

- Công tác thực hành phân loại CTRYT ngay tại nguồn của các bệnh viện tương đối tốt, với 100% bệnh viện điều tra sử dụng hộp cartong, túi đụng chất thải rắn theo đúng mã màu quy định của BYT, chỉ có 7,32% bệnh viện có

sử dụng thêm hộp cartong khác Có 85,4% bệnh viện có thùng nhựa có bánh

xe, 80,5% bệnh viện được điều tra có xe đẩy để thu gom và vận chuyển CTRYT nguy hại bên trong cơ sở y tế

Trang 33

- Hiện trạng hệ thống xử lý CTRNH: 26/26 bệnh viện tuyến huyện đã được trang bị lò đốt hoạt động tốt Chỉ có 3/11 bệnh viện tuyến tỉnh có lò đốt

là bệnh viên Đa Khoa Tỉnh, bệnh viện Đa khoa khu vực Ngọc Lặc, bệnh viện Lao và Phổi 7/11 bệnh viện tuyến tỉnh hợp đồng thuê đốt CTRYT nguy hại với bệnh viện Đa khoa Tỉnh Tuy nhiên, lò đốt của bệnh viên đa khoa Tỉnh đã quá tải và xuống cấp, cần phải thay thế Các trạm y tế xác, phường chỉ xử lý CTRYT nguy hại bằng lò đốt thủ công hoặc chôn lấp thiếu an toàn

Trang 34

CHƯƠNG 2 : MỤC TIÊU, NỘI DUNG, ĐỐI TƯỢNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu

2.1.1 Mục tiêu chung

Đề tài nhằm góp phần nâng cao hiệu quả quản lý bảo vệ môi trường hiện tại các bệnh viện ở Việt Nam nói chung và tại bênh viện đa khoa Quảng Xương nói riêng Bảo vệ sức khỏe ngời dân và môi trường

2.2 Nội dung nghiên cứu

Để thực hiện được các mục tiêu đề ra ở trên, khóa luận tiến hành các nội dung sau:

Nội dung 1: Nghiên cứu đánh giá về thành phần, khối lượng chất thải

rắn phát sinh từ bệnh viện

- Xác định thành phần CTRYT tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương

- Xác định khồi lượng chất thải rắn tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương

Nội dung 2: Nghiên cứu đánh giá công tác thu gom, vận chuyển, xử lý

và quản lý CTRYT

- Thực trang công tác thu gom CTRYT

- Thực trạng công tác vận chuyển CTRYT

- Thực trạng công tác xử lý CTRYT

- Thực trạng công tác quản lý CTRYT

Nội dung 3: Nghiên cứu đề ra các giải pháp cho quản lý và xử lý

CTRYT trong tương lai tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương

Trang 35

- Đề xuất giải pháp quản lý CTRYT cho bệnh viện đa khoa Quảng Xương

- Đề xuất giải pháp xử lý CTRYT cho bệnh viện đa khoa Quảng Xương

2.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

2.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu đề tài về hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý CTRYT tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương – Thanh Hóa

2.3.2 Phạm vi và thời gian

Đề tài được thực hiện tại bệnh viện đa khoa Quảng Xương – Thanh Hóa

Thời gian nghiên cứu: 15/1/2019 – 6/5/2019

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện được các nội dung nghiên cứu trên đề tài đã sử dụng các phương pháp sau:

2.4.1 Phương pháp kế thừa số liêu

Đây là phương pháp sử dụng nhằm giảm bớt thời gian và công việc ngoài thực địa, trong phòng thí nghiệm Phương pháp này rất cần thiết và được nhiều người sử dụng trong quá trình nghiên cứu Các tài liệu thu thập được giúp đề tài tổng kết được kinh nghiệm và kế thừa có chọn lọc những tài liệu đã được công bố của các công trình nghiên cứu khoa học tại khu vực ngiên cứu, các công trình nghiên cứu có tính chất tường đương, những văn bản mag tính pháp lý, những giá trình đã được in ấn từ đó thu thập, phân tích thông tin, tài liệu, số liệu và tổng hợp để phục vụ báo cáo

Để phục vụ cho quá trình làm khóa luận, tôi đã lế thừa tài liệu từ các nguồn như sau:

- Tài liệu và điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của tỉnh Thanh Hóa, và bệnh viên Đa khoa huyện Quảng Xường – Thanh Hóa

- Các váo cáo quản lý chất thải rắn, báo cáo về tình hình khám chữa bệnh của Bệnh viên Đa khoa huyện Quảng Xương – Thanh Hóa

- Tài liệu Internet, sách, báo chí,

Trang 36

- Các khóa luận có liên quan của các năm trước,

2.4.2 Phương pháp điều tra số liệu ngoại nghiệp

Khảo sát thực tế: điều tra khảo sát thực tế là một trong những phương

pháp quan trọng để tiến hành nghiên cứu và hoàn thành đề tài Phương pháp này nhằm củng cố thêm tính xác thực của tài liệu kế thừa và tham khải về hiện trạng chất thải rắn tại bệnh viên Đa khoa huyện Quảng Xương – Thanh Hóa Trong quá trình khảo sát thực tế tại bệnh biện đã áp dụng phương pháp

cụ thể sau:

- Khảo sát điều tra các nguồn và thành phàn rác thải rắn trong bệnh viện; quan sát bằng mắt, trong và ngoài khu vực bệnh viện

- Tìm hiều điều tra quá trình vận chuyển, lưu trữu và xử lý rác

- Phương pháp cân, đo, đếm ngoài thực địa:

 Thực hiện trong 3 ngày: ngày 12,13,14 tháng 2 năm 2019 vào các buối sáng và tối sau khi chất thải đã được thu gom tại các khoa do hỗ lý thực hiện, tiến hành cần đo khối lượng của chất thải đó ghi chép lại, Việc thực hiện cân

đo được thực hiện ở nơi lưu trữ chất thải tạm thời của các khoa khác nhau trong bệnh viện

 Một số khoa đặt biệt được thu gom vận chuyển nhiều hơn các khoa khác trong ngày nên cần nắm bắt để có thể thực hiện đo khối lượng đúng nhất

có thể

- Sau khi đã có số liệu thì đem tổng hợp, đánh giá

2.4.3 Phương pháp phỏng vấn

Phương pháp này dùng để đánh giá sự hiểu biết của mọi người trong

quản lý chất thải rắn, cách thức quản lý và xử lý trong môi trường bệnh viện Mức ảnh hưởng của chát thải rắn y tế đến sức khỏe và môi trường xung quanh

Chuẩn bị 3 mẫu phiếu hỏi, mỗi mẫu 30 phiếu,

- Phiếu câu hỏi giành cho cán bộ nhân viên bệnh viện gồm 15 câu hỏi được đem điều tra vào ngày 18/02/2019, phát ra 30 phiếu thu lại 30 phiếu

Trang 37

- Phiếu câu hỏi giành cho bệnh nhân và người nhà bệnh nhân gồm 25 câu hỏi đem đi điều tra vào ngày 19/02/2019, phát ra 30 phiếu thu lại đủ 30 phiếu

- Phiếu câu hỏi dành cho người dân xung quanh bệnh viện gồm 10 câu hỏi được đem đi điều tra vào ngày 22/2/2019, phát ra 30 phiếu thu lại 30 phiếu

Câu trả lời của mọi người đều đúng với trọng tâm câu hỏi, có một số người còn tích cực cho thêm nhiều thông tin Tuy nhiên, có một sốt ít người không tham gia tích cực trong phỏng vấn bằng cách khoanh không chính xác

và không hiểu đú5ng về câu hỏi

Các mẫu câu hỏi được tổng hợp và khai báo theo vấn đề đánh giá thực trạng quản lý CTYT: dùng bảng kiểm, dựa vào thông tư liên tịch số 58/2015/TTLT - BYT-NTNMT ngày 31/05/2015 Xây dựng thang điểm để đánh giá thực trạng quản lý chất thải (thu gom, phân loại, vận chuyển, lưu trữ,

xử lý) Cụ thể như sau:

 Xác định các tiêu chí chính và phụ để đưa ra thang điểm ( Lập bảng

ma trận để xác định tiêu chí chính và phụ)

- Tiêu chí chính cho thang điểm tối đa là 5

- Tiêu chí phụ cho thang điểm tối đa là 3

 Chấm điềm: chấm điểm phụ từ 1 đến mức tối đa cho mỗi tiêu chí có mức thực hiện theo mức độ đạt được; 0 điểm cho tiêu chí không thực hiện được hoặc không có,

 Mức điểm đánh gái như sau:

- Đạt > 90% số điểm tổng được đánh giá là tốt

- Đạt từ 70% ĐẾN < 90% số điểm tổng được đánh giá đạt mức khá

- Đạt từ 60% đến < 70% số điểm tổng được đáng giá đạt mức trung bình

- Đạt từ <50% số điểm tỏng được đánh giá thực hiện chưa tốt

Trang 38

2.4.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp

Sử dụng các phần mềm máy tính excel để xử lý số liệu

Số liệu, thông tin, hình ảnh sau khi được thu thập được hệ thống theo bảng biểu thống kê, biểu đồ và đánh giá chi tiết Được so sánh và đưa ra các giải pháp phù hợp để quản lý chất thải rắn hiệu quả hơn

Sau khi kế thừa số liệu, đề tài tiến hành phân tích, lập biểu đồ đánh giá từng chỉ tiêu so sánh giữa các tháng trong năm, giữa các năm với nhau Cuối cùng là đánh giá hiệu quả công tác quản lý, công nghệ xử lý chất thải rắn của bệnh viện

Trang 39

CHƯƠNG 3 : ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ XÃ HỘI

CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Huyện Quảng Xương

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

Quảng Xương từng được xem là một huyện nghèo, đồng đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai Song, hiện nay, kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá (298,7 USD năm 2002), đời sống nhân dân ngày càng cải thiện Huyện Quảng Xương phía đông giáp vịnh Bắc Bộ, phía nam giáp huyện Tĩnh Gia và huyện Nông Cống Phía tây giáp huyện Nông Cống và huyện Đông Sơn, phía bắc giáp thành phố Thanh Hóa va thành phố Sầm Sơn Diện tích khoảng 198,2 km² Dân số khoảng 227,971 người ( 2012) Gồm 29 xã

Hình ảnh 3.1: Bản đồ hành chính tỉnh Thanh Hóa

Trang 40

3.1.2 Tình hình kinh tế - xã hội

Quảng Xương là một huyện đồng bằng ven biển của tỉnh Thanh Hóa Những năm trước đây, Quảng Xương được xem là một huyện nghèo, đồng đất không mấy thuận lợi, lại chịu nhiều thiên tai Song, hiện nay, kinh tế của huyện vào diện khá của tỉnh, GDP liên tục tăng qua các năm, thu nhập bình quân đầu người có mức tăng khá, đời sống nhân dân ngày càng cải thiện

Thêm nữa, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực theo hướng giảm tỷ trọng nông - lâm nghiệp, tăng tỷ trọng CN - TTCN & DVTM Sự đổi thay kỳ diệu đó có được là do Quảng Xương đã đổi mới tư duy, đổi mới cách nghĩ, cánh làm Quảng Xương đã từ lâu được coi là trọng điểm lúa của tỉnh Quảng Xương là một trong những huyện có các tuyến đường giao thông thuận lợi, đất rộng, người đông, nguồn lao động dồi dào Đây là lợi thế đặc biệt quan trọng để thu hút đầu tư phát triển kinh tế, xã hội

Phát huy nội lực

Được biết, năm 2016, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 14,3%, trong đó nông, lâm, thủy sản tăng 4,1%, công nghiệp – xây dựng tăng 17,6%, dịch vụ tăng 19,2% Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, thủy sản 28,9%; công nghiệp

- xây dựng 32,8%; dịch vụ 38,3% Tổng sản lượng lương thực có hạt là 92.693 nghìn tấn, tăng 3% so KH Thu nhập bình quân đầu người đạt 29,6 triệu đồng

Tổng vốn đầu tư toàn huyện 1.350 tỷ đồng Giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu 12 triệu USD Thu ngân sách trên địa bàn huyện tăng trên 14% so với dự toán Tổng mức bán lẻ hàng hóa và kinh doanh dịch vụ 3.550 tỷ đồng

Tỷ lệ xã đạt chuẩn nông thôn mới 82,76% 7 xã đạt chuẩn quốc gia về y tế, nâng tỷ lệ trạm y tế xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế lên 80%, đạt KH

Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 5,6% Giải quyết việc làm 3.800 người, tăng 100 người; trong đó xuất khẩu lao động 220 người Tỷ lệ lao động qua đào tạo là 60% Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động là 40%

Ngày đăng: 23/06/2021, 17:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w