Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt tới môi trường xung quanh của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình.. + Đánh giá được ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến sức khỏe ngư
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG & MÔI TRƯỜNG
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CHẤT THẢI RẮN SINH HOẠT
TẠI THỊ TRẤN LƯƠNG SƠN, HUYỆN LƯƠNG SƠN,
TỈNH HÒA BÌNH
Ngành : KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số : 7440301
Giáo viên hướng dẫn : PGS.TS Bùi Xuân Dũng
Sinh viên thực hiện : Lý Thu Thảo
MSV : 1553060423
Lớp : 60A – KHMT
Khóa học : 2015 - 2019
Hà Nội - 2019
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của rất nhiều các cá nhân và tập thể Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo trường Đại Học Lâm Nghiệp,đặc biệt là các thầy cô giáo trong khoa Quản lí tài nguyên rừng và môi trường đã tận tình chỉ dạy, truyền đạt kiến thức và những kinh nghiệm quý báu cho tôi
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS Bùi Xuân Dũng là người trực tiếp giảng dạy,hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn UBND huyện Lương Sơn cùng toàn thể người dân trên địa bàn đã cung cấp số liệu và tạo điều kiện để tôi thực hiện đề tài trong thời gian qua
Với thời gian nghiên cứu không nhiều, hạn chế về chuyên môn cũng như kinh nghiệm thực tế nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy giáo,cô giáo cùng với những người quan tâm để nội dung khóa luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Hà Nội, ngày 3 tháng 5 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Lý Thu Thảo
Trang 3ii
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP vii
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Một số khái niệm cơ bản 3
1.2.Nguồn gốc phát sinh 4
1.3.Thành phần chất thải rắn sinh hoạt 5
1.4.Tình hình quản lý và xử lí chất thải rắn trên Thế Giới 5
1.5.Tình hình quản lí và xử lí chất thải rắn ở Việt Nam 9
Chương 2 MỤC TIÊU-ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 16
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 16
2.1.1 Mục tiêu chung 16
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 16
2.2 Đối tượng nghiên cứu 16
2.3.Phạm vi nghiên cứu 16
2.3.1 Phạm vi thời gian 16
2.3.2 Phạm vi không gian 16
2.4.Nội dung nghiên cứu 16
2.5.Phương pháp nghiên cứu 17
2.5.1 Nghiên cứu hiện trạng của CTRSH của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 17
2.5.2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lí CTRSH của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 21
2.5.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí CTRSH của Thị Trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 22
Trang 4iii
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 23
3.1.Điều kiện tự nhiên 23
3.2.Tài nguyên thiên nhiên 26
3.3.Kinh tế xã hội 26
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 29
4.1 Hiện trạng CTRSH của Thị trấn lương sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 29
4.2 Thực trạng công tác quản lý CTRSH tại khu vực nghiên cứu 36
4.2.1 Quản lý rác thải tại hộ gia đình 36
4.2.2 Hiện Trạng thu gom rác thải tại Thị Trấn Lương Sơn 37
4.2.3 Công tác xử lý rác thải tại Thị Trấn Lương Sơn 42
4.3 Ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt tới môi trường xung quanh của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 43
4.4 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí CTRSH của Thị Trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình 46
CHƯƠNG 5 KẾT LUẬN- TỒN TẠI - KIẾN NGHỊ 51
TÀI LIỆU TH M HẢO: 54 PHỤ LỤC
Trang 5CTRSH Chất thải rắn sinh hoạt
Trang 6v
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Theo thống kê lượng phát thải CTRSH các năm cho thấy: 11 Bảng 1.2: CTR đô thị phát sinh các năm 2009-2010 và dự báo đến năm 202511 Bảng 4.1: Khối lượng rác thải sinh hoạt của Thị Trấn Lương Sơn từ 2015 -
2018 30 Bảng 4.2: Khối lượng của RTSH phát sinh tại 15 hộ gia đình thí điểm trên địa bàn Thị Trấn Lương Sơn 31 Bảng 4.3.Thành phần rác thải sinh hoạt của 8 tiểu khu tại Lương Sơn 33 Bảng 4.4: Dân số thị trấn Lương Sơn từ năm 2019 - 2022 35 Bảng 4.5: Diễn biến khối lượng CTRH thị trấn Lương Sơn phát sinh từ năm
2018 - 2022 35 Bảng 4.6 Nhân sự và thiết bị của công ty CPĐT môi trường đô thị UB trong khu vực thị trấn 37 Bảng 4.7: Mức phí thu gom RTSH tại thị trấn Lương Sơn 39 Bảng 4.8: Kết quả điều tra phỏng vấn người dân tại thị Trấn Lương Sơn 40
Trang 7vi
DANH MỤC CÁC HÌNH, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1: Thu gom rác thải của công ty môi trường tại Hà Nội 10 Hình 3.1: Vị trí địa lý khu vực nghiên cứu 23 Hình 4.1: Diễn biến khối lượng CTRSH của Thị Trấn Lương Sơn từ năm 2015- 201831 Hình 4.2.Khối lượng CTR SH điều tra theo các hộ dân 33 Hình 4.3: Thể hiện diễn biến khối lượng CTRSH tại thị trấn Lương Sơn từ
năm 2018 đến 2022 36 Hình 4.4 Sơ đồ thu gom rác 38 Hình 4.5: Sơ đồ vận hành bãi chôn lấp 42 Biểu đồ 4.1: Kết quả ý kiến đánh giá ảnh hưởng RTSH đến môi trường không khí 43 Biểu đồ 4.2: Kết quả ý kiến đánh giá ảnh hưởng RTSH đến môi trường
nước 44 Biểu đồ 4.3: Kết quả ý kiến đánh giá ảnh hưởng RTSH đến môi trường
đất 45 Biểu đồ 4.4: Kết quả ý kiến đánh giá ảnh hưởng RTSH đến sức khỏe người dân 46
Trang 8vii
TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
1 Tên khóa luận:
Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thị Trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2 Sinh viên thực hiện: Lý Thu Thảo
3 Giáo viên hướng dẫn: PGS.TS Bùi Xuân Dũng
4 Mục tiêu nghiên cứu:
+ Đánh giá hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện
Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
+ Đánh giá được ảnh hưởng của rác thải sinh hoạt đến sức khỏe người dân, môi trường xung quanh tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
+ Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý rác thải sinh hoạt tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
5 Nội dung nghiên cứu:
- Nghiên cứu thực trạng rác thải sinh hoạt tại tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
- Nghiên cứu đánh giá hiệu quả quản lý rác thải sinh hoạt tại tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
- Nghiên cứu ảnh hưởng của rác thải đến môi trường tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
Trang 9viii
- Nghiên cứu đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản
lý rác thải sinh hoạt tại Thị trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, Tỉnh Hòa Bình
6 Những kết quả đạt đƣợc:
Thị Trấn năm 2017 ước tính tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt của Thị Trấn hiện nay ước tính theo dân số là khoảng 85tấn/ngày và phát sinh trung bình khoảng 0,5kg/người/ngày
Vấn đề thu gom, vận chuyển: Công cụ, phương tiện, nhân lực, phương thức thu gom còn hạn chế về số lượng, chưa đáp ứng với khối lượng chất thải ngày càng tăng, dẫn đến tình trạng chất thải rắn tồn đọng tại các khu tập kết, trung chuyển cũng như các điểm tự phát đã gây ô nhiễm môi trường
Vấn đề xử lý chất thải: việc xử lý chất thải vẫn phải phụ thuộc vào khu
xử lý chất thải do Thành phố chỉ định cho huyện và phụ thuộc vào đơn vị cung ứng dịch vụ đô thị
RTSH đã phần nào ảnh hưởng đến mỹ quan và đời sống người dân nhưng chưa đến mức báo động UBND thị trấn và các nhà quản lý cần quan tâm và đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện môi trường và bảo vệ sức khỏe của người dân
-Từ kết quả nghiên cứu đề tài đã đề xuất được một só giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý RTSH trên địa bàn thị trấn Lương Sơn
Trang 101
ĐẶT VẤN ĐỀ
Ô nhiễm môi trường là vấn đề đã và đang được quan tâm trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng và một trong những yếu tố gây nên ô nhiễm
đó là chất thải rắn sinh hoạt Mỗi năm có khoảng 15 triệu tấn rác thải trong đó
có 80% là rác thải sinh hoạt nhưng công tác thu gom và xử lý chưa đạt hiệu quả cao ( Bộ Tài nguyên môi trường, 2012) Sự phát triển của kinh tế những năm gần đây cũng kéo theo sự gia tăng không ngừng của rác thải do nhu cầu
sử dụng của mỗi cá nhân cũng như mỗi hộ gia đình Phần lớn rác thải được phát sinh trong quá trình sản xuất, các khu công cộng, trường học, chợ … Vì thế chính lượng rác thải ra chưa được xử lý là nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người
và mĩ quan đô thị
Tốc độ đô thị hóa diễn ra nhanh chóng đã trở thành nhân tố tích cực đối với phát triển KT-XH của đất nước Tuy nhiên, bên cạnh những lợi ích về KT-XH, đô thị hóa nhanh đã tạo ra sức ép về nhiều mặt, dẫn đến suy giảm chất lượng môi trường và phát triển không bền vững Các hoạt động sản xuất, sinh hoạt tăng theo và lượng chất thải cũng tăng theo Tính bình quân người dân đô thị tiêu dùng năng lượng, đồ tiêu dùng, thực phẩm, cao gấp 2 - 3 lần người dân nông thôn kéo theo lượng rác thải của người dân đô thị cũng gấp 2
- 3 lần người dân nông thôn
Phát sinh CTR ở đô thị chủ yếu là CTR sinh hoạt chiếm khoảng 60 - 70% lượng CTR phát sinh, tiếp theo là CTR xây dựng, CTR công nghiệp,
CTR y tế, ( URENCO Hà Nội , 2011 ) Cùng với đó Thị trấn Lương Sơn , Huyện Lương Sơn,cửa ngõ phía Đông của tỉnh Hòa Bình, là đầu nối giữa thủ
đô Hà Nội và miền Tây Bắc Việt Nam Đây là thị trấn có điều kiện phát triển công nghiệp và kinh tế lớn nhất của tỉnh Trong thời gian qua thị trấn Lương Sơn đã có sự phát triển mạnh mẽ đầy triển vọng và dân số ngày càng tăng Cuộc sống của người dân được thay đổi rõ rệt Tuy vậy, vẫn còn nhiều bất cập như: cơ sở hạ tầng, kỹ thuật còn yếu, công tác quản lý chưa sát sao, bảo vệ
Trang 112
môi trường chưa được chú trọng, bên cạnh đó ý thức giữ gìn vệ sinh môi trường của người dân còn hạn chế, dẫn đến nhiều vấn đề về môi trường, đặc biệt là vấn đề chất thải Chất thải rắn sinh hoạt chưa được thu gom, vận chuyển hợp lý vẫn còn bị vứt bừa bãi ra đường phố, gây ra mùi khó chịu ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí và tiềm ẩn nguy cơ dịch bệnh gây hại cho sức khỏe con người cũng như cảnh quan môi trường xung quanh của thị trấn
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề nêu trên, tôi đã quyết định
thực hiện đề tài : „Đánh giá hiện trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Thị Trấn Lương Sơn, Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình’ nhằm đưa ra các giải pháp giải quyết các khó
khăn của vấn đề thu gom xử lý chất thải rắn sinh hoạt, cải thiện để giữ môi trường sạch đẹp và đảm bảo sức khỏe con người
Trang 123
Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Một số khái niệm cơ bản
a Chất thải
Chất thải bao gồm các vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ y tế, du lịch, sinh hoạt, hoặc các hoạt động
khác.( Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014)
- Chất thải rắn là toàn bộ các loại vật chất được con người loại bỏ từ các hoạt động kinh tế - xã hội của mình (bao gồm các hoạt động sản xuất, các hoạt động sống và duy trì sự tồn tại của cộng đồng ) Trong đó quan trọng nhất là chất thải sinh ra từ hoạt động sản xuất và hoạt động sống Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại
b Chất thải rắn sinh hoạt
- Chất thải rắn sinh hoạt (CTSH hay còn gọi là rác thải sinh hoạt ) là những chất thải liên quan đến các hoạt động sống của con người, được tạo thành chủ yếu từ các khu dân cư, cơ quan, trường học, trung tâm dịch vụ, thương mại… CTRSH thành phần bao gồm kim loại, sành sứ, thủy tinh, gạch ngói vỡ, đất đá, cao su, thực phẩm dư thừa, gỗ, lon, vải, giấy, lông vịt, lông
gà, cành cây khô, ( Báo Wikipedia)
c.Quản lý chất thải
- Quản lý rác thải là hành động thu gom, phân loại và xử lý các loại rác thải của con người Hoạt động này nhằm làm giảm các ảnh hưởng xấu của
rác vào môi trường và xã hội
- Hoạt động quản lý chất thải rắn bao gồm các hoạt động quy hoạch quản lý, đầu tư xây dựng cơ sở quản lý CTR, các hoạt động phân loại, thu gom, lưu trữ, vận chuyển, tái sử dụng, tái chế và xử lý CTR nhằm ngăn ngừa, giảm thiểu những tác động có hại đối với môi trường và sức khỏe con người
Trang 134
1.2.Nguồn gốc phát sinh
Chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ nhiều nguồn gốc khác nhau:
- Từ khu dân cư: Bao gồm các khu dân cư tập trung, những hộ dân cư tách rời Nguồn chất thải chủ yếu là: thực phẩm dư thừa, thuỷ tinh, gỗ, nhựa, giấy, nilon, cao su còn có một số chất thải nguy hại
- Từ các động thương mại: Quầy hàng, nhà hàng, chợ, văn phòng cơ quan, khách sạn Các nguồn thải có thành phần tương tự như đối với các khu dân cư (thực phẩm, giấy, catton…)
- Các cơ quan, công sở: Trường học, bệnh viện, các cơ quan hành chính: lượng rác thải tương tự như đối với CTR dân cư và các hoạt động thương mại nhưng khối lượng ít hơn
- Từ xây dựng: Xây dựng mới nhà cửa, cầu cống, sửa chữa đường xá,
dỡ bỏ các công trình cũ Chất thải mang đặc trưng riêng trong xây dựng: sắt thép vụn, gạch vỡ, các sỏi, bê tông, các vôi vữa, xi măng, các đồ dùng cũ không dùng nữa
- Dịch vụ công cộng: Vệ sinh đường xá, phát quang, chỉnh tu các công
viên và các hoạt động khác chất thải bao gồm cỏ rác, chất thải từ việc trang trí đường phố
- Từ các hoạt động sản xuất công nghiệp: Bao gồm chất thải phát sinh
từ các hoạt động sản xuất công nghiệp và tiểu thủ công như sản xuất đồ gỗ, inox…
- Từ các hoạt động sản xuất nông nghiệp: Nguồn chất thải chủ yếu từ các cánh đồng sau mùa vụ, các trang trại, các vườn cây Chất thải chủ yếu thực phẩm dư thừa, phân gia súc, rác nông nghiệp, các chất thải ra từ trồng trọt, từ quá trình thu hoạch sản phẩm, chế biến các sản phẩm nông nghiệp
Chất thải rắn sinh hoạt nói chung phát sinh từ các nguồn chủ yếu: các hộ gia đình (nhà ở, khu tập thể, chung cư, ), các trung tâm thương mại dịch vụ (chợ, văn phòng, khách sạn, siêu thị, khu vui chơi giải trí, ), cơ quan (trường
Trang 145
học, cơ quan hành chính, bệnh viện, ), các công trình, dịch vụ công cộng (rửa đường, tu sửa cảnh quan, công viên, bãi biển )
( Báo cáo hiện trạng môi trường quốc gia, 2016)
1.3.Thành phần chất thải rắn sinh hoạt
Khác với chất thải, phế thải công nghiệp, chất thải rắn sinh hoạt là tập hợp không đồng nhất Tính không đồng nhất ở đây biểu hiện ngay ở sự không kiểm soát được các nguyên liệu ban đầu dùng cho thương mại và sinh hoạt Sự không đồng nhất này tạo nên một số đặc trưng rất khác biệt trong các thành phần của chất thải rắn sinh hoạt
Thành phần cơ học: thành phần chất thải rắn sinh hoạt bao gồm:
- Các chất có khả năng phân hủy sinh học: thực phẩm thừa, lá cây, xác chết động vật, hoa, quả,…
- Các chất không có khả năng phân hủy sinh học: kim loại, thủy tinh, mảnh sành, gạch ngói, vữa,…
Hà Nội, Hải Phòng, TP HCM là 3 tỉnh thành có số dân và kinh tế phát triển tương đối cao của cả nước, thành phần chủ yếu CTRSH là các chất hữu cơ có khả năng phân hủy sinh học (Hà Nội 57,29%, Hải Phòng 55,14%,
Tp HCM 67,08%) Tỷ lệ các chất khó phân hủy sinh học ở Hải Phòng là cao nhất 44,86%, và thấp nhất là TP HCM 32,92% Mức phát thải CTRSH phụ thuộc chủ yếu vào mức sống trung bình của người dân Dựa vào tính chất của CTRSH quyết định tới việc lựa chọn các phương pháp quản lí và xử lí hiệu quả chất thải rắn
1.4.Tình hình quản lý và xử lí chất thải rắn trên Thế Giới
Năm 1900, đã có khoảng 220 triệu người sống ở các thành phố, phát sinh ra ít nhất 300.000 tấn chất thải rắn, bao gồm rác thực phẩm, bao bì và các vật dụng gia đình khác Một trăm năm sau, hơn 2,9 tỷ người sống ở các thành phố và tạo ra hơn 3 triệu tấn rác thải mỗi ngày
Mối đe doạ do quản lý chất thải kém đặc biệt thể hiện rõ ở các quốc gia
có thu nhập thấp, nơi tỷ lệ thu gom rác thường dưới 50% Các đống rác dọc
Trang 156
bờ sông, khói dày đặc từ việc đốt rác, chất thải độc hại, hơi cay, ruồi muỗi và các loài gặm nhấm tràn lan là một trong những nguyên nhân gây ra ô nhiễm môi trường Bên cạnh đó, việc tăng dân số tự nhiên, việc di cư dân số về các
đô thị, đô thị hóa và phát triển kinh tế cũng làm cho lượng chất thải đang ngày càng trở nên quá tải đối với các hệ thống quản lý Trong báo cáo “Đánh giá toàn cầu về quản lý chất thải rắn” năm 2012, khối lượng rác thải ngày càng lớn của cư dân đô thị đang là một thách thức lớn không kém gì tình trạng biến đổi khí hậu, và chi phí xử lý rác thải sẽ là gánh nặng đối với các quốc gia
nghèo khó, đặc biệt là ở châu Phi (Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định)
Ở nhiều nước đang phát triển, quản lý chất thải rắn có thể tiêu tốn 20-50% ngân sách Các quốc gia đang trên đà chuyển đổi từ tình trạng thu nhập thấp đến trung bình cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề, không có cấu trúc thuế hoặc phí nào để duy trì các chương trình chất thải rắn và người dân thường sử dụng các bãi đất trống tự do để xả rác Các chuyên gia WB cũng cảnh báo, lượng chất thải rắn toàn cầu đang tăng lên 70% vào năm 2025, tăng từ hơn 3,5 triệu tấn mỗi ngày trong năm 2010, lên hơn 6 triệu tấn mỗi ngày vào năm 2025 Chất thải độc hại từ các thành phố đã đủ để lấp đầy một dòng xe chở hàng dài 5.000 cây số mỗi ngày Chi phí toàn cầu cho việc đối phó với tất cả những thùng rác đó cũng tăng lên: từ 205 tỷ USD mỗi năm trong năm 2010 lên 375
tỷ USD vào năm 2025, mức tăng chi phí mạnh nhất ở các nước đang phát
triển
Một số những số liệu thống kê của các nước :
Indonesia là một trong những quốc gia trên thế giới đang phải đối mặt với cuộc khủng hoảng rác thải trầm trọng Năm ngoái, nước này thải ra đến 65 triệu tấn rác Hiện nay, Indonesia đang đặt mục tiêu giảm 22% lượng rác thải mỗi năm Giải pháp là thành lập thêm các ngân hàng rác thải, nơi người dân được khuyến khích mang rác thải đã phân loại đến để đổi lấy những khoản tiền trang trải cho cuộc sống Bên cạnh đó, Indonesia tích cực tham gia các diễn đàn toàn cầu và khu vực nhằm nâng cao nhận thức của người dân về
Trang 167
những tác hại do rác thải nhựa gây ra đối với các đại dương; đẩy mạnh công tác tuyên truyền và có biện pháp ngăn chặn việc người dân đổ các loại rác thải nhựa xuống biển
Ấn Độ phát sinh ra gần 6,4 triệu tấn rác thải nguy hại, trong đó 3,09 triệu tấn có thể tái chế được, 0,41 triệu tấn có thể thiêu hủy và 2,73 triệu tấn
sẽ phải đổ ra bãi chứa rác thải
Úc là một trong những quốc gia thải rác nhiều nhất thế giới Nhiều trung tâm đô thị lớn ở mước này đã được mở rộng để phù hợp với tiêu chuẩn sống cao hơn của người dân Do đó, hệ thống xử lý rác thải cũng được yêu cầu cao hơn Những biện pháp xử lý rác thải bền vững đã được tìm kiếm và
áp dụng Đối với chất thải rắn như rác sinh hoạt, sản phẩm công nghiệp được
xử lý tại các bãi chôn lấp
Tại Singapore, CTRSH được phân loại ngay tại nguồn và được thu gom bằng túi nilon Trung bình tại Singapore lượng CTRSH thu gom hằng ngày khoảng 6200 tấn Các tổ chức thuộc Bộ Môi Trường chịu trách nhiệm thu gom chất thải sinh hoạt tại các khu dân cư và các công ty với khối lượng khoảng 3300 tấn/ngày (chiếm 53% tổng số CTRSH) Các công ty tư nhân (Singapore có hơn 300 công ty) chịu trách nhiệm thu gom 2100 tấn CTRSH/ngày (chiếm 34% tổng lượng CTR), chủ yếu là CTR công nghiệp và thương mại Các công ty tư nhân này được cấp giấy phép hoạt động và chịu
sự giám sát của Bộ Môi Trường theo các quy định về môi trường và sức khỏe cộng động Các cơ quan nhà nước, công trường, nhà máy tự thu gom
800 tấn CTRSH thu gom được vận chuyển đến trạm trung chuyển, tại đây CTRSH được máy ép vào các container và được xe tải 20 tấn chở đến nhà máy xử lý
Tại Mỹ: Hàng năm, CTR sinh hoạt của các thành phố Mỹ lên tới 210 triệu tấn Tính bình quân mỗi người dân Mỹ thải ra 2kg CTRSH/ngày Hầu như thành phần các loại CTRSH trên đất nước Mỹ không có sự chênh lệch quá lớn
về tỷ lệ, cao nhất không phải là thành phần hữu cơ như các nước khác mà là
Trang 178
thành phần CTRSH vô cơ (giấy các loại chiếm đến 38%), điều này cũng dễ lý giải đối với nhịp điệu phát triển và tập quán của người Mỹ là việc thường xuyên sử dụng các loại đồ hộp, thực phẩm ăn sẵn cùng các vật liệu có nguồn gốc vô cơ Trong thành phần các loại sinh hoạt thực phẩm chỉ chiếm 10,4% và
tỷ lệ kim loại cũng khá cao là 7,7% Như vậy CTRSH các loại ở Mỹ có thể phân loại và xử lý chiếm tỉ lệ khá cao (các loại khó hoặc không phân giải được như kim loại, thủy tinh, gốm, sứ chiếm khoảng 20%)
Có thể thấy, công tác xử lý chất thải rắn chưa chú trọng đến các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải dẫn đến khối lượng chất thải rắn phải chôn lấp cao, gây lãng phí tài nguyên, quỹ đất, ngân sách và ảnh hưởng đến môi trường.Bên cạnh đó, công tác đầu tư cho hoạt động xử lý chất thải còn chưa tương xứng và đáp ứng nhu cầu thực tế; nhiều công trình xử lý chất thải rắn đã được xây dựng,vận hành, nhưng cơ
sở vật chất cũ, công nghệ lạc hậu, năng lực và hiệu suất xử lý chưa đạt yêu cầu
Các văn bản vi phạm pháp luật trong hoạt động thu gom vận chuyển,
xử lý chất thải rắn đã được ban hành Tuy nhiên việc ban hành thông tư, nghị định, hướng dẫn còn chậm, một số nội dung mang tính chung chung nên gây khó khăn cho việc triển khai và tổ chức thực hiện Mặt khác, các quy định, quy trình, định mức do Chính phủ, các Bộ, Sở ban hành chưa phù hợp với tình hình thực tiễn và đặc thù của từng địa phương làm ảnh hưởng không nhỏ đến các đơn vị thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải
Quản lý còn chồng chéo, chưa thống nhất và chưa khoa học; một số cấp chính quyền địa phương chưa thật sự quan tâm đến hoạt động bảo vệ môi trường, còn hạn chế trong việc kiểm tra và xử lý các trường hợp vi phạm trên lĩnh vực vệ sinh môi trường; hoạt động thông tin, tuyên truyền, giáo dục về công tác bảo vệ môi trường chưa được chú trọng
Trang 189
1.5.Tình hình quản lí và xử lí chất thải rắn ở Việt Nam
a Tình hình quản lý (Thu gom vận chuyển)
Công tác xã hội hóa việc thu gom và vận chuyển chất thải đang được thực hiện rộng rãi ở nhiều nơi Chỉ ở các đô thị lớn cấp thành phố mới có URENCO đảm nhận việc thu gom, vận chuyển và xử lý CTR đô thị Tuy nhiên vẫn có sự tham gia của các công ty cổ phần hoặc công ty tư nhân Trên địa bàn Thành phố Hà Nội, ngoài URENCO là đơn vị đảm trách chính còn có khoảng gần 30 đơn vị tư nhân và tập thể khác tham gia thực hiện thu gom, vận chuyển chất thải sinh hoạt
Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt hiện nay tại khu vực nội thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 85% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh và tại khu vực ngoại thành của các đô thị trung bình đạt khoảng 60% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại khu vực nông thôn còn thấp, trung bình đạt khoảng 40-55% so với lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh, tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng nông thôn ven đô hoặc các thị trấn, thị tứ cao hơn tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt tại các vùng sâu, vùng xa
Tại các đô thị, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt do Công
ty môi trường đô thị hoặc Công ty công trình đô thị thực hiện Bên cạnh đó, trong thời gian qua với chủ trương xã hội hóa trong lĩnh vực môi trường của Nhà nước, đã có các đơn vị tư nhân tham gia vào công tác thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt tại đô thị Nguồn kinh phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt đô thị hiện nay do Nhà nước bù đắp một phần từ nguồn thu phí vệ sinh trên địa bàn Mức thu phí vệ sinh hiện nay
từ 10.000-30.000 đồng/hộ/tháng tùy theo mỗi địa phương Mức thu tại các cơ
sở sản xuất, dịch vụ từ 120.000-200.000 đồng/cơ sở/tháng tùy theo quy mô, địa phương
Tại khu vực nông thôn, việc thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phần lớn là do các hợp tác xã, tổ đội thu gom đảm nhiệm với chi phí thu gom
Trang 1910
thỏa thuận với người dân đồng thời có sự chỉ đạo của chính quyền địa phương Mức thu và cách thu tùy thuộc vào từng địa phương, từ 10.000-20.000 đồng/hộ/tháng và do thành viên hợp tác xã, tổ đội thu gom trực tiếp đi thu Hiện có khoảng 40% số thôn, xã hình thành các tổ, đội thu gom chất thải rắn sinh hoạt tự quản, công cụ phục vụ cho công tác thu gom, vận chuyển hầu hết do tổ đội tự trang bị Tuy nhiên, trên thực tế tại khu vực nông thôn không thuận tiện về giao thông, dân cư không tập trung còn tồn tại hiện tượng người dân vứt bừa bãi chất thải ra sông suối hoặc đổ thải tại khu vực đất trống mà không có sự quản lý của chính quyền địa phương
Hình 1.1: Thu gom rác thải của công ty môi trường tại Hà Nội
( Kinh Tế Đô Thị)
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị trên toàn quốc tăng trung bình 10-16% mỗi năm, chiếm khoảng 60-70% tổng lượng chất thải rắn đô thị và tại một số đô thị tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt phát sinh chiếm đến 90% tổng lượng chất thải rắn đô thị Chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh với khối lượng lớn tại hai đô thị đặc biệt là thành phố Hà Nội và thành phố
Trang 2011
Hồ Chí Minh, chiếm tới 45,24% tổng lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh
từ tất cả các đô thị Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người ở mức độ cao từ 0,9-1,38 kg/người/ngày ở thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và một số đô thị phát triển về du lịch như: thành phố Hạ Long, thành phố Đà Lạt, thành phố Hội An,… Chỉ số phát sinh chất thải rắn sinh hoạt bình quân trên đầu người thấp nhất tại thành phố Đồng Hới, thành phố Kon Tum, thị xã Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông, thành phố Cao Bằng từ
0,31-0,38 kg/người/ngày.( Báo cáo môi trường quốc gia,2011)
Khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên toàn quốc năm 2014 khoảng 23 triệu tấn tương đương với khoảng 63.000 tấn/ngày, trong đó, chất thải rắn sinh hoạt đô thị phát sinh khoảng 32.000 tấn/ngày Chỉ tính riêng tại thành phố Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh, khối lượng chất thải rắn sinh hoạt phát sinh là: 6.420 tấn/ngày và 6.739 tấn/ngày
Bảng 1.1: Theo thống kê lượng phát thải CTRSH các năm cho thấy: STT Loại đô thị Lượng CTRSH bình
quân trên đầu người (kg/người/ngày)
Lượng CTRSH đô thị phát sinh
( Báo cáo bộ TN&MT về môi trường ,2007)
Bảng 1.2: CTR đô thị phát sinh các năm 2009-2010 và dự báo đến năm 2025
Trang 2112
Tổng lượng phát sinh CTRSH tại các đô thị loại III trở lên và một số đô thị loại IV là các trung tâm văn hóa, xã hội, kinh tế của các tỉnh thành trên cả nước lên tới 6,5 triệu tấn /năm Trong đó CTRSH phát sinh từ các hộ gia đình, nhà hàng, các chợ và kinh doanh là chủ yếu, lưọng còn lại từ công sở, đường phố, các cơ sở y tế Kết quả điều tra tổng thể cho thấy,lượng CTRSH đô thị phát sinh chủ yếu tập trung ở 2 đô thị đặc biệt là Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh Hai đô thị nhưng chiếm tổng lượng CTRSH phát sinh tới 8000 tấn/ngày chiếm 45,24% tổng lượng CTRSH phát sinh từ các đô thị
-Công tác bảo vệ môi trường đang là vấn đề hàng đầu ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam Tại Việt Nam, đã có ban hành các hệ thống văn bản pháp luật về bảo vệ môi trường, huy động nhiều nhân lực, vật lực tài lực về bảo vệ môi trường
Hiện nay, Việt nam đã xây dựng khung pháp lí về các hoạt động bảo vệ môi trường (BVMT) nói chung và quản lí chất thải rắn nói riêng, có thể nhắc tới như:
- Luật BVMT được quốc hội thông qua ngày 27 tháng 12 năm 1993 và có hiệu lực ngày 10 tháng 1 năm 1994 Nay đã được thay thế bằng Luật bảo vệ môi trường số 55/2014/QH13 là luật bảo vệ môi trường mới nhất 2017 hiện nay, bao gồm một số điều sửa đổi, bổ sung của Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua và ban hành ngày 23 tháng 06 năm 2014
- Chiến lược BVMT quốc gia và định hướng đến năm 2020 với các mục tiêu như tỷ lệ thu gom CTRSH đạt 90%, xử lí và tiêu hủy 60% chất thải rắn nguy hại, chất thải y tế được thu gom và xử lí 100%
Bên cạnh đó nhà nước ban hành những văn bản quy phạm pháp luật về chất thải rắn như:
- Nghị định số 65/2005/NĐ-CP ngày 23 tháng 6 năm 2006 cả Chính phủ về
tổ chức hoạt động Thanh tra Tài ngyên và Môi trường
- Quyết định số 224/QB-BTNMT ngày 06 tháng 10 năm 2006 của bộ trưởng
Bộ Tài Ngyên và Môi trường về việc phê duyệt nội dung và dự đoán
Trang 2213
- Chỉ thị số 23/2005/CT- TTG ngày 21 tháng 6 năm 2005 của Thủ tướng chính phủ về đẩy mạnh công tác quản lí chất thải rắn tại các đô thị và khu công nghiệp
b Tình hình xử lý
Tính đến tháng 6/2015, trên toàn quốc đã có 83 doanh nghiệp với 56 đại lý thu gom rác có địa bàn hoạt động từ hai tỉnh trở lên được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép và khoảng 130 đơn vị do các địa phương cấp phép hoạt động Trong đó, riêng công suất xử lý chất thải nguy hại được Bộ Tài nguyên và Môi trường cấp phép là khoảng 1.300 nghìn tấn/ năm
( Nguyễn Văn Lâm, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học Mỏ-Địa chất - Hội nghị Môi trường toàn quốc lần thứ IV do Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức)
Bên cạnh việc xử lý bằng hình thức chôn lấp và đốt còn có các cơ sở
xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ sử dụng công nghệ ủ hiếu khí như: Nhà máy xử lý chất thải rắn sinh hoạt Nam Bình Dương; Nhà máy xử lý
và chế biến chất thải Cẩm Xuyên (Hà Tĩnh), Nhà máy xử lý rác Tràng Cát (Hải Phòng)… Mặc dù, nhập khẩu từ nước ngoài các công nghệ xử lý chất thải rắn sinh hoạt thành phân hữu cơ nhưng công nghệ xử lý chưa đạt được hiệu quả như mong muốn: Tỷ lệ chất thải rắn được đem chôn lấp hoặc đốt sau
xử lý rất lớn từ 35 -80%, chi phí vận hành và bảo dưỡng cao… Ngoài ra, sản phẩm phân hữu cơ sản xuất ra hiện nay khó tiêu thụ, chỉ phù hợp với một số loại cây công nghiệp
Theo ông Nguyễn Văn Lâm, Trưởng khoa Địa chất, Trường Đại học
Mỏ - Địa chất: Hiện nay hầu hết công nghệ xử lý chất thải rắn nhập khẩu không phù hợp với thực tế chất thải rắn tại Việt Nam chưa được phân loại tại nguồn, nhiệt trị của chất thải rắn sinh hoạt thấp, độ ẩm của không khí cao… Thiết bị, công nghệ xử lý chất thải rắn chế tạo trong nước chưa đồng bộ, chưa hoàn thiện
Trang 2314
Tính đến Quý I năm 2014, trong khuôn khổ Chương trình xử lý chất thải rắn giai đoạn 2011-2020 đã có 26 cơ sở xử lý chất thải rắn tập trung được đầu
tư xây dựng theo hoạch xử lý chất thải rắn của các địa phương Trong số 26
cơ sở xử lý chất thải rắn có 03 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ đốt, 11 cơ sở xử
lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ, 11cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất phân hữu cơ kết hợp với đốt, 01 cơ sở xử lý sử dụng công nghệ sản xuất viên nhiên liệu Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của 26 cơ sở chưa được đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện; chưa lựa chọn được mô hình xử lý chất thải rắn hoàn thiện đạt được cả các tiêu chí về kỹ thuật, kinh tế, xã hội và môi trường
Theo thống kê tính đến năm 2016 có khoảng 458 bãi chôn lấp chất thải rắn có quy mô trên 1ha, ngoài ra còn có các bãi chôn lấp quy mô nhỏ ở các xã chưa được thống kê đầy đủ Trong số 458 bãi chôn lấp có 121 bãi chôn lấp hợp vệ sinh và 337 bãi chôn lấp không hợp vệ sinh Các bãi chôn lấp không hợp vệ sinh phần lớn là bãi rác tạm, lộ thiên, không có hệ thống thu gom, xử
lý nước rỉ rác, đang là nguồn gây ô nhiễm môi trường
Một số cơ sở xử lý bằng hình thức chôn lấp hợp vệ sinh hiện đang hoạt động như: Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Đa Phước thuộc Công ty TNHH
xử lý chất thải rắn Việt Nam; Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Tây Bắc Củ Chi thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị thành phố Hồ Chí Minh; Khu xử lý chất thải Nam Sơn thuộc Công ty TNHH MTV môi trường đô thị
Hà Nội,…Trên thực tế, tại nhiều cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp, quá trình kiểm soát ô nhiễm chưa thực sự đem lại hiệu quả trong công tác bảo vệ môi trường, hiện vẫn đang là vấn đề gây bức xúc trong xã hội Bên cạnh đó, chưa có cơ sở xử lý chất thải rắn bằng hình thức chôn lấp nào tận thu được nguồn năng lượng từ khí thải thu hồi từ bãi chôn lấp chất thải, gây lãng phí nguồn tài nguyên
Tại Việt Nam hiện nay đang có xu hướng đầu tư đại trà lò đốt chất thải rắn sinh hoạt ở tuyến huyện, xã Do vậy, đang tồn tại tình trạng mỗi huyện, xã
Trang 2415
tự đầu tư lò đốt công suất nhỏ để xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn Theo báo cáo của các địa phương, trên cả nước có khoảng 50 lò đốt chất thải rắn sinh hoạt, đa số là các lò đốt cỡ nhỏ, công suất xử lý dưới 500kg/giờ, các thông số chi tiết về tính năng kỹ thuật khác của lò đốt chất thải chưa được thống kê đầy đủ Trong đó có khoảng 2/3 lò đốt được sản xuất, lắp ráp trong nước
Việc đầu tư lò đốt công suất nhỏ là giải pháp tình thế, góp phần giải quyết nhanh chóng vấn đề chất thải rắn sinh hoạt phát sinh trên địa bàn, đặc biệt với khu vực nông thôn Tuy nhiên, một số lò đốt công suất nhỏ không
có hệ thống xử lý khí thải và trên ống khói không có điểm lấy mẫu khí thải; không có thiết kế, hồ sơ giấy tờ liên quan tới lò đốt Nhiều lò đốt công suất nhỏ được đầu tư xây dựng trên địa bàn dẫn tới việc xử lý chất thải phân tán, khó kiểm soát việc phát thải ô nhiễm thứ cấp vào môi trường không khí Ngay cả với một số lò đốt công suất lớn thì hiện còn tồn tại các vấn đề: phân loại, nạp liệu chưa tối ưu; chưa thu hồi được năng lượng từ quá trình xử lý chất thải; kiểm soát ô nhiễm chưa đảm bảo; chưa có hệ thống thu hồi nước rác; không có hệ thống xử lý nước rỉ rác; xử lý mùi, côn trùng chưa triệt để
Qua khảo sát thực tế cho thấy nhiều lò đốt hiệu quả xử lý chưa cao, khí thải phát sinh chưa được kiểm soát chặt chẽ, có nguy cơ phát sinh khí Dioxin, Furan, là nguồn gây ô nhiễm môi trường không khí xung quanh
Trang 2516
Chương 2 MỤC TIÊU-ĐỐI TƯỢNG- NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Góp phần cung cấp cơ sở thực tiễn nhằm thực hiện hiệu quả các công tác quản lí CTRSH và bảo vệ môi trường tại thị trấn Lương Sơn Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đánh giá được ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt đến con người
và môi trường tại Thị trấn lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý chất thải rắn tại Thị trấn Lương sơn, huyện Lương sơn, tỉnh Hòa Bình
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Chất thải rắn sinh hoạt tại thị trấn Lương Sơn Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.3.Phạm vi nghiên cứu
2.3.1 Phạm vi thời gian
Từ ngày 15/1/2019 đến 10/5/2019
2.3.2 Phạm vi không gian
Thị trấn Lương Sơn Huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.4.Nội dung nghiên cứu
Nội dung 1: Nghiên cứu hiện trạng CTRSH của Thị trấn lương sơn, huyện
Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Khối lượng phát thải phát sinh trên địa bàn
- Thành phần rác thải sinh hoạt của huyện
Trang 2617
- Nguồn phát sinh rác thải trên địa bàn
Nội dung 2: Nghiên cứu thực trạng công tác quản lí CTRSH của Thị trấn
Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Bộ máy quản lí CTRSH của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
- Tình hình quản lí thu gom và xử lí CTRSH của Thị trấn
Nội dung 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của chất thải rắn sinh hoạt tới môi trường
xung quanh của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Nội dung 4: Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lí CTRSH của
Thị Trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.5.Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Nghiên cứu hiện trạng của CTRSH của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
Tiêu chí điều tra: Khối lượng, thành phần và nguồn gốc phát sinh
a Phương pháp kế thừa tài liệu
Đây là phương pháp nhằm giảm bớt thời gian và công việc ngoài thực địa và trong phòng thí nghiệm Phương pháp này rất cần thiết và được nhiều người sử dụng trong quá trình nghiên cứu Thông qua các số liệu này giúp ta tổng kết lại các kinh nghiệm, kế thừa có chọn lọc thành quả nghiên cứu từ trước đây Những tài liệu phục vụ cho quá trình làm khóa luận gồm:
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Thị trấn
+ Tài liệu về công tác tổ chức quản lý CTRSH trên địa bàn
+ Các tài liệu thu thập thông qua UBND Thị trấn Lương Sơn: hiện trạng thu gom, phân loại và xử lý CTRSH, sơ đồ hệ thống quản lý CTRSH
+ Các tài liệu khác liên quan (sách, giáo trình, báo chí, luật môi trường, thông tin điện tử trên mạng internet )
b Phương pháp phỏng vấn
- Phỏng vấn người dân thông qua phiếu câu hỏi điều tra:
Trang 2718
+ Tiến hành điều tra phỏng vấn 50 hộ dân nhằm thu thập thông tin về hiện trạng và công tác quản lý CTRSH tại Thị trấn
+ Phiếu điều tra: sử dụng bảng câu hỏi theo mẫu được chuẩn bị trước và
in ra giấy A4 nhằm đánh giá công tác thu gom CTRSH trên địa bàn thị trấn + Đối tượng được điều tra là các hộ dân cư kinh doanh, làm nông nghiệp
và công nhân viên chức
+ Nội dung điều tra: khối lượng, thành phần, phân loại CTRSH, các hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý CTRSH, mức phí VSMT, nhận xét của người dân về công tác quản lý và chất lượng môi trường trên địa bàn Thị trấn
và ảnh hưởng của CTRSH đến môi trường
+ Thời gian phát phiếu phỏng vấn: Ngày 5 tháng 4 năm 2019
+ Thời gian thu phiếu: Ngày 25 tháng 4 năm 2019
+ Số lượng phiếu phát ra: 50 phiếu
- Lập phiếu phỏng vấn gồm những nội dung sau:
+ Lượng CTRSH phát sinh từ hộ gia đình
+ Công tác thu gom (thời gian, phương tiện thu gom)
+ Thành phần, khối lượng của chất thải rắn sinh hoạt
+ Tần suất thu gom
+ Có phân loại CTRSH trước khi đổ hay không
+ Hoạt động thu gom, tập kết CTRSH ở địa phương
+ Thái độ của người thu gom CTRSH
+ Phí VSMT của các hộ gia đình
+ Ý thức của người dân về vấn đề bảo vệ môi trường
+ Công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về quản lý CTRSH
+ Nhận xét về công tác quản lý CTRSH ở địa phương
- Phỏng vấn 2 cán bộ môi trường thị trấn và 5 nhân viên thu gom CTRSH đại diện cho từng khu nhằm xác định lượng CTRSH hàng ngày của mỗi khu, hình thức thu gom, tần suất, đánh giá ý thức người dân trong việc tham gia quản lý CTRSH ở địa phương
Trang 2819
Lập phiếu điều tra gồm những nội dung sau:
+ Lượng CTRSH thu gom trên địa bàn khu ở mỗi lần thu gom
+ Tần suất thu gom
+ Lương, trợ cấp
+ Trang thiết bị, phương tiện bảo hộ
+ Công tác quản lý CTRSH tại địa phương
+ Đánh giá về ý thức người dân
- Phỏng vấn cán bộ môi trường Thị trấn giúp xác định số nhân viên tham gia hoạt động thu gom CTRSH của thị trấn , lượng CTRSH hàng ngày của toàn thị trấn, số điểm tập kết CTRSH trên toàn thị trấn, các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý CTRSH trên địa bàn
Dựa vào số dân và tỷ lệ gia tăng dân số hàng năm của địa phương tính lượng chất thải rắn sinh hoạt hiện tại và ước tính khối lượng phát sinh đến năm 2022
Công thức tính sau:
Pt = P0 (1+r) t
Trong đó:
Pt: Số dân năm cần tính (người)
P0: Số dân của năm được tính làm gốc (người)
r: tỷ lệ gia tăng dân số
t: Hiệu số giữa năm cần tính và năm lấy làm gốc (năm)
Để dự báo khối lượng CTRSH phát sinh đến năm 2022 thì áp dụng công thức sau: Lượng CTRSH phát sinh trong một năm
pt: Số dân của năm cần tính (người)
Công thức tính lượng rác thải phát sinh bình quân đầu người:
Trang 2920
M = R/A
Trong đó:
R là lượng thải phát sinh đầu người ( tấn/ ngày)
A là số dân ( triệu người)
M là khối lượng rác bình quân đầu người ( kg/người/ngày)
Khối lượng RTSH (tấn/ngày) = ( Mức phát sinh bình quân * Dân số trong năm) / 1000
Hệ số phát sinh rác = Khối lượng rác cân được/ Số khẩu trong gia đình
Công thức tính dân số tương lai: N t = N 0 * (1+r/100) t
Trong đó:
Nt: Dân số tương lai ( người)
N0: Dân số hiện tại (người)
r: Tỷ lệ gia tăng dân số tự nhiên
t: Số năm trong thời gian dự báo
k: Tỷ lệ gia tăng dân số (%)
( VOER - Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam)
Dự báo về khối lượng chất thải rắn sinh hoạt của Thị trấn Lương Sơn đến 2022 có thể dùng công thức:
M = ( n * N 0 )/1000
Trong đó:
M là khối lượng chất thải rắn ( tấn/ngày)
n là tốc độ phát sinh chất thải rắn (kg/người/ngày)
N0 là dân số của năm tính toán ( người)
- ( VOER - Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam)
c.Phương pháp điều tra thực địa
Thực hiện điều tra tại 15 hộ gia đình trên địa bàn Thị trấn Lương Sơn
- Thực hiện phát túi đựng rác cho 15 hộ gia đình đã chọn
- Thu thập số liệu trong 15 ngày bằng cách cân rác vào giờ cố định ( vào 18h tối) và 1 lần/ ngày
Trang 3021
- Phân loại rác tại nguồn: tiến hành phân loại rác tại các hộ gia đình thí điểm đã chọn phân loại thành rác thải dễ phân hủy, rác thải khó phân hủy, rác thải nguy hại, rác có thể tái chế và các thành phần khác, nhằm xác định chính xác số lượng và thành phần
- Rác sau khi thu gom và cân sẽ được đổ vào xe thu gom rác của địa phương
- Từ kết quả cân thực tế tại các hộ gia đình, ta tính được lượng rác thải trung bình mỗi hộ trong một ngày và tỷ lệ thành phần rác thải
2.5.2 Nghiên cứu thực trạng công tác quản lí CTRSH của Thị trấn Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
a Phương pháp kế thừa và tham khảo tài liệu
Qua quá trình tham khảo và chọn lọc tài liệu từ các cơ quan nhà nước, sở tài nguyên môi trường tỉnh Hòa Bình, và các công trình liên quan đến vấn đề nghiên cứu Đề tài đã kế thừa một cách có chọn lọc các kết quả nghiên cứu Cũng như các tài liệu internet cũng được khai thác để đảm bảo cập nhật và đa chiều thông tin được thu thập
b Phương pháp khảo sát thực địa
Thu thập thông tin qua quan sát, chụp ảnh, đưa ra những nhận định
về hiện trạng quản lí CTRSH tại địa bàn
Sau khi thu thập được thông tin, các thông tin sẽ được phân tích lựa chọn
và có kế thừa, so sánh đánh giá kết quả để tìm ra giải pháp thích hợp cho công tác quản lí CTRSH tại nơi nghiên cứu
Phỏng vấn để đánh giá nội dung ảnh hưởng của CTRSH đến môi trường Đối tượng phỏng vấn: cá nhân, hộ gia đình điều tra phải là những người sinh sống trên địa bàn nghiên cứu và phải đảm bảo là được đánh giá một cách trung thực, khách quan
Hình thức phỏng vấn:
Trang 3122
- Phỏng vấn trực tiếp, phát phiếu điều tra: Điều tra 50 hộ gia đình trên địa bàn xã với tiêu chí ngẫu nhiên, đồng thời cân đối về trình độ học vấn, độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính
- Ngoài những câu hỏi trong phiếu điều tra cần hỏi thêm những vấn đề liên quan nhằm có kết quả khách quan hơn
Nội dung phỏng vấn:
- Công tác thu gom đảm bảo vệ sinh môi trường
- Thói quen xử lý rác thải của người dân
- Ý kiến của người dân về vấn đề các thành phần môi trường
- Sức khỏe người dân bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm rác thải
- Những bệnh thường gặp do rác thải sinh hoạt
Căn cứ chính để đề xuất giải pháp là dựa trên kết quả nghiên cứu của
đề tài từ đó đưa quản lý chất thải rắn sinh hoạt
Để góp phần nâng cao tính hiệu quả và thực tiễn của các giải pháp, tham khảo các giải pháp quản lý khác từ những đề tài đi trước nghiên cứu về chất thải rắn sinh hoạt và một số báo cáo môi trường tỉnh Hòa Bình, những điều luật, thông tư, nghị định về giải pháp quản lý của nhà nước và các bên liên quan nhằm nâng cao môi trường sống cho cộng đồng
Trang 3223
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1.Điều kiện tự nhiên
(Nguồn: Wikipedia)
Phía đông giáp Thị trấn Xuân Mai,huyện Chương Mỹ - Thành phố Hà Nội và Xã Hòa Sơn - Lương Sơn - Hòa Bình; Phía bắc giáp xã Đông Xuân - huyện Quốc Oai - thành phố Hà Nội (xã này trước kia cũng thuộc huyện Lương Sơn, mới chuyển về Hà Nội ngày 1/8/2008); Phía Tây giáp xã Lâm
Trang 33có điều kiện phát triển công nghiệp và kinh tế nhất của tỉnh Tỉnh Hòa Bình
đã có chủ trương quy hoạch và phát triển thị trấn Lương Sơn thành thị xã Lương Sơn Công tác quy hoạch đã nghiên cứu và triển khai chi tiết, diện tích
dự kiến sẽ mở rộng thêm 200 ha trong năm 2018
Về địa hình, huyện Lương Sơn thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng Địa hình đồi núi thấp
có độ cao sàn sàn nhau khoảng 200-400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có mạng lưới sông , suối khá dày đặc
Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa, với mùa đông lạnh, ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nền nhiệt trung bình cả năm 22,9 – 23,30c Lượng mưa bình quân từ 1.520,7- 2.255,6 mm/ năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường
b Thủy văn
Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các xã.Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ dãy núi Viên Nam cao 1.029m thuộc xã Lâm Sơn dài 32 km Đầu tiên sông chảy theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khi đến xã Tân Vinh thì nhập với suối Bu ( bắt nguồn từ xã Trường Sơn), dòng sông đổi hướng chảy quanh co, uốn khúc theo hướng Tây – Đông cho đến hết địa phận huyện Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước
Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt
Đặc điểm của hệ thống sông, suối trong huyện có ý nghĩa về mặt kinh
tế, rất thuận lợi cho việc xây dựng các hồ chứa sử dụng chống lũ và kết hợp với tưới tiêu, phục vụ sản xuất nông nghiệp
Trang 3425
Có thể thấy, điều kiện khí hậu, thủy văn, sông ngòi đã tạo cho Lương Sơn những thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hóa các loại cây trồng, vật nuôi, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp Hệ thống sông suối, hồ đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sinh hoạt
và đời sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hòa khí hậu, cải thiện môi trường sinh thái và phát triển nguồn lợi thủy sản
Sông Bưởi bắt nguồn từ xã Phú Cường huyên Tân Lạc chảy qua Tân Lạc và Lạc Sơn dài 35 km (là thượng nguồn sông Mã) Chênh lệch giữa mực nước cao nhất và thấp nhất tại cửa sông Bưởi là 11m,
Sông Bôi là 11,8m và có chiều hướng tăng do thảm thực vật ngày càng mỏng
Sông Bôi (sông Đáy) bắt nguồn từ xã thượng tiến huyện Kim Bôi chảy qua huyện Kim Bôi, Lạc Thủy dài 76 km +Sông Bùi: Bắt nguồn từ
xã Lâm Sơn, Trường Sơn, huyện Lương Sơn, chảy qua Lương Sơn ra huyện Chương Mỹ (Hà Tây) dài 25 km, sông Lạng (Yên Thủy) dài 7 km, sông Chợ Đập (Lạc Thủy) dài 7 km
Đa số sông suối trên địa bàn tỉnh có lòng hẹp độ dốc khá cao, khả năng giữ nước thấp, mức xói mòn rất lớn, mùa mưa lũ đến thường gây ra lũ ống và
lũ quét
Hồ chứa nước trên địa bàn hiện có 514 hồ chứa thủy lợi lớn nhỏ, trong
đó có 33 hồ lớn, còn lại là 481 hồ đập vừa và nhỏ Hồ lớn nhất là hồ Hoà Bình
có chiều dài 70 km, chỗ rộng nhất 1-2km, sâu từ 80-110m Trong hồ có 47 đảo lớn nhỏ, với địa hình bị chia cắt bởi nhiều ngòi, khe, suối Dung tích của
hồ vào khoảng 9,45 tỷ mét khối Cao trình mực nước thiết kế là 117m Khi mực nước thấp, độ chênh lệch không cao, xung quanh hồ có địa hình núi thấp
và đồi, sườn thoải, thảm thực vật phủ dày đặc, dân cư thưa thớt Hiện tượng trượt lở đất đá và các dạng tai biến địa chất khác ít phát triển
Trang 3526
3.2.Tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện
Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân bố rải rác toàn huyện
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19 ha chiếm 49,68% diện tích tự nhiên Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loại gỗ quý Nhưng do tác động của con người, rừng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh
Diện tích rừng phân bố ở tất cả các xã trong huyện Nhờ quan tâm phát triển kinh tế đồi rừng, kinh tế trang trại rừng đã góp phần đem lại thu nhập cao cho người dân và góp phần bảo vệ môi trường sinh thái, giữ nước đầu nguồn, cải thiện cảnh quan khu vực
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim
Tài nguyên du lịch:Với vị trí thuận lợi gần Thủ đô Hà Nội và địa hình xen kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp với hệ thống sông, suối,
hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng… đã tạo cảnh quan thiên nhiên
và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf
Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học,
hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hang Trổ…động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển những tour du lịch danh lam thắng cảnh kết hợp với nghỉ dưỡng
3.3.Kinh tế xã hội
Tuy là một huyện miền núi song Lương Sơn lại có địa thế tương đối thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội, nhờ ở vị trí tiếp giáp với đồng bằng