Để đánh giá kết quả của sinh viên trước khi ra trường, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa QLTNR & MT, thầy giáo Phạm Thanh Hà, tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu, kết quả nêu trong khóa luận tốt nghiệp này là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Nếu nội dung nghiên cứu của tôi trùng lặp với bất kỳ công trình nghiên cứu nào đã công bố, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm và tuân thủ kết luận đánh giá khóa luận tốt nghiệp của hội đồng khoa học
ĐHLN, ngày 19 tháng 05 năm 2019 Sinh viên thực hiện:
Phan Thanh Tùng
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Sau 4 năm học tập và nghiên cứu tại trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đến nay khóa học 2015 – 2019 đã kết thúc Để đánh giá kết quả của sinh viên trước khi ra trường, được sự nhất trí của trường Đại học Lâm nghiệp, Khoa QLTNR & MT, thầy giáo Phạm Thanh Hà, tôi tiến hành thực hiện đề tài tốt
nghiệp: “Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Chò Chỉ (Parashorea chinenis Wang Hsie) tại khu vực VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ”
Có được khóa luận này, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu, các thầy, cô trong Khoa QLTNR & MT, đã tạo điều kiện giúp đỡ, giúp tôi hoàn thành khóa luận này Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ths Phạm Thanh Hà – người hướng dẫn đề tài khóa luận, đã tận tình hướng dẫn tôi từ khi hình thành ý tưởng đến xây dựng đề cương, phương pháp luận, tìm tài liệu và có những chỉ dẫn khoa học quý báu suốt quá trình triền khai nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Xin chân thành cảm ơn tới sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình, tạo điều kiện của Ban lãnh đạo, các chú, các anh tại VQG Xuân Sơn, xã Xuân Sơn, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ, những người dân sinh sống trên địa bàn xã Xuân Sơn gần khu vực nghiên cứu đề tài, bạn bè, người thân trong gia đình đã động viên giúp
đỡ tôi trong quá trình thu thập và xử lý số liệu nội nghiệp
Mặc dù tôi cũng đã nỗ lực hết mình, nhưng do trình độ còn hạn chế về nhiều mặt, nên khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định Tôi rất mong nhận được những ý kiến, đóng góp của các thầy, cô và bạn bè để bài khóa luận của tôi được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện Phan Thanh Tùng
Trang 3BẢN TÓM TẮT KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP Tên đề tài NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM LÂM HỌC CỦA LOÀI CHÒ CHỈ
(Parashorea chinensis) TẠI KHU VỰC VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN –
TỈNH PHÚ THỌ Giảng viên hướng dẫn: Th.S Phạm Thanh Hà
Sinh viên thực hiện: Phan Thanh Tùng
Địa điểm nghiên cứu: Vườn Quốc Gia Xuân Sơn – xã Xuân Sơn – huyện
Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
Khóa luận tốt nghiệp gồm các nội dung chính sau:
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phần này nêu ra cơ sở, ý nghĩa, lý luận cho thấy tính cấp thiết của đề tài:
Nghiên Cứu Đặc Điểm Lâm Học Của Loài Chò Chỉ (Parashorea chinensis)
Tại Khu Vực Vườn Quốc Gia Xuân Sơn – tỉnh Phú Thọ quan trong thế nào
đối với khu vực nghiên cứu
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC HÌNH ẢNH
CÁC TỪ VIẾT TẮT
Chương 1: TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU
Chỉ ra các đề tài nghiên cứu, đề tài của các vấn đề liên quan đến đề tài trên ở cả trong và ngoài nước từ trước tới nay
Trên thế giới: Tìm hiểu các công trình nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây, nghiên cứu về thực vật họ Dầu và nghiên cứu về cây Chò Chỉ
Ở Việt Nam: Tìm hiểu các công trình nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây, nghiên cứu về thực vật họ Dầu và nghiên cứu về cây Chò Chỉ tại Việt Nam
Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung phương pháp nghiên cứu
Trang 4Nêu ra mục tiêu nghiên cứu: trên cơ sơ nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Chỏ Chỉ tại khu vực nghiên cứu
Xác định một số đặc trưng về phân bố của loài Chò Chỉ tại khu vực nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu ở đây là loài Chỏ Chỉ
Nội dung và phương pháp nghiên cứu: Chỉ ra các nội dung cần nhắm tới của đề tài
Phương pháp nghiên cứu để thực hiện các nội dung nghiên cứu của đề tài
Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Chò Chỉ tại khu vực nghiên cứu
Chương 3: Điều Kiện Tự Nhiên – Kinh Tế - Xã Hội tại khu vực nghiên cứu
Đưa ra được những nét về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa xã hội tại khu vực nghiên cứu
Nêu được tình hình dân sinh, kinh tế xã hội tại khu vực nghiên cứu
Chương 4: Kết Quả Nghiên Cứu Và Thảo Luận
Phân bố loài Chò Chỉ tại khu vực theo đai cao và trạng thái rừng
Điều kiện tự nhiên nơi loài Chò Chỉ phân bố
Thành phần loài cây đi kèm với loài Chò Chỉ
Đặc điểm cấu trúc rừng: Tầng cây cao, tầng cây tái sinh, tầng cây bụi thảm tươi
Các tác động ảnh hưởng tới phân bố loài Chò Chỉ tại khu vực nghiên cứu
Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển và bảo tồn loài Chò Chỉ tại khu vực nghiên cứu
Chương 5: Kết Luận, Tồn Tại Và Khuyến Nghị
Từ các nội dung trên đưa ra được các kết luận chung nhất cho từng nội dung , chỉ ra những tồn tại, thiếu xót trong quá trình nghiên cứu và đưa ra khuyến nghị để có giải pháp tốt nhất đối với rừng tại khu vực
Bảng biểu số liệu
Tài Liệu Tham Khảo
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC V CÁC TỪ VIẾT TẮT XI
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 3
1.1.1: Trên thế giới 3
1.1.2: Ở Việt Nam 6
CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1: Mục tiêu nghiên cứu 13
2.1.1: Mục tiêu chung 13
2.2.2: Mục tiêu cụ thể 13
2.2: Giới hạn nghiên cứu 14
2.2.1: Đối tượng nghiên cứu 14
2.2.2: Phạm vi điều tra 14
2.3: Nội dung nghiên cứu 14
2.3.1: Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Tho 14
2.3.2: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Chò Chỉ tại khu vưc VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 15
2.3.3: Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự phân bố và tái sinh của loài Chò Chỉ tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 15
2.2: Phương Pháp Nghiên Cứu 16
2.2.1: Công tác chuẩn bị 16
2.2.2: Phương pháp kế thừa chọn lọc 16
2.2.3: Phương pháp phỏng vấn 16
2.2.4: Phương pháp điều tra thực địa 17
Trang 62.5: Đề xuất giải pháp để phát triển loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn
– Phú Thọ 23
CHƯƠNG 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC 24
NGHIÊN CỨU 24
1: Điều kiện tự nhiên 24
1.1: Vị trí địa lý, địa giới hoàn cảnh 24
1.1.1: Vị trí địa lý 24
1.1.2 Địa hình, địa mạo 25
1,2 Địa chất, đất đai 25
1.2.1 Địa chất 25
1.2.2 Đất đai 26
1.3: Khí hậu, thủy văn 26
1.3.1: Khí hậu 26
1.3.2: Thủy văn 27
1.4 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm 27
1.4.1: Thảm thực vật rừng 27
1.4.2 Thành phần và Số lượng các taxon thực vật 29
1.5 Khu hệ động vật 30
2: Điều kiện kinh tế - xã hội 31
2.1: Dân số, dân tôc và cơ cấu lao động 31
2.1.1: Dân số, lao động và dân tộc 31
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế xã hội 32
2.1.3: Đời sống và thu nhập của người dân 33
2.1.4: Hiện trạng xã hội 34
2.1.5: Nhận xét, đánh giá thuận lợi, khs khăn của điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tới công tác bảo tòn loài Chò Chỉ tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 34
CHƯƠNG VI: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 36
4.1: Nghiên Cứu Đặc Điểm Phân Bố Của Loài Chò Chỉ Tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn – Phú Thọ 36
Trang 74.1.1: Đặc điểm phân bố loài Chò Chỉ theo các sinh cảnh, trạng thái rừng
và đai độ cao 36
4.1.1.1: Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Chò Chỉ phân bố VQG Xuân Sơn Phú Thọ 40
4.1.2:Nghiên cứu đặc điểm tái sinh tự nhiên của loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 47
4.1.3: Đề xuất một số giải pháp bảo tồn và phát triển loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 53
KẾT LUẬN, TỒN TẠI, KHUYẾN NGHỊ 59
I: Kết Luận 59
II:Tồn tại 60
III: Khuyến Nghị 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1: Danh sách trả lời phỏng vấn người dân địa phương 17 Bảng 3.1: Thành phần Thực vật rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn 29 Bảng 3.2: Thành phần động vật Vườn quốc gia Xuân Sơn 30 Bảng 4.1: Đặc điểm phâ n bố của loài Chò Chỉ theo đai độ cao và các trạng thái rừng tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 37 Bảng 4.2:Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Chò Chỉ phân
bố VQG Xuân Sơn Phú Thọ, độ cao 500m – 600m ( OTC01) 10 Bảng 4.3:Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Chò Chỉ phân
bố VQG Xuân Sơn Phú Thọ, độ cao 600m – 700m ( OTC02) 11 Bảng 4.4:Cấu trúc tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Chò Chỉ phân
bố VQG Xuân Sơn Phú Thọ, độ cao 600m – 700m ( OTC03) 12 Bảng : 4.5 Công thức tổ thành tầng cây cao rừng tự nhiên nơi có loài Chò Chỉ phân bố theo đai cao tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 40 Bảng: 4.6: Cấu trúc mật độ Chò Chỉ phân bố theo đai cao tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 42 Bảng 4.7: Cấu trúc tầng thứ cây cao rừng tự nhiên nơi có Chò Chỉ phân bố tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 43 Bảng 4.8: Mức độ thường gặp của một số loài cây thuộc khu vực nghiên cứu VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 45 Bảng 4.9: Mức độ thân thuộc của loài Chò Chỉ với một số loài cây quan trọng trong khu vực phân bố 46 Bảng :4.10: Cấu trúc mật độ tầng cây tái sinh rừng tự nhiên nơi có Chò Chỉ phân
bố tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 48 Biểu 4.11: Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ (độ cao 500m – 600m “OTC01”) 13 Biểu:4.12: Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ (độ cao 600m – 700m “OTC02”) 13 Biểu:4.13: Cấu trúc tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ (độ cao 600m – 700m “OTC03”) 14
Trang 9Biểu 4.14 : Công thức tổ thành tầng cây tái sinh nơi có Chò Chỉ phân bố ngoài
tự nhiên theo đai cao tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 50 Biểu:4.15: Chất lƣợng và nguồn gốc phẩm chất cây tái sinh nơi có loài Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên ở khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 51 Bảng 4.16:Phân cấp cây tái sinh theo chiều cao và tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng tại khu vực nghiên cứu 52
Trang 10DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình ảnh 01: Bản độ vị trí địa lý VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 24
Hình ảnh 02: Các tuyến điều tra theo đai cao khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ 37
Hình ảnh 03: Vị trí phát hiện Chò Chỉ phân bố và tái sinh ngoài tự nhiên 38
Hình 04: Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên ở đai cao 500m – 600m 39
Hình ảnh 05: Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên ở đai cao 600m -700m 4
Hình ảnh 06:Chò Chỉ tái sinh ngoài tự nhiên ở đai cao 500m -600m 5
Hình ảnh 07: Chò Chỉ tái sinh ở đai cao 600m – 700m 6
Hình ảnh 08: Hai cây Chò Chỉ ngàn năm 7
Hình ảnh 09: Phỏng vấn người dân địa phương 8
Hình ảnh 10: Hoạt động chăn thả gia súc 8
Hình ảnh 11: Các tác động xấu tới rừng 9
Trang 11UICN Liên minh quốc tế bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên
QXTV Quần xã thực vật
IV% Tỷ lệ tổ thành của loài i
Ni% Tỷ lệ % cây theo số loài trong QXTV
Gi% Tỷ lệ % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV
Mtg Mức độ thường gặp của loài tính theo %
Ntb/ha Mật độ trung bình trên ha
Ki Hệ số tổ thành theo cây loài i
NCKH Nghiên cứu khoa học
G Tổng tiết diên ngang của câu ở vị trí 1,3m
QLBVR Quản lý bảo vệ rừng
Trang 12ĐẶT VẤN ĐỀ
Việt Nam được coi là một trong những trung tâm ĐDSH của vùng Đông Nam Á Từ kết quả nghiên cứu về khoa học cơ bản trên lãnh thổ Việt Nam, nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đều nhận định rằng Việt Nam là một trong 10 quốc gia ở Châu Á và một trong 16 quốc gia trên thế giới có tính đa ĐDSH cao do có sự kết hợp của nhiều yếu tố Tuy nhiên, tài nguyên rừng Việt Nam đã và đang bị suy thoái nghiêm trọng do nhiều các nguyên nhân khác nhau như nhu cầu lâm sản ngày càng tăng, việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất, khai thác quá mức, không đúng kế hoạch, chiến tranh,… Theo số liệu mà Maurand P công bố trong công trình “Lâm nghiệp Đông Dương” thì đến năm
1943 Việt Nam còn khoảng 14,3 triệu ha rừng tự nhiên với độ che phủ là 43,7% diện tích lãnh thổ Quá trình mất rừng xảy ra liên tục từ năm 1943 đến đầu những năm 1990, đặc biệt từ năm 1976 -1990 diện tích rừng tự nhiên giảm mạnh, chỉ trong 14 năm diện tích rừng giảm đi 2,7 triệu ha, bình quân mỗi năm mất gần 190 ngàn ha (1,7%/năm) và diện tích rừng giảm xuống mức thấp nhất
là 9,2 triệu ha với độ che phủ 27,8% vào năm 1990 (Trần Văn Con, 2001) Việc mất rừng, độ che phủ giảm, đất đai bị suy thoái do xói mòn, rửa trôi, sông
hồ bị bồi lấp, môi trường bị thay đổi, hạn hán lũ lụt gia tăng, ảnh hưởng lớn đến mọi mặt đời sống của nhiều vùng dân cư Mất rừng còn đồng nghĩa với sự mất đi tính đa dạng về nguồn gen động thực vật
Việt Nam cũng được công nhận là một trong những điểm nóng về đa dạng
sinh học Nhiều hệ sinh thái và môi trường sống bị thu hẹp diện tích và nhiều taxon bậc loài và dưới loài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng trong tương lai gần Nhận thấy tầm quan trọng phải bảo vệ và phát triển rừng, Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn đã thành lập các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên mục tiêu là đảm bảo các giá trị cảnh quan được gìn giữ, đa dạng sinh học sẽ được bảo tồn Hiện nay cả nước có khoảng 128 khu bảo tồn nhằm gìn giữ nguồn gen của địa phương, là cơ sở quyết định cho sự phát triển
hệ sinh thái nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp đa dạng và bền vững
Trang 13Nghiên cứu tái sinh rừng cũng là những nghiên cứu quan trọng để là cơ
sở cho các biện pháp kỹ thuật lâm sinh xây dựng và phát triển rừng bền vững
Đặc điểm cấu trúc rừng cũng thể hiện rõ nhất những mối quan hệ qua lại giữa các thành phần rừng với nhau và giữa thành phần rừng với môi trường
Tái sinh rừng là một quá trinh sinh học mang tính chất đặc thù của hệ sinh thái đảm bảo cho nguồi tài nguyên có khả năng tái sản xuất mở rộng nếu con người biết vận dụng và nắm bắt được quy luật tái sinh và điều khiển được nó
Tái sinh trở thành vấn đề then chốt trong việc xác định các phương thức phục hồi và phát triển rừng
Chò Chỉ ( Parashorea chinnensis Wang Hsie) thuôc họ Dầu ( Dipterocarpaceae)
Thân tròn thẳng, cao từ 30 – 40m, đường kính có thể đạt 1,5 – 2m
Ở Việt Nam Chò Chỉ thường phân bố ở khu vực Hương Khê ( Hà TĨnh), Quan Hóa( Thanh Hóa), Quảng Bình, Quỳ Châu ( Nghệ An), Chiêm Hóa, Na Hang ( Tuyên Quang), Tân Sơn, Xuân Sơn ( Phú Thọ)
Chò Chỉ không chỉ là loài có giá trịnh kinh tế mà còn có giá trị về văn hóa lịch sử Là loài cây di san của Việt Nam
Trong danh lục đỏ của IUCN loài Chò Chỉ thuộc nhóm nguy cấp VU A1,c,d
Hiện nay có rất nhiều công trình nghiên cứu vè loài Chò Chỉ nhưng có rất
ít đề tài nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Chò Chỉ
Chinh vì thế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “ Nghiên cứu đặc điểm lâm học của loài Chò Chỉ ( Parashorea chinensis Wang Hsie) tại VQG Xuân Sơn tỉnh Phú Thọ” nhằm góp phần bảo tồn và phát triển loài Chò Chỉ tốt hơn nữa
tại khu vực nghiên cứu
Trang 14CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1: Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
1.1.1: Trên thế giới
1.1.1.1: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Việc nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái của loài làm cơ sở đề xuất biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả trong kinh doanh rừng rất được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu Theo đó, các lý thuyết về hệ sinh thái, cấu trúc, tái sinh rừng được vận dụng triệt để trong nghiên cứu đặc điểm của 1 loài cụ thể nào đó
Theo Odum E.P (1971) [35] đã hoàn chỉnh học thuyết về hệ sinh thái, trên cơ sở thuật ngữ hệ sinh thái (ecosystem) của Tansley A.P (1935) Ông đã phân chia ra sinh thái học cá thể và sinh thái học quần thể Sinh thái học cá thể nghiên cứu từng cá thể sinh vật hoặc từng loài, trong đó chu kỳ sống, tập tính cũng như khả năng thích nghi với môi trường được đặc biệt chú ý Trung tâm Nông lâm kết hợp thế giới (World Agroforestry Centre, 2006), Anon (1996), Keble và Sidiyasa (1994) đã nghiên cứu đặc điểm hình thái của loài Vối thuốc (Schima wallichii) và đã mô tả tương đối chi tiết về đặc điểm hình thái thân, lá, hoa, quả, hạt của loài cây này, góp phần cung cấp
cơ sở cho việc gây trồng và nhân rộng loài Vối thuốc trong các dự án trồng rừng (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)
Vối thuốc là loài cây tiên phong ưa sáng, biên độ sinh thái rộng, phân
bố rải rác ở các khu vực phía Đông Nam Châu Á Vối thuốc xuất hiện ở nhiều vùng rừng thấp (phía Nam Thái Lan) và cả ở các vùng cao hơn (Nepal) cũng như tại các vùng có khí hậu lạnh Là cây bản địa của Brunei, Trung Quốc, ấn
Độ, Lào, Myanmar, Nepal, Papua New Guinea, Phillipines, Thailand và Việt Nam (World Agroforestry Centre, 2006) Vối thuốc thường mọc thành quần thụ từ nơi đất thấp đến núi cao, phân bố ở rừng thứ sinh, nơi đồng cỏ, cây bụi
và ngay cả nơi ngập nước có độ mặn nhẹ Vối thuốc có thể mọc trên nhiều loại đất với thành phần cơ giới và độ phì khác nhau, từ đất cằn cỗi xương xẩu
Trang 15khô cằn đến đất phì nhiêu, tươi tốt, có thể thấy Vối thuốc xuất hiện nơi đầm lầy Vối thuốc là loài cây tiên phong sau nương rẫy (Laos tree seed project, 2006) (dẫn theo Hoàng Văn Chúc, 2009)
Như vậy, với các công trình nghiên cứu về lý thuyết sinh thái, tái sinh, cấu trúc rừng tự nhiên cũng như nghiên cứu đặc điểm sinh học, sinh thái đối với một số loài cây như trên đã phần nào làm sáng tỏ những đặc điểm cấu trúc, tái sinh của rừng nhiệt đới nói chung Đó là cơ sở để lựa chọn cho hướng nghiên cứu trong luận văn
1.1.1.2: Nghiên cứu về thực vật họ Dầu
Họ Dầu Dipterocarpaceae gồm những cây gỗ lớn, thường xanh hoặc bán thường xanh, thường rụng lá vào mùa khô, thân thẳng, lá đơn, nguyên mọc xen, phiến lá với gân lá có hình mạng lông chim, mép lá nguyên hoặc có khía, cuống
có gối, lá bẹ bao lấy chồi, lá kèm không rụng hoặc rụng sớm Hoa lưỡng tính, mẫu 5, đối xứng, chùm tụ tán, cánh hoa màu trắng đến hường, 4 đính bên hoặc dính liền với đế, nhiều nhị đực mang trung đới kéo dài, nhị rời hay đính với cánh hoa, bầu trên thường có 3 ô Trái có lá đài trưởng thành 2, 3 hoặc 5 cánh lớn, hạt không có phôi nhũ, rễ mầm hướng về phía rốn hạt
Gỗ của các loài họ Dầu có sự biến đổi về màu sắc, tỷ trọng và cường độ phù hợp với cấu trúc của chúng.Gỗ từ màu vàng nhạt đến nâu đỏ, tỷ trọng gỗ cũng khác nhau từ 40pounds/m3 (tương đương 640kg/m3) đến 60pounds/m3 (tương đương 960kg/m3)
Một đặc điểm cơ bản của gỗ cây họ Dầu là sự có mặt các ống nhựa xếp thẳng đứng, khi cắt ngang các ống nhựa này là những điểm màu trắng nằm rải rác, hoặc nằm song song với nhau
Họ Dầu (Dipterocarpaceae Blum 1825) trên thế giới có 17 chi với 680 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới Theo Ashton, cây họ Dầu tập trung ở vùng khí hậu nhiệt đới với lượng mưa bình quân lớn hơn 1000 mm và mùa mưa tới 6 tháng, các loài không phân bố trên độ cao quá 1000 mm so với mực nước biển
Trang 16Ở châu Á, họ Dầu tập trung chủ yếu ở vùng rừng nhiệt đới ẩm như: Malaysian gồm các chi: Anisoptera, Balanocarpus, Cotylelobium,
Dipterocarpus,Hopea,Parashorea,Shorea,Stemonoporus,Upuna,
Vateria, Vateriopsis, Vatica, trong đó có các chi lớn nhất là Shorea (196 loài), Hopea (105 loài), Dipterocarpus (70 loài) và Vatica (65 loài)
Ở khu vực châu Phi và Madagasca với 2 chi Marquesia và Monotes
Ở khu vực Nam Mỹ với chi đặc trưng là Pakaraimaea (Guyana) Theo Maury - Lecon, cây họ Dầu châu Á được ghép thành hai nhóm lớn dựa vào sắp xếp cơ bản của lá đài trên quả và số thể nhiễm sắc là:
+ Nhóm Valvate - Dipterocarpi: Vateria, Vateriopsis, Stemonoporus, Vatica, Cotylelobium, Upuna, Anisoptera, Dipterocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 11
+ Nhóm Imbricate - Shoreae: Shorea, Parashorea, Hopea, Balanocarpus với số lượng nhiễm sắc thể cơ bản n = 7
Năm 1985 tại thành phố Samarinda ở đảo Borneo Indonesia diễn ra hội nghị quốc tế lần III về họ Dầu, xác định đây là trung tâm phát sinh của họ Dầu
và đề cập đến nhiều vấn đề như phân bố, phân loại, hình thái giải phẫu cổ sinh, tái sinh và trồng lại rừng, bảo tồn và phát triển tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường thiên nhiên
1.1.1.3: Nghiên cứu về loài Chò Chỉ
Những nghiên cứu về cây Chò chỉ trên thế giới không có nhiều Tuy nhiên, theo Wendy Jackson (Bộ canh nông Mỹ) thì họ Dầu (Dipterocarpaceae)
Trang 17phân bố nhiều ở vùng Đông Nam Á và rất nhạy cảm với đất, chịu ảnh hưởng sâu sắc của Cacbonnat canxi
Theo Lecont đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Thực vật chí Đông Dương” Trong đó tác giả đã xác định được hai loài Chò chỉ là Parashorea stelata và Parashorea chinensis Hai loài cây này đã được đưa vào danh lục Thực vật ở Việt Nam Chò chỉ phân bố nhiều ở Trung Quốc, Miến Điện thuộc khu hệ Malaysia từ Nam di cư lên Bắc Chính vì vậy mà các nghiên cứu về loài Chò chỉ tập trung nhiều ở Trung Quốc
Theo Guang xi (1974), đã nghiên cứu việc gây trồng loài Chò chỉ ở Trung Quốc và đã có những thành công nhất định Năm 1988, nhà nghiên cứu Lin Chi cũng đã nghiên cứu một số sinh thái ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cây Chò chỉ tại vùng Quảng Đông
1.1.2: Ở Việt Nam
1.1.2.1: Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học loài cây
Ở nước ta, nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học của các loài cây bản địa chưa nhiều, tản mạn, có thể tổng hợp một số thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu như sau:
Theo Nguyễn Bá Chất (1996) đã nghiên cứu đặc điểm lâm học và biện pháp gây trồng nuôi dưỡng cây Lát hoa, ngoài những kết quả nghiên cứu
về các đặc điểm phân bố, sinh thái, tái sinh, tác giả cũng đã đưa ra một số biện pháp kỹ thuật gieo ươm cây con và trồng rừng đối với Lát hoa Theo Lê Phương Triều (2003) đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh vật học của loài Trai lý tại Vườn Quốc gia Cúc Phương, tác giả đã đưa ra một
số kết quả nghiên cứu về đặc điểm hình thái, vật hậu và sinh thái của loài Theo Ly Meng Seang (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của rừng Tếch trồng ở Kampong Cham Campuchia, đã kết luận: ở các độ tuổi khác nhau: Phân bố N-D1,3 ở các tuổi đều có dạng một đỉnh lệch trái và nhọn, phân bố N-H thường có đỉnh lệch phải và nhọn, phân bố N-Dt đều có đỉnh lệch trái và tù Giữa D1,3 hoặc Hvn so với tuổi cây hay lâm phần luôn tồn tại mối quan hệ chặt chẽ theo mô hình Schumacher Ngoài ra, tác giả cũng đề nghị trong khoảng 18
Trang 18năm đầu sau khi trồng rừng Tếch nên chặt nuôi dưỡng 3 lần theo phương pháp
cơ giới, với kỳ dãn cách là 6 năm 1 lần
Theo Nguyễn Toàn Thắng (2008) đã nghiên cứu một số đặc điểm lâm học của loài Dẻ anh (Castanopsis piriformis) tại Lâm Đồng Tác giả đã
có những kết luận rõ ràng về đặc điểm hình thái, vật hậu, phân bố, giá trị sử dụng, về tổ thành tầng cây gỗ biến đổi theo đai cao từ 17 đến 41 loài, với các loài ưu thế là Dẻ anh, Vối thuốc răng cưa, Du sam,
Tóm lại, với những kết quả của những công trình nghiên cứu như trên, là
cơ sở để đề tài lựa chọn những nội dung thích hợp để tham khảo vận dụng trong
đề tài nghiên cứu đặc điểm sinh học của loài Chò chỉ tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn – Phú Thọ
1.1.2.2: Nghiên cứu về thực vật họ Dầu
Họ Dầu gồm 13 chi, khoảng 700 loài, phân bố ở nhiệt đới cổ, đặc biệt
nhiều ở rừng mưa Malaixia, Việt Nam có 6 chi, trên 40 loài
Trong cuốn Phân loại thực vật bậc cao của tác giả Võ Văn Chi và Dương Đức Tiến, năm 1997: Họ Dầu (Dipterocarpaceae) thuộc bộ Chè – Phân lớp Sổ - Lớp Ngọc lan
Theo đó các loại cây trong họ Dầu là những cây gỗ lớn chỉ phân bố trong vùng cổ nhiệt đới (bao gồm vùng Đông Nam Á), đó là một trong ba họ đặc hữu của vùng cổ nhiệt đới (Dipterocarpaceae, Nephethaceae, Pandanaceae)
Trong thân của chúng luôn có ống tiết nhựa dầu Lá mọc cách, đơn, lá kèm sớm rụng Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5 Đế hoa phẳng hay lồi nhưng cũng
có khi lõm Đài gồm 5 lá đài rời hay dính lại ở phần dưới thành bao, phần trên
tự do và một số mảnh lớn lên cùng với quả tạo thành cánh Tràng gồm 5 cánh hoa, có tiền khai văn hoa, bộ nhị có số lượng thay đổi từ 10 – 15 (10 ở Hopea,
15 ở Pentacme, Vatica) hoặc nhiều hơn (20 – 35 ở Dipterocarpus, Anisoptera hay hơn nữa ở Shorea).Chỉ nhị dời hay dính lại với nhau ở dưới, bầu trên 3 ô, trong mỗi ô có 2 noãn đảo Đôi khi dính với ống đài làm thành bầu dưới Quả nang, có cánh do lá đài lớn lên làm thành: 2 cánh ở Dipterocarpus, Anisoptera,
Trang 19Hopea, 3 cánh ở Shorea, Vatica, 5 cánh ở Parashorea Hạt thường không có nhũ, thùy hạt xoắn lại, ôm lấy rễ mầm
Nguyễn Tiến Bân (1997) trong cuốn “Cẩm nang tra cứu và nhận biết các
họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” đã viết về họ Dầu như sau:Cây gỗ, lá đơn mọc cách, có lá kèm sớm rụng, hoa đều, lưỡng tính, lá đài 5 hợp gốc và ống đài thường đính với bầu Cành hoa 5 xếp vặn, nhị nhiều hoặc 10 – 15, đôi khi 5, thường rời nhau Bộ nhụy gồm 3 noãn hợp Syncarp(hợp nguyên lá noãn) thành bầu thượng 3 ô Rất đặc trưng bởi quả khô không mở, nằm trong đài bền, đồng trưởng thành 2, 3 hoặc 5 Hạt thường không có nội nhũ, lá mầm vặn và ôm lấy
rễ mầm
Phân bố nhiệt đới chủ yếu ở rừng mưa nhiệt đới
Việt Nam có 6 chi đó là Dipterocarpus, Anisoptera, Shorea, Hopea, Vatica, Parashorea với trên 45 loài,
6 Chi Pentacme với loài duy nhất ở Việt Nam là Pentacme siamensis (Cà chấc), nay đổi thành Shorea Siamemsis
Chi Perissandra thuộc họ Violaceae theo Jscobs (1967), nay là tên đồng loài Vatica
Trong hệ thống Takhtajan 1987, họ Dầu được chuyển sang bộ Bông (Malvales)
Trong công trình nghiên cứu “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng
Hộ năm 1999, tác giả đã thống kê, mô tả 40 loài thuộc 6 chi trong họ Dầu có tại Việt Nam
Nguyễn Kim Đào (2003) trong Danh lục thực vật Việt Nam tác giả
đã thống kê được họ Dầu tại Việt Nam có 42 loài thuộc 6 chi Theo cuốn 1900 loài cây có ích ở Việt Nam (1993), họ Dầu ở Việt Nam có 7 chi, 40 loài
Nguyễn Hoàng Nghĩa(2005), trong công trình nghiên cứu họ Dầu Việt Nam lại cho rằng Việt Nam có 38 loài và 02 loài phụ thuộc 06 chi
Lê Mộng Chân, Lê Thị Huyên (2000), trong cuốn giáo trình Thực vật rừng cũng đã giới thiệu một cách tổng quát về họ Dầu và mô tả đặc điểm
Trang 20hình thái, sinh học, sinh thái, phân bố, giá trị và khả năng kinh doanh bảo tồn của 12 loài trong họ Dầu tại Việt Nam
Theo cuốn “Hình thái và phân loại thực vật”, họ Dầu (Dipterocarpaceae Blume 1825) thuộc bộ Bông (Malvales Dummortier 1829) Họ Dầu có một số đặc điểm chính như sau:
Cây gỗ,thường xanh hay rụng lá,trong thân thường có nhựa dầu, các bộ phận non thường phủ lông hình sao hay vẩy nhỏ
Lá đơn, mọc cách, hệ gân lông chim, gân cấp 2 thường nhiều và song song, mép lá nguyên, lá kèm sớm rụng đôi khi lá kèm bao chồi
Hoa tự chùm hay bông viên chùy Hoa đều, lưỡng tính, mẫu 5 Đài hợp gốc đôi khi liền với bầu, sống dai, sau phát triển thành cánh quả
Tràng dời hay hợp ở gốc, xếp vặn Nhị 5 – nhiều, rời Nhụy gồm 3 lá noãn hợp thành bầu trên, 3 ô, mỗi ô 2 noãn, đôi khi nhụy phình to ở gốc
Quả kín khô, 1 hạt Thường có đài 7 bao quả trong đó 2,3 hoặc 5 cánh đài phát triển thành cánh quả Hạt không có nôi nhũ, lá mầm vặn
Theo cuốn “Tên cây rừng Việt Nam” của tác giả Trần Hợp và Nguyễn Tích năm 1971: Họ quả hai cánh trên thế giới có 22 chi và 400 loài, ở Việt Nam có 7 chi và 38 loài Tác giả cũng liệt kê và mô tả tóm tắt về dạng sống, nơi mọc, mùa hoa quả và công dụng của các loài nói trên Tác giả còn liệt
kê được 13 loài thuộc chi Dipterocarpus,3 loài thuộc chi Anisoptera, và 9
loài thuộc chi Shorea
Tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về họ Dầu như:
“Báo cáo tổng quan về họ Dầu Việt Nam” của Thái Văn Trừng năm 1986
Thực vật họ Dầu khu vực Lào,Campuchia và Việt Nam của Smitinand và Phạm Hoàng Hộ năm 1990
Cây làm thuốc trong họ Dầu của Việt Nam của Võ Văn Chi năm 1985 Các công trình trên tập trung vào mô tả và tìm hiểu giá trị sử dụng của các
loài họ Dầu tại Việt Nam
Trang 211.1.2.3:Nghiên cứu về loài Chò chỉ
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis Wang Hsie là cây gỗ lớn thuộc họ Dầu ( Dipterocarpaceae)
Cây gỗ to hình trụ thẳng, cao 45 – 50m, đường kính 0,8 – 0,9m, chiều cao dưới cành đến hơn 30m
Tán thưa, gốc có bạnh vè nhỏ, vỏ màu nâu xám, nứt dọc thịt nhẹ Thịt vỏ màu vàng hơi hồng, có nhựa và có mùi thơm nhẹ Cành lớn thường bị vặn Lá hình mác hay bầu dục, có lá kèm sớm rụng, gân bậc 2 từ 15 – 20 đôi, song song, nổi rõ ở mặt sau Mặt dưới lá và trên có các gân hình sao Cụm lông ở đầu cành hay nách lá Hoa nhỏ có mùi thơm đặc biệt Quả hình trứng, có mũi nhọn do gốc vòi nhụy tồn tại, mang 2 cánh to, 3 cánh nhỏ Hạt 3 – 4
Là cây ưa sáng, ở rừng nhiệt đới ẩm thường xanh có độ cao dưới 1000m, thường mọc ở vùng bằng phẳng ven suối hay chân núi
Phân bố ở nhiều nước Đông Nam Á, nam Trung Quốc Ở Việt Nam gặp
từ Thừa Thiên – Huế trở ra tập trung ở Nghệ An, Hà Tĩnh, Ninh Bình, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Tuyên Quang , Hà Giang
Cây Chò chỉ (Parashorea chinensis), mới được nghiên cứu ở nước ta vào những năm 1965 với công trình nghiên cứu của Lê Viết Lộc (1964) [19]
về “Bước đầu điều tra thảm thực vật rừng Cúc Phương” Công trình đã tiến hành điều tra 47 ô tiêu chuẩn có diện tích 1000 m2 và 2000 m2 và đã xây dựng được bản đồ phân bố của 11 loại hình ưu thế trong vùng nghiên cứu cho thấy
ở Cúc phương Chò chỉ là cây ưu thế lập quần trong loại hình ưu thế: Sâng – Sấu – Chò chỉ - Đinh hương (Lê Viết Lộc, 1964 [19] Các thảm thực vật rừng
ở Cúc Phương)
Năm 1976, Trạm nghiên cứu – VQG Cúc Phương đã giao trồng thử 1 ha rừng trồng Chò chỉ và vào năm 1985, tại trạm nghiên cứu – VQG Cúc Phương
đẫ tiến hành xây dựng vườn thực vật Trong danh lục vây trồng ở đó có Chò chỉ
đã được gây trồng và sinh trưởng rất tốt (Trạm NC-VQG Cúc Phương, 1976,
1985 Thiết kế trồng rừng Chò chỉ tại vườn thực vật VQG Cúc Phương) Nghiên cứu của các tác giả Phùng Ngọc Lan, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Bá Thụ
Trang 22(1987), đã xếp cây Chò chỉ vào quần thụ rừng rậm nhiệt đới thường xanh mưa mùa cây lá rộng đai thấp, đất thoát nước trong bảng phân loại rừng khu vực VQG Cúc Phương Trong nhóm này còn có các loài khác như Sâng, Sấu, Đinh hương
Vào năm 1999, trong một công trình nghiên cứu về Bảo tồn Đa dạng Sinh học Nguyễn Hoàng Nghĩa, tác giả cho rằng Chò chỉ là 1 trong 40 loài cây đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu vẫn là hai thác bừa bãi, tàn phá môi trường sông và thu hẹp diện tích rừng tự nhiên Theo phân hạng mức độ đe doạ của IUCN (1994) thì Chò chỉ thuộc hạng VU/cd (có nguy cơ bị tuyệt chủng – Nguyễn Hoàng Nghĩa – Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam)
Năm 2000, cây Chò chỉ cũng đã được tiến hành trồng thử nghiệm tại VQG Bạch Mã, cũng đã cho thấy Chò chỉ có thể sinh trưởng tốt trên đất chịu ảnh hưởng của Cácbonnát Canxi
Theo Phạm Văn Hiếu (2000), đã nghiên cứu “Bước đầu nghiên cứu một số biến dị ở cây Chò chỉ trong vườn thực vật VQG Cúc Phương” qua đó
đã xác định được một số biến dị của rừng trồng cây Chò chỉ tại Cúc phương UNDP năm 2002 đã thực hiện dự án cộng đồng “Phục hồi và Bảo tồn loài Chò chỉ” tại Thanh Sơn – Phú Thọ Dự án đã tập huấn cho cộng đồng nhân dân địa phương một số biện pháp kỹ thuật Lâm sinh giúp cho loài Chò chỉ tái sinh tự nhiên, chọn giống và gieo trồng loài Chò chỉ và đã trồng được một số diện tích rừng Chò chỉ hỗn giao với một số loài cây gỗ có giá trị khác (Dự án phục hồi và bảo tồn loài Chò chỉ UNDP)
Vào năm 2002, Quĩ môi trường toàn cầu (GEF) đã hỗ trợ và thực hiện
dự án “Xây dựng mô hình cộng đồng phục hồi và phát triển cây Chò chỉ ở huyện Thanh Sơn tỉnh Phú Thọ” Sau khi nghiên cứu và khảo sát đã đưa ra được một số nhận định ban đầu rằng: cây Chò chỉ có thể sống thành quần thụ rừng và trong Hệ Sinh thái đó, chúng có thể cũng có những vai trò khác nhau trên những lập địa khác nhau (Dự án xây dựng mô hình cộng đồng và phát triển cây Chò chỉ GEF)
Trang 23Chò chỉ có một số ưu điểm như thân thẳng, cây lớn, sinh trưởng tương đối nhanh, gỗ tốt và có giá trị kinh tế và môi trường cao nên Chò chỉ đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu Tuy nhiên, các nghiên cứu về loài Chò chỉ mới chỉ là bước đầu, chưa đồng bộ và chưa dủ cơ sở để phục vụ cho việc đề xuất các biện pháp kỹ thuật gieo ươm và gây trồng trên diện tích lớn Chính vì vậy mà việc nghiên cứu đặc điểm sinh học và sinh thái một loài cây gỗ lớn có giá trị cao như Chò chỉ là hết sức cần thiết nhằm phục vụ cho mục tiêu gây trồng và Bảo tồn loài cây này và nâng cao chất lượng của rừng trồng tại vùng phòng hộ đầu nguồn hiện nay
Trang 24CHƯƠNG 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1: Mục tiêu nghiên cứu
Có nhiều nghiên cứu khoa học về dinh thái loài Chò Chỉ
*Khó Khăn
Trang 25Vẫn còn bị khai thác trái phép với số lượng lớn
Người dân bản địa còn chăn thả gia súc với hình thức tự do và chưa có sự kiểm soát quản lý gắt gao ít nhiều gây ảnh hưởng tới sự sinh trưởng, tái sinh loài
ở khu vực
Người dân bản địa ít nhiều còn sống phụ thuộc vào rừng, công tác bảo vệ quản lý loài Chò Chỉ nói riêng và các loài quý hiếm nói chung tại khu vực ít nhiều còn gặp khó khăn
Lực lượng cán bộ quản lý con mỏng, kinh nghiệm còn ít nên công tác bảo
vệ quản lý còn gặp khá nhiều khó khăn
ĐIều kiện ự nhiên khắc nghiệt cũng gây anh hưởng tới tái sinh và phát triển của cây con ngoài tự nhiên
2.2: Giới hạn nghiên cứu
2.2.1: Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là loài Chò Chỉ ( Parashorea chinensis Hsie Wang) có phân bố tự nhiên tại xã Xuân Sơn thuộc VQG Xuân Sơn – Phú
Thọ
2.2.2: Phạm vi điều tra
Khu vực rừng tại xã Xuân Sơn – huyện Tân Sơn – tỉnh Phú Thọ
2.3: Nội dung nghiên cứu
Để đạt được yêu cầu và mục tiêu nghiên cứu của đề tài ta tập trung nghiên cứu một số nội dung chính sau:
2.3.1: Nghiên cứu đặc điểm phân bố của loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Tho
Đăc điểm các sinh cảnh rừng nơi xuất hiên loài Chò Chỉ
Đặc điểm phân bố của loài Chò Chỉ theo đai độ cao
Đặc điểm phân bố của loài Chò Chỉ theo điều kiện địa hình, lập địa
Xác định được cấu trúc tổ thành cây gỗ và cây tái sinh, cây bụi thảm tươi tong các trạng thái rừng nơi phat hiện phân bố của loài Chò Chỉ
Trang 26 Xác định tầng thảm khô, độ che phủ và thành phần thổ nhưỡng của đất
2.3.2: Nghiên cứu đặc điểm tái sinh của loài Chò Chỉ tại khu vưc VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
Nghiên cứu đăc điểm tái sinh của loài Chò Chỉ theo:
Đai độ cao
Trạng thái rừng
Xác định được các yếu tố sau:
Tổ thành cây tái sinh
Mật độ cây tái sinh
Chất lượng cây tái sinh
2.3.3: Xác định các nhân tố ảnh hưởng tới sự phân bố và tái sinh của loài Chò Chỉ tại VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
* Nhân tố tự nhiên
Điều kiên thổ nhưỡng
Điều kiện khí hậu
Độ dốc, hướng dốc
*Nhân tố con người
Các tác động ảnh hưởng tới sự phân bố của loài
Công tác quản lý rừng, cơ chế hoạt động và khai thác lâm sản trong khu vực
Hoạt động nghiên cứu khoa học diễn ra trong khu vực
Thực trạng quản lý bảo tồn loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn
Trang 272.2: Phương Pháp Nghiên Cứu
Tư liệu về điều kiện tự nhiên: khí hậu, thổ nhưỡng, địa hình địa lợi
Tư liêu về điều kiên kinh tế, xã hội: cơ cấu nghành, nghề và đời sống người dân ở khu vực nghiên cứu
Các tài liệu có liên quan khác
Trang 28Bảng 2.1: Danh sách trả lời phỏng vấn người dân địa phương
Nghiệp Ngày PV
1 Bàn Văn Lâm Xóm Dù Nông Dân 21/02/2019
2 Nguyễn Xuân Cảnh VQG Xuân
3 Bàn Văn Hưng Xóm Cỏi Nông Dân 22/02/2019
4 Bàn Văn Khoa Xóm Lấp Nông Dân 22/02/2109
5 Lý Thị Toàn Xóm Lấp Nông Dân 23/02/2019
6 Bàn Văn Hùng Xóm Dù Nông Dân 23/02/2019
7 Lý Văn Hậu Xóm Cỏi Nông Dân 23/02/2019
Các câu hỏi phỏng vấn:
Ông/bà có biết loài Chò Chỉ không?
Hiện nay số lượng Chò Chỉ phân bố ở VQG Xuân Sơn còn nhiều không?
Ông bà có sử dụng các đồ vật làm từ gỗ Chò Chỉ không?
Ông bà có khai thác loài Chò Chỉ với mục đích sử dụng không?
Vị trí nơi còn loài Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên trong khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
Tình trạng khai thác và sử dụng lâm sản tại khu vực?
Công tác quản lý và bảo tồn loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
Chế tài xử lý các vi phạm liên qua tới khai thác và sử dụng lâm sản tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú thọ ?
2.2.4: Phương pháp điều tra thực địa
2.2.4.1: Điều tra sơ bộ
Tiến hành khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu xác định trên bản đồ các trạng thái rừng, tham khảo thêm các loại tài liệu liên quan tới điều kiện , dân
Trang 29sinh , cấu trúc rừng từ đó xác định được những tuyến điều tra chính có khả năng xuất hiện loài Chò Chỉ
2.2.4.2: Điều tra theo tuyến
Lập các tuyến điều tra đi qua những trạng thái rừng và đai độ cao khác nhau
Trên các tuyến điều tra ghi lại đặc điểm sinh cảnh rừng dọc các tuyến và đặc biệt là đăc điểm sinh cảnh rừng nơi phát hiện cá thể hay quần thể loài Chò Chỉ
Dùng GPS để bấm lại các tọa độ vị trí nơi xuất hiện loài Chò Chỉ
2.2.4.3: Điều tra chi tiết đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật nơi có loài Chò Chỉ phân bố
Chia theo đai độ cao và các tuyến điều tra thực địa thì tại nơi phát hiện ra cá thể hoặc quần thể loài Chò Chỉ ta tiến hành lập các OTC để điều tra chi tiết về thành phần cấu trúc rừng
Theo mỗi đai độ cao và tuyến điều tra ta tiến hành lập các OTC có diện tích 1000m2 để tiến hành điều tra chi tiết thanh phần cấu trúc rừng nơi có loài Chò Chỉ phân bố ngoài tự nhiên
Tiến hành lập 3 tuyến điều tra qua các khu vực Cơm Ngài Xóm Dù, Núi Tao, Núi Ten, đi qua các trạng thái sinh cảnh rừng khác nhau như rừng thường xanh lá rộng trên núi đất, rừng thường xanh lá rộng trên núi đá vôi và khu vực rừng trồng tại xóm Dù
Tại mỗi OTC ta tiến hành điều tra các thông tin sau:
Trong các OTC ta tiến hành điều tra:
Trang 30Mẫu biểu : Biểu điều tra tầng cây cao
Số hiệu OTC:…… Tờ số:……… Kiểu rừng:…………
Hdc (m)
Dt (m)
Sinh trưởng
Vật hậu
Ghi chú
Điều tra cây tái sinh trong các OTC:
Trong mỗi OTC ta lập 5 ODB mỗi ô có diện tích 25m2 tại 4 góc và trung tâm của OTC
Các thông tin thu được ta ghi vào mẫu biểu điều tra cây tái sinh
Mẫu biểu: Biểu điều tra cây tái sinh
Trang 31Điều tra tầng cây bụi thảm tươi và thực vật ngoại tầng
Ta lập 5 ODB mỗi ô có diện tích 25m2 ở 4 góc và trung trung tâm của OTC
Kết quả thu được ta ghi vào biểu điều tra cây bụi thảm tươi và thực vật ngoại tầng
Mẫu biểu: Biểu điều tra cây bụi thảm tươi, TV ngoại tầng
Quá trình tính toán theo các phương pháp tính của Thái Văn Trừng (1978)
và Richards và Davis (1934) và Sorensen ( 1984)
2.2.4.5: Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cấu trúc quần xã thực vật rừng
* Mật độ:
Cấu trúc mật độ là chỉ tiêu biểu thị số lượng ca thể tưng loài của tất cả cac loài tham gia trên một đơn vị diện tích (1ha), phản ánh mức độ tận dụng không gian dinh dưỡng và vai trò của loài trong QXTV rừng
Công thức xác định mật độ:
N/ha =
*10000
Trang 32Trong đó:
n: Số lượng cá thể của loài hoặc tổng số cá thể trong OTC
So: Diện tích OTC
*Tổ thành tầng cây gỗ
Để xác định tổ thành tầng cây cao đề tài sử dụng phương pháp xác định mức độ quan trọng ( Important Value) của Daniel Marmillod
Trong đó:
IV%: tỷ lệ tôt thành của loài i
Ni%: là % cây của loài i trong QXTV rừng
Gi%: là % theo tổng tiết diện ngang của loài i trong QXTV rừng Loài cây có VI% > 5% mới thực sự có ý nghĩa về mặt sinh thái trong QXTV rừng
*Tổ thành rừng theo số cây
Để xác định tổ thành tầng cây cao của rừng theo số cây, hệ số tổ thành các loài đó
Trong đó:
Ki: hệ số tổ thành loài i
Ni: Số lượng cá thể loài i
N: Tổng số cá thể điều tra
*Cấu trúc tầng và độ tàn che các QXTV rừng
Cấu trúc tầng là chỉ tiêu cấu trúc hình thái thể hiện sự sắp xếp không gian
phân bố của thực vật theo chiều thẳng đứng Nghiên cứu cấu trúc được tiến hành thông qua các phẫu đồ rừng theo phương pháp của Richards và Davis (1934)
Độ tàn che được xác định bằng phương pháp điều tra trắc điể, công thức tính :
Trang 33Trong đó:
TC: dộ tàn che
Ni: Số điểm gặp tái lá
N: tổng số điểm điều tra
*Mức độ thường gặp
Công thức tính mức độ thường gặp:
( ) Trong đó:
r: số cá thể của loài i trong QXTV rừng
R: tổng số ca thể điều tra của QXTV rừng
Trong đó:
A: số lần lấy mẫu gặp loài A
B: Số lần lấy mẫu gặp loài B
C: Số lần lấy mẫu gặp cả A và B
2.2.4.6: Phương pháp nghiên cứu đặc điểm cây tái sinh loài
*Mật độ cây tái sinh
Trang 34Là chỉ tiêu biểu thị số lượng cây tái sinh trên một đơn vị diện tích, được xác định theo công thức sau:
Trong đó:
Sdi: Tổng diện tích các ODB điều tr cây tái sinh (m²)
N: số lượng cây tái sinh điều tra được
*Tổ thành cây tái sinh
Áp dụng công thức tính tổ thành cây cao để tính và xác đinh công thức tổ thành cây tái sinh trong QXTV rừng
*Chất lượng cây tái sinh
Nghiên cứu tái sinh theo cấp chất lượng Tốt, Trung Bình, Xấu đồng thời xác định tỷ lệ cây tái sinh có triển vọng nhằm đánh giá một cách tổng quát tình hình tái sinh đang diễn ra theo cấp chiều cao
2.5: Đề xuất giải pháp để phát triển loài Chò Chỉ tại khu vực VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
- Cơ sở để đưa ra giải pháp bảo tồn loài Chò Chỉ tại VQG Xuân Sơn Phú Thọ
+ Dựa vào hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về bảo tồn
+ Dựa vào các kết kết quả nghiên cứu
+ Dựa vào các quy phạm ngành Lâm nghiệp về phương thức bảo tồn loài
- Kỹ thuật bảo tồn: Dựa vào các quy trình, quy phạm của ngành có liên quan để bảo tồn loài như kỹ thuât lâm sinh, sinh thái rừng,
- Các hình thức bảo tồn: Bảo tồn tại chỗ và bảo tồn chuyển chỗ
- Các giải pháp đưa ra để bảo tồn loài Chò Chỉ tại VQG Xuân Sơn + Giải pháp về khoa học và kỹ thuật
+ Giải pháp về kinh tế - xã hội
+ Giải pháp về quản lí
+ Giải pháp về cơ chế chính sách
Trang 35CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI TẠI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 1: Điều kiện tự nhiên
1.1: Vị trí địa lý, địa giới hoàn cảnh
1.1.1: Vị trí địa lý
Hình ảnh 01: Bản độ vị trí địa lý VQG Xuân Sơn – Phú Thọ
Trang 36Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm về phía Tây của huyện Tân Sơn, trên vùng tam giác ranh giới giữa 3 tỉnh: Phú Thọ, Hoà Bình và Sơn La
* Toạ độ địa lý:
- Từ 21003’ đến 21012’ vĩ độ Bắc;
- Từ 104051’ đến 105001’ kinh độ Đông
* Ranh giới Vườn quốc gia:
- Phía Bắc giáp xã Thu Cúc, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ;
- Phía Nam giáp huyện Đà Bắc, tỉnh Hoà Bình;
- Phía Tây giáp huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La;
- Phía Đông giáp xã Tân Phú, huyện Tân Sơn, tỉnh Phú Thọ
1.1.2 Địa hình, địa mạo
- Địa hình Vườn quốc gia Xuân Sơn có độ dốc lớn với nhiều chỗ dốc, núi đất xen núi đá vôi, cao dần từ Đông sang Tây, từ Nam lên Bắc
- Kiểu địa hình núi trung bình, độ cao ≥700m, chiếm khoảng 30% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m, núi Ten 1.244m, núi Cẩn 1.144m;
- Kiểu địa hình núi thấp và đồi, độ cao <700m, chiếm khoảng 65% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, phần lớn là các dãy núi đất, có xen lẫn địa hình caster, phân bố phía Đông và Đông Nam Vườn, độ dốc trung bình từ 25 - 300
,
độ cao trung bình 400m;
- Địa hình thung lũng, lòng chảo và dốc tụ, chiếm khoảng 5% tổng diện tích tự nhiên của Vườn, nằm xen giữa các dãy núi thấp và trung bình, phần lớn diện tích này đang được sử dụng canh tác nông nghiệp
1,2 Địa chất, đất đai
1.2.1 Địa chất
Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam năm 1984 cho thấy: Khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn có các quá trình phát triển địa chất phức tạp Các nhà địa chất gọi đây là vùng đồi núi thấp sông Mua Toàn vùng có cấu trúc dạng phức nếp lồi Nham thạch gồm nhiều loại và có tuổi khác nhau nằm xen kẽ thành các dải nhỏ hẹp
Trang 371.2.2 Đất đai
- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FeH): Phân bố từ
700-1386m, tập trung ở phía Tây của Vườn, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), huyện Phù Yên (tỉnh Sơn La)
- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (Fe): Phân bố
dưới 700m, thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy, ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây lâm nghiệp phát triển
- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi)-R: Đá vôi là
loại đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, nên đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi
đá
- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL): Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là
limon (L) Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ
1.3: Khí hậu, thủy văn
1.3.1: Khí hậu
- Theo tài liệu quan trắc khí tượng thủy văn của trạm khí tượng Minh Đài
và Thanh Sơn, khí hậu tại khu vực Vườn quốc gia Xuân Sơn nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa; mỗi năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô
- Mùa mưa bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 10, chiếm 90% tổng lượng mưa
cả năm, tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8,9 hàng năm Lượng mưa bình quân năm là 1.826 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm (năm 1971)
- Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau; thường chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, nhiệt độ xuống thấp, lượng mưa ít và có nhiều sương mù
- Nhiệt độ trung bình cả năm là 22,50C; nhiệt độ không khí cao nhất tuyệt đối vào các tháng 6 và 7 hàng năm, có khi lên tới 40,70
C; nhiệt độ không khí thấp nhất tuyệt đối vào tháng 11 đến tháng 2 năm sau, có khi xuống tới 0,50C
- Độ ẩm không khí trung bình cả năm là 86%, tháng có độ ẩm cao nhất vào tháng 7, 8 (trên 87%), thấp nhất vào tháng 12 (65%)
Trang 381.3.2: Thủy văn
Vườn quốc gia Xuân Sơn có các hệ thống suối như: Suối Thân; Suối Thang; Suối Chiềng các suối này đổ ra hệ thống Sông Vèo và Sông Dày Hai sông này hợp lưu tại Minh Đài, rồi đổ vào sông Hồng tại Phong Vực Tổng chiều dài của sông 120km, chiều rộng trung bình 150m, thuận lợi cho việc vận chuyển đường thủy từ thượng nguồn về Sông Hồng
1.4 Thảm thực vật, động vật và phân bố của các loài quý hiếm
1.4.1: Thảm thực vật rừng
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
Phân bố thành các mảng tương đối lớn ở độ cao dưới 700m tại khu vực phía Nam của Vườn Thực vật tạo rừng khá phong phú, phổ biến là các loài
trong họ Dầu (Dipterocarpaceae), họ Bồ hòn (Sapindaceae),họ Trinh nữ(Mimosaceae), họ Vang (Caesalpiniaceae) …
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi trung bình
Phân bố ở khu vực núi Ten, núi Voi và phần đất phía Tây của Vườn từ độ cao 700m trở lên Thực vật chủ yếu là các loài cây lá rộng thuộc các họ Dẻ
(Fagaceae), họ Re (Lauraceae), họ Ngọc lan (Magnoliaceae), họ Thích (Aceraceae), họ Chè (Theraceae), họ Sến (Sapotaceae)…
- Rừng kín thường xanh nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu
Phân bố tập trung ở hai đầu dãy núi Cẩn Các loài đại diện chính như
Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai (Garcinia fagraeoides), Mậy tèo, Ô
rô, Teo nông (Streblus spp.), Lát hoa (Chukrasia tabularis), Sâng (Pometia pinnata)…
- Rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất đá vôi xương xẩu
Phân bố thành những mảng tương đối rộng ở khu vực núi Cẩn từ độ cao 700m trở lên Các loài trong họ Dầu không còn thấy xuất hiện thay vào đó là sự
xuất hiện một số loài lá kim như Sam bông (Amentotaxus argotaenia), Thông tre (Podocarpus neriifolius) và sự gia tăng của các loài thực vật á nhiệt đới như Re,
Dẻ, Chè
Trang 39- Rừng thứ sinh phục hồi sau nương rẫy
Phân bố rải rác trong Vườn quốc gia Các loài đại diện như Hu đay
(Trema oriantalis), Ba gạc lá xoan (Euvodia meliaefolia), Xoan nhừ (Choerospondias axillaries), Màng tang (Litsea cubeba), Chò chỉ (Shorea chinensis)…
- Rừng thứ sinh Tre nứa
Rừng tre nứa chỉ chiếm một diện tích nhỏ (56 ha) ở khu vực phía Đông của Vườn Thực vật tạo rừng chủ yếu là loài Nứa lá nhỏ và một số loài cây gỗ mọc rải rác Dưới tán Nứa, thảm tươi ít phát triển thường là một số loài trong họ
Gừng (Zingiberaceae), họ Cỏ (Poaceae), mọc rải rác Dây leo phổ biến là Sắn
dây, Kim cang, Dất, Bìm bìm Loại rừng này có giá trị kinh tế kém, tuy nhiên trong điều kiện đất rừng ít màu mỡ và có mức độ chiếu sáng cao, rừng tre nứa có vai trò lớn trong việc giữ đất, chống xói mòn và tạo ra những điều kiện môi trường sống cho một số nhóm động vật hoang dã
- Rừng trồng
Trong Vườn có một số diện tích đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên người dân tự đầu tư trồng rừng Tuy nhiên, việc trồng các loài cây nhập nội với mục tiêu kinh tế tại Vườn quốc gia là không phù hợp Loài cây gây
trồng chủ yếu là Bồ đề, Keo Diện tích rừng trồng phân bố chủ yếu ở vùng thấp
nằm ở phía Đông và phía Nam của Vườn Việc phục hồi lại rừng ở đây ngoài biện pháp khoanh nuôi bảo vệ lợi dụng tái sinh tự nhiên, có thể tiến hành trồng
rừng bằng các loài cây bản địa như: Lát hoa, Chò chỉ, Chò nâu, Giổi ăn quả, Giổi xanh, Mỡ, Chò xanh
- Trảng cỏ, cây bụi, cây gỗ rải rác
Phân bố rải rác khắp các khu vực ở cả 2 đai độ cao, nhưng tập trung hơn
cả vẫn là ở đai rừng nhiệt đới thuộc phần đất phía Đông của Vườn Phần lớn loại
thảm này là các trảng cỏ như cỏ tranh, lau lách… Dưới các trảng cỏ này, tình
hình tái sinh của các cây gỗ trở nên khó khăn Bởi vậy, khả năng phục hồi rừng
tự nhiên trên đất chưa có rừng đòi hỏi phải có một thời gian dài
Trang 40- Hệ sinh thái nương rẫy, đồng ruộng và dân cư
Phân bố rải rác khắp Vườn quốc gia, nhưng tập trung thành diện tích lớn
ở phía Đông của Vườn nơi có nhiều bản làng, bao gồm ruộng lúa nước, nương rẫy trồng lúa, hoa màu, chè
1.4.2 Thành phần và Số lượng các taxon thực vật
Kết quả điều tra đã phát hiện và giám định được 1.259 loài thực vật bậc cao có mạch, thuộc 699 chi của 185 họ, trong 6 ngành thực vật (Xem danh mục thực vật kèm theo) Kết quả tóm tắt danh mục thực vật rừng như sau:
Bảng 3.1: Thành phần Thực vật rừng Vườn quốc gia Xuân Sơn
Ngành thực vật Số họ TV Số chi TV Số loài TV Khuyết lá thông (Psilotophyta) 1 1 1