Cho đến nay, Trung tâm đang cứu hộ và nuôi dưỡng khoảng 160 cá thể của 15 loài và phân loài sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó có 6 loài duy nhất được chăm giữ mà không nơi nào trên
Trang 1Ư ỌC KHOA QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG VÀ MÔI Ư NG
KHÓA LUẬN TỐT NGHI P
ên đề tài:
NGHIÊN CỨU ẶC ỂM KỸ THUẬT BẢO TỒN NGO I VI
LOÀI CHÀ VÁ CHÂN NÂU (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771)
T I TRUNG TÂM CỨU HỘ ƯỞNG NGUY CẤP,
VƯ N QUỐC A CÚC ƯƠ
NGÀNH : QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN RỪNG
gười hướng dẫn: hS UYẾ A Sinh viên thực hiện: Phạm Văn ùng MSV: 1653020124
Lớp: K61_LTCT_QLTNR
Hà Nội, năm 2019
Trang 2L I CẢ Ơ
Trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các nhân trong và ngoài trường Sau thời gian nghiên cứu và thực tập tốt nghiệp, đến nay tôi đã hoàn thành đề tài tốt nghiệp của mình
Nhân dịp này tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy, cô giáo trong Khoa Quản lý Tài nguyên rừng và Môi trường cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Lâm Nghiệp đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại trường; và đặc biệt tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô ThS Tạ Tuyết Nga, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực hiện khóa luận tốt nghiệp
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Lãnh đạo và các cán bộ đang công tác tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương đã tận tình giúp đỡ tôi trong việc hướng dẫn, cung cấp các thông tin, tài liệu và tạo điều kiện cho tôi thực hiện quá trình thu thập dữ liệu tại thực địa cho đề tài của mình trong thời gian qua
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình, bạn bè đã quan tâm động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 9 năm 2019
Sinh viên thực hiện
Phạm Văn ùng
Trang 3MỤC LỤC
CẢ Ơ 1
MỤC LỤC 2
DA ỤC Ừ V Ế Ắ 4
ẶT VẤ Ề 5
Chương 1: TỔNG QUAN VẤ Ề NGHIÊN CỨU 7
1.1 Một số đặc điểm phân loại học thú Linh trưởng ở Việt Nam 7
1.2 Sơ lược về bảo tồn chuyển vị - bảo tồn ngoại vi (ex-situ) 16
Chương 2: ỤC TIÊU – Ố ƯỢNG – PH M VI – NỘI DUNG VÀ ƯƠ Á Ê CỨU 23
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 23
2.2 Đối tượng nghiên cứu 23
2.3 Phạm vi nghiên cứu 23
2.4 Nội dung nghiên cứu 24
2.5 Phương pháp nghiên cứu 24
Chương 3: ẶC Ể CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 30
3.1 Vị trí địa lý, hành chính 30
3.2 Đa dạng sinh học 30
3.3 Một số điểm đáng chú ý 32
3.4 Các vấn đề về bảo tồn 36
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 39
4.1 Hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương 39
4.2 Đặc điểm thành phần thức ăn của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương 41
4.3 Kỹ thuật xây dựng chuồng nuôi Chà vá chân nâu tại Trung tâm 44
4.4 Đặc điểm một số loại bệnh thường gặp và công tác thú y cho Chà vá chân nâu tại Trung tâm 46
4.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương 47
Trang 4KẾT LUẬN, TỒN T I, KHUYẾN NGHỊ 49
1 Kết luận 49
2 Tồn tại 49
3 Khuyến nghị 49
TÀI LI U THAM KHẢO 51
PHỤ LỤC 54
Trang 5DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CHLTNC Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp
EPRC Endangered Primate Rescue Center
(Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp)
IUCN International Union for Conservation of Nature
(Tổ chức bảo tồn thiên nhiên thế giới)
Trang 6ẶT VẤ Ề
Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) hay còn gọi là
Chà vá chân đỏ (Voọc ngũ sắc) là loài linh trưởng quý hiếm và mang tính biểu tượng ở Việt Nam Loài Chà vá chân nâu thường phân bố ở sinh cảnh rừng thường xanh và bán thường xanh dọc biên giới Việt Nam và Lào (từ Nghệ An đến Đắk Lắk) Thức ăn của loài chủ yếu là chồi, lá và quả cây (Phạm Nhật và Đỗ Quang Huy, 1998; Phạm Nhật, 2002; Tilo Nadler và Diane Brockman, 2014) Quần thể loài Chà vá chân nâu ngoài tự nhiên đã và đang
bị suy giảm nghiêm trọng nên loài được đánh giá ở mức Nguy cấp (EN) ở Việt Nam và trên toàn cầu (Bộ KH&CN, 2007; IUCN, 2018) Loài này hiện cũng đang thuộc nhóm IB trong Nghị định 06/2019/NĐ-CP (NĐCP, 2019) và
Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương được thành lập từ đầu năm 1994 Cho đến nay, Trung tâm đang cứu hộ và nuôi dưỡng khoảng 160 cá thể của 15 loài và phân loài sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó có 6 loài duy nhất được chăm giữ mà không nơi nào trên thế giới cứu hộ và nuôi nhốt các loài này, đó là: Voọc mông trắng
(Trachypithecus delacouri), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus hatinhensis), Voọc cát bà (Trachypithecus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix
cinerea)… Đặc biệt có 9 loài thú Linh trưởng đã cho sinh sản thành công,
trong đó có 3 loài lần đầu tiên được sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt ở trên thế giới đó là: Voọc mông trắng, Voọc hà tĩnh, Chà vá chân xám (Nadler 1996) Tỷ lệ sinh sản của các loài này rất cao, với 5 cá thể Voọc mông trắng đến từ tự nhiên đã cho sinh sản được 5 cá thể và 10 cá thể Voọc hà tĩnh đã
Trang 7cho sinh sản 16 cá thể tại đây Trung tâm là cơ sở duy nhất trên thế giới đang cứu hộ và chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt cho 3 loài Linh trưởng trong nhóm ngũ sắc là Chà vá chân nâu, Chà vá chân xám và Chà vá chân đen, với tổng số 28 cá thể của 3 loài
Đã có một số nghiên cứu về tập tính, đặc điểm sinh thái, tập tính thức ăn của loài Chà vá chân nâu ngoài tự nhiên cũng như trong điều kiện nuôi nhốt Đây là những kết quả hết sức cần thiết cho sự tồn tại và phát triển của các Linh trưởng nói chung và của Chà vá chân nâu nói riêng Tuy nhiên, cơ sở dữ liệu về đặc điểm kỹ thuật công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Việt Nam nói chung và tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương còn hết sức hạn chế, rải rác, chưa hệ thống và chưa đáp ứng được yêu cầu của công tác bảo tồn
Do đó, cần nghiên cứu một cách cụ thể để có thể đưa ra cơ sở dữ liệu đầy đủ và đảm bảo đáp ứng yêu cầu cho công tác cứu hộ, bảo tồn và phát triển
loài Đề tài “ ghiên cứu đặc điểm kỹ thuật bảo tồn ngoại vi loài Chà vá
chân nâu (Pygathrix nemaeus innaeus, 1771) tại rung tâm Cứu hộ
inh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc hương” được thực hiện với
mong muốn được góp phần nghiên cứu và bảo tồn loài Chà vá chân nâu tại Việt Nam Số liệu thu thập được và kết quả nghiên cứu sẽ bổ sung thêm thông tin về một số đặc điểm kỹ thuật bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu, là cơ
sở khoa học quan trọng cho việc đưa ra các giải pháp cứu hộ, bảo tồn và phát triển loài Linh trưởng trưởng quý hiếm này ở Việt Nam
Trang 8C ƯƠ
Ổ QUA VẤ Ề Ê CỨU 1.1 ột số đặc điểm phân loại học thú inh trưởng ở Việt am
1.1.1 Phân loại học thú inh trưởng ở Việt Nam
Việt Nam được đánh giá là nước có mức độ đang dạng rất cao về các thú linh trưởng, với 25 loài và phân loài thuộc 3 trong số 5 họ linh trưởng của
châu Á: Họ Cu li (Loridae), họ Khỉ và Voọc (Cercopithecidae), họ Vượn
(Hylobatidae) Hai họ còn lại ở châu Á không phân bố ở Việt Nam là Vượn
nhảy nhỏ (Tarsiidae) và Đười ươi (Hominidae), hai họ này phân bố hẹp tại
các đảo của thềm lục địa Sunda [12], [13], [14], [29], [74] [21] (Phụ lục 1) Trong số 25 loài và phân loài, 6 loài và phân loài là đặc hữu của Việt
Nam, đó là: Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus), Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus poliocephalus
poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix nemaeus cinerea), Khỉ đuôi dài
Côn Đảo (Macaca fascicularis condorensis) và Vượn đen (Nomascus nasutus
nasutus)
Ở Việt Nam, họ Cu li (Loridae) chỉ có 1 giống (Nycticebus) với hai loài là: Cu li lớn (Nycticebus bengalensis) và Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) Loài Cu li nhỡ (Nycticebus intermedius) được Đào Văn Tiến mô tả vào năm
1960 [103] được coi đồng loài với loài Cu li nhỏ (Nycticebus pygmaeus) [5, 6,
10, 40] Họ Khỉ (Cercopithecidae), ở Việt Nam, có hai phân họ: phân họ Khỉ (Cercopithecinae) và phân họ Voọc (Colobinae), với 4 giống: Macaca,
Trachypithecus, Pygathrix và Rhinopithecus Đây là họ có số loài và phân loài
phong phú nhất, với 17 loài và phân loài Trong đó, phân họ Khỉ
(Cercopithecinae) chỉ có 1 giống (Macaca) gồm 6 loài và phân loài, đặc biệt phân loài Khỉ đuôi dài Côn Đảo (M fascicularis condorensis) là phân loài đặc
hữu của Việt Nam – hiện chỉ có phân bố ở một số đảo thuộc VQG Côn Đảo [21] Phân họ Voọc (Colobinae) có 3 giống: Trachypithecus (7 loài và phân loài), Pygathrix (3 loài và phân loài: Chà vá chân đen Pygathrix nigripes, Chà
vá chân đỏ Pygathrix nemaeus, và Chà vá chân xám Pygathrix cinerea) và
Trang 9Rhinopithecus (1 loài) Đây là phân họ có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau
về phân loại học
Về giống Trachypithecus, hiện có khá nhiều ý kiến khác nhau về phân
loại học của một số loài và phân loài của giống này Ví dụ, những ý kiến
trước đây cho rằng loài Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi) ở Việt Nam có các phân loài: Voọc đen má trắng (Trachypithecus francoisi ), Voọc mông trắng (Trachypithecus francoisi delacouri), Voọc đầu trắng (Trachypithecus francoisi poliocephalus), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus
francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi ebenus )
[5, 10, 12, 22, 25] Tuy nhiên, Groves (2001) đã nâng các phân loài này thành các loài khác nhau [40] Theo những nghiên cứu gần đây của Roos (2004) và Brandon-Jones và cộng sự (2004), phân loài Voọc mông trắng
(Trachypithecus francoisi delacouri) thành loài Voọc mông trắng ( Trachypithecus delacouri); phân loài Voọc đầu trắng (Trachypithecus
francoisi poliocephalus) đổi thành loài Voọc Cát Bà (T poliocephalus poliocephalus), các phân loài còn lại vẫn giữ nguyên là Voọc đen má trắng
(Trachypithecus francoisi francoisi ), Voọc Hà Tĩnh (Trachypithecus
francoisi hatinhensis) và Voọc đen tuyền (Trachypithecus francoisi ebenus)
[21, 90]
Voọc bạc trước đây được biết với tên khoa học là T cristatus [5, 6, 10,
12, 22, 25, 40] Căn cứ theo các kết quả phân tích về di truyền học và phân bố địa lý, hiện nay, Voọc bạc ở Việt Nam được coi là một phân loài Voọc bạc
(Trachypithecus villosus margarita) [21, 74, 90]
Voọc xám trước đây được biết với tên khoa học là Trachypithecus
phayrei [5, 6, 10, 12,22, 25, 40], sau đó được định tên là Trachypithecus crepusculus [73, 90] Theo kết quả nghiên cứu và hệ thống phân loài gần đây
nhất của Brandon-Jones và cộng sự (2004) và Đặng Tất Thế (2005) Voọc
xám, ở Việt Nam, được xem là một phân loài – Voọc xám (Trachypithecus
barbei holotephreus) [11, 21]
Do những đặc điểm giống nhau của các loài thuộc giống Rhinopithecus
Trang 10và giống Pygathrix, nên một số nhà nghiên cứu, trước đây, xem hai giống này chỉ là một giống Pygathrix [25, 40, 82, 91] Tuy nhiên, nhiều nhà nghiên cứu linh trưởng vẫn cho rằng Rhinopithecus và Pygathrix là hai giống khác biệt [5, 6, 10, 12, 21, 37, 40, 46, 64, 73, 90] Ở Việt Nam, giống Rhinopithecus chỉ
có 01 loài – Voọc mũi hếch (Rhinopithecus avunculus) [6, 10, 21, 73]
Trước đây, một số nhà nghiên cứu cho rằng các loài và phân loài vượn
của Việt Nam thuộc giống Hylobates [5, 12, 25] Tuy nhiên, qua những
nghiên cứu gần đây trên cơ sở phân tích về âm học của tiếng hót và di truyền
học, các loài và phân loài vượn của Việt Nam được xếp vào giống Nomascus [21, 39, 40, 90] Hiện nay, họ Vượn (Hylobatidae), ở Việt Nam, chỉ có 1 giống (Nomascus) với 5 loài và phân loài [21, 39, 40, 90]
Việt Nam là một trong những nước ở phân vùng địa - động vật Đông Dương (Indo-Chinese subregion) giàu về thành phần loài linh trưởng So với châu Á (183 loài và phân loài), Việt Nam có 25 loài và phân loài (chiếm 13,66%) và chỉ đứng sau Indonesia (36,07%), Thái Lan (19,13%), Ấn Độ (15,30%), Trung Hoa (14,75%) và Malaysia (14,21%) [7, 21, 37]
Về quan hệ địa lý động vật học, khu hệ linh trưởng Việt Nam có quan hệ với các khu hệ phụ cận, trong đó yếu tố Đông Dương là trội hơn cả (với 17 loài và phân loài, chiếm 70,83%), tiếp đến là yếu tố Nam Trung Hoa (với 9 loài và phân loài, chiếm 37,50%), Ấn Độ (chiếm 16,67%), Mã Lai (chiếm 8,33%) và ít nhất là yếu tố Himalaya (4,17%) Ngoài ra, khi hệ linh trưởng
Việt Nam cũng có tỷ lệ cao về yếu tố đặc hữu (chiếm 25,0%) [7, 21, 37]
1.1.2 Một số đặc điểm của giống Pygathrix
1.1.2.1 Phân loại học giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam
Giống Chà vá (Pygathrix) ở Việt Nam có 3 loài gồm: Chà vá chân đỏ (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771), Chà vá chân đen (Pygathrix nigripes Milne - Edwards, 1871) và Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea Tilo Nadler, 1997) Chúng thuộc phân họ Voọc (Colobinae), họ Khỉ (Cercopithecidae), bộ Linh trưởng (Primates) Cả 3 loài này đều phân bố trên bán đảo Đông Dương
Trang 11Là một loài khỉ lớn so với các loài khỉ khác thường ăn lá cây, kích thước cơ thể dài từ 53 – 63cm, trọng lượng trung bình từ 5,3 – 11,5kg với nhiều màu sắc [18], [59] Chi sau dài hơn chi trước một chút Đầu không có mào nhọn trên đỉnh Mặt có ít hoặc trụi lông Râu dài màu trắng được thông suốt hướng về phía sau và tạo thành một choàng qua cổ Mắt hình quả hạnh
và góc mắt hơi nghiêng Dương vật của con đực trưởng thành có màu đỏ tươi Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể, dáng đuôi thon đều và phủ lông dài [57] Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi Màu lông con non có màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng Đỉnh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen Chà vá trưởng thành có sự khác biệt về màu sắc ở cả 3 loài: Ở Chà vá chân xám và chà vá chân đỏ mặt màu cam sáng, quanh miệng màu trắng, chà vá chân đen có mặt màu xanh sáng, xung quanh mắt có quầng tròn màu kem Chà vá chân đen có những khác biệt về màu sắc so với các loài chà vá khác Màu xám trên lưng thì đậm hơn so với các loài chà vá khác nhưng bụng thì sáng hơn Chi sau của Chà vá chân đen có màu đen, Chà vá
Trang 12chân đỏ có màu nâu đỏ và Chà vá chân xám có màu xám tro phía sau và tạo thành một choàng qua cổ Mắt hình quả hạnh và góc mắt hơi nghiêng Dương vật của con đực trưởng thành có màu đỏ tươi Đuôi màu trắng với kích thước tương đương chiều dài của cơ thể, dáng đuôi thon đều và phủ lông dài [57] Màu sắc của con đực trưởng thành và con cái như nhau ngoại trừ ở con đực
có một túm lông trắng ở phía trên mỗi góc hình tam giác ở gốc đuôi Màu lông con non có màu vàng cam, khuôn mặt hơi đỏ xanh, mắt màu vàng sáng Đỉnh đầu có màu hơi đỏ đen, dọc theo sống lưng có một đường màu đen Chà
vá trưởng thành có sự khác biệt về màu sắc ở cả 3 loài: Ở Chà vá chân xám và chà vá chân đỏ mặt màu cam sáng, quanh miệng màu trắng, chà vá chân đen
có mặt màu xanh sáng, xung quanh mắt có quầng tròn màu kem Chà vá chân đen có những khác biệt về màu sắc so với các loài chà vá khác Màu xám trên lưng thì đậm hơn so với các loài chà vá khác nhưng bụng thì sáng hơn Chi sau của Chà vá chân đen có màu đen, Chà vá chân đỏ có màu nâu đỏ và Chà
vá chân xám có màu xám tro [43] [50] [58] [65]
1.2.2.3 Một số đặc điểm sinh học, sinh thái của giống Chà vá (Pygathrix)
Chà vá là những loài sống hoàn toàn trên cây, di chuyển bằng 4 bàn chân Không thấy loài Voọc hoạt động trên mặt đất trong điều kiện hoang dã Chúng thường sử dụng những cây gỗ lớn có đường kính 1,2 m và chiều cao từ
30 - 35m với tán dày và rậm làm nơi ngủ Tuy nhiên, một số báo cáo ghi nhận Chà vá chân đen di chuyển trên mặt đất ở những nơi tán rừng không liên tục, hay di chuyển trên các hòn đá lớn và uống nước trên mặt đất [50]
Theo Lippold (1998) nghiên cứu ở Chà vá chân đỏ cho thấy thức ăn chủ yếu ăn lá cây, với 75,0% thức ăn hằng ngày của các mẫu nghiên cứu là lá Những thức ăn khác là các loại hoa, quả và hạt Hoàng Minh Đức (2007) nghiên cứu ở Chà vá chân đen xác định được 152 loài thực vật là thức ăn với 54,6% lá, 19,8% quả, 9,6% hạt, 14,6% hoa và các loại thức ăn khác 1,5% Hà Thăng Long (2009) nghiên cứu ở Chà vá chân xám xác đinh đươc 166 loài thực vật là thức ăn trong đó lá non được ăn nhiều nhất chiếm 49,6%, quả chín 21,9%, quả chưa chín 19,1%, lá trưởng thành 9,3%, Các loại thức ăn khác
Trang 130,1% Kích thước của đàn Chà vá khác nhau tùy thuộc vào môi trường sống
và từng thời điểm Lippold (1995) đã quan sát một đàn Chà vá có 51 cá thể tại Kon Chư Răng; Hoàng Minh Đức (2007) quan sát đàn Chà vá chân đen với
45 cá thể ở VQG Núi Chúa, Ninh Thuận; Hà Thăng Long (2009) quan sát đàn Chà vá chân xám với 88 cá thể tại VQG Kon Ka Kinh, Gia Lai Chà vá có cấu trúc xã hội đặc trưng là một con đực đầu đàn và mỗi thành viên khác đều có
vị trí nhất định trong đàn Cấu trúc gồm nhiều đàn nhỏ có thể tập hợp thành đàn lớn Tuy nhiên cấu trúc đàn lớn lỏng lẻo và có hiện tượng tách nhập đàn thường xuyên Đàn nhỏ thường gồm 1 con đực, vài con cái và con con Tỷ lệ đực cái thường từ 1:1,5 - 1:2 trong nhóm nhỏ từ 3 - 10 cá thể và 1:2,5 - 1:3 trong nhóm từ 15 - 35 cá thể [37],[50]
1.1.2.3 Phân bố giống Chà vá (Pygathrix)
Giống Chà vá (Pygathrix) chỉ phân bố ở khu vực Đông Dương: Chà vá
chân đen phân bố ở Việt Nam với Camphuchia; Chà vá chân đỏ phân bố ở Việt nam và Lào; Chà vá chân xám chỉ phân bố ở Việt Nam [6], [29], [41], [48], [49], [70]
Việt Nam là nước duy nhất có 3 loài chà vá sinh sống nhưng khu phân
bố thay đổi dần từ Bắc đến Nam Chà vá chân đỏ phân bố từ 19030’ N đến
16000’ N gồm 4 tỉnh Quảng Bình, Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng và Quảng Nam Chà vá chân xám phân bố từ 150
50’ N đến 14030’ N ở huyện Nam Giang, tỉnh Quảng Nam đến khu bảo tồn Kon Cha Rang, tỉnh Gia Lai Chà vá chân đen phân bố từ 14030’ N đến 110
00’ N ở khu vực Tây Nguyên qua Lâm Đồng đến Bình Phước, Bình Dương [14]
1.1.3 Một số đặc điểm của loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus)
Chà vá chân nâu hay còn gọi là Chà vá chân đỏ (Pygathrix
nemaeus) thuộc họ Khỉ (Cercopithecideae), và là loài có màu sắc rực rỡ nhất
trong các loài linh trưởng Chúng còn được biết đến với tên "Voọc ngũ sắc" cũng bởi vẻ ngoài độc đáo này
1.1.3.1 Một số đặc điểm hình thái
Giống như các loài Voọc khác, Chà vá chân nâu là loài khỉ có thân hình dài, mảnh dẻ Đầu và thân con đực có chiều dài trung bình vào khoảng 61 cm
Trang 14và con cái thì vào khoảng 54,5 cm với đuôi dài từ 55,8 – 76,2 cm Con đực năng trung bình 11 kg, và con cái khoảng 8,44 kg Có sự khác biệt nhỏ giữa mảng màu ở mông của 2 giới: con đực có mảng trắng ở mông, con cái thì không có [3]
Cả ba loại Chà vá nói chung (Pygathrix nemaeus, Pygathrix cinerea
và Pygathrix nigripes) có thân lông xám với vết lông trắng ở mông Lông vai
và tay màu đen Lông trên đầu màu xám nhưng có một vành đen phía trên trán Chúng có vành râu quai nón màu trắng trong khi phía cổ thì lông màu
dà, hung đỏ Mắt chúng hơi xếch Tay chà vá dài hơn chân Đuôi dài, sắc lông trắng
Khác biệt giữa ba loại chà vá là lông từ mông trở xuống Chà vá chân
đỏ, như tên đặt cho chúng, có cặp chân màu nâu đỏ, hai cánh tay màu xám Chúng có họ rất gần với Chà vá chân xám trong khi Chà vá chân đen theo khảo nghiệm thì có họ xa hơn [4]
1.1.3.2 Đặc điểm phân bố của loài Chà vá chân nâu
Chà vá chân nâu phân bố ở khu vực bắc Trường Sơn của Việt Nam (địa bàn gồm từ Nghệ An xuống Kontum) và nước Lào Trước năm 1967, loài được tìm thấy ở nhiều môi trường sống từ môi trường thấp đến địa hình đồi núi lên đếm 2000m, trong rừng nhiệt đới nguyên sinh trên núi cao, rừng thứ sinh, rừng hỗn giao
1.1.3.3 Đặc điểm sinh học, sinh thái của Chà vá chân nâu
Giống như các loài khác trong phân họ phụ Voọc (Colobine), Chà vá
chân nâu sống thành bầy đàn Chúng sống trong nhóm từ 4 đến 15 con nhưng
đã từng ghi lại được nhóm lên tới 50 con Một đàn thường có một hoặc vài con đực và trung bình tỷ lệ đực cái sẽ là 1:2 Cả con cái và con đực đều biết vị trí của mình trong đàn và con đực thường có vị trí cao hơn con cái, thường chúng sẽ rời khỏi đàn nơi chúng được sinh ra
Giống các loài khác thuộc họ Khỉ (Cercopithecidae) đuôi của Chà vá chân nâu không dùng để cầm nắm Đuôi chỉ được sử dụng cho một mục đích duy nhất là cân bằng Chúng dùng tay và chân để di chuyển trong rừng Một
Trang 15khi đã bắt đầu di chuyển cả nhóm sẽ được dẫn dắt bởi con đực đầu đàn, với những con đực trẻ ở phía sau, con cái và con non an toàn ở giữa Loài này sống trên cao, chúng di chuyển ở trên các tán rừng, rất nhanh nhẹn và thường
có thể nhảy tới 6 mét, với cánh tay dang rộng qua đầu Thông thường, chúng đẩy chi dưới về phía trước và tiếp đất bằng 2 chân
Bình thường, Chà vá chân nâu sẽ di chuyển một cách ồn ào từ cành này sang cành khác qua khu rừng, đi qua các tán cây, nhảy nhót trên các cành và nhún nhảy bằng 2 chân cùng lúc, thể hiện khả năng giữ cân bằng tuyệt vời của mình Nhưng khi có biến, bởi kẻ săn mồi hay những mối nguy hiểm khác, chúng có thể chạy trốn một cách yên lặng qua những cành cây, ra xa khỏi mối nguy hiểm Nếu chúng giật mình, chúng có thể kêu lớn, nháo nhác quanh các cành cây Nhưng ngược lại với những lần di chuyển ồn ã, chà vá dành phần lớn thời gian để ăn trong yên lặng, tiêu hóa đống thức ăn, liu diu ngủ và chải lông cho nhau
Loài Chà vá chân nâu giao tiếp thông qua biểu cảm khuôn mặt Nó như một màn biểu diễn khuôn mặt với cái miệng há rộng, răng nhe ra và cằm hướng về phía trước Thỉnh thoảng, chúng nhắm mắt, quờ quạng nhau mà không để tâm tới mối nguy hiểm khi ở trên các cành cao Cái nhìn chằm chằm thể hiện sự đe dọa Mặt nhăn nhó, miệng mở rộng và răng nhe ra cho thấy thái
độ tuân phục sau khi bị nhìn chằm chằm Biểu hiện này cũng thường thấy khi chúng bắt đầu chài lông cho nhau và chơi đùa Chà vá chân nâu gầm gừ ở âm vực thấp, thể hiện sự đe dọa và kêu ré lên khi phải chịu đau
Loài chà vá này hiện tại không còn có nhiều trong môi trường hoang dã
và không có nhiều thông tin về tập tính giao phối và sinh sản ngoài thiên nhiên của chúng Trước khi giao phối, cả con đực và con cái đều ra dấu hiệu bằng cách giơ cằm ra, lông mày nhếch cao và đầu cúi xuống Con cái sẽ di chuyển trước, cắm mặt xuống cành cây, mắt nhìn vào con đực đã chọn Con đực sẽ quay lại nhìn thẳng và có thể quay đi tìm nơi mà nó cho là phù hợp để giao phối
Giai đoạn giao phối diễn ra từ tháng 8 đến tháng 12 Giai đoạn mang thai kéo dài trong khoảng từ 165 đến 190 ngày, con cái sẽ sinh một con non vừa
Trang 16đúng trước mùa quả chín Sinh đôi thường rất hiếm Con non khi chào đời mắt đã mở to và bám vào mẹ một cách bản năng Màu con non nhạt hơn màu con trưởng thành Lông tơ ngắn, xám có những vạch tối màu ở phần lưng Khuôn mặt đen và 2 vạch mờ dưới mắt Khi chúng lớn lên, cơ thể sẽ dần tối màu hơn nhưng mặt lại có màu sáng hơn, sau khoảng 10 tháng chúng có đầy
đủ màu của một con trưởng thành Trong môi trường nuôi nhốt, những thành viên khác trong nhóm cũng chăm sóc con non và những con cái khác có thể còn cho nó bú Trong một nghiên cứu, con non được nhận nuôi sẽ do hai con cái và một con đực trong đàn chăm sóc Con cái có thể bắt đầu giao phối khi
đủ 4 tuổi trong khi con đực phải mất từ 4-5 năm Vòng đời của chúng dài khoảng 25 năm
Kẻ thù lớn nhất của Chà vá chân nâu là con người Loài linh trưởng này
bị đe dọa do mất môi trường sống bởi phá rừng và săn bắn Người dân địa phương thường săn chúng lấy thịt và những bộ phận khác dùng để làm thuốc Những vụ buôn lậu động vật hoang dã như Chà vá chân nâu dù trái phép nhưng mang lại lợi nhuận lớn Trong suốt cuộc chiến tranh Việt Nam, môi trường sống của loài vooc này bị đánh bom và phun thuốc hóa học như chất độc màu da cam
1.1.4 ình trạng bảo tồn
Chà vá chân nâu nằm trong danh sách đỏ về động vật nguy cấp của IUCN và danh sách bị cấm buôn bán toàn cầu của CITES Mặc dù vậy, luật bảo vệ loài này của Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn khi thực thi
Ngày 13/2/2017, Chi cục Kiểm lâm Đà Nẵng cho hay, kết quả phối hợp giữa cơ quan này với Tổ chức Bảo tồn Voọc vá (Douc Langur Foundation) về giám sát quần thể từ năm 2008 - 2016 cho thấy hiện có khoảng 700 cá thể Voọc Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) tại bán đảo Sơn Trà (phường Thọ Quang, quận Sơn Trà) với thành phần có đủ các thế hệ di truyền Số lượng này đã tăng thêm hàng trăm cá thể so với kết quả khảo sát, thống kê trước đó mấy năm Đây là tín hiệu vui trước vấn nạn săn bắt, buôn bán trái phép động
Trang 17vật hoang dã đã và đang đẩy loài linh trưởng được mệnh danh là “Nữ hoàng linh trưởng’ này cùng nhiều loài quý, hiếm khác vào chỗ tuyệt chủng
Ngày 22/05/2017, Trung tâm Bảo tồn đa dạng sinh học Nước Việt Xanh (GreenViet) công bố có khoảng 1.335 cá thể Voọc đang sinh sống trên bán đảo Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng, dựa theo nghiên cứu mới nhất của trung tâm trong quý I 2017 [5]
1.2 Sơ lƣợc về bảo tồn chuyển vị - bảo tồn ngoại vi (ex-situ)
1.2.1 Sơ lƣợc về bảo tồn chuyển vị (ex-situ) trên thế giới
Bảo tồn chuyển vị hay còn gọi là bảo tồn ngoại vi (ex-situ) bao gồm các biện pháp di dời các loài cây, con và các vi sinh vật ra khỏi môi trường sống thiên nhiên của chúng để nhân giống, lưu giữ, nhân nuôi vô tính hay cứu hộ trong trường hợp: (1) nơi sinh sống bị suy thoái hay hủy hoại không thể lưu giữ lâu hơn các loài nói trên, (2) dùng để làm vật liệu cho nghiên cứu, thực nghiệm và phát triển sản phẩm mới, để nâng cao kiến thức cho cộng đồng Bảo tồn chuyển chỗ bao gồm các vườn thực vật, vườn động vật, các bể nuôi thủy hải sản, các bộ sưu tập vi sinh vật, các bảo tàng, các ngân hàng hạt giống, bộ sưu tập các chất mầm, mô cấy Do các sinh vật hay các phần của
cơ thể sinh vật được lưu giữ trong môi trường nhân tạo, tách rời với các mối
đe dọa trong nhưng chúng lại bị tách khỏi quá trình tiến hóa tự nhiên Do đó, mối liên hệ gắn bó giữa bảo tồn chuyển chỗ với bảo tồn tại chỗ rất hữu ích cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học (Đỗ Quang Huy et al., 2009)
Theo Monastersky (2014), ước tính mỗi năm có khoảng từ 500 đến 36.000 loài sinh vật bị biến mất trên trái đất Số loài đã chính thức bị tuyệt chủng kể từ năm 1500 trở lại đây là 765 loài gồm 79 loài thú, 145 loài chim,
36 loài lưỡng cư, và 505 loài khác Số lượng loài sinh vật đang bị đe dọa tuyệt chủng theo đánh giá của IUCN (2017) là khoảng 13,267 loài trong tổng số 67.222 loài được đánh giá Các nhân tố đe dọa đến các loài sinh vật bao gồm: khai thác quá mức (tác động lên khoảng 37% tổng số loài bị đe dọa), thay đổi
và suy thoái sinh cảnh sống (31%), mất sinh cảnh sống (13%), BĐKH (7%), ảnh hưởng của loài ngoại lai (7%), ô nhiễm môi trường (5%), bệnh dịch (2%)
Trang 18Các cơ sở bảo tồn chuyển vị như khu cứu hộ và vườn thú đóng vai trò rất tích cực trong công tác nghiên cứu, bảo tồn và lưu giữ nguồn gen của các loài quý hiếm, đặc hữu Brady et al (2017) đề cập đến vai trò và tiềm năng của các vườn thú trong công tác nghiên cứu và duy trì quần thể các loài lưỡng cư
bị đe dọa trên toàn cầu Các tác giả cung cấp số liệu ước tính hiện các vườn thú lưu giữ khoảng 23,9% số lượng các loài quý, hiếm, đặc hữu Tuy nhiên, công tác bảo tồn chuyển vị cũng gặp rất nhiều khó khăn như thiếu vốn đầu tư, thiếu nhân lực và quỹ đất
Gusset et al (2014) cũng đã rà soát các vấn đề liên quan đến bảo tồn loài
ở các vườn thú và khu nuôi nhốt và rút ra 10 vấn đề quan trọng nhất gồm: 1) Dịch bệnh và an toàn sinh học; 2) Công nghệ mới; 3) Thiếu nước sạch và thức ăn; 4) Vấn đề trao đổi thương mại động vật hoang dã; 5) Thay đổi chức năng trong quần thể loài động vật (do BĐKH, loài ngoại lai, ô nhiễm,…); 6) Nhu cầu lưu giữ các loài động vật trong vườn thú; 7) Thiếu không gian; 8) Nhu cầu quản lý quần thể đủ lớn; 9) Thiếu ổn định chính trị và xung đột; 10) Nhu cầu chăm sóc và sở hữu số lượng lớn các loài trong các vườn thú và cơ sở nuôi Đây cũng là những vấn đề đang tồn tại ở Việt Nam
Các hoạt động bảo tồn chuyển vị ở các quốc gia đang phát triển thường được hỗ trợ bởi các tổ chức phi chính phủ hoặc các vườn thú lớn trên thế giới Ziegler (2014) đề cập đến các hoạt động bảo tồn nguyên vị và chuyển vị của Vườn thú Cologne (Đức) thực hiện ở khu vực Đông Nam Á: Chương trình bảo tồn bao gồm các chương nghiên cứu về đa dạng sinh học, sinh thái học của các loài quý hiếm; nhân nuôi sinh sản các loài động vật quý hiếm, đặc hữu hoặc còn ít được biết đến Hu et al (2015) đề xuất chuyển hạt giống thu thập được ở phía nam Trung Quốc lên trồng ở các khu vực phía bắc để bảo tồn một số loài khi điều kiện khí hậu thay đổi
Để nâng cao hiệu quả và kiểm soát chất lượng của hoạt động bảo tồn chuyển chỗ, IUCN/SSC (2014) đã đưa ra hướng dẫn trong việc ứng dụng bảo tồn chuyển chỗ cho việc bảo tồn loài Tài liệu hướng dẫn đã đưa ra phạm vi,
Trang 19cách thức thực hiện, giám sát và đánh giá trong bảo tồn chuyển chỗ Đặc biệt, hướng dẫn đã đưa ra năm bước để quyết định sử dụng bảo tồn chuyển chỗ cho các loài, bao gồm: Xác định tình trạng chung của loài (gồm cả phân tích các mối đe dọa); Xác định vai trò của biện pháp bảo tồn chuyển chỗ đối với loài đó; Xác định đặc điểm và số lượng cá thể áp dụng trong bảo tồn chuyển chỗ; Xác định các nguồn đầu vào và kỹ thuật thực hiện, đánh giá tính khả thi và các mối rủi ro trong quá trình thực hiện; và cuối cùng ra đưa ra quyết định thực hiện
Như vậy, công tác bảo tồn đa dạng sinh học nói chung và bảo vệ các loài
bị đe dọa tuyệt chủng nói riêng nhận được sự quan tâm rất lớn của các quốc gia, thể hiện rõ trong 2 mục tiêu của Công ước Đa dạng sinh học Hai giải pháp chính là bảo vệ sinh cảnh sống và quần thể của các loài, đặc biệt ưu tiên cho các loài có nguy cơ bị đe dọa tuyệt chủng cao và những loài đặc hữu Đối với các loài cực kỳ quý hiếm, đặc hữu, có quần thể nhỏ và có nguy cơ suy giảm quần thể nghiêm trọng trong tương lai thì ngoài hình thức bảo tồn tại chỗ cần áp dụng hình thức bảo tồn chuyển chỗ IUCN/SSC (2014)
1.2.2 Hoạt động bảo tồn chuyển vị ở Việt Nam
Ở Việt Nam, bên cạnh hoạt động bảo tồn tại chỗ, bảo tồn chuyển chỗ cũng đang dần phát huy được vai trò của mình Tuy nhiên đầu tư cho bảo tồn chuyển chỗ còn hạn chế Cục Kiểm Lâm (2008) đã quy hoạch hệ thống khu cứu hộ động vật hoang dã trên phạm vi toàn quốc
Hiện nay ở nước ta có 2 cơ sở nuôi nhốt động vật hoang dã lớn nhất là: Thảo cầm viên Sài Gòn, đã được xây dựng từ hơn 100 năm nay, hiện nuôi hơn 120 loài với khoảng 530 cá thể; Vườn thú Thủ Lệ (Hà Nội), mới được thành lập hơn 30 năm, hiện đang nuôi khoảng gần 100 loài với 500 cá thể Nhiệm vụ chính của các Vườn thú là phục vụ tham quan Công tác nghiên cứu
về kỹ thuật chăn nuôi, nhân giống, cứu hộ một số loài (Hổ, Nai, Hươu sao, Khỉ, …) cũng được tiến hành, nhưng kết quả nghiên cứu mới ở mức tham khảo và ít được phổ biến Gần đây, một số vườn thú bán hoang dã đã được
Trang 20vận hành như Safari Phú Quốc, tuy nhiên các vườn thú này mới chủ yếu tập trung vào các loài thú nhập ngoại và hướng tới mục tiêu thương mại thay vì cứu hộ, bảo tồn
Bên cạnh đó, hiện nay Việt Nam chưa có các trung tâm cứu hộ động thực vật hoang dã lớn Nước ta mới có một số trung tâm/trạm cỡ trung bình
và nhỏ do các địa phương (Chi cục Kiểm lâm, VQG) quản lý như : Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã Sóc Sơn, Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (VQG Cúc Phương), Trung tâm cứu hộ Rùa, Cầy Vằn (VQG Cúc Phương), TTCH ĐVHD (VQG Pù Mát), TTCH ĐVHD Củ Chi (Sài Gòn), TTCH ĐVHD VQG Phong Nha – Kẻ Bảng (Quảng Bình), Trung tâm cứu hộ Gấu (VQG Tam Đảo), Trung tâm cứu hộ, bảo tồn phát triển sinh vật Hoàng Liên, TTCH ĐVHD trường Đại học Lâm nghiệp…
Trong các trung tâm cứu hộ, chỉ những trung tâm nào có sự hỗ trợ về kỹ thuật, tài chính của các tổ chức bảo tồn quốc tế mới hoạt động hiệu quả, đáp ứng vấn đề quyền lợi động vật và bảo vệ môi trường Nhìn chung, các TTCH ĐVHD hiện nay số lượng còn quá ít, phân bố không hợp lý, cơ sở vật chất, nhân lực còn rất hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu bảo tồn, đặc biệt với các trung tâm vận hành bằng nguồn vốn ngân sách
Ngoài ra, theo tài liệu của CITES Việt Nam, hiện nay toàn quốc có trên 4.000 cơ sở chăn nuôi (bao gồm nuôi tăng trưởng, nuôi sinh sản/nhân nuôi) được CITES Việt Nam cấp giấy phép, có quy mô vừa và nhỏ (chủ yếu là tư nhân), đang nhân nuôi 1.996.500 cá thể động vật thuộc 4 lớp thú, chim, bò sát
và lưỡng cư (Chi cục Kiểm lâm, 2013) Tuy nhiên hầu hết các cơ sở chăn nuôi trên đều xuất phát từ mục đích thương mại, hoạt động chăn nuôi chưa thực sự kết hợp với mục đích bảo tồn (Chi cục Kiểm lâm, 2008)
Các quy phạm pháp luật quy định về các điều kiện tối thiểu phải đáp ứng đối với các cơ sở nhân nuôi, bảo tồn động vật hoang dã như quy cách chuồng trại, nội quy an toàn, vệ sinh môi trường, kiểm dịch động vật còn thiếu Điều này đã gây ra những khó khăn không nhỏ cho việc thẩm định, cấp phép và kiểm tra cơ sở gây nuôi động vật hoang dã Ngoài ra, quy trình nhân
Trang 21nuôi, cứu hộ động vật hoang dã còn chưa đầy đủ Các quy trình hiện mới chủ yếu được xây dựng phục vụ nhân nuôi thương mại (ví dụ rắn, trăn…) (Đỗ Quang Huy et al., 2005; Phạm Nhật và Nguyễn Xuân Đặng, 2005)
1.2.3 Hoạt động cứu hộ Linh trưởng ở Việt Nam
Trung tâm cứu hộ Linh Trưởng nguy cấp (EPRC) Cúc Phương được xây dựng từ đầu năm 1994 Sự ra đời EPRC đã trải qua nhiều chặng đường khó khăn với cơ sở ban đầu là khu chuồng nuôi 2 cá thể Voọc mông trắng và Voọc hà tĩnh tịch thu được
Cho tới nay Trung tâm đang cứu hộ và nuôi dưỡng khoảng 160 cá thể của 15 loài và phân loài sinh trưởng và phát triển tốt, trong đó có 6 loài duy nhất được chăm giữ mà không nơi nào trên thế giới cứu hộ và nuôi nhốt các
loài này, đó là: Voọc mông trắng (Trachypithecus delacouri), Voọc hà tĩnh (Trachypithecus laotum hatinhensis), Voọc đen tuyền (Trachypithecus laotum
ebenus), Voọc lào (Trachypithecus laotum laotum), Voọc cát bà
(Trachypithecus poliocephalus), Chà vá chân xám (Pygathrix cinerea)
Có 9 loài thú Linh Trưởng đã cho sinh sản thành công, trong đó có 3 loài lần đầu tiên được sinh sản trong điều kiện nuôi nhốt ở trên thế giới đó là:
Voọc mông trắng, Voọc hà tĩnh, Chà vá chân xám (Nadler 1996) Tỷ lệ sinh
sản của các loài này rất cao, với 5 cá thể Voọc mông trắng đến từ tự nhiên đã cho sinh sản được 5 cá thể và 10 cá thể Voọc Hà tĩnh đã cho sinh sản 16 cá thể tại đây Trung tâm là cơ sở duy nhất trên thế giới đang cứu hộ và chăm sóc trong điều kiện nuôi nhốt cho 3 loài Linh Trưởng trong nhóm Ngũ sắc là Voọc Chà vá chân nâu, Voọc chà vá chân xám và Voọc chà vá chân đen, với tổng số 28 cá thể của 3 loài này
Bên cạnh nhiệm vụ cứu hộ, Trung tâm còn tiến hành một số nội dung rất quan trọng khác như chương trình tái thả động vật vào trong tự nhiên Năm
2007 đã tiến hành thả 8 cá thể Voọc hà tĩnh vào khu bán hoang dã của VQG Phong Nha Kẻ Bàng, bước đầu đã đạt được những thành công như việc tìm kiếm thức ăn, tập tính sinh hoạt và mức độ sử dụng môi trường, không gian sống
Trang 22Ngày 12/7/2008, Vườn Quốc gia Cát Tiên đã phối hợp với Trung tâm cứu hộ linh trưởng Monkey World (Anh), Trung tâm cứu hộ các loài động vật hoang dã đang nguy cấp Ping tung (Đài Loan) đồng tổ chức lễ khánh thành Trung tâm cứu hộ linh trưởng ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
Vườn Quốc gia Cát Tiên là khu rừng thấp, có tính đa dạng sinh học cao, đang được bảo vệ tốt và là vùng phân bố của nhiều loài linh trưởng quý hiếm Đây là những điều kiện thuận lợi giúp cho các nhà tài trợ đầu tư xây dựng dự
án Năm 2003 xây dựng dự án Năm 2005, Dự án được Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn phê duyệt Tháng 11/2007, Trung tâm được khởi công xây dựng Tổng kinh phí dự án tài trợ khoảng 500 ngàn USD Thời gian dự án hoạt động là 3 năm, 2008 – 2011
Mục tiêu của dự án là nhằm cứu hộ các loài linh trưởng quý hiếm đang
bị nuôi nhốt, vận chuyển hoặc buôn bán bất hợp pháp thuộc các tỉnh phía nam
do các cơ quan chức năng chuyển đến Trung tâm làm nhiệm vụ chăm sóc, nuôi dưỡng và chữa bệnh cho các loài linh trưởng trước khi thả lại chúng vào rừng Dự án được thiết kế đảm bảo theo nguyên tắc: 1) nghiên cứu, giám sát vượn trong điều kiện hoang dã; 2) nghiên cứu vượn trong điều kiện nuôi nhốt tại trung tâm; 3) chăm sóc, chữa bệnh, phục hồi bản năng tự nhiên; 4) thả chúng về điều kiện tự nhiên; 5) giáo dục cộng đồng về bảo vệ các loài linh trưởng
Trung tâm xây dựng trên phạm vi khoảng 3 ha với quy mô 10 chuồng trên Đảo Tiên Đảo Tiên rộng 58 ha nằm độc lập trên sông Đồng Nai, gần trụ
sở Vườn Quốc gia Cát Tiên, đây là địa điểm có nhiều thuận lợi để cứu hộ các loài linh trưởng Xung quanh Trung tâm là rừng tái sinh, chủ yếu là bằng lăng
(Lagerstroemia spp.), các loài sung (Ficus spp.), lànhững loài thức ăn quan
trọng của các các loài vượn ở Vườn Quốc gia Cát Tiên
Các loài linh trưởng được cứu hộ tại trung tâm là những loài bản địa
đang bị đe dọa cao như vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae), Voọc vá chân đen (Pygathrix nigripes), Voọc bạc (Trachypithecus cristatus) và Cu li
Trang 23nhỏ (Nycticebus pygmaeus) Hiện nay trung tâm đang cứu hộ 5 cá thể vượn đen má vàng (Nomascus gabriellae) đầu tiên do Chi cục kiểm lâm tỉnh Đồng
Nai chuyển đến
Trung tâm cứu hộ động vật hoang dã đang nguy cấp của Vườn Quốc gia Cát Tiên trực thuộc Vườn Quốc gia Cát Tiên, chịu trách nhiệm chính trong việc điều hành và hợp tác với các chuyên gia Hiện nay Trung tâm Monkey World đã cử 2 chuyên gia người nước ngoài đến làm việc; Trung tâm Pingtung cũng cử các bác sỹ thú y, cung cấp nhiều loài thuốc đặc trị cùng phối hợp với Vườn Quốc gia Cát Tiên
Trang 24Chương 2 MỤC TIÊU – Ố ƯỢNG – PH M VI – NỘI DUNG VÀ
ƯƠ Á NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Xây dựng và bổ sung một số cơ sở dữ liệu về kỹ thuật bảo tồn ngoại vi
loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus) phục vụ công tác cứu hộ, bảo tồn
và phát triển loài Linh trưởng quý hiếm này tại Việt Nam
2.2 ối tượng nghiên cứu
Loài Chà vá chân nâu (Pygathrix nemaeus Linnaeus, 1771) hiện đang
được cứu hộ tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp Vườn Quốc gia Cúc Phương
2.3 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về đối tượng: Đề tài tiến hành thu thập dữ liệu trên tổng số 14
cá thể Chà vá chân nâu đang được cứu hộ tại Trung tâm, trong đó có 05 cá thể đực và 09 cá thể cái
- Phạm vi về địa điểm: Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, VQG Cúc Phương
Trang 25- Phạm vi về thời gian: Đề tài được thực hiện trong thười gian từ tháng 06/2019 đến tháng 09/2019 (bao gồm cả hoạt đọng xây dựng đề cương và viết báo cáo kết quả nghiên cứu)
2.4 Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu các nội dung chính sau:
(1) – Hiện trạng các cá thể Chà vá chân nâu đang được nuôi nhốt tại Trung tâm cứu hộ Linh trưởng nguy cấp, Vườn Quốc gia Cúc Phương
(2) – Đặc điểm thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm
(3) – Một số kỹ thuật xây dựng chuồng trại, các biện pháp làm giàu môi trường sống, khả năng tái thả loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
(4) – Đặc điểm một số loại bệnh thường gặp và công tác thú y cho Chà
vá chân nâu tại Trung tâm
(5) – Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo tồn ngoại vi loài Chà vá chân nâu tại Trung tâm
2.5 hương pháp nghiên cứu
2.5.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Loài Chà vá chân nâu được cứu hộ và nuôi dưỡng tại Trung tâm Cứu hộ Linh trưởng nguy cấp (CHLTNC), Vườn Quốc gia (VQG) Cúc Phương từ năm 1998 nên có nhiều tài liệu ghi chép quan trọng được lưu giữ về thành phần các loại thức ăn, khẩu phần ăn, cách chế biến, bảo quản thức ăn, và đặc điểm sinh sản Các thông tin này được kế thừa phục vụ các nội dung nghiên cứu của đề tài Tuy nhiên, các thông tin này được kiểm chứng thông qua hoạt động quan sát và theo dõi ngoài thực địa
Bên cạnh đó, các tài liệu liên quan đến thú linh trưởng, loài Chà vá chân nâu và tình trạng của loài được chọn lọc phục vụ xây dựng tổng quan của đề tài Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội được kế thừa trong chương 3
2.5.2 Phương pháp phỏng vấn
Ngoài những thông tin kế thừa, việc phỏng vấn cán bộ quản lý và nhân viên chăm sóc Chà vá chân nâu về thành phần thức ăn, khẩu phần ăn, kỹ thuật
Trang 26chế biến và bảo quản thức ăn, phương thức cho ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, khả năng sinh sản của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt là cần thiết để có những thông tin cập nhật, bổ sung Bên cạnh đó, việc bố trí thí nghiệm cũng cần được sự đồng ý và cho phép của Trung tâm
Các câu hỏi phỏng vấn được thiết kế theo dạng câu hỏi định hướng và bán định hướng với nội dung liên quan đến thành phần thức ăn, khẩu phần ăn,
kỹ thuật chế biến và bảo quản thức ăn, phương thức cho ăn, kỹ thuật xây dựng chuồng trại, khả năng sinh sản của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm Phỏng vấn cán bộ nuôi dưỡng về sự luân phiên chủng loại thức ăn theo tuần hoặc tháng, sự biến đổi chủng loại thức ăn theo mùa Ngoài
ra, các thông tin liên quan đến thành tích cứu hộ, tái thả, cho sinh sản Chà vá chân nâu, nguồn kinh phí, những khó khăn và thuận lợi trong quá trình cứu hộ
và tái thả Chà vá chân nâu cũng được thu thập để làm cơ sở đề xuất giải pháp của đề tài
Các thông tin về câu hỏi phỏng vấn và trình tự các câu hỏi phỏng vấn được trình bày chi tiết trong Phụ lục 01
2.5.3 Thu thập số liệu tại hiện trường
2.5.3.1 Xác định thành phần thức ăn và chế độ dinh dưỡng của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt
a) Xác định thành phần thức ăn, cách chế biến và bảo quản thức ăn
Chà vá chân nâu là loài thú quý hiếm và được chăm sóc lâu năm tại Trung tâm nên các nhân viên chăm sóc không cho bố trí thí nghiệm các loại vật liệu mới làm thức ăn cho chúng Do đó, thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu được xác định thông qua việc ghi chép tên các loài thực vật được các nhân viên chăm sóc chuẩn bị và cho ăn hàng ngày Các bộ phận thực vật được sử dụng làm thức ăn cho Chà vá chân nâu và cách chế biến các loại thức
ăn (vệ sinh thức ăn, bó là, trộn, thái thức ăn…) cũng được ghi chép trong quá trình theo dõi Các bộ phận là thức ăn của Chà vá chân nâu được phân loại theo Davies (1984) như bảng 2.1
Trang 27Bảng 2.1 Bộ phận thức ăn được sử dụng của Chà vá chân nâu (Davies, 1984)
Lá bánh tẻ Các loại lá đã phát triển đầy đủ
Lá non
Phân biệt với các lá trưởng thành bởi ít nhất 2 đặc điểm như sau: Kích thước nhỏ hơn, màu nhạt hơn/đỏ hơn, chưa duỗi thẳng…
Cuống lá Phần liên kết giữa cuống lá và cành cây
Hoa và nụ non Mô sinh sản; đài hoa (calyx), tràng hoa (corolla), …
Hạt Chỉ gồm hạt hoặc hạt và áo hạt
Quả chín
Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả
vỏ quả xo (fibrous pericarp); có màu vàng, đỏ… và vỏ quả mọng hoặc mềm
Quả xanh Lá noãn (carpel) và các mô bao quanh lá noãn bao gồm cả
vỏ quả xơ (fibrous); có màu xanh, nhạt… và vỏ quả cứng Danh sách các loại thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương được tổng hợp từ số loài thực vật được ghi nhận trong quá trình khảo sát thực tế và từ các nguồn thông tin kế thừa tài liệu, phỏng vấn cán bộ, nhân viên và được tổng hợp vào bảng 2.2
Bảng 2.2 Thành phần thức ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
STT Tên phổ thông Tên khoa học Bộ phận sử dụng Ghi chú
Các loại thức ăn cho Chà vá chân nâu ăn thường là thức ăn thô xanh nên
ít qua bảo quản trong thời gian dài mà thường bảo quản trong ngày hoặc một
Trang 28đến hai ngày Do đó, phương thức bảo quản và cách chế biến thức ăn của loài được ghi chép vào sổ tay ngoại nghiệp các hoạt động chăm sóc của nhân viên Trung tâm
b) Xác định khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt
Khẩu phẩn ăn là hỗn hợp thức ăn thỏa mãn nhu cầu các chất dinh dưỡng của con vật trong một ngày đêm hoặc là lượng thức ăn cần thiết để duy trì sự sống, sự sinh trưởng và phát triển của con vật Đối với loài Chà vá chân nâu được nuôi dưỡng trong thời gian dài và có chế độ cho ăn ổn định Mặc dù hàng ngày, nhân viên tại Trung tâm cho Chà vá chân nâu ăn lượng thức ăn cố định nhưng không phải toàn bộ thức ăn đưa vào chuồng nuôi đều được ăn hết
do Chà vá chân nâu chỉ ăn một phần thức ăn như các chồi, lá non Do vậy, việc xác định khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu căn cứ vào mức độ chênh lệch về khối lượng giữa thức ăn đưa vào và thức ăn dư thừa hàng ngày
Trong nghiên cứu này, khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương được thử nghiệm trên 7 cá thể ở các độ tuổi 1 – 10 – 11 – 17 – 21 ở chuồng số 12A
Thức ăn chuẩn bị cung cấp cho Chà vá chân nâu được xác định thành phần loài và cân khối lượng thức ăn trước khi đưa vào chuồng nuôi Sau khi nhân viên dọn dẹp chuồng, tiến hành thu lại toàn bộ lượng thức ăn dư thừa (bó lá + rơi vãi dưới đất) và cân khối lượng Khẩu phần ăn hàng ngày của Chà
vá chân nâu được xác định bằng công thức sau:
( ) ( )
Trong đó: L: Lượng thức ăn tiêu thụ mỗi ngày
C: Lượng thức ăn đưa vào T: Lượng thức ăn dư thừa cuối ngày Trong quá trình thử nghiệm xác định loại thức ăn bị suy giảm nhiều nhất
và loại thức ăn mà Chà vá chân nâu ăn trước tiên để xây dựng danh sách các loại thức ăn ưa thích Số liệu nghiên cứu được ghi chép vào bảng 3.3
Bảng 2.3 Kết quả thử nghiệm khẩu phần ăn của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
Trang 29ưa vào (g)
Còn lại (g)
ượng tiêu thụ (g)
Ghi chú
Tổng
c) Xác định thức ăn ưa thích của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt
Các loại thức ăn ửa thích của Chà vá chân nâu được xác định căn cứ vào loại thức ăn mà chúng ăn trước tiên và loại thức ăn có khối lượng tiêu thụ nhiều nhất Kết quả tính toán và theo dõi các loại thức ăn ưa thích của Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt được đánh giá theo 03 mức độ rất ưa thích,
ưa thích, bình thường và được tổng hợp vào bảng 2.4
Bảng 2.4: Thành phần thức ăn ưa thích của loài Chà vá chân nâu trong điều kiện nuôi nhốt tại rung tâm C C, VQ Cúc hương
2.5.3.2 Xác định kỹ thuật xây dựng chuồng trại nuôi nhốt Chà vá chân nâu
Các chuồng nuôi Chà vá chân nâu tại Trung tâm CHLTNC, VQG Cúc Phương hiện tại có dạng hình chữ nhật và được đo kích thước theo các chiều: dài, rộng và cao Ngoài ra, kiểu chuồng nuôi, vật liệu xây dựng chuồng trại,