- Khảo sát hiện trạng sử dụng các loại sản phẩm bàn ghế ngoài trời: tổng hợp phân tích những đặc điểm của hiện trạng, điều đạt được và chưa đạt được của vấn đề để đưa ra giải pháp thiết
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lời mở đầu:
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền kinh tế, đời sống của con người ngày càng được nâng cao cả về mặt vật chất lẫn tinh thần Cuộc sống bận rộn và nhiều áp lực sẽ khiến cho tinh thần của chúng ta cảm thấy mệt mỏi hơn sau những khoảng thời gian làm việc vì vậy một không gian thoáng đãng với những bộ bàn ghế và những phút giây hạnh phúc bên người thân sẽ làm cho tinh thần của con người cảm thấy sảng khoái hơn để chuẩn bị cho những ngày làm việc tiếp theo
Từ xa xưa đến nay đồ mộc là một trong những yếu tố gắn liền với đời sống của con người vì rõ ràng trên thực tế con người cần nghỉ ngơi, làm việc
và sinh hoạt gắn liền với đồ mộc như giường để ngủ, tủ để cất đựng, ghế để ngồi…Nhu cầu về đồ mộc ngày càng lớn và đồ mộc có chất lượng cao kiểu dáng đẹp đang ngày càng được nhiều người quan tâm Để phù hợp với sự phát triển của xã hội, phù hợp với nhận thức và nhu cầu của con người thì đã
có nhiều sản phẩm được ra đời, sản phẩm rất phong phú đa dạng về chức năng,cấu tạo, chất liệu, kiểu dáng…và đã đạt được những thành tựu nhất định Có nhiều mẫu mà sản phẩm mộc được tạo ra với chất lượng tốt, có tác dụng và có ý nghĩa lớn đối với cuộc sống hiện tại của con người Các sản phẩm mộc cần sưu tập và tổng hợp lại, nhằm tạo nền tảng cho việc phát triển nâng cao chất lượng
2 Lý do chọn đề tài:
Nhu cầu mua đất rộng ở ngoại ô để xây dựng nhà vườn đang khá phổ biến nhất là ở các thành phố lớn và mục tiêu là để họ tìm cho mình những khoảng không gian rất thơ mộng và trong lành để làm giảm đi những áp lực
và stress sau những thời gian làm việc căng thẳng Nhà, vườn rộng, sân rộng
Trang 2Và vì thế, không thể thiếu một bộ bàn ghế đặt ngoài trời để cả gia đình và người thân có thể xum họp quây quần bên nhau để tận hưởng không gian sống đầy trong lành và lãng mạn này
Nắm bắt được nhu cầu này đã có rất nhiều ý tưởng thiết kế được đưa ra
để đáp ứng được thị hiếu của người tiêu dùng và đã có rất nhiều sản phẩm đã thành công với nhiều kiểu dáng và chất lượng thoả mãn phù hợp với túi tiền của người sử dụng
Việc thu thập những loại hình sản phẩm được xã hội chấp nhận có ý nghĩa về mặt phát triển (tạo điều kiện để phát huy những kiểu dáng đẹp) Trong số các loại hình sản phẩm mộc đa dạng và phong phú sản phẩm bàn ghế nói chung và sản phẩm bàn ghế ngoài trời nói riêng rất có ý nghĩa cho hiện tại Trước tiên là nó có công dụng là ngồi để vui chơi,nghỉ ngơi thư giãn và ăn uống, tạo ra tinh thần thoải mái Thống kê mẫu mã đẹp, tạo cho con người có cơ sở để chọn kiểu dáng ngoại thất cho riêng mình cũng như lựa chọn sản để phát triển và chế tạo
Từ những vấn đề đã nêu ở trên, được sự đồng ý của khoa chế biến lâm sản, bộ môn công nghệ xẻ mộc, cùng với sự hướng dẫn nhiệt tình của GS
HS Lê Thanh tôi đã tiến hành thực hiện đề tài: “ Thiết kế bộ bàn ghế sử dụng trong không gian ngoại thất cho nhà ở ”
Trang 3CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG 1.1 Mục tiêu của đề tài:
Sản phẩm tạo ra phải đảm bảo về mặt kinh tế cũng như sự phù hợp của công nghệ chế tạo gia công sản phẩm Tạo ra được một sản phẩm bền đẹp và
rẻ tiền đó là những mong ước của người sử dụng
1.1.2 Mục tiêu cụ thể:
- Tổng hợp và phân tích đặc điểm của đối tượng sử dụng
- Tổng hợp và phân tích đặc điểm của không gian ngoại thất
- Đưa ra các phương án bố trí thiết kế hợp lý nhất cho không gian ngoại thất
- Đưa ra được mẫu bàn ghế sao cho phù hợp nhất với mục đích và đối tượng
sử dụng, đảm bảo tính vững chắc và hiệu quả kinh tế cũng như yếu tố thẩm
mỹ của sản phẩm
- Lập sơ đồ thiết kế cho sản phẩm bàn và ghế có trong ý tưởng thiết kế
1.2 Nội dung nghiên cứu:
- Điều tra khảo sát tình hình sử dụng các không gian ngoại thất đã có sẵn trong các cửa hàng và trên các phương tiện thông tin đại chúng để làm tài
Trang 4liệu tham khảo trong quá trình thiết kế cho sản phẩm của mình được hoàn thiện hơn
- Đánh giá chức năng hoạt động của không gian ngoại thất và ảnh hưởng của
nó tới sản phẩm mà mình thiết kế và tác động của nó tới người sử dụng
- Xây dựng hệ thống các bản vẽ của phương án thiết kế:
+ Các bản vẽ thể hiện các kết cấu và bóc tách các chi tiết, lắp ráp
+ Các bản vẽ phối cảnh trong không gian ngoại thất
- Thiết kế sản phẩm theo mô hình đã chọn
1.3 Phạm vi nghiên cứu:
- Điều tra khảo sát việc bố trí không gian ngoại thất
- Thiết kế tập trung bộ bàn ghế có kiểu dáng phù hợp với không gian ngoại thất, và phù hợp với người sử dụng
1.4 Phương pháp nghiên cứu:
1.4.1 Phương pháp tham khảo tài liệu:
- Tài liệu về thiết kế nội thất
- Các thông số về kĩ thuật giành cho thiết kế nội thất (ergonomics)
- Tài liệu về vật liệu trong thiết kế nội ngoại thất
- Các nguồn tài liệu khác từ trường đại học Lâm Nghiệp và các tài liệu tham khảo khác
- Nhận xét của các chuyên gia liên quan đến thiết kế và các lời khuyên từ bạn bè đồng nghiệp
Trang 5- Khảo sát hiện trạng sử dụng các loại sản phẩm bàn ghế ngoài trời: tổng hợp phân tích những đặc điểm của hiện trạng, điều đạt được và chưa đạt được của vấn đề để đưa ra giải pháp thiết kế sản phẩm một cách tối ưu nhất
1.4.3 Phương pháp tư duy lôgic:
Tổng hợp các kiến thức đã có, các tài liệu sưu tầm trong quá trình thiết
kế, kết hợp với tư duy sáng tạo của bản thân để đưa ra các phương án thiết
kế sao cho phù hợp nhất với yêu cầu thực tế
1.4.4 Phương pháp đồ hoạ vi tính:
Là phương pháp thiết kế hợp ý tưởng và thể hiện ý đồ thiết kế một cách chính xác và chân thực nhất thông qua các phần mềm đồ hoạ tiên tiến, hiện đại nhất sử dụng cho các mục tiêu thiết kế như: autocad, 3Dsmax, photoshop
Trang 6CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ sở lý thuyết:
Cùng với sự phát triển của xã hội, đời sống của con người ngày càng được nâng cao Khi điều kiện sống trở nên đầy đủ thì nhu cầu về tinh thần và nhu cầu khẳng định của cá thể cũng đòi hỏi thoả mãn Do đó cần phải có một cái gì đó thật đặc biệt và cũng thật giản dị dân dã để đáp ứng được nhu cầu đó
Một không gian thật thoáng đãng và thật xa xăm giản dị sẽ gợi lên cho bạn một cảm giác không thể nào diễn tả được bởi vì ở đó con người cảm thấy tinh thần của mình như đang bay bổng vào trong không trung và rũ bỏ được mọi vướng mắc nặng nhọc gặp phải trong cuộc sống Trong không gian đó không thể thiếu đi những bộ bàn ghế với chất liệu thật gần gũi với đời sống thường ngày, ở đó bạn và những người thân sẽ có những giây phút hạnh phúc và cùng nhau thưởng thức những tinh tú nhất của không gian sống
Khi đánh giá sự thành công của một công trình thiết kế nội ngoại thất, tiêu chuẩn đầu tiên để đảm bảo sự thành công đó là công năng, tiếp đến mới
là yêu cầu về thẩm mỹ và tính kinh tế của nó Trong đó công năng là yếu tố
cơ bản, quan trọng nhất Căn cứ vào công năng chính của sản phẩm mà nguyên tắc chủ yếu để thiết kế sẽ có một số mặt như sau:
2.1.1 Nguyên lý thiết kế:
Tỷ lệ: tỷ lệ cho biết mối quan hệ của một phần này với một phần kia, một
phần với toàn phần, hay giữa vật này với vật khác Mối quan hệ này có thể là kích thước, số lượng, mức độ màu sắc…
Trang 7Với nguyên tắc này thì kích thước của một vật sẽ bị ảnh hưởng bởi kích thước tương đối của các vật khác xung quanh nó
Tỷ lệ xích: Nguyên lý thiết kế tỉ lệ xích là sự liên quan của tỷ lệ giữa các bộ
phận cho cân đối Tỷ lệ và tỷ lệ xích đều có quan hệ tới kích thước của mọi vật nếu có một sự khác biệt nào đó thì sự tương quan sẽ gắn liền với mối liên
hệ với các bộ phận của bố cục
Chính do đặc điểm này mà nếu vật thể nào đó có một mối quan hệ tỷ xích bình thường trật tự nhưng lại có một tỷ xích khác thường khi được so sánh với các vật thể khác Những yếu tố có tỷ xích bất thường có thể dùng để thu hút sự chú ý, nhấn mạnh một trọng điểm
Cân bằng: không gian nội ngoại thất và các yếu tố bao quanh nó như đồ
đạc,đèn ánh sáng và các trang trí khác thường bao gồm một tổng thể, hình thể, kích thước, màu sắc và chất liệu Những yếu tố này được nhận biết như thế nào là do sự đáp ứng của đồ đạc để đạt được nhu cầu về thẩm mỹ Lúc này những yếu tố có thể thu xếp để đạt được sự cân bằng về thị giác, một trạng thái cân bằng giữa thị giác được tạo bởi các thành phần
Có ba kiểu cân bằng: đối xứng trục, đối xứng xuyên tâm, không đối xứng Cân bằng đối xứng là kết quả của việc sắp xếp các yếu tố chuẩn, sự tương xứng trong hình dáng, kích thước và vị trí liên quan bởi một điểm, một đường hay một trục Cân bằng đối xứng là kết quả của sự phối hợp hài hoà, tĩnh lặng và sự thăng bằng ổn định luôn rõ ràng
Cân bằng xuyên tâm là kết quả của việc tổ chức các yếu tố xung quanh điểm trung tâm Các yếu tố có thể hội tụ vào trung tâm, hướng ra ngoài từ trung tâm hoặc đơn giản là xếp vào yếu tố trung tâm
Không đối xứng được công nhận là sự thiếu tương xứng về kích cỡ, hình dáng, màu sắc hay mối liên hệ của các yếu tố trong một bố cục Cân bằng
Trang 8năng động hơn Nó có sức chuyển động mạnh, thay đổi,thậm chí hoa mỹ, ngoài ra nó linh hoạt hơn đối xứng và được áp dụng nhiều hơn trong trường hợp thường thay đổi chức năng không gian và hoàn cảnh
Sự hài hoà: là sự phù hợp hay sự hài lòng về các thành phần trong một bố
cục Trong khi sự cân bằng đạt được cái thống nhất thông qua sự sắp xếp cẩn thận giữa các yếu tố giống nhau thì nguyên lý hài hoà đòi hỏi sự chọn lọc kĩ lưỡng các yếu tố, chia những nét riêng hay những đặc tính chung như hình dáng, màu sắc, chất liệu hay vật liệu Nó lặp lại ở một điểm chung là tạo sự thống nhất và hài hoà thị giác giữa các yếu tố trong không gian nội ngoại thất
Tuy nhiên sự hài hoà, khi sử dụng quá nhiều yếu tố có đặc điểm giống nhau
có thể dẫn đến bố cục không linh hoạt Sự đa dạng trong trường hợp khác khi lạm dụng nó dễ làm hỗn loạn thị giác
Tính thống nhất và đa dạng: một trong những điều quan trọng mà chúng ta
phải chú ý là những nguyên lý của sự cân bằng và hài hoà Khi đưa chúng lên thành một thể thống nhất thì đa dạng về hình dáng, màu sắc và chất liệu tạo nên những đặc điểm riêng
Ví dụ như sự thiếu đối xứng tạo ra sự cân bằng giữa các yếu tố khác nhau về kích thước, hình thù, màu sắc và chất liệu Như vậy những yếu tố tương tự cũng có sự đa dạng trong cái thống nhất
Nhịp điệu: nguyên lý thiết kế nhịp điệu là dựa vào sự lặp lại của các yếu tố
không gian và thời gian Sự lặp lại này không chỉ tạo nên sự thống nhất thị giác mà còn tạo nên sự chuyển động mang tính nhịp điệu mà mắt và tâm trí của người quan sát có thể theo hướng đó, bên trong một bố cục hoặc xung quanh không gian
Hiệu quả của nhịp điệu có thể làm duyên dáng, truyền cảm, dứt khoát và đột
Trang 9sắc, chất liệu thì có thể tạo thành sự phong phú thị giác có thể dẫn tới những mức độ đa dạng khác nhau
Sự nhấn mạnh:nguyên lý của sự nổi bật thừa nhận cùng tồn tại của điểm
nhấn và phụ thuộc vào các yếu tố trong việc sắp đặt của người thiết kế
Điểm nhấn đem lại sự phá cách, nét độc đáo cho không gian, tuy nhiên nếu
có quá nhiều điểm nhấn sẽ làm hỗn loạn và làm giảm đi giá trị của không gian thiết kế
Như chúng ta đã biết màu sắc của sản phẩm phụ thuộc vào ánh sáng chiếu vào nó Song cho dù ánh sáng nhân tạo có phát triển đến đâu đi chăng nữa thì cũng đều hướng tới sự trân thực, gần gũi với màu sắc của thiên nhiên, vì vậy mọi sản phẩm phải có những màu sắc sao cho phù hợp hoà đồng với mọi vật xung quanh nó Một số trường hợp đặc biệt màu sắc được làm nổi bật phong cách cá nhân người sử dụng
Mỗi màu sắc có thể tác động đến nhận thức về hình dáng kích thước, chất lượng của không gian nội ngoại thất Bên cạnh đó nó còn ảnh hưởng đến tâm lý của người sử dụng
Các màu ấm cường độ cao gây hiệu quả năng động và kích thích, trong khi màu lạnh cường độ thấp nên gây cảm giác dễ chịu và bớt căng thẳng hơn
Màu sáng chói và sự tương phản hấp dẫn sự chú ý của chúng ta, sắc độ xám
Trang 10nhận thức về hình dáng và kích thước Nhưng nếu chúng cũng tương tự trong sắc độ thì sự nhận định đó cũng chỉ là cảm tính
Khi sử dụng gam màu sáng, màu lạnh và màu trung tính có tác dụng đẩy
xa hoặc tăng khoảng cách
Theo chuyên gia tư vấn về phối màu Alain Chrisment: “Màu sắc chính là thông điệp đầu tiên của sản phẩm hướng đến người tiêu dùng và người tiêu dùng cũng sẽ cảm nhận điều này ngay lập tức”
Và theo John Williams chủ tịch kiêm sáng lập viên Logoyes.com để sử dụng màu sắc xây dựng thương hiệu cho sản phẩm thì cần quan tâm đến những vấn đề sau:
1 Các màu sắc có lôi cuốn các những khách hàng mục tiêu của mình?
2 Màu sắc chủ đạo của mình có riêng biệt?
3 Màu sắc mang ý nghĩa hay truyền tải thông điệp gì?
Màu sắc của bàn ghế cũng là vấn đề được quan tâm, vì ngoài những màu sắc cổ điển ở những bộ bàn ghế giả cổ là màu nâu cánh kiến tạo nên vẻ đẹp sang trọng cổ kính mang dáng vẻ thời gian tạo nên cảm giác ấm cúng, ngoài
ra ta cũng cần nhiều màu sắc cho những bộ bàn ghế mang phong cách hiện đại, trẻ trung, năng động như: trắng, xanh, đỏ, cam…chúng được kết hợp rất khéo léo tạo nên ấn tượng mới mang phong cách hiện đại Ngoài sự kết hợp một cách tài tình giữa các loại màu sắc còn cho ta một sản phẩm vừa cổ điển vừa hiện đại, khát vọng về tương lai nhưng vẫn hoài niệm về quá khứ
2.1.3 Sản phẩm mộc
2.1.3.1 Tạo dáng sản phẩm mộc:
Tạo dáng sản phẩm là một trong những công đoạn đặc biệt quan trọng trong quá trình thiết kế sản phẩm Giá trị của mỗi sản phẩm không chỉ được đánh giá qua độ bền, chức năng, mà nó còn phải có chất lượng thẩm mỹ Đối
Trang 11với sản phẩm bàn ghế phải thiết kế sao cho việc ngồi được thoải mái với tư thế cần thiết
Mỗi một sản phẩm có chất lượng tốt nghĩa là sản phẩm đó không có khiếm khuyết về mặt kĩ thuật, bên cạnh đó nó còn phải được tạo dáng một cách hài hoà có thẩm mỹ Chất lượng của sản phẩm mộc là tổng hợp mọi tính chất khách quan xác định khả năng sử dụng và giá trị thẩm mỹ của nó
Vì vậy để đánh giá chất lượng sản phẩm mộc trước hết phải xem xét chỉ tiêu
kĩ thuật của nó và ước lượng đánh giá về mặt tạo dáng có đẹp và thích dụng hay không
Tuỳ theo từng điều kiện bối cảnh lịch sử mà hai yếu tố độ bền và tính thẩm mỹ được coi trọng ở mức độ khác nhau Trước đây có những giai đoạn thì độ bền của sản phẩm được đặt lên hàng đầu theo quan niệm “ăn chắc mặc bền” nên yếu tố thẩm mỹ bị coi nhẹ Ngày nay, với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ sản xuất, hiện đại hơn, chính xác hơn, nguồn nguyên liệu đa dạng hơn thì vấn đề về thẩm mỹ của sản phẩm lại là yếu tố quyết định đến giá trị của sản phẩm vì vậy quan niệm “ăn chắc mặc bền” không còn phù hợp với thời cuộc và nó đã bị thay thế bởi quan niệm mới đó là “ăn ngon mặc đẹp” Ví dụ như cùng một loại hình sản phẩm, cùng một loại nguyên liệu nhưng sản phẩm nào có hình thức mẫu mã đẹp hơn, gây ấn tượng mạnh hơn, thì giá trị của nó sẽ cao hơn các sản phẩm khác
Cụ thể trong thiết kế tạo dáng, người thiết kế sẽ phác ra những đường nét hình khối mà họ đã nghiên cứu công phu từ những tiêu chí, tiêu chuẩn, công năng sử dụng, để tạo ra cái mới hay hơn, phù hợp hơn Tuy nhiên sự hình thành thiết kế tạo dáng phải luôn luôn nghĩ tới họ đang thiết kế cái gì? Chức năng chính để làm gì, chức năng phụ để làm gì?
Trang 12Mỗi một sản phẩm mộc được tạo nên theo một hình dạng kết cấu và kích thước xác định Vì vậy khi thiết kế tạo dáng cho sản phẩm mộc cần chú ý đến việc vận dụng các nguyên lý cơ bản sau:
- Các kích thước cần thiết cho nhu cầu sử dụng: trong đó các kích thước của người là cơ sở chính cho việc xác định kích thước sản phẩm
- Sử dụng nguyên liệu hợp lý sẽ làm tăng giá trị sử dụng cũng như giá trị kinh tế của sản phẩm
- Sự phân chia các phần trên bề mặt gây nên được cảm giác về sự cân bằng
- Sự hài hoà về màu sắc hay tương phản hợp lý sẽ làm tăng vẻ thẩm mỹ của sản phẩm
- Chú ý đến tỷ lệ của các sản phẩm
- Các yếu tố xung quanh môi trường sử dụng ảnh hưởng đến cảm giác của con người
Kích thước cơ bản của sản phẩm: với một bộ bàn ghế thì kích thước đáng
quan tâm là chiều cao, chiều sâu và rộng mặt ngồi, chiều cao lưng tựa… nếu các kích thước cơ bản này không phù hợp yêu cầu sử dụng cũng như trạng thái sử dụng của con người thì nó sẽ gây nên những khó khăn cho người sử dụng chúng
Sử dụng nguyên liệu hợp lý: trong quá trình thiết kế sản phẩm mộc, nếu
biết sử dụng nguyên vật liệu hợp lý thì có thể vừa tiết kiệm được nguyên liệu vừa nâng cao được giá trị của sản phẩm Tuỳ thuộc vào từng vị trí hay chức năng của từng chi tiết mà người thiết kế chọn ra những nguyên liệu phù hợp với chi tiết hay bộ phận đó Tuy nhiên, để nguyên liệu được sử dụng hợp lý thì trong mỗi chi tiết ta dùng những nguyên liệu có kích thước khác nhau cho sản phẩm Sử dụng hợp lý chính là ứng dụng những kích thước khác nhau của nguyên liệu vào trong sản phẩm
Trang 13Sự phân chia các phần trên bề mặt: sự phân chia các phần trên bề mặt bao
giờ cũng phải đảm bảo đến sự thích dung có sự hài hoà và cân đối Sự cân đối ở đây nói tới sự cân bằng về thị giác, có nghĩa là mắt người cảm nhận được sự cân bằng
Nguyên lý tỷ lệ: kích thước của một chi tiết này so với chi tiêt khác, độ lớn
của phần này so với phần khác…đều tạo cho con người về một cảm giác về
tỷ lệ Nếu tỷ lệ mà hợp lý thì ta có cảm giác hài hoà và ngược lại
Nguyên lý về cân bằng: cân bằng ở đây được hiểu là sự cân bằng về thị
giác, sự ổn định khi nhìn vào sản phẩm
Dưới đây là bảy nguyên tắc thiết kế đồ gia dụng cần tuân theo:
Tính thực dụng: là điều kiện quan trọng đầu tiên của thiết kế đồ gia dụng
Khi thiết kế trước tiên yêu cầu phải thoả mãn công dụng trực tiếp của nó, thích ứng yêu cầu riêng của người sử dụng Nếu đồ gia dụng không thoả mãn yêu cầu công năng vật chất cơ bản thì dù ngoại quan có đẹp nhất cũng không có ý nghĩa gì
Tính dễ chịu: là nhu cầu sinh hoạt chất lượng cao, nó thể hiện sự hiệu quả
của quá trình thiết kế
Muốn thiết kế ra đồ gia dụng dễ chịu thì phải phù hợp nguyên lý của ergonomics, và phải quan sát phân tích tỉ mỉ đời sống
Trang 14Tính an toàn: an toàn là yêu cầu cơ bản đảm bảo chất lượng của đồ gia
dụng, để đảm bảo an toàn thì cần có nhận thức đầy đủ về tính năng của vật liệu Ngoài việc đảm bảo sự vững chắc về kết cấu của sản phẩm, an toàn về lực học thì an toàn trên hình thái của nó cũng rất quan trọng, như khi trên bề mặt tồn tại vật nhọn sắc có khả năng gây thương tích cho người sử dụng, khi một chân bàn vượt ra khỏi mặt bàn có thể làm cho người vấp ngã Bên cạnh
đó còn phải có tính an toàn về cảm giác của người sử dụng
Tính nghệ thuật thẩm mỹ: là nhu cầu tinh thần của con người, hiệu quả
nghệ thuật thiết kế đồ gia dụng sẽ thông qua cảm quan của con người tạo ra hàng loạt phản ứng sinh lý, từ đó ảnh hưởng mạnh tới đời sống tâm lý của con người
Tính công nghệ: là nhu cầu của chế tác sản xuất, dưới tiền đề đảm bảo chất
lượng, nâng cao năng suất, giảm giá thành của sản phẩm, tất cả các chi tiết, cụm chi tiết đều cần thoả mãn yêu cầu gia công cơ giới hoặc sản xuất tự động
Hiện nay có người cho rằng sản phẩm thượng hạng phải là sản phẩm công nghệ thủ công Tuy nhiên sự sai lệch kích thước, tính thông dụng của sản phẩm, sản xuất với số lượng lớn thì sản phẩm thủ công hầu như không có cách nào đảm bảo tính nhất quán và tính ổn định của hàng loạt sản phẩm được
Tính kinh tế: ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực cạnh tranh trên thị trường
Đó là khâu sử dụng nguyên liệu hợp lý để sản xuất, phải tiết kiệm làm giảm tối đa giá thành sản xuất, tuy nhiên cần phải so sánh giá trị công năng Điều này yêu cầu người thiêt kế cần nắm vững phương pháp phân tích giá trị, một mặt phải tránh quá thừa công năng, mặt khác phải lấy con đường kinh tế nhất để thực hiện mục tiêu công năng theo yêu cầu
Trang 15Tính hệ thống: tính hệ thống của sản phẩm thể hiện ở hai mặt một là tính
đồng bộ, hai là hệ thống thay đổi linh hoạt của tiêu chuẩn hoá
Tính đồng bộ là chỉ đồ gia dụng không thể sử dụng độc lập mà là tính nhịp nhàng và tính bổ xung cho nhau khi sử dụng đồng bộ các đồ gia dụng khác
Hệ thống thay đổi linh hoạt tiêu chuẩn hoá nhằm vào sản xuất, tiêu thụ, nhu cầu xã hội và tính hiệu quả cao
2.1.4 Yếu tố con người trong thiết kế sản phẩm mộc:
Đồ gia dụng không chỉ cần thoả mãn yêu cầu của nhân loại trên công năng cơ bản, đồng thời nó còn có lợi cho sức khoẻ sinh lý và tâm lý của con người Nói trên một ý nghĩa nào đó, thiết kế đồ gia dụng tức là thiết kế sinh hoạt, ở đây bao hàm hai lớp hàm nghĩa, một là công dụng sinh hoạt, hai là tính dễ chịu Để thực hiện mục tiêu này, cần phải phân tích hành vi khoa học của người và đặc tính sử dụng của đồ gia dụng Lý luận công học cơ thể người ( Human Enginerring, cũng gọi là Human Factors, hoặc Ergonomics…) là căn cứ khoa học để chúng ta tiến hành thiết kế công năng của đồ gia dụng Hiểu Ergonomics cơ thể không nên ở nghĩa hẹp, Ergonomics cơ thể người ở nghĩa hẹp chủ yếu chú trọng một phía đo kích thước cơ thể, dù đây là quan trọng và không thể thiếu, nhưng đối với thiết kế
đồ gia dụng là không đủ Lấy điều kiện, nhu cầu sinh lý và tâm lý của con người làm mục tiêu, tiến hành nghiên cứu động thái Ergonomics trên nghĩa rộng cần phải trở thành kim chỉ nam của thiết kế công năng đồ gia dụng,thiết
kế làm ra từ đây mới có sức sống chịu được khảo nghiệm thời gian và địa phương
Đối tượng nghiên cứu của Ergonomics hiện đại liên quan đến các lĩnh vực của đời sống con người, vì thế phương pháp nghiên cứu cũng rất đa dạng Từ phương pháp thủ công, đến phương pháp thực nghiệm, phương
Trang 16tra… Nội dung nghiờn cứu cú phương phỏp đỏnh giỏ đo sinh lý học, phương phỏp đỏnh giỏ đo tõm lý học và phương phỏp nghiờn cứu giải phẫu bao hàm
đo cơ thể người… Căn cứ vào đối tượng và mục tiờu nghiờn cứu lựa chọn phương phỏp nghiờn cứu là hết sức quan trọng
Số liệu cơ thể người là một trong những tài liệu cơ bản quan trọng nhất
để thiết kế kết cấu kiến trỳc và thiết kế đồ mộc Khi tỏc nghiệp thiết kế phải phự hợp với sinh lý và đặc tớnh của cơ thể người Cỏc loại mỏy, thiết bị, thiết
kế thi cụng, mụi trường, kớch thước đồ mộc, khụng gian hoạt động nội thất,… đều phải căn cứ vào số liệu cơ thể để tiến hành thiết kế Cú như vậy mới đảm bảo cụng việc, nõng cao hiệu quả cụng việc, giảm sự cố Thớ dụ, kớch thước ghế ngồi, cửa, lối đi… phải phự hợp với kớch thước cơ thể của người sử dụng Nếu khụng sẽ ảnh hưởng đến an toàn, sức khoẻ, hiệu suất và khụng khớ sinh hoạt
Đo cơ thể (Anthropometry) phải tiến hành theo cỏc qui định của tiờu chuẩn nhà nước Tiờu chuẩn GB 3975-83 và GB5740-85 là những qui định
về thuật ngữ đo cơ thể, hạng mục đo và dụng cụ đo Tiờu chuẩn nhà nước
GB 3975-83 qui định thuật ngữ đo cơ thể người trưởng thành và thanh thiếu niờn dựng trong Ergonomics
-Tƣ thế đứng: Người bị đo ưỡn ngực thẳng đứng, phần đầu lấy mặt bằng
mắt tai định vị, mắt nhỡn thẳng về phớa trước, vai thả lỏng, chi trờn thả thẳng
tự nhiờn, bàn tay hướng về phớa đo, ngún tay tựa vào mặt cạnh của đựi, đầu gối duỗi thẳng tự nhiờn, gút chõn phải trỏi khộp vào, phớa tr-ớc mở một góc khoảng 450, trọng l-ợng cơ thể phân đều lên 2 chân
Trang 17Hình 1: Kích th-ớc cơ thể ng-ời ở t- thế đứng Bảng 1: Kớch thước cơ thể người tư thế đứng (mm)
Trang 182.4 Chiều cao
công năng của
tay 656 680 693 741 787 801 828 630 650 662 704 746 757 7782.5 Chiều cao
-Tƣ thế ngồi: Chỉ người bị đo ưỡn ngực ngồi trên mặt phẳng bị điều tiết đến
chiều cao của xương sườn, phần đầu định vị bằng mặt phẳng mắt tai, mắt nhìn thẳng về phía trước, đùi trái phải gần như song song, đầu gối gập thành góc vuông, bàn chân để phẳng trên mặt đất, tay thả lỏng trên đùi
H×nh 2: KÝch th-íc c¬ thÓ ng-êi ë t- thÕ ngåi
Trang 19Bảng 2: Kích thước cơ thể người tư thế ngồi (mm)
Trang 20-KÝch th-íc ngang cña c¬ thÓ ng-êi:
Hình 3: Kích thước ngang của cơ thể người
Trang 21Bảng 3-5 Kích thước ngang của cơ thể người (mm)
Trang 222.1.5 Nguyên lý cấu tạo chung của bàn ghế
a Nguyên lý cấu tạo chung của bàn:
Bàn là một loại sản phẩm mộc mà bộ phận chủ yếu để đáp ứng chức năng
sử dụng của nó là mặt bàn và kết cấu chủ yếu chỉ có chân và mặt Ngoài ra bàn có thể được cấu tạo thêm các bộ phận khác để đáp ứng các yêu cầu sử dụng khác trong quá trình sử dụng mặt bàn Ví dụ trên bàn có thể cấu tạo thêm ngăn kéo, buồng đựng tài liệu, ngăn để sách, ngăn để đồ dùng
Bàn được dùng cho nhiều mục đích sử dụng, ví dụ như: bàn ăn, bàn làm việc, bàn họp, bàn hội nghị,
Chiều cao của bàn phụ thuộc vào yêu cầu sử dụng liên quan đến kích thước của con người Kích thước của bàn được xác định sao cho một người ngồi ở bàn ít nhất cũng cần 60cm chiều rộng và diện tích hữu dụng của nó phải đủ để đảm bảo tiện nghi làm việc
Với những yêu cầu sử dụng khác nhau, cac bộ phận của bàn cũng có những đặc điểm khác nhau rất rõ nét Tuy nhiên xét một cách cơ bản nhất, chúng ta có thể phân biệt bàn theo các nhóm chủ yếu sau:
Trang 23b Nguyên lý cấu tạo chung của ghế:
Ghế có nhiều kiểu loại, mỗi chức năng sử dụng yêu cầu riêng đều có những kiểu dáng ghế ngồi riêng Song nhìn chung chúng bao gồm các bộ phận chính sau:
Về cấu tạo, lưng tựa có thể ở dạng nan hay song tròn (hoặc tiện), hoặc ở dạng tấm (có thể cong hoặc thẳng), có kích thước, hình dạng thích hợp với dáng tổng thể của ghế Liên quan đến chất liệu, lưng tựa có thể mềm hoặc cứng Lưng tựa mềm có thể bằng mặt mây đan hoặc bọc đệm Lưng tựa cứng được làm bằng gỗ tự nhiên hoặc ván dán (có thể là ván ép định hình) Nói chung, lưng tựa mềm có thể đảm bảo tính tiện nghi sử dụng tốt hơn lưng tựa cứng, nhưng về mặt gia công chế tạo thì lại phức tạp hơn lưng tựa cứng b) Mặt ngồi
Mặt ngồi có thể là ván thuần tuý, ván định hình hay ván ghép vào khung,
cá biệt có thể ghép nan Mặt ngồi cũng có thể là mặt mềm hoặc mây đan, hoặc bọc đệm
Liên kết giữa mặt ngồi và chân ghế (hay khung đỡ mặt ghế) có thể là liên kết đinh hoặc vít Giải pháp cụ thể tuỳ thuộc vào từng kiểu ghế, nhưng nguyên tắc chung là phải đảm bảo tính tiện nghi, dễ lắp ráp và tính thẩm mỹ của sản phẩm Đối với mặt ngồi bằng ván cứng không có khung, có thể liên
Trang 24kết đinh từ trên xuống Còn đối với mặt ngồi có khung, thường có giải pháp liên kết với các thang đỡ trên hệ chân từ dưới lên (tốt nhất là nên dùng vít) c) Chân ghế
Chân ghế được phân biệt hai chân trước và hai chân sau liên kết với nhau bởi các vai tiền, vai hậu, xà ngồi và các thanh giằng khác
Thông thường ghế có cấu tạo hai chân sau cao lên, liên kết với các chi tiết của lưng tựa ghế Cũng có trường hợp cả bốn chân ghế được liên kết vào phía dưới mặt ghế, còn lưng tựa được liên kết với mặt trên của mặt ngồi (thường là kiểu đặc biệt tạo dáng cho ghế phòng ăn) Chân ghế có thể được thiết kế theo kiểu chân tiện để nâng cao tính thẩm mỹ của sản phẩm
Để tăng độ vững chắc của ghế, ở góc liên kết giữa chân và xà đỡ mặt ghế, thường được tăng cường bằng ke
2.1.6 Các liên kết cơ bản của sản phẩm mộc
Trong sản phẩm mộc có nhiều loại liên kết, các dạng liên kết này có thể phân thành các nhóm như sau:
Trang 25Thân mộng có thể thẳng hoặc xiên, có bậc hay không có bậc, tiết diện có thể
là hình tròn hay hình chữ nhật Thân mộng có thể liền khối với chi tiết, nhưng cũng có thể là thân mộng mượn, không liền với chi tiết mà được gia công ngoài, cắm vào đầu chi tiết tạo thành mộng
Liên kết mộng là loại liên kết trục và lỗ giữa thân mộng và lỗ mộng nhằm tạo ra mối liên kết cứng giữa hai chi tiết Độ cứng vững của liên kết phụ thuộc vào tính chất của nguyên vật liệu, kích thước và hình dạng của lỗ và mộng, cũng như các chế độ gia cố bằng đinh, chốt, nêm, ke hay sử dụng keo dán
b Liên kết keo
Đây là phương thức liên kết đơn giản nhất Với phương pháp này thì phương thức chủ yếu trong liên kết đối với đồ mộc là sử dụng keo dán Do công nghệ ngày càng phát triển nên chất lượng keo dán cũng được nâng cao, đồng thời cũng xuất hiện rất nhiều chủng loại keo dán mới Do đó các liên kết bằng keo dán ngày càng được sử dụng nhiều trong kết cấu của đồ mộc Trong sản xuất thường thấy có: liên kết giữa các thanh gỗ với nhau, dán ghép giữa các lớp ván mỏng, dán phủ mặt cho các chi tiết dạng tấm phẳng, dán cạnh… đều sử dụng bằng keo dán
Phương thức này có ưu điểm lớn là có thể tiết kiệm được gỗ, từ gỗ nhỏ tạo thành gỗ lớn, từ gỗ chất lượng kém tạo thành gỗ chất lượng cao, có thể đảm bảo được sự ổn định của kết cấu, nâng cao chất lượng và cải thiện ngoại quan của sản phẩm
c Liên kết đinh
Đây là loại hình liên kết mà chủng loại vật liệu liên kết rất phong phú: có đinh bằng kim loại, đinh gỗ và đinh tre, trong đó thường sử dụng nhất là đinh bằng kim loại Đinh bằng kim loại chủ yếu có đinh hình chữ T, đinh
Trang 26Liên kết bằng đinh tròn rất dễ làm tổn hại đến kết cấu của gỗ mà cường độ nhỏ, vì thế trong sản xuất đồ mộc ít sử dụng, chỉ sử dụng trong các vị trí liên kết bên trong, các vị trí không lộ trên bề mặt hoặc những vị trí mà không cần yêu cầu cao về ngoại quan như dùng để cố định rãnh trượt của ngăn kéo, cố định hậu tủ…
Đinh tre và đinh gỗ là loại được sử dụng từ rất lâu đời và được phổ biến trong sản xuất các loại đồ mộc bằng thủ công của Trung Quốc Những loại đinh mang tính trang sức thường được dùng trong các loại sản phẩm đồ mộc làm từ gỗ mềm
Liên kết đinh là liên kết không thể tháo lắp nhiều lần Lực liên kết đinh
có quan hệ với chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của gỗ, đường kính,
độ dài, phương hướng và độ sâu của đinh Ví dụ lực bám đinh ở phần cạnh của ván dăm thấp hơn rất nhiều so với bề mặt của ván, do đó phần cạnh của ván dăm không thích sử dụng liên kết bằng đinh
d Liên kết vít:
Đây là liên kết lợi dụng phần thân vít xuyên qua hai chi tiết để liên kết chúng lại với nhau Vít là một loại được cấu tạo từ kim loại, chúng gồm hai loại là vít đầu tròn và vít đầu bằng Liên kết bằng vít thường không thể sử dụng cho các kết cấu tháo lắp nhiều lần, sẽ ảnh hưởng đến cường độ liên kết Phần lộ ra bên ngoài của vít sẽ được sử dụng trong các liên kết như mặt bàn,
tủ, ván lưng, mặt ngồi, ngăn kéo… hoặc có thể để lắp đặt các chi tiết khác như tay nắm, khoá cửa, bản lề…
Lực liên kết vít có quan hệ đến chủng loại, khối lượng thể tích, độ ẩm của
gỗ nền; đường kính và độ dài của vít được thể hiện theo chiều ngang của thớ
gỗ (vì cường độ theo chiều dọc tương đối thấp, không nên sử dụng)
Trang 27e Liên kết bulông:
Liên kết bằng bulông là một dạng liên kết tháo rời có khả năng chịu lực lớn Trong công nghệ sản xuất hàng mộc, liên kết bằng bulông được ứng dụng phổ biến, nhất là các sản phẩm có kích thước lớn phải vận chuyển đi
xa Liên kết bằng bu lông được ứng dụng ở các mối liên kết giữa nóc tủ và hồi tủ, giữa vai giường và chân giường (hay đầu giường), giữa vai bàn và chân bàn
Khi sử dụng liên kết bằng bulông cần chú ý một số yêu cầu cơ bản sau:
- Đảm bảo tính thẩm mỹ của liên kết
- Dễ tháo lắp
- Không ảnh hưởng đến không gian sử dụng bên trong của sản phẩm
Có nhiều kiểu bulông với nhiều giải pháp liên kết khác nhau Trong các sản phẩm có kết cấu dạng khung, các dạng bu lông thường dùng là loại bu lông đầu tròn
Trong công nghệ sản xuất hiện đại, các sản phẩm mộc lắp ghép tấm được chú ý nhiều về các giải pháp liên kết tháo rời bằng bu lông - ốc vít
f Liên kết bản lề:
Tất cả các loại linh kiện liên kết trên đều là những loại linh kiện liên kết dùng cho liên kết cứng (cố định), liên kết bản lề là loại liên kết động (xoay) Hiện nay có rất nhiều kiểu xoay khác nhau kéo theo là nhiều loại bản lề khác nhau Bản lề quay với trục cố định (1 điểm cố định), trục quay di động (2 điểm cố định)
Loại trục quay cố định có thể kể đến như: Bản lề quả nhót, bản lề lá, bản
lề goong, bản lề Pi vô,
Bản lề có trục quay di động là loại bản lề khi quay, vị trí tâm quay thay đổi (do có 2 điểm cố định) tạo ra một sức căng định hướng, trong sản xuất
Trang 28Hình dạng một số loại thông dụng chủ yếu trên thị trường đang tiêu thụ:
g Các loại liên kết khác:
Đây là các loại liên kết được sản xuất từ kim loại, polyme, thuỷ tinh hữu
cơ hoặc bằng gỗ… Nó được chế tạo đặc thù và lắp nhiều lần và cũng là một loại chi tiết phối hợp không thể thiếu trong sản xuất các loại đồ mộc hiện đại Hiện nay thường sử dụng các loại chi tiết liên kết bằng kim loại ở dạng như: kiểu xoắn ốc, kiểu lệch tâm và kiểu móc treo Đối với các chi tiết liên kết dạng này có yêu cầu như sau: kết cấu chắc chắn, thuận tiện cho việc tháo lắp nhiều lần, có thể điều tiết được mức độ chặt lỏng, dễ sản xuất, giá thành
rẻ, hiệu quả lắp ráp cao, không tổn hại đến công năng và ngoại quan của sản phẩm, đảm bảo được cường độ của sản phẩm,…
Liên kết bằng các chi tiết liên kết là một phương pháp đã được sử dụng rộng rãi nhất trong sản xuất cácc loại đồ mộc tháo lắp được, đặc biệt là đồ mộc dạng tấm phẳng Hiện nay sử dụng các chi tiết liên kết có thể đạt được mức độ tiêu chuẩn hoá trong gia công đối với các chi tiết , tiện lợi cho việc lắp ráp đóng gói, vận chuyển và dự trữ đối với sản phẩm
Trang 30mặt nền Hãy tận hưởng sự bình an khi gia đình bạn ngồi nghỉ ngơi trong vườn với những tách cà phê thơm ngon và những câu chuyện vui vẻ Là loại vật liệu được sử dụng từ rất lâu rồi nhưng gỗ sẽ luôn mang tới sự hài lòng trong thiết kế và sử dụng vì khả năng tạo hình, vẻ đẹp đa dạng bởi những sắc màu vân thớ và cũng rất bền theo thời gian Màu sắc toàn bộ khung cảnh rất
ăn khớp với nhau từ nền gạch cho đến màu sắc của bộ bàn ghế tạo nên một bức tranh rất nổi dưới ánh nắng nhẹ nhàng gợi lên trong bạn một cảm giác thật trẻ trung tràn đầy hi vọng vào ngày mai tươi sáng Các chi tiết khá giản đơn, bộ bàn ghế thanh thoát, nhẹ nhàng và tính cơ năng được đặt nên hàng đầu làm cho bộ bàn ghế càng trở nên gần gũi hơn
Sự trẻ trung đầy quyến rũ
Trang 31Bộ bàn ghế mang phong cách rất hiện đại, sang trọng và sự trẻ trung Năm 2009 các gam màu tự nhiên và trung tính sẽ được sử dụng nhiều trong thiết kế Theo các nhà thiết kế Mỹ những gam này sẽ giúp cho con người sống gần hơn với thiên nhiên, điều mà cả thế giới đang hướng tới Màu trung tính
sẽ bao gồm những sắc độ khác nhau của đen, trắng và ghi Đây là tông màu rất dễ sử dụng vì nó có thể kết hợp linh hoạt với các gam màu khác nhau, các nhà thiết kế cho rằng sử dụng màu trung tính sẽ giúp cho gia chủ có thêm nhiều sự lựa chọn vì gam màu này khá sành điệu và gây ấn tượng cho người
sử dụng Một bộ bàn ghế sử dụng màu trung tính sẽ tạo được không khí lặng
lẽ yên bình, thanh thản và hoàn toàn thư giãn Dùng màu trung tính chắc chắn
sẽ không gây ra hiện tượng đối nghịch khó giải quyết khi sử dụng màu sắc mà không hiểu rõ về bản chất và cũng “lành” vì không tạo nên cảm giác khó chịu
và nhức mắt đối với người sử dụng Loại hàng sơn trắng này hiện nay đang rất được ưa chuộng, sơn sử dụng ở đây là loại sơn chế tạo riêng có tính chống oxy hoá cao và chịu được sự mài mòn Chính những sự phong phú này đã tạo nên nhiều phong cách mới cho sản phẩm
Trang 32D¸ng dÊp vÒ sù hoµi niÖm
H×nh 6
H×nh 7
Trang 33Một ngôi nhà đẹp và một mảnh vườn xinh xinh không thể thiếu đi được những bộ bàn ghế ngoài trời để tôn nên vẻ đẹp của toàn bộ không gian sống của ngôi nhà Bộ bàn ghế với gam màu mang một phong thái tĩnh lặng
ấm áp và rất hạnh phúc Với thiết kế song nan và các đường nét thật giản đơn càng gây ra sự thích thú cho người sử dụng khi nghỉ ngơi thư giãn trên
đó Kiểu dáng thiết kế thật giản đơn nhưng tiềm ẩn trong đó là cả một sự chắc chắn và bền vũng với thời gian, nó mang lại sự yên tâm cho người sử dụng Không gian sống của bạn sẽ càng buồn tẻ nếu như không có những nét chấm phá của các đồ vật xung quanh chúng ta, nó không những xua tan đi những sự buồn tẻ mà còn đưa chúng ta đến một không gian mới, ở đó con người cảm thấy mình như đang được bay bổng trong một không gian thật huyền diệu và có nhiều ước mơ Trái ngược với không gian cuộc sống ồn ào nơi thành thị, một không gian thật ấm áp và nhũng phút giây hạnh phúc bên người thân vào dịp cuối tuần ở nơi ngoại thành sẽ làm cho tình thần của bạn được thư giãn được hít những luồng không khí trong lành tràn trề nhựa sống,là tiền đề cho các ngày làm việc mệt nhọc tiếp theo
Trang 34
Nh÷ng gi©y phót vµng cña cuéc sèng
H×nh 8 Không ồn ào náo nhiệt, không có sự cạnh tranh trong cuộc sống, mà ở
đó chỉ có sự yên bình tĩnh lặng nhưng cũng thật ấm áp hạnh phúc đó là ước
mơ của rất nhiều người Không gian có cây cỏ, có hoa, có lá, một không gian của những giấc mơ nó như dẫn bạn vào trong một thiên đường, một thiên đường chỉ có trong các câu chuyện cổ tích, ở đó tâm hồn của bạn tha
hồ bay bổng để nghĩ tới những ước mơ mà không ai có thể phá hỏng nó được Bộ sản phẩm mang đậm đà chất liệu gỗ tự nhiên kết hợp với nét đột phá mới đó là lưng tựa và mặt ghế không sử dụng hoàn toàn bằng song nan như các loại ghế bình thường mà thay vào đó là sử dụng loại vải polyester của Pháp trông rất nổi và mang lại cảm giác êm dịu mềm mại an toàn cho người sử dụng Kiểu dáng sản phẩm với các đường nét thẳng và cong càng tạo nên cho sản phẩm một nét gì đó thật bình dị và cũng thật dân giã