1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thành lập cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính số xã liêm phong huyện thanh liêm tỉnh hà nam

67 14 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 67
Dung lượng 1,18 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bản đồ Địa Chính thường xuyên được cập nhật các thay đổi hợp pháp của thửa đất, được dùng làm cơ sở thực hiện một số nhiệm vụ: Thống kê đất đai, xác nhận hiện trạng, cấp giấy chứng nhận

Trang 1

MỤC LỤC

LỜI NÓI ĐẦU 0

ĐẶT VẤN ĐỀ 1

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3

1 Lý do nghiên cứu 3

2 Mục tiêu nghiên cứu 3

3 Nội dung nghiên cứu 3

4 Phạm vi nghiên cứu 3

5 Phương Pháp nghiên cứu 3

6 Nội dung đề tài 4

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 5

1.1 Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu 5

1.1.1 Vấn đề quản lý sử dụng đất hiện nay 5

1.1.2 Lược sử các vấn đề cần nghiên cứu 5

1.2 Tổng quan về bản đồ Địa Chính 6

1.2.1 Khái niệm bản đồ Địa Chính 6

1.2.2 Nội dung của bản đồ Địa Chính 7

1.2.3 Cơ sở toán học bản đồ Địa Chính 9

1.2.3.1 Hệ thống tỷ lệ bản đồ Địa Chính 9

1.2.3.2 Chia mảnh, đánh số bản đồ Địa Chính 10

1.2.4 Ký hiệu bản đồ Địa Chính 12

1.2.5 Yêu cầu độ chính xác bản đồ Địa Chính 14

1.3 Một số khái niệm liên quan đến hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu 16

1.3.1 Hệ thống thông tin 16

1.3.2 Cơ sở dữ liệu (CSDL) 16

1.3.2.1 Khái niệm CSDL , cấu trúc vật lý của CSDL 16

1.3.2.2 Nội dung của các cơ sở dữ liệu 18

1.3.2.3 Một số phần mềm tạo dựng CSDL 19

1.3.3 Luồng dẫn lưu dữ liệu hệ thống 19

1.4 Các mô hình dữ liệu 20

1.4 Các mô hình dữ liệu 21

1.4.1 Khái niệm 21

1.4.2 Mô hình dữ liệu logic dựa trên hướng đối tượng 21

1.4.2.1 Mô hình quan hệ thực thể 21

1.4.2.2 Mô hình hướng đối tượng 22

1.4.3 Mô hình dữ liệu logic dựa trên bản ghi 23

1.4.3.1 Mô hình quan hệ 23

1.4.3.2 Mô hình phân cấp 24

1.4.3.2 Mô hình mạng 25

CHƯƠNG II 26

LÝ THUYẾT CHUNG VỀ HỆ THỐNG THÔNG TIN ĐỊA CHÍNH LIS 26

2.1 Khái niệm 26

2.2 Mô hình tổ chức 27

Trang 2

2.2.1 Phần cứng 27

2.2.2 Phần mềm 30

2.2.2.1 Một số phần mềm đang được sử dụng tại Việt Nam 30

2.2.2.2 Giới thiệu phần mềm Microstation 32

2.2.2.3 Giới thiệu phần mềm Mapinfo 34

2.2.3 Phần con người 36

2.2.4 Phần dữ liệu 37

CHƯƠNG III 38

XÂY DỰNG CƠ SỞ DỮ LIỆU ĐỊA CHÍNH ĐỂ QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI 38

XÃ LIÊM PHONG - HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH HÀ NAM 38

3.1 Thiết kế xây dựng cơ sở dữ liệu Địa Chính 38

3.1.2 Mục đích thành lập cơ sở dữ liệu Địa Chính 38

3.1.3 Đối tượng sử dụng 43

3.1.3 Các yêu cầu về kỹ thuật chất lượng đối với hệ thống 44

3.2 Thu thập tư liệu và xử lý tư liệu 51

3.2.1 Tư liệu 51

3.2.2 Xử lý tư liệu 51

3.2.3 Nhập dữ liệu 51

3.2.4 Gán mã quản lý 53

3.3 Vận hành thử nghiệm sửa lỗi 58

3.4 Sửa chữa lỗi kỹ thuật 59

3.5 Lưu trữ và xuất thông tin 59

CHƯƠNG IV KẾT LUẬN - KIẾN NGHỊ 63

1 Kết luận 63

3 Kiến nghị 63

Danh sách các tài liệu tham khảo 65

Trang 3

ĐẶT VẤN ĐỀ Trong xu thế đất nước bước vào thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá,

sự phát triển của công nghệ thông tin đặt nền móng cho sự ra đời phát triển nhanh chóng của hệ thống thông tin không gian Việc ứng dụng công nghệ thông tin đã và đang phát triển, tin học đã trở thành một vấn đề được xã hội quan tâm Ngày nay hệ thống thông tin đất đai (Land Information System – LIS) đã trở thành một hệ quản lý thông tin có khả năng lưu trữ, phân tích quản

lý, xử lý, mô hình hoá và mô tả được nhiều loại dữ liệu, đặc biệt là khả năng phân tích và liên kết dữ liệu thuộc tính với dữ liệu không gian Các bản đồ địa chính số thuộc hệ thống LIS là công cụ mạnh đáng tin cậy không chỉ cho các nhà khoa học, mà còn dùng cho các nhà quản lý, các nhà đầu tư LIS có ứng dụng rộng rãi trong nhiều ngành, nhiều lĩnh vực hoạt động kinh tế, xã hội

Ở Việt Nam hiện nay trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, cơ sở dữ liệu địa chính cũng được nghiên cứu, ứng dụng và phát triển như là một xu hướng tất yếu Việc ứng dụng công nghệ thông đang hết sức phát triển Máy tính đã và đang đóng vai trò chính trong việc tạo ra rất nhiều sự khác biệt về năng suất lao động trong xã hội và trong nhiều ngành kinh tế quốc dân Việc xây dựng phương pháp luận về lý thuyết và cấu trúc dữ liệu một cách khoa học

sẽ tạo cơ sở vững chắc cho việc xây dựng các cơ sở dữ liệu lưu trữ các thông tin Hệ thống thông tin quản lý đất đai sẽ được xây dựng và phát triển trên nên trên nền của cơ sở dữ liệu địa chính theo mô hình phù hợp nhất và hiện đại nhất Nếu thông tin về đất đai trên các bản đồ số được xây dựng thành hệ thống

có cấu trúc chặt chẽ và khoa học thì có thể mang lại nhiều lợi ích trong công tác quản lý tài nguyên đất và góp phần nghiên cứu khoa học và ứng dụng sản xuất

Hiện trạng lớp phủ mặt đất là đối tượng tự nhiên có nhiều thay đổi, đồng thời là đối tượng rất được chú trọng trong công tác theo dõi, quản lý tài nguyên thiên nhiên, và phát triển kinh tế xã hội Trải qua quá trình 20 năm đổi mới, sự chuyển mình theo xu hướng phát triển chung của thế giới đang làm cho đất nước ta ngày càng vững mạnh, đời sống nhân dân ngày càng được nâng cao

Trang 4

thông tin phát triển rộng trên nhiều lĩnh vực đòi hỏi công tác quản lý và sử dụng nguồn tài nguyên đất đai phải đựơc nâng nên một bước nhằm đáp ứng được những yêu cầu trong giai đoạn mới

Bên cạnh đó, hệ thống các tài liệu quản lý đất đai cũ bộc lộ nhiều mặt hạn chế, gây ra không ít những khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý và

sử dụng đất đai Đây cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng sai phạm phổ biến trong sử dụng đất và cũng là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng khiếu kiện kéo dài mà các cấp chính quyền chưa đủ cơ sở để giải quyết thoả đáng

Cũng nằm trong những hạn chế chung, việc quản lý hồ sơ địa chính, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai Hiện nay tại các địa phương phần lớn đều thực hiện theo phương pháp thủ công nên gặp rất nhiều khó khăn, thiếu sự chính xác, lưu trữ phức tạp, tìm kiếm thông tin mất nhiều thời gian, chưa khoa học Xuất phát từ những quan điểm trên và cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ nhằm ứng dụng vào công tác quản lý đất đai cho các phường, xã em tiến hành nghiên cứu đề tài

“Thành lập cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính số

Xã Liêm Phong – Huyện Thanh Liêm – Tỉnh Hà Nam”

Trang 5

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

2 Mục tiêu nghiên cứu

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bản đồ địa chính số khu vực nghiên cứu và hệ thống cơ sở dữ liệu tương ứng để phục vụ công tác quản lý đất đai một cách chính xác và đầy đủ tại khu vực nghiên cứu

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính số cấp xã

- Thực nghiệm xây dựng bản đồ địa chính cho khu vực xã Liêm Phong

- Thực nghiệm xây dựng CSDL bản đồ địa chính xã Liêm Phong

4 Phạm vi nghiên cứu

- Về không gian: Diện tích khu vực xã

- Về nội dung: Xây dựng bản đồ địa chính số và hệ thống CSDL tương ứng của khu vực nghiên cứu

- Về công nghệ: Sử dụng máy tính và một số phần mềm chuyên dụng trong suốt quá trình xử lý và biểu diễn số liệu

5 Phương Pháp nghiên cứu

*Phương pháp thu thập số liệu:

- Kế thừa số liệu và bản đồ đã có của khu vực nghiên cứu do Phòng Địa

Trang 6

- Điều tra số liệu ngoại nghiệp

6 Nội dung đề tài

- Thu thập số liệu, lựa chọn bản đồ đã có liên quan đến vấn đề nghiên cứu và phục vụ xây dựng CSDL thực nghiệm

Trang 7

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Tổng quan về vấn đề cần nghiên cứu

1.1.1 Vấn đề quản lý sử dụng đất hiện nay

Đất đai là sản phẩm của tự nhiên, là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá

mà thiên nhiên ban tặng cho con người Đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và là một thành phần của môi trường sống, là địa bàn phân bố dân cư nơi xây dựng các công trình kinh tế an ninh quốc phòng, là nền tảng tự nhiên của mọi ngành sản xuất Từ xa xưa, con người đã khai thác sử dụng tài nguyên đất Cùng với

sự phát triển của xã hội, việc sử dụng đất lâu dài đã nảy sinh vấn đề quan hệ giữa con người với con người liên quan đến đất như việc lấn chiếm sử dụng, phân phối, quản lý nguồn tài nguyên đất Sự hoàn thiện dần của hệ thống luật pháp với hàng loạt các nghị định, thông tư hướng dẫn dần tạo ra một hành lang pháp lý cho việc quản lý, sử dụng đất hiệu quả đảm bảo công bằng và sử dụng đất tiết kiệm Nhưng cũng trong những năm gần đây, sự phát triển của xã hội cùng với sự gia tăng dân số kéo theo nhu cầu sử dụng đất cũng tăng theo Đây cũng là vấn đề cấp thiết mà nhà nước cần giải quyết

Trên thực tế biểu hiện của những tiêu cực đó là việc giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, sai đối tượng, lấn chiếm, tranh chấp đất đai…Vậy cần phải làm gì để đảm bảo sự công bằng về quyền sở hữu và quyền sử dụng đất Chính vì vậy mà bản đồ Địa Chính ra đời, đây là một công cụ hữu hiệu trong việc quản lý đất đai

1.1.2 Lược sử các vấn đề cần nghiên cứu

Bản đồ là sản phẩm văn hoá do con người tạo ra nhằm giúp họ có một cái nhìn trực quan hơn để nghiên cứu và khai thác thế giới xung quanh, tạo ra nhiều hơn của cải vật chất phục vụ cho nhu cầu sống của con người Bản đồ và khoa học bản đồ đã có từ thời cổ đại Quá trình phát triển của các ngành kinh tế

xã hộikhiến cho ngành Địa chính cũng ra đời và phát triển cả về lí thuyết, phương pháp và kĩ thuật xây dựng

Một câu hỏi được đặt ra là: Tại sao lại cần bản đồ? Vì đất đai đem lại của

Trang 8

đồ nhằm phục vụ cho mục đích thu thuế, cho người ta biết diện tích và giá trị của đất, ngoài ra giai cấp thống trị bao giờ cũng muốn biết chính xác khoảng trời thuộc quyền quản lý của họ

Sự phát triển của công nghệ thông tin, kỹ thuật đồ hoạ và sự phát triển của các phần mềm xử lý dữ liệu tạo điều kiện thuận lợi để đưa công nghệ GIS vào công tác quản lý đất đai và thành lập bản đồ số Địa Chính thay thế cho bản

đồ giấy, khắc phục được các nhược điểm của các loại bản đồ cũ Vì vậy việc lưu trữ, bảo quản, cập nhật, chỉnh sửa biến động, việc khai thác thông tin …trở nên dễ dàng, gọn nhẹ hơn

Khu vực Xã Liêm Phong nói riêng và tỉnh Hà Nam nói chung việc đưa công nghệ ảnh số vào sử dụng còn chưa phổ biến mà yêu cầu đối với ngành Địa Chính ngày càng cao, việc sử dụng các bản đồ giấy truyền thống và cơ sở

dữ liệu là các bảng, biểu ghi không còn phù hợp với xu thế chung đây là lý do

em chọn đề tài “Thành lập cơ sở dữ liệu bản đồ Địa Chính số Xã Liêm Phong - Huyện Thanh Liêm - Tỉnh Hà Nam” Em mong đây sẽ là một công cụ hữu ích trong công tác quản lý đất đai khu vực này

1.2 Tổng quan về bản đồ Địa Chính

1.2.1 Khái niệm bản đồ Địa Chính

Bản đồ Địa Chính là bản đồ chuyên ngành về đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin có liên quan về Địa Chính của từng thửa đất, từng vùng đất Ngoài ra bản đồ Địa Chính còn thể hiện các thông tin khác liên quan đến đất đai

Bản đồ Địa Chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ Địa Chính, mang tính pháp lý cao phục vụ quản lý chặt chẽ đất đai đến từng thửa đất, chủ sử dụng đất Bản đồ Địa Chính được lập theo đơn vị hành chính cơ sở Xã, Phường, Thị trấn và thống nhất trong phạm vi cả nước Bản đồ Địa Chính thường xuyên được cập nhật các thay đổi hợp pháp của thửa đất, được dùng làm cơ sở thực hiện một số nhiệm vụ: Thống kê đất đai, xác nhận hiện trạng, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, lập quy hoạch, lập kế hoạch, giải

Trang 9

Bản đồ Địa Chính được thành lập ở dạng giấy và dạng bản đồ số, song

do những nhược điểm mà bản đồ giấy gặp phải như chịu ảnh hưởng của sai số

đồ hoạ, sai số đo đạc ban đầu, CSDL cồng kềnh, tìm kiếm và truy cập thông tin chậm, khả năng phân tích tổng hợp thông tin không nhanh…nên người ta đang chuyển dần sang sử dụng bản đồ số, do bản đồ số khắc phục được những nhược điểm của bản đồ giấy, đồng thời phục vụ kịp thời các yêu cầu sử dụng của các

cơ quan nhà nước, cơ quan kinh tế, kỹ thuật

Bản đồ có 3 tính chất cơ bản là tính trực quan, tính đo được và tính thông tin

+ Tính trực quan: Bản đồ cho ta khả năng bao quát và tiếp thu nhanh những yếu tố chủ yếu và quan trọng nhất của nội dung bản đồ, biến cái không nhìn thấy thành cái nhìn thấy được Bản đồ tạo ra mô hình trực quan lãnh thổ giúp con người tìm ra được quy luật của sự phân bố các đối tượng và các hiện tượng trên bề mặt trái đất

+ Tính đo được: Căn cứ vào tỷ lệ phép chiếu của bản đồ, thang bậc của các ký hiệu quy ước… người sử dụng có thể xác định được một số trị số như toạ độ, diện tích, độ cao…

+ Tính thông tin: Đó là khả năng truyền đạt những tin tức khác nhau về các đối tượng và các hiện tượng mà nó phản ánh

1.2.2 Nội dung của bản đồ Địa Chính

Trên bản đồ Địa Chính thể hiện các nội dung:

- Điểm khống chế toạ độ, độ cao các cấp: Tất cả các điểm khống chế toạ

độ nhà nước, các điểm Địa Chính cấp I, II, các điểm toạ độ của các bộ ngành, các điểm lưới khống chế đo vẽ…đều phải thể hiện trên bản đồ bằng toạ độ, các điểm độ cao cũng phải thể hiện trên bản đồ bằng toạ độ hoặc xác định tương quan giữa các địa vật

- Địa giới hành chính các cấp: Cần thể hiện chính xác đường địa giới quốc gia đường, địa giới hành chính các cấp phù hợp với hồ sơ địa giới hành chính 364 và các nghị định của chính phủ về việc thay đổi địa giới hành chính

Trang 10

- Mốc quy hoạch, chỉ giới quy hoạch, ranh giới hành lang an toàn giao thông: Chỉ xác định hiện trạng quy hoạch đã thực hiện ở thực địa khu vực đo vẽ lập bản đồ, hiện trạng quy hoạch đo vẽ ngoài thực địa thường bằng hệ thống mốc quy hoạch, chỉ giới quy hoạch

- Ranh giới sử dụng đất (hay còn gọi là ranh giới thửa đất hoặc gọi tắt là thửa đất), các loại đất và các yếu tố tự nhiên trên đất

+ Ranh giới sử dụng đất: Là yếu tố nội dung chính của bản đồ Địa Chính ranh giới sử dụng đất được biểu thị trên bản đồ bằng đường viền khép kín thông qua hệ thống ký hiệu biểu thị các yếu tố nội dung bản đồ

+ Loại đất: Trên bản đồ Địa Chính phải biểu thị chi tiết các loại đất theo quy định của tổng cục Địa Chính gồm các loại đất: Đất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất chuyên dùng, đất ở và đất chưa sử dụng (Phân theo quy định của ngành)

+ Các yếu tố tự nhiên, nhân tạo có trên đất

 Hệ thống giao thông: Cần thể hiện tất cả các đường như đường sắt, đường bộ, đường làng, ngõ xóm, đường liên thôn xã, đường giao thông nội đồng, các công trình liên quan đến đường giao thông như cầu cống, vật liệu trải mặt, hè phố, lề đường,…giới hạn biểu thị là chân đường

 Hệ thống thuỷ văn: Đối với hệ thống thuỷ văn tự nhiên phải thể hiện đường bờ ổn định và đường mép nước ở thời điểm đo vẽ hoặc ở thời điểm chụp ảnh, phải thể hiện đầy đủ hệ thống sông ngòi, mương máng Độ rộng kênh mương lớn hơn 0.5 mm trên bản đồ phải vẽ 2 nét, nhỏ hơn 0.5 mm vẽ 1 nét theo tim của nó, cần ghi chú tên riêng và hướng nước chảy

- Dáng đất: Được biểu thị trên bản đồ Địa Chính bằng điểm ghi chú độ cao ở vùng đồng bằng, đường bình độ đối với đồi núi, hoặc ký hiệu kết hợp với

độ cao

Khi biểu thị dáng đất cần chú ý:

+ Phải ghi chú độ cao ở các điểm đặc trưng

+ Phải thể hiện được dáng chung của địa hình toàn khu vực

Trang 11

+ Dáng đất được thể hiện phù hợp với các yếu tố khác, bãi cát, bãi đá, núi đá, đầm lầy,…dùng ký hiệu hoặc ghi chú để biểu thị

- Ghi chú thuyết minh: Trên bản đồ phải dùng hình thức ghi chú thuyết minh để thể hiện định tính, định lượng các yếu tố nội dung như: Địa danh, độ rộng, độ dài, độ cao, diện tích, số thửa, loại đất theo quy định

1.2.3 Cơ sở toán học bản đồ Địa Chính

Bản đồ Địa Chính có các cấp tỷ lệ: 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 được thành lập ở múi chiếu 30 theo hệ định vị VN2000 và trong hệ toạ độ độ cao nhà nước hiện hành Kinh tuyến gốc 0o được quy ước là kinh tuyến đi qua Grinuyt, điểm gốc của hệ toạ độ mặt phẳng có X = 0, Y = 500

Km điểm NOO tại viện CN Địa Chính Hà Nội, điểm gốc của hệ toạ độ độ cao đặt ở Hòn Dấu Hải Phòng

1.2.3.1 Hệ thống tỷ lệ bản đồ Địa Chính

Bản đồ Địa Chính được thành lập theo các cấp tỷ lệ: 1:200, 1:500, 1:1000, 1:2000, 1:5000, 1:10000, 1:25000 Việc chọn tỷ lệ bản đồ Địa Chính căn cứ vào: Mật độ thửa đất, loại đất, đặc điểm khu vực vẽ, yêu cầu độ chính xác, và khả năng kinh tế kỹ thuật của đơn vị đo vẽ bản đồ, có thể chọn tỷ lệ bản

đồ theo bảng sau

Bảng 1.1: Bảng phân chia tỷ lệ bản đồ theo khu vực

Thị xã, thị trấn 1:500 Đất ở

Đồng bằng Bắc Bộ 1:2000-1:1000 Đất nông nghiệp

Đồng bằng Nam Bộ 1:5000-1:2000

Trang 12

1.2.3.2 Chia mảnh, đánh số bản đồ Địa Chính

Từ trước tới nay các quy phạm bản đồ Địa Chính đã đưa ra nhiều phương pháp chia mảnh, đánh số bản đồ Địa Chính, các phương pháp chia mảnh đánh số bản đồ Địa Chính ở các thời kỳ, ở các địa phương rất khác nhau dẫn đến bản đồ Địa Chính và hồ sơ Địa Chính không hoàn toàn thống nhất nhau trên phạm vi rộng Vì vậy để đảm bảo thống nhất tháng 3 năm 2000 tổng cục Địa Chính đã ban hành phương pháp chia mảnh đánh số bản đồ Địa Chính

Có hai phương pháp chia mảnh đánh số bản đồ Địa Chính

- Chia mảnh bản đồ Địa Chính theo ô hình vuông toạ độ thẳng góc: bản

đồ Địa Chính các loại tỷ lệ đều được thể hiện trên bản vẽ hình vuông việc chia mảnh bản đồ Địa Chính dựa theo lưới toạ độ ô vuông của hệ toạ độ vuông góc phẳng Trước hết xác định 4 góc của hình chữ nhật có toạ độ chẵn Km trong hệ toạ độ vuông góc thẳng theo kinh tuyến trục của tỉnh bao kín toàn bộ ranh giới hành chính của tỉnh hoặc thành phố làm giới hạn chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:25000 Các tờ bản đồ tỷ lệ lớn hơn sẽ được chia nhỏ từ tờ bản đồ 1:25000 theo sơ đồ chia mảnh sau

+ Bản đồ tỷ lệ 1:25000 dựa theo hình chữ nhật giới hạn khu đo, từ góc Tây - Bắc chia khu đo thành các ô vuông kích thước 1:200 x 12 km Mỗi ô vuông tương ứng với một tờ bản đồ tỷ lệ 1:25000, kích thước bản vẽ là 48 x 48

Cm Diện tích đo vẽ 14400 ha Số hiệu tờ bản đồ 1:25000 gồm 8 chữ số: hai số đầu là 25, tiếp theo là dấu gạch ngang (-), ba số tiếp theo là số chẵn toạ độ X,

ba số sau cùng là số chẵn toạ độ Y của điểm góc Tây Bắc của tờ bản đồ

+ Bản đồ 1:10000: Lấy tờ bản đồ tỷ lệ 1:25000 làm cơ sở chia thành 4 ô vuông kích thước 6 x 6 km tương ứng với mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000 Kích thước khung trong tương ứng tờ bản đồ là 60 x 60 cm, ứng với diện tích 3600

ha Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:10000 đánh theo nguyên tắc tương tự tờ bản đồ

tỷ lệ 1:25000, hai số đầu 25 thay bằng số 10

+ Bản đồ tỷ lệ 1:5000: Chia mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000 thành 4 ô vuông kích thước 3 x 3 km, ta có mảnh bản đồ tỷ lệ 1:5000, kích thước hữu ích của

Trang 13

đồ 1:5000 đánh theo nguyên tắc tương tự như tờ bản đồ tỷ lệ 1:25000 nhưng không có 25 hoặc 10 mà chỉ có 6 số đó là toạ độ chẵn km của góc tây bắc mảnh bản đồ Địa Chính 1:5000

+ Bản đồ 1:2000: lấy tờ bản đồ 1:5000 làm cơ sở chia 9 ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 1 x 1 km, ứng với nột tờ bản đồ tỷ lệ 1:2000, kích thước khung bản vẽ là 50 x 50 cm, diện tích đo vẽ thực tế là 100 ha Các ô vuông được đánh số theo nguyên tắc từ trái sang phải từ trên xuống dưới Số hiệu mảnh bản đồ tỷ lệ 1:2000 là số hiệu tờ bản đồ 1:500 thêm gạch nối với số hiệu ô vuông

+ Bản đồ 1:1000: Lấy bản đồ 1:2000 chia thành 4 ô vuông, mỗi ô vuông

có kích thước 500 x 500 m ứng với một mảnh bản đồ tỷ lệ 1:1000 kích thước hữu ích của bản vẽ tờ bản đồ tỷ lệ 1:1000 là 50 x 50 cm, diện tích đo vẽ thực tế

là 25 ha Các ô vuông đánh số thứ tự a, b, c, d theo nguyên tắc từ trái sang phải,

từ trên xuống Số hiệu tờ bản đồ 1:1000 gồm số hiệu tờ bản đồ tỷ lệ 1:2000 thêm gạch nối với số thứ tự ô vuông

+ Bản đồ 1:500 lấy tờ bản đồ 1:2000 làm cơ sở chia thành 16 ô vuông, mỗi ô vuông có kích thước thực tế là 250 x 250 m tương ứng với 1 tờ bản đồ tỷ

lệ 1:500 Kích thước hữu ích của bản vẽ là 50 x 50 cm tương ứng với diện tích

đo vẽ là 6,25 ha Các ô vuông được đánh số từ 1 đến 16 từ trên xuống, từ trái sang Số hiệu tờ bản đồ 1:500 gồm số hiệu tờ bản đồ tỷ lệ 1:2000 thêm gạch nối

và số thứ tự ô vuông trong ngoặc đơn

+ Trong trường hợp cần vẽ bản đồ tỷ lệ 1:200 thì lấy tờ bản đồ tỷ lệ 1:2000 chia thành 100 tờ bản đồ 1:200 thêm ký hiệu Ả Rập từ 1:100 vào sau ký hiệu tờ bản đồ cơ sở 1:2000

Trang 14

Bảng 1.2: Bảng thông số phân chia tóm tắt

- Chia mảnh bản đồ Địa Chính theo toạ độ địa lý: Lấy tờ bàn đồ 1:100.000 làm cơ sở chia thành 384 mảnh tỷ lệ 1:5000 và 1:2000 tức là theo chiều ngang chia ra làm 24 phần, chiều thẳng đứng chia ra 16 phần Kích thước khung tờ bản đồ là 1’15’’ x 1’15’ Ký hiệu tờ bản đồ 1:5000 là số hiệu tờ bản

đồ 1:100.000 thêm vào các số thứ tự của tờ bản đồ 1:5000, đánh số Ả Rập từ 1÷384 đặt trong ngoặc đơn đánh số từ trên xuống, từ trái qua phải Khung trong

tờ bản đồ có dạng hình thang

1.2.4 Ký hiệu bản đồ Địa Chính

Nội dung bản đồ Địa Chính được biểu thị bằng các ký hiệu quy ước và các ghi chú Các ký hiệu được thiết kế phù hợp cho từng loại tỷ lệ bản đồ và phù hợp với yêu cầu sử dụng bản đồ Địa Chính Các ký hiệu phải bảo đảm tính chất trực quan, dễ đọc, không làm lẫn lộn với các ký hiệu khác

Các ký hiệu quy ước của bản đồ Địa Chính được chia làm 3 loại: Ký hiệu theo tỷ lệ, ký hiệu không theo tỷ lệ và ký hiệu nửa theo tỷ lệ

- Các ký hiệu vẽ theo tỷ lệ: Khi thể hiện các đối tượng có diện tích bề mặt tương đối lớn ta dùng ký hiệu theo tỷ lệ Phải vẽ đúng kích thước của địa

Kích thước thực tế (m)

Diện tích

đo vẽ (ha)

Ký hiệu thêm vào

Trang 15

vật theo tỷ lệ bản đồ Đường viền của đối tượng có thể vẽ nét liền, nét đứt hoặc chấm chấm, bên trong phạm vi đường viền dùng màu sắc hoặc các hình vẽ, biểu tượng và ghi chú để biểu thị tính chất đặc trưng của địa vật Với bản đồ Địa Chính gốc thì ghi chú đặc trưng và biểu tượng được dùng làm phương tiện chính theo quy định ký hiệu các bản đồ địa chính Các ký hiệu này thể hiện rõ

vị trí, diện tích, các điểm đặc trưng và tính chất của đối tượng cần biểu diễn

- Ký hiệu không vẽ theo tỷ lệ: Đây là những ký hiệu quy ước dùng để thể hiện vị trí và các đặc trưng số lượng, chất lượng của đối tượng, song không thể hiện diện tích, kích thước, hình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ Loại ký hiệu này còn dùng trong cả trường hợp địa vật được vẽ theo tỷ lệ mà ta muốn biểu thị thêm yếu tố tượng trưng làm tăng thêm khả năng nhận biết đối tượng trên bản đồ

- Ký hiệu nửa theo tỷ lệ: Đó là loại ký hiệu dùng để thể hiện các đối tượng có thể biểu diễn kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ, còn chiều kia dùng kích thước quy ước như ký hiệu đường sắt, đường dây thông tin…trong đó chiều dài tuyến vẽ theo tỷ lệ và dùng lực nét, màu sắc thể hiện chủng loại, chất lượng địa vật

- Ghi chú: Ngoài các ký hiệu người ta còn dùng các ghi chú để thể hiện nội dung bản đồ Địa Chính, gồm hai loại là ghi chú tên riêng (dùng để chi tên đơn vị hành chính, tên cụm dân cư…) và ghi chú giải thích (nhằm thể hiện, giải thích về phân loại đối tượng, về đặc trưng số lượng, chất lượng của chúng, ghi chú này thường ngắn gọn, viết tắt, giản lược)

- Vị trí các ký hiệu:

+ Các ký hiệu theo tỷ lệ phải thể hiện chính xác vị trí các điểm đặc trưng trên đường biên của nó

+ Các ký hiệu không theo tỷ lệ thì:

• Ký hiệu có dạng hình học đơn giản như hình tròn, chữ nhật, tam giác…tâm địa vật trùng tâm ký hiệu

• Ký hiệu đường nét thì trục ký hiệu trùng trục địa vật

Trang 16

• Ký hiệu tượng trưng có đường đáy nằm ngang thì tâm ký hiệu là điểm giữa của đáy VD: đền chùa, nhà thờ…

• Màu sắc các ký hiệu: Trên bản đồ Địa Chính gốc các ký hiệu được vẽ bằng ba màu đen, ve và nâu đảm bảo dễ đọc, dễ nhân bản, yêu cầu các đường nét phải đủ độ đậm màu để có thể chụp phiên nhân bản, bản đồ gốc đo vẽ thường dùng một màu đen để tăng độ tương phản thuận tiện cho phiên chụp 1.2.5 Yêu cầu độ chính xác bản đồ Địa Chính

Yếu tố cơ bản cần quản lý đối với đất đai là vị trí, kích thước, diện tích các thửa đất Các yếu tố này được đo đạc và thể hiện trên bản đồ Địa Chính, độ chính xác của các yếu tố trên phụ thuộc vào độ chính xác kết quả đo, độ chính xác thể hiện bản đồ và độ chính xác diện tích Khi sử dụng công nghệ bản đồ số thì giảm hẳn ảnh hưởng của sai số đồ hoạ, sai số tính diện tích, độ chính xác của số liệu không phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ mà phụ thuộc trực tiếp vào sai số đo

Tuy nhiên trong hệ thống bản đồ Địa Chính người ta phải nghiên cứu những hạn sai cơ bản của các yếu tố bản đồ để từ các hạn sai này sẽ thiết kế các sai số đo, vẽ bản đồ phù hợp cho từng bước của công nghệ thành lập bản đồ

Độ chính xác của bản đồ Địa Chính thể hiện thông qua độ chính xác của các yếu tố đặc trưng trên bản đồ:

+ Độ chính xác điểm khống chế đo vẽ: Khi đo vẽ bản đồ Địa Chính theo phương pháp đo vẽ trực tiếp ngoài thực địa phải xây dựng lưới khống chế đo vẽ

ở thực địa, còn khi dùng ảnh hàng không phải tăng dày khống chế ảnh theo quy phạm ban hành tháng 3 năm 2000 quy định “sai số trung phương vị trí mặt phẳng của điểm khống chế đo vẽ sau bình sai so với điểm khống chế toạ độ nhà nước gần nhất không vượt quá 0.1mm tính theo tỷ lệ bản đồ cần thành lập” ở vùng ẩn khuất sai số trên không lớn quá 0.15mm Đối với khu vực đô thị, sai số nói trên không vượt quá 6cm trên thực địa áp dụng chung cho mọi tỷ lệ đo vẽ Đối với điểm khống chế ảnh ngoại nghiệp cũng phải đạt độ chính xác nói trên, đối với điểm tăng dày khống chế ảnh thì sai số này được quy định là 0.15mm

Trang 17

“Sai số trung phương độ cao của điểm khống chế đo vẽ sau bình sai so với điểm độ cao nhà nước gần nhất không vượt quá 1/10 khoảng cao đều đường bình độ cơ bản”

+ Độ chính xác vị trí điểm chi tiết: Quy phạm hiện hành quy định như sau

• Thứ nhất: “sai số trung bình vị trí mặt phẳng của các điểm trên ranh giới thửa đất biểu thị trên bản đồ Địa Chính so với điểm của lưới khống chế đo

vẽ gần nhất không được lớn hơn 0.5mm trên bản đồ, đối với các địa vật còn lại không vượt quá 0.7mm”

• Thứ hai: “sai số tương hỗ giữa các ranh giới thửa đất, giữa các điểm trên cùng ranh giới thửa đất, sai số độ dài cạnh thửa đất không vượt quá 0.4mm trên bản đồ Địa Chính”

• Thứ 3: Đối với bản đồ Địa Chính yếu tố kích thước thửa đất quan trọng hơn nhiều so với quan hệ tương hỗ vị trí điểm địa vật Kích thước thửa đất đuợc hiểu là chiều dài cạnh thửa hoặc chiều dài đường chéo thửa Thay cho sai số tương hỗ vị trí điểm trong quy phạm trước đây quy phạm hiện hành quy định sai số trung phương chiều dài cạnh thửa đất không vượt quá 0.4mm trên bản đồ

+ Độ chính xác thể hiện độ cao trên bản đồ: Nếu trên bản đồ thể hiện độ cao bằng đường bình độ, độ cao điểm đặc trưng địa hình, độ cao của điểm ghi chú độ cao trên bản đồ Địa Chính so với điểm khống chế độ cao ngoại nghiệp gần nhất không vượt quá 1/3 khoảng cao đều đường bình độ cơ bản ở vùng đồng bằng và ½ khoảng cao đều đối với vùng núi và vùng ẩn khuất

+ Độ chính xác diện tích: Diện tích thửa đất được tính chính xác đến từng m2, khu vực đô thị cần tính chính xác đến 0.1m2 Diện tích thửa đất được tính hai lần, độ chênh kết quả tính diện tích phụ thuộc vào tỷ lệ bản đồ và diện tích thửa Quy phạm quy định sai số tính diện tích cho phép là:

∆Pgh = 0,0004.M p Trong đó: P là diện tích thửa đất tính bằng m2

M là mẫu số tỷ lệ bản đồ

Trang 18

1.3 Một số khái niệm liên quan đến hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu 1.3.1 Hệ thống thông tin

(Được trình bày cụ thể ở phần II của khoá luận)

1.3.2 Cơ sở dữ liệu (CSDL)

1.3.2.1 Khái niệm CSDL, cấu trúc vật lý của CSDL

CSDL là một tập hợp các số liệu được lựa trọn và phân chia bởi người sử dụng đó là một nhóm các bản ghi và các file số liệu được lưu trữ trong một tổ chức có cấu trúc, nhờ phần mềm quản trị CSDL người ta có thể sử dụng dữ liệu cho các mục đích tính toán phân tích tổng hợp, khôi phục, tìm kiếm, sửa chữa…

Trong ngành Địa Chính cần xây dựng CSDL Địa Chính gồm hai phần CSDL bản đồ Địa Chính và CSDL hồ sơ Địa Chính

+ CSDL bản đồ Địa Chính: Tập hợp các thông tin không gian về vị trí các thửa đất và các yếu tố liên quan cùng quan hệ giữa các yếu tố trong không gian thực

+ CSDL hồ sơ Địa Chính: Lưu trữ các thông tin về hồ sơ Địa Chính cho từng thửa đất và chủ sử dụng như: Số hiệu tờ bản đồ Địa Chính, số hiệu thửa đất diện tích loại đất, tên chủ sử dụng, địa chỉ…

- Xây dựng một cơ sở dữ liệu có nghĩa là xây dựng và kết hợp phần cứng, phần mềm, các kho lưu trữ dữ liệu nhằm tạo ra khả năng thao tác và quản lý dữ liệu Các cơ sở dữ liệu nói chung đều có khả năng nhập, xuất, chế tác, chuyển đổi, cập nhật, sửa chữa thông tin CSDL còn làm nhiệm vụ duy trì, lưu trữ thông tin của các đối tượng được quản lý ở dạng tệp tin trong máy tính hoặc ở các thiết

bị lưu trữ ngoài

- Các thông tin được lưu trữ theo mô hình có cấu trúc nhất định nhằm mục đích giúp đỡ người sử dụng có thể khôi phục lại mối quan hệ giữa các đối tượng được quản lý trong tự nhiên một cách nhanh chóng, người sử dụng có thể tiến hành thực hiện một số phép toán như phân tích thống kê trên các dữ liệu đã lưu trữ

Trang 19

- Nhiều CSDL kết nối với nhau đã tạo thành một hệ thống thông tin, hệ thống thông tin đó có thể là hệ thống thông tin địa lý (GIS) hoặc hệ thống thông tin đất đai (LIS) Trong phần này em chú trọng vào việc thiết kế và thành lập 1 CSDL Địa Chính số cho xã Liêm Phong

- CSDL nói chung là 1 tuyển tập các thư viện dữ liệu có liên quan đến nhau, mở đầu CSDL là bảng tiêu chuẩn cho các thông tin về việc chuyển đổi CSDL và 1 bảng chất lượng Mỗi CSDL có 3 loại cấu trúc vật lý chính là cấu trúc mạng, song song và phân tán

+ Cấu trúc mạng: Có nghĩa là mạng máy tính cho phép cùng thực hiện một số nhiệm vụ trên cùng một hệ máy chủ (sever) và cùng thực hiện một số nhiệm vụ trên máy khách (client), từ đó dẫn đến hệ thống CSDL chủ khách, ngày nay do số lượng máy tính cá nhân nhiều trong khi các nhà nghiên cứu lại

ở xa nên hệ thống thông tin chủ khách đã phát triển nhanh và được nhiều người

sử dụng Sau đây là mô hình cấu trúc mạng

Hình 1.1 Mô hình cấu trúc mạng + Cấu trúc song song: Việc xử lý thông tin trong máy tính làm tăng tốc

độ hoạt động của cơ sở dữ liệu làm việc chuyển tải thông tin diễn ra nhanh Nhu cầu xử lý, tra cứu song song đã dẫn đến sự phát triển hệ thống CSDL song song Tuy nhiên nó chỉ có trên lý thuyết chứ không có ứng dụng nhiều trong thực tiễn

Trang 20

Hình 1.2 Mô hình cấu trúc song song + Cấu trúc phân tán: Ở dạng cấu trúc này dữ liệu được lưu dữ ở nhiều địa điểm hoặc nhiều cơ quan khác nhau, các cơ quan này có khả năng tích hợp và

có như cầu sử dụng thông tin thống nhất, song các cơ quan khác vẫn có thể đến

để thu thập thông tin, bằng cách lưu trữ nhiều phiên bản CSDL tại nhiều nơi khác nhau, dữ liệu sẽ được bảo tồn dù một vài nơi có thể gặp sự cố CSDL phân tán được phát triển để quản lý hành chính ở nhiều địa phương

Hình 1.3 Mô hình cấu trúc phân tán 1.3.2.2 Nội dung của các cơ sở dữ liệu

Nói đến CSDL là phải nói đến các loại dữ liệu, mối quan hệ giữa các dữ liệu và các công cụ là các phần mềm để giúp cho con người thao tác một cách trực tiếp với các dữ liệu Một CSDL gồm hai loại dữ liệu đó là: Dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

- Dữ liệu không gian: Đó là hệ thống các bản đồ, ảnh hàng không, ảnh vệ tinh trong đó lưu trữ rất nhiều đối tượng cần quản lý, chúng được sắp xếp theo các chủ đề rõ ràng Các bản đồ này có thể chồng xếp hoặc ghép mảnh với nhau theo một hệ toạ độ độ cao thống nhất để tạo thành một hệ thống thông tin trong một không gian hoàn chỉnh tạo ra được một mô hình có tính trực quan cao, bao quát toàn bộ khu vực quản lý Loại dữ liệu này thể hiện chính xác vị trí của đối tượng trong không gian thực qua mô tả hình học, mô tả bản đồ và mô tả quan

Trang 21

hệ không gian (Topology) Các dữ liệu vị trí được thể hiện trên bản đồ thông qua ba yếu tố hình học cơ bản là điểm, đường và vùng

- Dữ liệu thuộc tính: Đó là hệ thống các thông tin về tính chất thực thể được quản lý, nó thể hiện dưới dạng các biểu ghi dạng chữ và số, nó có thể được đưa ra hiển thị trên bản đồ cùng các đối tượng đồ hoạ

Sự kết nối của hai loại dữ liệu trên sẽ tạo nên một CSDL vừa đầy đủ chi tiết lại có tính trực quan cao Nếu các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính được kết nối đúng thì nó sẽ được hiển thị đúng theo lệnh gọi, hiển thị và biểu thị các đối tượng không gian cùng các thông tin thuộc tính tương ứng theo các thứ bậc hoặc theo các chủ đề được phân loại sẵn trong cơ sở dữ liệu Muốn có điều đó thì các dữ liệu trong CSDL phải được sắp xếp có cấu trúc chặt chẽ và phải tuân theo một mô hình có cấu trúc nào đó

1.3.2.3 Một số phần mềm tạo dựng CSDL

Các phần mềm cơ sở dữ liệu được sử dụng bao gồm

- Các hệ quản trị CSDL phi không gian như: Access, D Base, Excel,

- Các hệ quản trị CSDL không gian như: Arc View, Mapinfo…vừa tạo dựng các đối tượng đồ hoạ vừa quản lý các dữ liệu không gian và dữ liệu thuộc tính

- Các phần mềm đồ hoạ như Microstation,… để tạo dựng và tương tác với đối tượng đồ hoạ

- Các phần mềm xử lý ảnh như: IRAS B, IRAS C, PHOTOSOFT…là các phần mềm quản lý và thao tác với các dữ liệu ảnh

1.3.3 Luồng dẫn lưu dữ liệu hệ thống

Một câu hỏi được đặt ra khi nghiên cứu CSDL của một hệ thống thông tin là dữ liệu biến đổi, chạy như thế nào? Sau đây là sơ đồ dẫn lưu các thông tin trong một hệ thống

Trang 22

Các máy quét (scanner

- Ghi trên băng đĩa từ

- Ghi trên microfilm

- Ghi trên đĩa CD

In ra bản đồ trên giấy và lưu trữ các bản đồ giấy

Cung cấp nên mạng cho người sử dụng

Hiển thị trên màn hình để hỏi đáp với máy

xã hội

Hình 1.4 Sơ đồ luồng dẫn lưu dữ liệu hệ thống

Trang 23

1.4 Các mô hình dữ liệu

1.4.1 Khái niệm

Mô hình dữ liệu là tuyển tập các khái niệm, công cụ, phương thức sắp xếp các dữ liệu, để mô tả các đối tượng cần được quản lý, mô tả được các mối quan

hệ giữa các dữ liệu tạo ra được cấu trúc và tính thống nhất của các dữ liệu trong

hệ thống Có 3 loại mô hình dữ liệu như sau

− Mô hình logic dựa trên hướng đối tượng ( Logical model based on objects)

− Mô hình logic dựa trên các bản ghi ( Logical model base on records)

− Mô hình vật lý

Đây là ba phương thức mô tả các dữ liệu trong CSDL

1.4.2 Mô hình dữ liệu logic dựa trên hướng đối tượng

Mô hình logic dựa trên đối hướng đối tượng được dùng để mô tả khái niệm đối tượng ở mức lôgic và khung nhìn view loại này gồm một số kiểu mô hình được đưa ra sử dụng rông rãi như:

− Mô hình quan hệ thực thể (Entity – relationship models)

− Mô hình hướng đối tượng (Object – orieuted models)

− Mô hình dữ liệu ngữ nghĩa (Semantic models)

− Mô hình chức năng (Funtion data models)

1.4.2.1 Mô hình quan hệ thực thể

Mô hình quan hệ thực thể dựa trên quan niệm về thế giới thực bao gồm các đối tượng được gọi là các thực thể (entity) và các mối quan hệ giữa chúng Thực thể là một vật (one thing) hoặc một đối tượng được gọi là một object trong thế giới thực mà ta có thể phân biệt được chúng với nhau Các thực thể trong cơ

sở dữ liệu được mô tả bởi một tập hợp các thuộc tính (attributes or features), mô hình quan hệ thực thể luôn luôn khống chế nội dung trong CSDL làm cho CSDL luôn luôn nhất quán Một điểm nổi bật của nó là khả năng hỗ trợ thiết kế và tổ chức thông tin cũng như tính tương thích lớn của nó đối với mô hình dữ liệu quan hệ, mô hình này được sử dụng tương đối thường xuyên

Trang 24

1.4.2.2 Mô hình hướng đối tượng

Mô hình hướng đối tượng dựa trên các gói dữ liệu và mã liên quan đến đối tượng, mọi sự tương tác giữa người sử dụng với đối tượng được quản lý và giữa đối tượng này với đối tượng khác đều thông qua các thông điệp Đối tượng bao giờ cũng có mã thao tác, những mã này gọi là các phương thức Các đối tượng cùng chung kiểu giá trị và phương thức thì được gộp vào cùng một lớp Thực thể là một vật thực hay một đối tượng tồn tại một cách khách quan, chúng

ta có thể phân biệt chúng nhờ chỉ số Index của chúng trong máy tính Nếu các thực thể không có chỉ số tự nhiên thì chúng ta phải tạo ra chỉ số cho chúng Thuộc tính hay còn gọi là tính chất thực thể được biểu thị trong các trường (cột) của bảng Giữa các thực thể có mối quan hệ với nhau Các quan hệ giữa các thực thể có thể là: Một - một, một - nhiều, và quan hệ nhiều - nhiều

+ Quan hệ một - một: Thường được thống nhất với nhau để tạo thành một thực thể mới mang thuộc tính của cả hai thực thể ban đầu Về quan niệm thì một đối tượng sẽ được xác định bởi một tập hợp hữu hạn các thuộc tính và các mối quan

hệ Ngoài ra một đối tượng cụ thể cần phải đi kèm các chức năng hoặc các phương pháp chung để thể hiện Thể hiện chúng trong cùng một khung nhìn được gọi là một frame hoặc một view Tập hợp các thuộc tính và các chức năng được gộp chung vào một tên gọi là một chủ đề (property)

VD: một đối tượng có thể được mô tả như sau

Đối tượng X {đặc tính 1, đặc tính 2, , đặc tính m;

Chức năng1, Chức năng 2, , chức năng n;

Quan hệ 1, quan hệ 2,… , quan hệ p}

Khi mô tả trên được áp dụng cho các thực thể địa lý, đối tượng, đặc tính, chức năng và quan hệ được xác định đồng thời ở đây đối tượng được trở thành thuộc tính Tên gọi cụ thể của các thuộc tính gọi là mã thuộc tính

+ Quan hệ một – nhiều: Thông qua thực thể trung gian

+ Quan hệ nhiều – nhiều: Thường thể hiện các mối quan hệ được chuẩn hoá

Trang 25

Khi mô hình dữ liệu được chuẩn hoá thì nó sẽ được đảm bảo tính thống nhất sau này của CSDL Trên sơ đồ dữ liệu các thực thể thể hiện bằng các hình chữ nhật, còn các mối quan hệ giữa các thực thể được biểu thị bằng các đường nối giữa các ô hình chữ nhật đó

Đi kèm với các sơ đồ định nghĩa để xác định các thực thể là bảng mô tả thuộc tính của chúng bao gồm: Tên, kiểu, độ dài và màu sắc

1.4.3 Mô hình dữ liệu logic dựa trên bản ghi

Mô hình logic dựa trên bản ghi (records) được dùng để mô tả cấu trúc dữ liệu ở bậc logic và khung nhìn view, ngược lại với mô hình dữ liệu dựa trên hướng đối tượng, mô hình này được sử dụng để xắp xếp cấu trúc logic của CSDL, vừa để cung cấp sự mô tả thực thể ở mức độ cao hơn, mô hình này gồm

3 dạng được sử dụng rộng rãi là: Mô hình quan hệ, mô hình phân cấp và mô hình mạng, đối với mô hình này dữ liệu giả thiết là được tổ chức thành các bản ghi, tiến tới triển khai ở mức cao hơn Mô hình này là nền tảng logic mà các hệ quản trị CSDL lựa chọn và xây dựng hệ thống trên đó

1.4.3.1 Mô hình quan hệ

Sử dụng cấu trúc bảng biểu đơn giản để mô tả dữ liệu trong CSDL một cách dễ hiểu, rõ ràng Các bảng bao gồm các cột và các hàng có số lượng không hạn chế, các bảng có tính chất sau

+ Các thực thể chứa trong cột phải mang giá trị đơn lẻ, mỗi trường không được chứa danh sách thuộc tính

+ Các thực thể chứa trong cột phải có cùng kiểu dữ liệu

+ Mỗi hàng là duy nhất, không chấp nhận những hàng trùng nhau, các cột

và các hàng có thể xắp xếp theo thứ tự bất kỳ

+ Mỗi cột phải có một tên duy nhất

Mô hình này có tính mềm dẻo rất lớn bằng cách loại bỏ sự phân cấp các trường Tất cả các trường đều có thể sử dụng như khoá để truy nhập thông tin Ở đây các bản ghi được coi là các thực thể riêng biệt và được xác định là một thực

Trang 26

thể Mỗi một bản ghi là một dòng trong bảng hai chiều và mỗi trường là một cột trong bảng

Mô hình này được tìm ra dựa trên lý thuyết về tập hợp cho phép giải một

số bài toán được tiến hành khi sử dụng thông tin Các phép toán đó là: Phép chọn (select), chiếu (project), tích (product), nối (junction), hợp (union), giao (intersection), khác (different), chia (division) Các phép toán này có thể được thực hiện trên các CSDL được xây dựng theo mô hình này, các phần mềm quản trị cơ sở dữ liệu dựa trên mô hình này gồm: Mapinfo, Access…

1.4.3.2 Mô hình phân cấp

Trong mô hình này các bản ghi được chia thành các trường Các trường được liên kết nhau dưới một hình thức như một cành cây Trong mỗi nhóm các bản ghi, một trường được xác định là bản ghi chủ, các nhóm được tổ chức tuần

tự và dữ liệu được truy nhập bằng cách tìm theo tìm theo các mức khác nhau tuỳ theo thứ tự bậc được xắp xếp Mỗi đối tượng có thể phân thành nhiều thứ bậc tuỳ thuộc vào cách phân cấp Chúng ta có thể xây dựng cây phân cấp phù hợp với số lượng thứ bậc trong phân loại các đối tượng hoặc tính chất của các đối tượng cần được quản lý Ví dụ sau đây là một cây phân cấp chung

Hình 1.5 Mô hình phân cấp Trong đó: P1 gọi là bậc P1

C1 gọi là bậc C1

Trang 27

Cấu trúc phân cấp giúp chúng ta phân nhóm lớp hoặc phân lớp các đối tượng để biểu diễn và các lập trình viên sẽ định hướng theo cây cấu trúc phân cấp này để viết chương trình giúp cho người sử dụng có thể truy cập trực tiếp đến các dữ liệu ở các cấp, cấu trúc phân cấp của mô hình mang tính hệ thống cao và nó có ý nghĩa trong việc quản lý, tìm kiếm và tổng quát hoá các đối tượng được quản lý

1.4.3.2 Mô hình mạng

Mô hình này cũng có cấu trúc giống như mô hình phân cấp Ngoài ra nó còn bổ xung thêm mối liên hệ giữa các trường Điều này cho phép người sử dụng có thể truy nhập đến từng trường mà không cần tìm kiếm qua toàn bộ cấu trúc phân cấp

Hình 1.6 Mô hình mạng

Trang 28

đồ chuyên đề vẽ trên giấy cùng các bảng biểu Khi nền kinh tế ngày càng phát triển khối lượng thông tin ngày càng đồ sộ, thực tế đòi hỏi phải phân tích, cung cấp thông tin, cập nhật tin tức hàng ngày Các phương pháp quản lý thông tin truyền thống không đáp ứng được yêu cầu kịp thời

Máy tính số được ứng dụng rộng rãi, công nghệ thông tin ngày càng phát triển cho phép số hoá các thông tin không gian, mã hoá các thông tin thuộc tính,

tổ chức lưu trữ một lượng thông tin lớn, câp nhật, sửa đổi thông tin một cách nhanh chóng, dễ dàng tổng hợp phân tích, cung cấp thông tin đó là điều kiện và

lý do cho việc ra đời và sử dụng rộng rãi hệ thống thông tin địa lý (GIS) và hệ thống thông tin đất đai (LIS)

LIS hay GIS đều có sự trợ giúp của máy tính, sử dụng các phần mềm chuyên dụng, có chức năng thu nhận, lưu trữ, quản lý, xử lý, mô hình hoá, thể hiện các dữ liệu không gian và thuộc tính đồng thời có khả năng trao đổi với người sử dụng Các thông tin không gian được lưu trữ trong các tệp tin đồ hoạ, các files này được quản lý theo hệ thống toạ độ không gian còn các dữ liệu thuộc tính được lưu trữ trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như: excel, access…các tệp tin đồ hoạ có thể chạy độc lập hoặc kết nối với thông tin thuộc

Trang 29

tính Ngày nay nhờ có sự phát triển nhanh của công nghệ thông tin các nhà lập trình đã đưa ra các hệ quản trị CSDL đó là các phần mềm đồ hoạ và quản trị dữ liệu như Mapinfo, Arc infor… đều có các mối liên kết trong để liên kết môi trường đồ hoạ với môi trường thuộc tính

Hệ thống thông tin Địa Chính phản ánh các loại dữ liệu có trong không gian của các đối tượng đất, các thồng tin có liên quan đến Địa Chính và ở các mốc thời gian khác nhau thông qua các thuộc tính đặc trưng của các dữ liệu không gian và phi không gian, nhờ sự trợ giúp của các phần cứng và phần mềm của máy vi tính, các dữ liệu đó được nhập, lưu trữ, tìm kiếm, hiển thị và phân tích tổng hợp…

là các thiết bị ngoại vi giúp cho bộ xử lý trung tâm làm nhiệm vụ Các thiết bị này thực hiện các chỉ dẫn thông qua các chương trình và kiểm tra toàn bộ các thiết bị khác, các bộ xử lý của máy tính dung để lập bản đồ thường là bộ xử lý Pentum III, Pentum IV

Trang 30

- Bộ nhớ ROM là bộ nhớ chỉ đọc dùng lưu dữ các chương trình khởi động

- Các thiết bị đồ hoạ của máy tính: Gồm Card đồ hoạ và màn hình

+ Card đồ hoạ: Là để xác định khả năng thể hiện của màn hình, chúng được xác định bằng độ phân giải, từ màu số hoá tổng hợp từ ba màu cơ bản Card thường được sản xuất theo tiêu chuẩn VERA Thường có bộ nhớ là 512

Kb, 1Mb, 1,5 Mb hoặc có thể lớn hơn Thông thường với máy tính để làm bản

đồ thì yêu cầu tối thiểu về độ phân giải là 768 x 1024 dpi và màu sắc thể hịên là

*Các thiết bị số hoá:

Là các thiết bị thực hiện chức năng biến đổi các dữ liệu từ bản đồ giấy tương đồng sang dữ liệu mà máy tính có thể đọc được Có thể chia làm hai loại

là bàn số hoá (Digitize) và máy quét (Scanner)

- Bàn số hoá Digitize là thiết bị số hoá bán tự động, dữ liệu bản đồ dưới dạng các bản đồ, đồ hoạ … Được chuyển trực tiếp sang dạng vector trên máy tính Ưu điểm của nó là nguyên lý làm việc đơn giản, dễ sử dụng, có thể chủ động tách lớp nội dung và tổng quát hoá các nội dung theo ý muốn Tuy nhiên tốc độ

Trang 31

chậm, thủ công và độ chính xác không cao, dễ mắc lỗi và sai sót do thời gian làm việc kéo dài và do chủ quan của người làm công việc số hoá

- Máy quét (Scanner): Là thiết bị dùng để chuyển đổi dữ liệu bản đồ giấy, ảnh hàng không trên giấy ảnh dạng raster Ưu tiên của việc sử dụng máy quét là tốc

độ nhanh, không bị ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan Nhược điểm của nó là việc nhập dữ liệu bằng máy quét làm tốn không gian lưu trữ dữ liệu, người biên tập viên bản đồ không chủ động được trong quá trình chọ mức độ chi tiết của nội dung và cần phải có phần mềm chuyên dụng kèm theo

*Thiết bị vẽ:

Máy vẽ là một thiết bị phần cứng đóng vai trò quan trọng trong quá trình thành lập bản đồ bằng phương pháp tự động hoá Máy vẽ dụng để chuyển đổi bản đồ số trên máy tính thành bản đồ in trên giấy hoặc vật liệu khác Sản phẩm bản đồ tạo ra đạt chất lượng cao về mức độ chính xác cũng như màu sắc thể hiện điển hình là máy vẽ nét và máy in phun mực (Máy vẽ mành)

Máy vẽ nét có cấu tạo gồm hệ thống định vị là các thanh trượt cắt nhau có gắn mô tơ điện có nhiệm vụ di chuyển đầu vẽ đến toạ độ điểm cần vẽ để máy vẽ hoạt động Máy vẽ có hai chế độ làm việc: chế độ trực tiếp và chế độ gián tiếp

+ Chế độ trực tiếp (on - line): Bộ điều khiển gắn với máy tính điện tử và nối trực tiếp với máy vẽ

+ Chế độ gián tiếp (off – line): Bộ điều khiển gắn độc lập với thiết bị của máy vẽ có khả năng đọc các băng đĩa từ

Yêu cầu tối thiểu đối với phần mềm của bộ điều khiển vẽ là có khả năng nội suy ra đường giữa các điểm đã cho, thực hiện tốt việc nâng hạ bút, có khả năng vẽ các dạng hình học khác nhau như Parabol, cung tròn, đường tròn dùng

để thiết kế ký hiệu, có khả năng thay đổi tỷ lệ bản đồ, khả năng xoay hình Tương ứng với mọi loại máy vẽ thì có các thông số để chọn máy tính

Máy vẽ mành: Các số liệu được nhập vào dưới dạng hệ thống điểm (cell) Toàn bộ vùng vẽ được chia ra những đơn vị lãnh thổ nhỏ li ti, tạo thành các mành (các raster) Đầu vẽ của máy vẽ chuyển động trong một mạng lưới gồm

Trang 32

những đường song song và phủ kín toàn bộ vùng cần vẽ Máy vẽ mành còn có khả năng vẽ được rất nhiều màu sắc khác nhau, các màu được tạo ra bằng cách hoà trộn màu trong nhiều hệ màu: HSV, RGB, CMYK Máy vẽ này có độ phân giải cao, độ chính xác vài micromet Tốc độ không xác định theo chiều dài của nét mà theo diện tích vùng được đo vẽ

2.2.2 Phần mềm

Phần mềm xây dựng LIS rất đa dạng và phong phú do các hãng khác nhau sản xuất Các phần mềm xây dựng LIS có thể giống nhau ở các chức năng song khác nhau về về tên gọi và môi trường hoạt động, giao diện, khuôn dạng dữ liệu không gian, hệ quản trị cơ sở dữ liệu Theo thời gian phần mềm xây dựng LIS

đã phát triển ngày càng thân thịên với người dùng, toàn diện về chức năng và có khả năng quản lý dữ liệu hiệu quả hơn Ở Việt Nam trong một vài năm gần đây LIS cũng phát triển mạnh mẽ Một yếu tố quan trọng của sự phát triển này là khả năng đầu tư của các hãng xây dựng LIS hàng đầu thế giới vào Việt Nam Đây chính là lợi thế để Việt Nam có thể đuổi kịp và hoà nhập với bạn bè quốc tế

Hệ thống phần mềm LIS ở việt nam gồm đủ các mô hình không gian vector, raster như MGE của Interghrap, ARC-INFO của ESRI, PAMAP ERMAPPER, ILWIS, MAPINFO, ARCVIEW, chúng được dùng trong các ngành Địa Chính với công tác quản lý đất đai, trắc địa bản đồ, thông tin lưu trữ, môi trường, địa chất, nông nghiệp, thậm chí trong cả ngành mang ít tính khoa học như bưu điện, điện lực tuy rằng mức độ quan tâm còn hạn chế, trên lĩnh vực nghiên cứu công tác thành lập lưu trữ bản đồ, việc ứng dụng các phần mềm LIS

ở Việt Nam đã đạt được những thành công đáng kể

2.2.2.1 Một số phần mềm đang được sử dụng tại Việt Nam

a Mapinfo Profesional

Mapinfo Profesional là một trong các phần mềm đang được sử dụng như

là một hệ thống LIS trong thành lập, quản lý thông tin địa lý bản đồ; là phần mềm không lớn lắm, định hướng cho máy tính nhỏ Mapinfo Profesional có thể chạy trên tất cả các máy tính thông thường và có khả năng ứng dụng thực tế rất

Trang 33

lớn Ưu điểm nổi bật của phần này là khả năng hỏi đáp với cơ sở dữ liệu địa lý

và sử dụng các môi trường windows Mapinfo cũng cung cấp đầy đủ các phép tính không gian Ngoài ra còn Mapbasic để tạo ra các trình ứng dụng riêng

b PC ARC/INFO

Là phần mềm xây dựng LIS Đầu tiên PC Arc/Info được ESRI xây dựng trên hệ điều hành UNIX cho máy lớn WORKSTATION Arc/Info là phần mềm chạy trên máy PC, tuy chưa mang đầy đủ tính năng vốn có của nó trên UNIX nhưng nó cũng được ứng dụng rộng dãi trong thị trường LIS trên các máy PC có

độ tin cậy cao Arc/Info có khả năng xử lý đồ họa mang tính tự động cao, cung cấp tốc độ và độ chính xác cho thành lập các bản đồ số trên máy tính

Arc/Info được sử dụng rộng dãi trong các ngành khoa học trái đất cũng như trong các ngành khác để xây dựng hệ quản trị cơ sở dữ liệu bản đồ, thành lập các loại bản đồ chuyên đề, bản đồ quy hoạch với chức năng tối ưu hóa các bài toán phục vụ nhiều bài toán khác nhau

- Arc/Info Starter Kit: Kết nối với bản vẽ, tạo bản đồ số và cơ sở dữ liệu

- PC Over Play: Chồng xếp Polygol, đường điểm và tạo vùng lân cận (buffer generation)

- PC Data Conversion: Chuyển đổi giữa các mảnh bản đồ và các Khuôn dạng dữ liệu khác

- PC Arcedit: Sửa đổi các phần tử đồ họa phức tạp cho bản đồ và các sản phẩm bản đồ có liên quan, cập nhật các thông tin mới

- PC Netwrr: Lựa chọn đường đi, vị trí, chia thành các khu gán mã địa chỉ

- PC Arc/Info: Được xây dựng ban đầu trên hệ điều hành UNIX Các phiên bản của PC Arc /Info trên DOS chưa thực sự có đầy đủ khả năng của nó trên UNIX

Trong khóa luận này em sử dụng hai phần mềm là Microstation và Mapinfo Microstation mạnh về số hóa biên tập bản đồ Nhưng Mapinfo thì mạnh về LIS, vì vậy mà em sử dụng kết hợp hai phần mềm này để phục vụ cho thành lập CSDL Địa Chính để quản lý HTTH đất đai

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:28

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w