Ngày nay với sự lớn mạnh của công nghệ tin học, sự phát triển của đồ hoạ, với sự thành công của các chương trình xử lý dữ liệu không gian và thuộc tính, công nghệ bản đồ số đã ra đời khắ
Trang 1MỤC LỤC
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Vấn đề quản lý và sử dụng đất hiện nay 3
CHƯƠNG II MỤC TIÊU - NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU
5
3.1 Các vấn đề chung liên quan đến bản đồ địa chính 9
3.1.3 Yêu cầu về độ chính xác của bản đồ địa chính 15
3.2 Phương pháp thành lập bản đồ địa chính 18
3.2.2 Phương pháp sử dụng ảnh máy bay, ảnh vệ tinh 20 3.2.3 Phương pháp đo vẽ bổ xung và chỉnh lí tài liệu bản đồ hiện có 22 3.3 Khái quát quy trình công nghệ xây dựng bản đồ số địa chính 22
Trang 23.3.3 Khái quát quy trình công nghệ thành lập bản đồ số địa chính 24 3.4 Điểm qua hệ thồng thông tin địa lý và khả năng ứng dụng vào
công tác thành lập bản đồ số địa chính
26
3.4.1 Khái quát về hệ thống thông tin địa lý 26 3.4.2 Ứng dụng GIS trong công tác xây dựng bản đồ số 27 3.5 Bản đồ số, phần mềm đồ hoạ Mapinfo và khả năng ứng dụng
trong công tác thành lập bản đồ số địa chính
4.3 Kết quả thu thập số liệu, tài liệu, bản đồ tại khu vực nghiên
Trang 34.6.3 Kết quả số hoá lớp thông tin giao thông 44 4.6.4 Kết quả số hoá lớp thông tin thuỷ văn 45 4.6.5 Kết quả số hoá lớp thông tin địa danh 46 4.6.6 Kết quả gán lớp thông tin nhãn bản đồ 47
4.7 Kết quả xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ 49 4.8 Kết quả biên tập bản đồ địa chính số phường Cẩm Trung - thị
Trang 4LỜI NÓI ĐẦU Được sự đồng ý của nhà trường, khoa Quản trị kinh doanh, bộ môn Trắc địa - bản đồ, tôi đã tiến hành thực hiện đề tài tốt nghiệp với địa điểm thực tập là khu vực phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh
Sau hơn một tháng thực tập tại khu vực nghiên cứu và một tháng viết báo cáo tổng kết, đến nay tôi đã hoàn thành khoá luận “Thành lập bản đồ và
cơ sở dữ liệu địa chính số phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh”
Nhân dịp này tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy cô trong
Bộ môn Trắc địa - bản đồ, Chủ tịch phường Cẩm Trung, các Cán bộ phòng Địa chính phường, bạn bè… đặc biệt là cô giáo TS CHU THỊ BÌNH đã trực tiếp hướng dẫn , tạo mọi điều kiện giúp tôi hoàn thành khoá luận này
Trong quá trình thực tập mặc dù đã cố gắng hết mình nhưng do bản thân còn hạn chế về kinh nghiệm, kiến thức và những nguyên nhân khách quan khác nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý chân thành của thầy cô giáo và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Nguyễn Thị Thu
Trang 5ĐẶT VẤN ĐỀ
Đất đai là nguồn tài nguyên vô cùng quý giá, là sản phẩm của thiên nhiên
và là giá đỡ cho mọi hoạt động sống đồng thời là tư liệu đặc biệt của các ngành nông lâm nghiệp và là nguồn sản sinh ra của cải vật chất cho toàn xã hội Đất đai còn là yếu tố cấu thành nên lãnh thổ quốc gia Ngay từ ngày xưa, diện tích đất đai trong lãnh thổ của một nước thể hiện sự giàu có của nước đó Ngày nay cùng với quá trình phát triển của xã hội, đất đai ngày càng trở nên khan hiếm
do sự gia tăng của dân số Việc sử dụng đất lâu dài đã làm nảy sinh vấn đề giữa con người với con người liên quan đến đất đai, đặc biệt là vấn đề chiếm hữu và
sử dụng đất Chính vì vậy việc quản lý chặt chẽ về đất đai, về cả số lượng cũng như chất lượng đã được Đảng và Nhà nước hết sức quan tâm
Cùng với sự phát triển của xã hội, khoa học công nghệ cũng ngày càng phát triển trong đó có sự đóng góp của công nghệ địa chính Tuy nhiên ở nước
ta công nghệ địa chính vẫn chưa thực sự phát triển, công tác quản lý đất đai và xây dựng bản đồ ở các cấp vẫn còn gặp nhiều khó khăn Hầu hết các bản đồ đều được lưu trữ trên giấy, thông tin ít được cập nhật Trong khi đó yêu cầu về quản lý đất đai là bản đồ điạ chính là rất lớn
Trong những năm gần đây hệ thống thông tin địa lý (Geographical Inforrmation Sysreon – GIS) đã ra đời góp phần phát triển thêm trong ngành địa chính của nước ta Tiếp sau đó hàng loạt các phần mềm hỗ trợ cho công tác quản lý đất đai và xây dựng bản đồ đã ra đời giúp cho công việc địa chính trở nên dễ dàng và thuận tiện hơn Các thông tin đều được lưu trữ trên máy vi tính dưới dạng các file và được cập nhật thường xuyên giúp cho việc tra cứu chỉnh sửa thông tin trong quản lý đất đai diễn ra một cách nhanh nhất và chính xác nhất
Hiện nay công nghệ xây dựng bản đồ số đã phát triển khá mạnh, tuỳ thuộc theo khả năng và mức độ trang thiết bị, các số liệu đo đạc, các nguồn tài
Trang 6liệu có sẵn, các loại tư liệu ảnh hàng không viễn thám mà thu nhận vào máy tính dưới dạng số hoặc được số hoá thông qua các thiết bị và phần mềm
Phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh trong những năm gần đây có sự phát triển mạnh về kinh tế - xã hội Sự phát triển mạnh mẽ
về kinh tế - xã hội đã kéo theo vấn đề đất đai trở nên bức xúc và phức tạp… Trong khi đó, tại phường người ta lưu trữ bản đồ hầu hết được in trên giấy Do vậy việc lưu trữ, bảo quản và sử dụng bản đồ gặp rất nhiều khó khăn và bất tiện Ngoài ra việc cập nhật, bổ sung những biến động về đất đai là rất khó khăn Chính vì vậy việc quản lý đất đai bằng bản đồ địa chính và các văn bản mang tính kỹ thuật và pháp lý cao là hết sức cần thiết Do vậy tôi đã chọn khoá luận tốt nghiệp với chủ đề: “Thành lập bản đồ và cơ sở dữ liệu địa chính số phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh”
Trang 7CHƯƠNG I : TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Vẩn đề quản lý và sử dụng đất hiện nay
Quản lý đất đai luôn là vấn đề cấp thiết được nhà nước ưu tiên quan tâm, Nhà nước ta đã đưa ra nhiều nghị định và điều luật về đất đai Luật đất đai năm
2003 và các nghị định thông tư kèm theo đã tạo ra hành lang pháp lý cho hệ thống quản lý và sử dụng đất, cùng với đó là những hoạt động tuyên truyền vận động toàn dân bảo vệ rừng và sử dụng đất tiết kiệm hiệu quả Nhưng cũng trong những năm gần đây, sự phát triển mạnh mẽ về kinh tế xã hội đã kéo theo nhu cầu sử dụng đất rất lớn, đặc biệt là nhu cầu đất cho xây dựng các khu công nghiệp, đường giao thông, xây dựng các công trình công cộng Do vậy nảy sinh nhiều vấn đề như tham nhũng, lấn chiếm, tranh chấp đất đai, thu hồi đất, giải phóng mặt bằng, các thủ tục quản lý hành chính về đất đai ruờm rà … Những tiêu cực về đất đai là vấn đề bức xúc cho toàn đảng, toàn dân ta
Thực tế đặt ra cho ngành quản lý đất đai có rất nhiều vấn đề cần giải quyết Một trong những vấn đề đó là giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng, sử dụng đất không đúng mục đích được giao, lấn chiếm tranh chấp, đền bù đất chưa hợp lý… Tình hình đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn diễn ra rất chậm
Khu vực phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - Tỉnh Quảng Ninh là khu vực phát triển kinh tế khá mạnh lên thị trường đất đai cũng phát triển khá mạnh, nhu cầu đất đai để xây dựng công trình, khu công nghiệp, nhu cầu chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển nhượng, cho thuê… khá nhiều Do vậy công tác thành lập bản đồ địa chính là rất cần thiết
1.2 Lược sử vấn đề nghiên cứu
Ngay từ thủa sơ khai của xã hội loài người, vấn đề sở hữu đất đai đã giữ một vai trò cốt lõi, nó đã từng là một trong những căn bản chủ yếu tạo nên của cải và sự giàu có của mỗi quốc gia cũng như mỗi cá nhân Vì vậy mà con người
Trang 8đã sớm nghĩ ra bản đồ địa chính để phục vụ cho mục đích thu thuế, để biết rõ diện tích và giá trị đất
Trong những năm trước đây khi khoa học công nghệ chưa phát triển ngành địa chính chỉ dựa vào những bản đồ giấy thông thường theo các tỷ lệ khác nhau để quản lý đất đai Nhưng bản đồ giấy có độ chính xác chưa cao và việc khai thác thông tin không thuận lợi, cập nhật thông tin cũng rất khó khăn
Ngày nay với sự lớn mạnh của công nghệ tin học, sự phát triển của đồ hoạ, với sự thành công của các chương trình xử lý dữ liệu không gian và thuộc tính, công nghệ bản đồ số đã ra đời khắc phục được những yếu kém của bản đồ giấy, đó là nhờ hệ thống thông tin địa lý Hệ thống này giúp cho quá trình tìm kiếm, thu thập bổ sung cập nhật thông tin được tự động và quản lý thông tin theo ý muốn phục vụ cho nhiều mục đích khác nhau trong sản xuất và nghiên cứu khoa học Như vậy hệ thống thông tin địa lý giúp quá trình tạo lập bản đồ, truy cập thông tin một cách chính xác và nhanh nhất Có thể nói việc áp dụng công nghệ GIS trong quản lý nói chung và quản lý đất đai nói riêng trong thời đại ngày nay là rất cần thiết
Phường Cẩm Trung là khu vực nằm ở trung tâm của thị xã Cẩm Phả, có
vị trí giao thông thuận lợi, tập trung đông dân, cơ quan nhà nước… Do đó công tác quản lý đất đai gặp nhiều khó khăn Vì vậy tôi mạnh dạn chọn đề tài tốt nghiệp “Thành lập bản đồ và cơ sở dữ liệu địa chính số phường Cẩm Trung
- thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh”, tôi mong muốn kết quả nghiên cứu đề tài này sẽ là công cụ giúp cho công tác quản lý đất đai của phường Cẩm Trung cũng như sẽ là tài liệu tham khảo cho công tác xây dụng cơ sơ dữ liệu địa chính cho thị xã Cẩm Phả
Trang 9CHƯƠNG II: MỤC TIÊU - NỘI DUNG – PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Xây dựng thành công bản đồ địa chính số cho phường Cẩm Trung - thị
xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh
- Xây dựng được hệ thống cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính tại khu vực nghiên cứu
2.2 Giới hạn nghiên cứu
- Giới hạn khu vực xây dựng bản đồ là phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả- tỉnh Quảng Ninh
- Trong đề tài tôi sử dụng phương pháp tổng hợp từ bản đồ địa chính đã
có để thành lập bản đồ địa chính số cho phường cẩm trung dựa vào công nghệ tin học
- Tài liệu sử dụng trong đề tài hoàn toàn là tài liệu kế thừa, tôi không tiến hành khảo sát thực địa để kiểm chứng độ chính xác nên tính xác thực của đề tài hoàn toàn phụ thuộc vào mức độ chính xác của tài liệu thu thập được
- Trong đề tài này tôi chủ yếu sử dụng phần mềm Mapinfo để xây dựng bản đồ
- Phường được chia làm 5 khu với 35 mảnh bản đồ Do thời gian có hạn nên tôi chỉ tiến hành xây dựng một mảnh bản đồ số 13
2.3 Nội dung nghiên cứu
- Thu thập, phân tích và đánh giá các tài liệu, số liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu
- Quét và định vị bản đồ
- Số hoá bản đồ
- Xây dựng cơ sở dữ liệu bản đồ địa chính
- Thiết kế biên tập bản đồ khu vực phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả
- tỉnh Quảng Ninh
Trang 10- Tổng hợp cơ sở dữ liệu địa chính khu vực nghiên cứu
- Ứng dụng bản đồ địa chính số vào công tác quản lý đất đai
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp thu thập số liệu
Thu thập số liệu, tài liệu đã có liên quan đến khu vực nghiên cứu, cụ thể là:
- Kế thừa có chọn lọc các loại bản đồ, tài liệu đã có sẵn trên khu vực nghiên cứu
- Đối với bản đồ phải có tỷ lệ phù hợp với bản đồ thành quả và thời gian
đo vẽ phải gần so với hiện tại hoặc được bổ xung thường xuyên
- Đối với các tài liệu: Các tài liệu và hồ sơ có liên quan đến từng tờ bản
đồ phải được thu thập từ các tài liệu có sẵn trên khu vực các tài liệu phải được cung cấp bởi cơ quan đủ tin cậy
- Phỏng vấn trực tiếp cơ quan chức năng và những người có kinh nghiệm tại khu vực nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
* Đối với tài liệu là Bản đồ: Sử dụng phương pháp số hoá để chuyển các thông tin trên bản đồ giấy vào máy tính dưới dạng bản đồ số và xử lý các thông tin này nhờ phần mềm chuyên dụng làm bản đồ
* Đối với các tài liệu là số liệu thống kê: Tiến hành xử lý và cập nhật vào bản đồ thông qua các công cụ máy tính Các bước xây dựng được tiến hành như sau:
- Quét bản đồ: Mục đích của quá trình quét bản đồ là chuyển dữ liệu đồ hoạ lưu trên giấy thành dạng file dữ liệu số dưới dạng raster sau đó các file này được chuyển đổi và định vị để tiếp tục sử lý bằng phần mềm chuyên dụng làm bản đồ
- Định vị bản đồ: Mục đích của việc định vị bản đồ là chuyển đổi các ảnh quét đang ở toạ độ hàng cột của các pixel về toạ độ trắc địa (toạ độ thực -
hệ toạ độ địa lý) Đây là bước quan trọng nhất trong quy trình công nghệ vì nó
Trang 11ảnh hưởng tới toàn bộ độ chính xác của bản đồ sau khi được số hoá dựa trên nền ảnh
Trong cơ sở dữ liệu, để hiển thị một bản đồ ảnh quét hoặc sử dụng làm ảnh nền để số hoá tạo dữ liệu vector đòi hỏi người sử dụng phải thực hiện các phép chuyển đổi không gian từ dữ liệu raster ở toạ độ hàng cột sang hệ toạ độ thực địa Trong đề tài tôi đã chuyển đổi các file ảnh vào lưới chiếu UTM với múi chiếu tương ứng ( Zone 48, Northern Hemisphere<WGS 84> ) để tiến hành định vị bản đồ
Các bước định vị như sau:
- Số hoá: Mục đích của quá trình số hoá là biến đổi dữ liệu raster thành
dữ liệu vector Sau khi có file ảnh raster đã được định vị, ta có thể số hoá trên nền ảnh để tạo dữ liệu vector Khi số hoá cần tuân theo 3 nguyên tắc sau:
+ Chọn đúng loại đối tượng cần số hoá
+ Số hoá bản đồ đúng với các chỉ tiêu kỹ thuật mà quy phạm quy định + Số hoá đúng thứ tự trong trường hợp cần số hoá tham gia vào nhiều đối tượng
- Kiểm tra, hoàn thiện các dữ liệu: Sau khi số hoá, số liệu nhận được chưa phải đã hoàn thiện và có thể sử dụng được Các dữ liệu này được gọi là các dữ liệu thô, ta cần tiến hành kiểm tra, chỉnh sửa các dữ liệu
+ Sửa các lỗi dữ liệu dạng đường: Dữ liệu dạng đường thường gặp các lỗi như: đường chưa mềm, thừa điểm, cắt nhau, đường trùng nhau…
+ Sửa các dữ liệu dạng vùng: Các vùng có thể mắc các lỗi như; chưa khớp nhau, đè lên nhau, chưa khớp ranh giới, màu sắc đường bao so với bản đồ gốc vì vậy ta cần tiến hành xử lý:
Trang 12+ Sửa các dữ liệu dang text: Các lỗi thường gặp đối với các dữ liệu dang text là sai font, kiểu chữ, kích thước chữ Ta có thể chọn đối tượng cần chỉnh sửa và chọn text style trên thanh Drawing
- Tạo cơ sở dữ liệu bản đồ:
Sau khi số hoá các thông tin về không gian, cần thực hiện thành lập các
dữ liệu thuộc tính cho bản đồ Đây chính là cơ sơ cho việc phân tích , quản lý
và lưu trữ các thông tin của đối tượng nghiên cứu muốn có được cơ sở dữ liệu cho bản đồ đã được số hoá, ta cần thực hiện 2 bước chính là: tạo các trường dữ liệu và nhập các dữ liệu đó:
+ Tạo các trường dữ liệu: Khi tạo các trường dữ liệu cho bản đồ, cần có lớp thông tin về hiện trạng đối tượng cần thao thác Sau đó tạo trường dữ liệu bằng các bước sau:
Chọn chế độ đăng ký trường dữ liệu
Lựa chọn các trường dữ liệu ( field ) thích hợp
Lựa chọn các kiểu đường ( type of filed ) thích hợp
Tại đây ta tiến hành chọn các trường dữ liệu ( field ) thích hợp
+ Nhập các dữ liệu của bản đồ: Sau khi đã lập được bảng cơ sở dữ liệu cho lớp thông tin hiện trạng của bản đồ tiến hành nhập dữ liệu có sẵn vào bảng
sơ sở dữ liệu đó Ta có thể tiến hành nhập dữ liệu cho bản đồ bằng nhiều phương pháp:
Nhập trực tiếp: Sau khi lập các trường dữ liệu, ta sẽ có các trường dữ liệu rỗng chúng được thể hiện trong bảng cơ sở dữ liệu của bản đồ Ta có thể gọi trực tiếp bảng cơ sở dữ liệu gốc đó hoặc nhập trực tiếp cho từng lô bằng các công cụ trong máy tính với sự trợ giúp của bàn phím
Nhập gián tiếp: Một đặc điểm của Mapinfo là khả năng lựa chọn các đối tượng theo các đặc điểm cho trước Vì vậy ta có thể lựa chọn các đối tượng có cùng đặc điểm sau đó tiến hành nhập thông tin cho chúng cùng một lúc
- Tạo bản đồ
Trang 13CHƯƠNG III: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
3.1 Các vấn đề chung liên quan đến bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên ngành đất đai, trên bản đồ thể hiện chính xác vị trí, ranh giới, diện tích và một số thông tin địa chính của từng thửa đất, từng vùng đất Bản đồ địa chính còn thể hiện các yếu tố khác nhau liên quan đến đất đai
Bản đồ địa chính là tài liệu cơ bản nhất của bộ hồ sơ địa chính, được sử dụng làm cơ sở thực hiện một số nhiệm vụ trong công tác quản lý nhà nước về đất đai như: thống kê đất đai; giao đất cho hộ gia đình cá nhân; đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; lập quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất; cải tạo đất; thiết kế xây dựng các điểm dân cư; quy hoạch giao thông, thuỷ lợi; lập hồ sơ thu hồi đất và giải quyết tranh chấp đất đai Bản đồ địa chính là kết quả của công tác điều tra cơ bản về quản lý của nhà nước đối với đất đai Bản
đồ địa chính đóng vai trò rất quan trọng trong ngành địa chính, trước khi lập sổ địa bạ (ngày trước) và hoàn thiên hồ sơ địa chính (ngày nay) phục vụ cho việc quản lý đất đai, đều phải tiến hành đo đạc lập bản đồ địa chính Chính vì vậy, bản đồ địa chính không chỉ mang tính chất trực quan, tính thông tin và tính đo được như những bản đồ thông thường khác mà bản đồ địa chính còn mang tính pháp lý cao Bản đồ địa chính cũng khác những bản đồ thông thường ở chỗ bản
đồ địa chính được thành lập thống nhất trên phạm vi cả nước theo đơn vị hành chính cơ sở là xã , phường, thị trấn ở tỷ lệ lớn và thường xuyên được cập nhật thay đổi liên quan tới từng thửa đất
Bản đồ địa chính nếu chia theo công nghệ thành lập thì được chia thành hai loại là: Bản đồ điạ chính giấy và Bản đồ số địa chính
- Bản đồ địa chính giấy: Là bản đồ địa chính được thực hiện trên giấy Các thông tin của bản đồ đều được lưu ở trên giấy Bản đồ địa chính giấy thường cồng kềnh, lưu trữ phức tạp, khi cần tìm dữ liệu thường khó truy cập truy cập mất nhiều thời gian …
Trang 14- Bản đồ địa chính số: Là bản đồ địa chính được thực hiện và lưu trữ trên máy tính dưới dạng số Bản đồ số địa chính số có khá nhiều ưu điểm như: Được lưu trữ dưới dạng số nên thông tin lưu trữ được nhiều, gọn mà vẫn đảm bảo đầy đủ, độ chính xác cao, dễ truy cập dữ liệu khi cần
Thực tế hiện nay, phần lớn các cấp hành chính chủ yếu vẫn đang sử dụng bản đồ điạ chính dưới dạng bản đồ giấy Điều này gây khó khăn lớn cho công tác quản lý đất đai, nhất là với thị trường bất động sản hoạt động mạnh mẽ như hiện nay, đất đai có nhiều biến động cả về diện tích, chủ sử dụng cũng như mục đích sử dụng Trong những năm tới, xu hướng chuyển bản đồ giấy sang bản
đồ số dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin sẽ khắc phục được tình trạng trên
và nâng cao được tính thông tin của bản đồ địa chính
Dưới đây là các yếu tố nội dung và cơ sở toán học của bản đồ địa chính 3.1.1 Nội dung bản đồ điạ chính
Bản đồ địa chính là bản đồ chuyên nghành đất đai Trên bản đồ địa chính cần thể hiện các nội dung sau:
- Thể hiện đầy đủ các điểm khống chế toạ độ các cấp hạng từ địa chính cấp II trở lên và điểm độ cao từ hạng IV trở lên, các điểm mốc địa giới hành chính các cấp, lưới km
- Ranh giới thửa đất: Là yếu tố cơ bản của bản đồ địa chính Được thể hiện trên bản đồ bằng đường viền dạng đường gấp khúc hoặc đường cong khép kín được xác định rõ ràng bằng bờ ruộng, mương, đường, bờ rào…Thửa đất thể hiện chính xác về vị trí, hình dạng, kích thước, đầy đủ ba yếu tố: thứ tự thửa, diện tích và loại đất theo mục đích sử dụng Các thông tin đó dễ dàng nhận biết một cách trực quan và rất thuận lợi cho công tác kiểm tra cũng như thống kê đất đai
- Ranh giới hành chính: Cần thể hiện chính xác ranh giới hành chính các cấp: quốc gia, tỉnh, huyện, xã Ranh giới đó đã được xác định theo NĐ 364/CP Khi ranh giới các cấp trùng nhau thì thể hiện các cấp ranh giới cao nhất
Trang 15- Ranh giới sử dụng đất: Trên bản đồ thể hiện ranh giới khu dân cư, ranh giới lãnh thổ sử dụng đất của các doanh nghiệp, cá nhân, các tổ chức xã hội, doanh trại quân đội
- Hệ thống giao thông: Cần thể hiện tất cả các loại đường như đường sắt, đường bộ, đường thuỷ, đường trong xóm, làng, đường nội đồng… Thể hiện chính xác vị trí, chỉ giới đường, các công trình: cầu, cống, đập… có trên đường
và tính chất của con đường
- Mạng lưới thuỷ văn: Thể hiện hệ thống sông ngòi, kênh mương, ao hồ, đập… Thể hiện tại mức nước cao nhất hoặc mức nước tại thời điểm đo vẽ
- Tên địa danh: Xã, thôn, làng, tên các xứ đồng, các con sông, suối, tên các địa vật quan trọng, các công trình: UBND, trường học, trạm xá, sân vận động, đình chùa, các cơ sở sản xuất
- Địa vật quan trọng có ý nghĩa định hướng: Đối với tỷ lệ lớn, khu vực dân cư đô thị trên mỗi thửa đất cần thể hiện các công trình chính như nhà ở, nhà làm việc…
- Ghi chú giải thích phải ghi chú đầy đủ các yếu tố trong và ngoài khung bản đồ như vị trí giới hạn, tiếp giáp ( giáp tờ, xã, huyện, tỉnh…) tên cấp quản
lý, thời gian đo vẽ, sơ đồ ghép mảnh, tỷ lệ… Tất cả các ghi chú phải dùng tiếng việt, đúng tên thường dùng, tuân theo đúng kiểu và cỡ chữ quy định trong tập
kí hiệu đo vẽ thành lập bản đồ địa chính
- Bản đồ địa chính phải đáp ứng được ba mặt tự nhiên, kinh tế và pháp lý Như vậy bản đồ địa chính ngoài việc có độ chính xác cao về kỹ thuật, các thông tin trên bản đồ địa chính phải được chủ sử dụng đất thừa nhận và chính quyền các cấp phê duyệt Chỉ tiêu này đạt được trong quá trình sử dụng đất và nó cũng
là một trong các chỉ tiêu đặc biệt mà các loại bản đồ khác không có được
Bản đồ địa chính là tài liệu chủ yếu trong hồ sơ địa chính Vì vậy trên bản đồ địa chính cần thể hiện đầy đủ các yếu tố cần thiết cho yêu cầu quản lý đất đai Trong đó, yếu tố thửa đất cần đựơc thể hiện rõ nét hơn cả, vì đây là nội dung chính của bản đồ địa chính
Trang 16Để đảm bảo yêu cầu của công tác quản lý đất đai, yếu tố thửa đất cần được thể hiện chính xác, khách quan và có mối quan hệ chặt chẽ với các đối tượng khác trong khu vực
3.1.2 Cơ sở toán học của bản đồ địa chính
Bản đồ điạ chính là loại bản đồ chuyên ngành có vai trò đặc biệt quan trọng Bản đồ địa chính khác biệt so với bản đồ thông thường khác ở chỗ: Bản
đồ địa chính được thành lập ở tỷ lệ lớn, được đo vẽ trên toàn quốc, được cập nhật bổ xung thường xuyên và mang tính chất pháp lý Do vậy cơ sở toán học của bản đồ địa chính cũng có nhiều khác biệt so với bản đồ nói chung và nhiều loại bản đồ chuyên ngành khác.Cơ sở toán học của bản đồ điạ chính bao gồm:
Hệ quy chiếu, hệ thống tỷ lệ, hệ thống chia mảnh đánh số bản đồ, các loại kí hiệu bản đồ
* Hệ quy chiếu bản đồ địa chính
Hiện nay bản đồ địa chính có các loại hệ quy chiếu như: hệ quy chiếu Gausse; hệ quy chiếu UTM và hệ quy chiếu VN 2000
- Hệ quy chiếu Gausse: Trong hệ quy chiếu Gausse sử dụng phép chiếu Gausse - Kruger Phép chiếu này được nhà bác học Đức Gauss đề xuất năm
1825 và vào năm 1912 nhà toán học đo đạc Đức Kruger hoàn thiện Tính chất
cơ bản của phép của phép chiếu Gausse là xác định sự phụ thuộc giữa toạ độ địa lý của các điểm trên bề mặt elipxoit và toạ độ vuông góc tương ứng của chúng trên mặt phẳng bản đồ Phép chiếu Gauss là phép chiếu hình trụ ngang đồng góc Theo phép chiếu này, quả đất được chia kinh tuyến thành các múi 60hoặc 30 Tuỳ theo yêu cầu và đặc điểm vị trí địa lý của khu vực mà mỗi múi có thể chia thành 60 hoặc 30 Nếu được chia thành 60 thì quả đất có 60 múi, còn nếu chia thành 30 thì quả đất có 120 múi Việt Nam ở vĩ độ thấp nên sai số sẽ rất lớn Vì vậy, để giảm bớt sai số các bản đồ tỷ lệ lớn được lập theo múi chiếu
30 và dùng các yếu tố: Elipxoit thực dụng của Kraxovski, hệ kinh tuyến gốc là kinh tuyến Grênưich ở ngoại ô london, kinh tuyến trung ương là 1050 đi qua hà nội, hệ kinh tuyến, vĩ tuyến tính theo toạ độ
Trang 17- Hệ quy chiếu UTM: Sử dụng phép chiếu UTM Phép chiếu UTM thực chất là một dạng của phép chiếu Gausse – kruger nhưng khác phép chiếu Gauss
ở hai điểm:
+ Phép chiếu Gausse – kruger dùng hệ elipxoit thực dụng Kraxovski cho toàn cầu Phép chiếu UTM tuỳ theo các khu vực khác nhau mà dùng các elipxoit thực dụng khác nhau Đối với khu vực ở Việt Nam, phép chiếu UTM dùng elipxoit thực dụng Erovel
+ Phép chiếu Gausse – kruger không có hằng số k nhân vào các bài toán
và tỷ lệ chiều dài kinh tuyến giữa múi 60 là m = 1 Phép chiếu bản đồ UTM có thêm hằng số k = 0,9996 nhân vào các bài toán và do đó tỷ lệ chiều dài kinh tuyến giữa múi 60 là m = 0,9996 Trị số biến dạng trên phép chiếu Gauss – kruger lớn hơn trên phép chiếu UTM
- Hệ quy chiếu VN2000: là hệ quy chiếu được thành lập dựa trên phép chiếu UTM và kích thước quả đất của nhà bác học Kraxovski
Ngày nay, hầu hết các nước và trong vùng Đông Nam Á đều dùng lưới chiếu UTM Ở Việt Nam, các bản đồ giấy sử dụng lưới chiếu UTM, các bản đồ
số sử dụng lưới chiếu VN2000 Trong tương lai Việt Nam dần dần sử dụng lưới chiếu VN2000 phổ biến hơn và các bản đồ giấy cũng sử dụng lưới chiếu VN2000
* Hệ thống tỷ lệ bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là loại bản đồ được thành lập ở tỷ lệ lớn Thang tỷ lệ thường dùng: 1: 500; 1: 1000; 1: 2000; 1: 5000; 1: 10000; 1: 25000 Việc chọn bản đồ địa chính căn cứ vào những yếu tố cơ bản như: Mật độ thửa đất, loại đất cần vẽ trên bản đồ, điều kiện tự nhiên và tính chất quy hoạch của vùng, tập quán sử dụng đất, yêu cầu về độ chính xác của bản đồ địa chính và khả năng kinh tế - kỹ thuật của đơn vị thành lập bản đồ cũng như đơn vị sử dụng bản đồ
Các quy định về sử dụng bản độ địa chính áp dụng cho từng loại đất và từng khu vực được ghi trong bảng 3.1:
Trang 18Bảng 3.1 Loại đất Khu vực đo vẽ Tỷ lệ bản đồ
Đô thị lớn 1:500, 1: 200 Thị xã, thị trấn 1:500 Đất ở
Đồng bằng bắc bộ 1:2000; 1:1000 Đất nông nghiệp
Đồng bằng nam bộ 1:5000; 1:2000 Đất lâm nghiệp Đồi núi 1:5000, 1:10000 Đất chưa sử dụng Núi cao 1:10000; 1:25000
* Chia mảnh đánh số bản đồ địa chính
Từ trước đến nay, các quy phạm thành lập bản đồ địa chính đã đưa ra nhiều phương pháp chia mảnh và đánh số bản đồ địa chính Các phương pháp chia mảnh và đánh số bản đồ địa chính được sử dụng ở nhiều thời kỳ, nhiều địa phương rất khác nhau, dẫn tới kết quả là bản đồ địa chính và hồ sơ địa chính không hoàn toàn thống nhất trên phạm vi rộng Điều này gây ảnh hưởng rất nhiều tới công tác quản lý đất đai, đặc biệt là trên quy mô toàn quốc Để thống nhất quản lý đất đai trên quy mô toàn quốc, tháng 3 năm 2000, Tổng cục Địa chất đã ban hành quy định về chia mảnh và đánh số bản đồ
Theo quy phạm này bản đồ địa chính được chia mảnh và đánh số theo hai phương pháp là: Chia khu vực đo vẽ địa chính theo ô hình vuông toạ độ thẳng góc và chia khu vực đo vẽ theo toạ độ địa lý
+ Chia mảnh đánh số bản đồ địa chính theo ô hình vuông toạ độ góc Bản đồ địa chính các loại đồ được thể hiện trên bản vẽ hình vuông Việc chia khu vực đo vẽ địa chính dựa theo toạ độ lưới ô vuông của hệ toạ độ vuông góc phẳng Trước hết xác định bốn góc hình chữ nhật có toạ độ chuẩn km trong
hệ toạ độ vuông góc theo tuyến trục của tỉnh bao kín ranh giới hành chính tỉnh hoặc thành phố là giới hạn chia khu vực đo vẽ tỷ lệ 1/25000 Các tờ bản đồ tỷ
lệ lớn hơn được chia nhỏ từ tờ bản đồ tỷ lệ 1/25000
Trang 19Một số thông số về chia mảnh đánh số bản đồ theo tỷ lệ được tóm tắt
Kích thước thực tế (m)
Diện tích
đo vẽ (ha)
Ký hiệu thêm vào
Kí hiệu 1/25000 Khu đo 48 x 48 12000x12000 14400 25-340493
Khi đo vẽ bản đồ địa chính trên khu vực rộng lớn, có thể dùng phương
pháp chia mảnh đánh số theo toạ độ địa lý tương tự như phương pháp chia khu
vực đo vẽ địa hình Phương pháp chia mảnh này hoàn toàn giống phương pháp
chia khu vực đo vẽ địa hình cùng tỷ lệ Toạ độ góc của góc khung không phải
là số chẵn mà phải tính ra từ toạ độ địa lý Khung trong của tờ bản đồ có dạng
hình thang
Hiện nay, trong thực tiễn các quan hệ liên quan tới đất đai rất phức tạp,
đó không chỉ là những trao đổi đất đai thông thường mà giá trị của đất đai ngày
càng tăng lên nên việc tranh chấp quyền sử dụng đất xảy ra thường xuyên Đây
là thực tế đòi hỏi các cơ quan quản lý phải có biện pháp để quản lý tốt hơn
nguồn tài nguyên này mà trước tiên việc cần làm là xây dựng hệ thống bản đồ
địa chính đầy đủ và thống nhất trên phạm vi toàn quốc Trong đó, yêu cầu đầu
tiên đối với hệ thống bản đồ là xây dựng được hệ thống bản đồ địa chính phải
đảm bảo được độ chính xác và phải thực hiện tới từng thửa đất
3.1.3 Yêu cầu về độ chính xác của bản đồ địa chính
Yếu tố cơ bản cần quản lý đối với đất đai là vị trí, kích thước và diện tích
thửa đất Khi sử dụng công nghệ số hoá thì giảm hẳn được ảnh hưởng của sai
Trang 20số đồ hoạ và sai số tính diện tích, độ chính xác số liệu không phụ thuộc vào tỷ
lệ bản đồ mà phụ thuộc trực tiếp vào quá trình định vị và số hoá bản đồ
Sai số định vị bản đồ:
- Sai số định vị 4 góc khung bản đồ và nắn hình ảnh theo các điểm khống chế trắc địa không được vượt quá 0,1mm trên bản đồ Đối với các điểm khác như mắt lưới mm, các điểm tăng dầy thì cũng không được vượt quá 0,15mm
- Sai số khoảng cách từ các mắt lưới Km đến điểm khống chế toạ độ trắc địa gần nhất không được vượt quá 0,15mm
- Sai số kích thước của hình ảnh bản đồ sau khi nắn so với kích thước lý thuyết như các cạnh góc khung trong không được vượt quá 0,2mm
- Sai số trong chéo khung trong nhỏ hơn 0,3mm
Quy định về độ chính xác số hoá các yếu tố nội dung bản đồ:
- Sai số dữ liệu về vị trí của các điểm địa vật độc lập trên bản đồ sau khi
số hoá không được vượt quá hạn sai của sai số thanh vẽ bản đồ bằng công nghệ truyền thống: 0,2mm so với bản đồ gốc biên vẽ
- Các đối tượng được số hoá phải đảm bảo đúng chỉ số lớp và mã đối tượng của chúng đã được quy định
- Chỉ số lớp được thể hiện bằng số lớp trong tệp file *dgn trong quá trình
số hoá mà việc mã hoá có thể được thực hiện bằng các chương trình khác nhau
- Các dữ liệu số phải đảm bảo tính đúng đắn và chuẩn xác cụ thể
+ Các đối tượng kiểu đường phải đảm bảo tính liên thông và chỉ cắt và nối với nhau tại các điểm nút giao nhau của đường
+ Đường bình độ, điểm độ cao phải được gán đúng giá trị độ cao
+ Phải giữ đúng mối quan hệ không gian giữ các yếu tố nội dung bản đồ
Ví dụ: Các sông, suối, kênh mương vẽ một nét phải được bắt liền vào hệ thống sông ngòi vẽ hai nét (Chỗ giáp ranh phải có điểm nút)
+ Đường bình độ phải hợp với dáng thuỷ hệ
+ Đường giao thông không được đè lên hệ thống thuỷ văn trong trường hợp các đối tượng này chạy sát nhau và song song nhau nhưng vẫn đảm bảo tương quan về vị trí địa lý
Trang 21+ Đường bình độ không cắt nhau và phải vẽ liên tục Trong trường hợp đường bình độ vẽ bị chập và trốn trên bản đồ gốc thường dùng để số hoá thì khi
số hóa phải phóng to khu vực đó để vẽ liên tục các đường này
+ Đường bao của các đối tượng kiểu vùng phải đảm bảo khép kín
+ Kiểu, cỡ chữ, số ghi chú trên bản đồ phải tương ứng với cỡ chữ quy định trong ký hiệu bản đồ địa hình tỷ lệ tương ứng Địa danh gắn liền với phạm
vi phân phối hiện tượng, đối tượng có độ uốn lượn phải bố trí theo đúng phạm
vi góc và chiều uốn lượn của đối tượng và hiện tượng
3.1.4 Kí hiệu bản đồ địa chính
Nội dung bản đồ thể hiện thông qua hệ thống kí hiệu và các ghi chú khác nhau Tuỳ theo loại bản đồ, tỷ lệ và mục đích sử dụng mà mỗi loại bản đồ có một hệ thống kí hiệu riêng
Bản đồ địa chính là bản đồ được thành lập ở tỷ lệ lớn, có độ biến động cao và được sử dụng vào công tác quản lý tài chính, do đó hệ thống kí hiệu phải được thiết kế mang lượng thông tin lớn nhất, dễ đọc nhất và dễ thay đổi nhất
Các kí hiệu quy ước của bản đồ địa chính được chia làm 3 loại: Kí hiệu theo tỷ lệ, kí hiệu theo nửa tỷ lệ, kí hiệu không theo tỷ lệ và các ghi chú:
- Các kí hiệu vẽ theo tỷ lệ được dùng để biểu thị các đối tượng cần được thể hiện đầy đủ vị trí, hình dạng, kích thước ví dụ như: nhà, sông, hồ, thửa đất
- Kí hiệu vẽ nửa theo tỉ lệ: Đó là các kí hiệu dùng để thể hiện các đối tượng có thể biểu diễn các kích thước thực một chiều theo tỷ lệ bản đồ, còn chiều kia dùng kí hiệu quy ước Ví dụ như: Đường sắt, đường dây diện, dây thông tin, kênh mương nhỏ… Trong đó chiều dài tuyến vẽ theo tỷ lệ và dùng lực nét, mầu sắc thể hiện chủng loại chất lượng đối tượng
- Kí hiệu không vẽ theo tỷ lệ đây là kí hiệu quy ước dùng để thể hiện vị trí và đặc trưng số lượng, chất lượng của các đối tượng song không thể hiện diện tích, kích thước, hình dạng của chúng theo tỷ lệ bản đồ
- Ghi chú: Ngoài kí hiệu, người ta còn dùng ghi chú để biết đạt nội dung của bản đồ địa chính Các ghi chí có thể chia làm hai loại là: Ghi chú tên riêng
và ghi chú giải thích
Trang 22Theo quy định của các quy phạm thì bản đồ địa chính có hai loại là “Bản
đồ gốc đo vẽ” và “Bản đồ địa chính” Tương ứng với từng loại sẽ dùng mầu sắc khác nhau để thể hiện bản đồ địa chính Trên bản đồ địa chính gốc sẽ dùng
3 mầu chính là đen, ve và nâu nhằm đảm bảo dễ đọc và thuận tiện cho công tác nhân bản sau này Đường nét phải đủ độ đậm mầu có thể chụp hoặc phiên, nhân bản
Bản đồ gốc đo vẽ thường dùng một màu đen để tăng độ tương phản, thuận tiện cho phiên, chụp, nhân bản đồ
3.2 Các phương pháp thành lập bản đồ địa chính
Trong từng trường hợp, tuỳ vào yêu cầu về độ chính xác của bản đồ đối với từng công việc mà có nhiều phương pháp thành lập bản đồ địa chính Tuỳ vào chất lượng của loại tài liệu thu thập, đặc điểm của khu vực, khả năng về tài chính và trang thiết bị phục vụ cho công tác thành lập, khả năng
về trình độ chuyên môn của người thực hiện mà người ta chọn một trong các phương pháp sau:
3.2.1 Phương pháp đo vẽ trực tiếp
Đây là phương pháp đo mới hoàn toàn và chỉ áp dụng xây dựng bản đồ địa chính tỷ lệ lớn, ở những vùng địa hình tương đối bằng phẳng, địa vật không quá phức tạp và chưa có tài liệu bản đồ hoặc bản đồ đã đo vẽ trước đây không đảm bảo yêu cầu và chất lượng khi xây dựng bản đồ địa chính mới
Nội dung của bản đồ địa chính được xây dựng trên cơ sở lưới đo vẽ chi tiết được chêm dày từ lưới khống chế trắc địa nhà nước và lưới địa chính các cấp theo hệ toạ độ giả định độc lập Các yếu tố mà bản đồ địa chính cần thể hiện có thể đo vẽ truyền thống: toàn đạc, bàn bạc và chuyển kết quả đo trên giấy theo phương pháp thủ công Cũng có thể sử dụng công nghệ hiện đại với các thiết bị đo đạc điện tử tự động có bộ phận ghi và xử lý số liệu đó Các số liệu đo được trút trực tiếp vào máy tính, bản vẽ được tạo thành trên máy vi tính
và xuất ra giấy qua máy in ở bất kỳ một tỷ lệ nào Lúc này độ chính xác của bản đồ chỉ phụ thuộc vào độ chính xác đo ngắm trên thực địa mà không bị ảnh
Trang 23hưởng của sai số chuyển vẽ, can vẽ
Bản đồ địa chính được thành lập theo phương pháp này cho độ chính xác cao Tuy nhiên nó đòi hỏi phải đầu tư trang thiết bị đo đạc, máy tính, phần mềm và các thiết bị ngoại vi, tốn nhiều công sức, thời gian, trình độ chuyên môn phải cao, do đó giá thành sản phẩm cao Trong thực tế ít chọn phương pháp này khi xây dựng bản đồ địa chính
Quy trình thành lập bản đồ địa chính bằng phương pháp đo vẽ trực tiếp
có thể tóm tắt theo quy trình thành lập sau:
Hình 3.1: Sơ đồ quy trình thành lập bản đồ địa chính từ số liệu đo đạc ngoại nghiệp
Chuẩn bị tài liệu số liệu khảo sát thiết kế kỹ thuật
- Xây dựng lưới toạ độ đo vẽ cấp
1, cấp 2 rải đều trên toàn khu đo
Đo vẽ chi tiết Tính toán diện tích
Kiểm tra chất lượng đo
vẽ ngoài thực địa Nghiệm thu và đánh giá kết quả
Trang 243.2.2 Phương pháp sử dụng ảnh máy bay, ảnh vệ tinh
Phương pháp này thường được sử dụng khi thành lập bản đồ địa chính ở một quy mô lãnh thổ lớn và tỷ lệ bản đồ nhỏ như: Cấp huyện, tỉnh, cả nước Ảnh máy bay phản ánh rất trung thực các thông tin trên mặt đất Ta có thể sử dụng các tư liệu như: ảnh đơn, ảnh nắn, bình đồ ảnh để điều vẽ trong phòng, có thể đo vẽ bổ xung ngoài thực địa các yếu tố nội dung của bản đề địa chính sử dụng đất Ảnh sau khi nắn và qua điều vẽ được đưa vào máy tính bàn số hoá hoặc máy quét (scaner) Cũng có thể sử dụng máy đo vẽ lập thể, giải tích để đo
vẽ từng mô hình trên ảnh và truyền số liệu trực tiếp sang máy tính với những phần mềm tương ứng sẽ tạo ra các bản vẽ trên máy tính Chất lượng bản đồ địa chính sử dụng đất chỉ phụ thuộc vào các yếu tố đầu vào, độ chính xác các số liệu điều vẽ và chất lượng của ảnh
Trang 25
Quy trình đo vẽ bản đồ điạ chính từ ảnh hàng không thể hiện theo sơ đồ sau:
Hình 3.2: Sơ đồ Quy trình lập thành bản đồ địa chính từ ảnh hàng không
Ưu điểm của phương pháp sử dụng ảnh máy bay và ảnh vệ tinh là cho phép thể hiện đầy đủ, chính xác, chi tiết các nội dung của bản đồ Đặc biệt ở những vùng địa hình, địa vật phức tạp, việc tận dụng triệt để các tư liệu ảnh hiện có để thành lập bản đồ địa chính sẽ đem lại hiệu quả cao hơn, giảm chi và thời gian so với phương pháp đo vẽ trực tiếp trên mặt đất
Nhược điểm của phương pháp này là việc đầu tư cho công nghệ đòi hỏi kinh phí cao
ẢNH HÀNG KHÔNG
Đo nối khống chế
Tăng dày khống chế ảnh
Kiểm tra đo vẽ bổ sung ngoài thực địa
Bản đồ gốc và các số liệu về địa chính
Trang 263.2.3 Phương pháp đo vẽ bổ xung và chỉnh lí tài liệu bản đồ hiện có
Ở nước ta, các tài liệu Trắc địa, bản đồ và thông tin về đất đai còn lưu giữ rất đa dạng Các bản đồ địa hình tỷ lệ nhỏ và trung bình từ 1/50000 đến 1/1000000 gần như bao trùm toàn bộ lãnh thổ Ngoài ra còn có các bản đồ giải thửa thành lập theo chỉ thị 299/TTg (phủ gần 80% số xã) và hơn 20% số xã trong cả nước đã đo vẽ xong bản đồ địa chính Các bản đồ địa chính trước đây, bản đồ quy hoạch sử dụng đất của kỳ trước đã thực hiện, tất cả các tài liệu này được đối chiếu với thực địa nhằm xác định khối lượng công việc, lựa chọn phương pháp đo vẽ chỉnh lý và bổ sung các yếu tố địa vật theo nội dung chuyên môn của bản đồ địa chính
Việc sử dụng các tài liệu bản đồ đã xây dựng trước đây là phương pháp mang lại hiệu quả cao và nhanh nhất Nó cho phép kế thừa các thành quả đã có, tiết kiệm chi phí vật tư, không đòi hỏi nhiều về trang thiết bị đo đạc, đỡ tốn công sức Bên cạnh đó, nó cũng có những hạn chế như: Chất lượng bản đồ phụ thuộc nhiều vào những tài liệu bản đồ lựa chọn sử dụng, phương pháp xử lý tài liệu và tổng hợp tài liệu
3.3 Khái quát quy trình công nghệ xây dựng bản đồ số địa chính
- Cập nhật và hiệu chỉnh thông tin
- Chồng xếp hoặc tách lớp thông tin theo ý muốn
- Bất cứ lúc nào cũng có thể dễ dàng biên tập tạo ra bản đồ số khác và in
ra bản đồ mới
- Có khả năng liên kết sử dụng trong mạng máy tính
Trang 273.3.2 Ứng dụng công nghệ bản đồ số
Trước đây các phương pháp xây dựng bản đồ địa chính vẫn được sử dụng trong công tác xây dựng bản đồ địa chính bằng công nghệ đo vẽ thủ công Ngày nay, cùng với sự phát triển của máy tính điện tử, công nghệ xây dựng bản đồ số đang phát triển mạnh trong những năm gần đây, mở ra khả năng xây dựng bản đồ địa chính trên máy tính Dùng kỹ thuật và các phương tiện thích hợp để số hoá các thông tin không gian và nhập các thông tin thuộc tính
từ các nguồn tư liệu bản đồ (bản đồ địa chính, bản đồ địa hình, ảnh hàng không…) Sau đó tiến hành xử lý, hiệu chỉnh, tổng hợp nội dung bản đồ địa chính Tổ chức các lớp thông tin phù hợp với nội dung bản đồ cần biên tập Thông tin được lưu trữ trên máy tính hoặc có thể in ra theo tỷ lệ và số lượng như mong muốn Phương pháp này rất thuận tiện cho việc cập nhật những thông tin về biến động đất đai và thuận lợi cho việc làm mới bản đồ địa chính các giai đoạn sau
Trước đây, khi công nghệ tin học chưa phát triển, quy trình thành lập bản đồ chuyên đề nói chung và bản đồ địa chính nói riêng gặp rất nhiều khó khăn trong công tác nội nghiệp như tạo bản đồ gốc, tranh vẽ đã làm giảm độ chính xác của bản đồ Ngày nay thông tin tin học phát triển mạnh, các phần mềm đồ hoạ, quản lý thông tin… được sử dụng trong công tác thành lập bản
đồ, điều này đã làm giảm khối lượng công việc trong quá trình thành lập bản
đồ Ưu điểm của các phương pháp thành lập bản đồ khi sử dụng các phần mềm tin học là:
- Thời gian hoàn thành công việc nhanh
- Độ chính xác của bản đồ cao hơn do không bị ảnh hưởng của các sai số: Châm chích điểm, đồ họa…
- Giảm được các công việc nội nghiệp như tạo bản đồ gốc, tranh vẽ…
- Có thể cập nhật, chỉnh sửa các thông tin dễ dạng và thuận tiện
Từ kết quả đánh giá trên cho thấy, việc ứng dụng công nghệ tin học vào trong công tác thành lập bản đồ nói chung và bản đồ địa chính nói riêng là
Trang 28phương pháp có nhiều ưu điểm nhất, đáp ứng được nhu cầu trong quản lý đất đai hiện nay Do đó, phương pháp này cũng chính là phương pháp được đề tài
sử dụng trong quá trình thành lập bản đồ địa chính cho phường Cẩm Trung 3.3.3 Khái quát quy trình thành lập bản đồ số địa chính
Trong thực tế bản đồ địa chính được thành lập theo hai phương pháp cơ bản, đó là số hoá các bản đồ địa chính đã được vẽ trên giấy hoặc biên tập từ số liệu đo đạc trên thực địa và số liệu đo ảnh hàng không
Trang 29Quy trình công nghệ thành lập bản đồ số địa chính được thể hiện dưới sơ đồ sau:
Bàn phím
Thu thập số liệu đầu vào
Bản đồ đã có Tư liệu ảnh Đo đạc ngoại nghiệp Văn bản
Bàn số hoá Máy quét Máy đo ảnh Số điện tử
Nhập số liệu
Xử lý số liệu Biên tập bản đồ
Biểu thị dữ liệu
Máy in Máy vẽ Màn hình
Hình 3.3: Sơ đồ Khái quát quy trình công nghệ thành lập bản đồ số địa chính
Trang 30Trong quá trình thành lập bản đồ số địa chính khu vực phường Cẩm Trung - thị xã Cẩm Phả - tỉnh Quảng Ninh tôi đã sử dụng phương pháp biên tập
từ bản đồ địa chính đã có trên khu vực
3.4 Điểm qua hệ thống thông tin địa lý và khả năng ứng dụng vào công tác thành lập bản đồ số địa chính
3.4.1 Khái quát về hệ thống thông tin địa lý
Hệ thống thông tin địa lý theo nguyên bản tiếng anh "Geographical Information Systerm ( GIS)" được dùng cho kỹ nghệ máy tính có định hướng địa lý Thực tế trong khoảng 30 năm gần đây GIS đã phát triển mạnh mẽ về lý thuyết, kỹ nghệ và tổ chức, GIS đã được dùng trong những lĩnh vực khác nhau một các tổ hợp như: Địa lý, địa chất, nông nghiệp, đô thị, giao thông, ngân hàng, nghiên cứu thực vật, địa chính, giải đoán ảnh, môi trường…
Định nghĩa về hệ thống thông tin địa lý: Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về hệ thống thông tin địa lý Các định nghĩa có thể theo tính triết học, toán học hoặc theo ý nghĩa công nghệ Dưới đây là một số định nghĩa của GS.TSKH Đặng Hùng Võ
* Theo tính chất triết học: Hệ thống thông tin địa lý là một hệ thống thông tin về các đối tượng địa lý được quy chiếu về một không gian và thời gian thống nhất mà trên đó chúng ta có thể sản xuất các thông tin mới dựa vào các thông tin đang có bên trong hệ trống
* Theo tính chất toán học: Hệ thống thông tin địa lý là một mô hình thế giới ở dạng tổng hợp của một số hữu hạn lớp thông tin mà mỗi lớp thông tin
là một hàm số của toạ độ không gian - thời gian một hệ quy chiếu xác định với
độ chính xác của mô hình được xác định tuỳ theo mục đích của hệ thống và khả năng kỹ thuật của việc thu nhận, lưu trữ, xử lý và hiển thị các thông tin kết xuất
từ mô hình
* Theo tính chất và ý nghĩa công nghệ: Hệ thống thông tin là một hệ thống bao gồm - dữ liệu, phần cứng, phần mềm máy tính cùng các thủ tục được thiết kế để thu nhận, quản lý, tìm kiếm, phân tích, tập hợp và hiển thị các dữ
Trang 31liệu không gian có chất lượng và được quy chiếu về một hệ thống nhất nhằm giải quyết các bài toán quản lý và quy hoạch phức tạp
Dựa trên định nghĩa thứ 3 ở trên ta có thể thấy hệ thống thông tin địa
lý bao gồm 04 thành phần cơ bản
- Dữ liệu: Dữ liệu địa lý và các dữ liệu khác
- Thiết bị : Phần cứng và phần mềm
- Con người: Người quản lý và người sử dụng
- Tổ chức hệ thống thông tin: Nhằm vận hành toàn hộ hệ thống
3.4.2 Ứng dụng GIS trong công tác xây dựng bản đồ số
GIS được biết đến như một công vụ đắc lực trong việc quản lý, phân tích những dữ liệu không gian trong việc xây dựng bản đồ, cung cấp các thông tin địa lý của một khu vực nào đó trên mặt đất Những thông tin này giúp ích cho rất nhiều lĩnh lực Với sự hỗ trợ của máy tính, GIS có thể cung cấp rất nhiều thông tin về nhiều vấn đề cùng lúc tuỳ theo yêu cầu của người sử dụng Thực chất việc tạo bản đồ GIS là biến đổi dữ liệu đầu vào thành dạng số để GIS
có thể hiểu và xử lý, xây dựng thành bản đồ số với sự trợ giúp của máy vi tính Đây là một quá trình xử lý đòi hỏi người sử dụng phải biết nhiều chương trình máy tính Thông tin được cập nhật vào qua một phần mềm chuyên dụng, đảm bảo độ chính xác Mỗi chương trình phần mềm trong hệ thống GIS có một chức năng riêng không thể thiếu để có thể tạo thành một tờ bản đồ thành quả
Để làm bản đồ, đầu vào của GIS có thể là các số liệu đo đạc ngoại nghiệp, bản đồ hoặc ảnh, thông qua các quá trình xử lý Đầu ra của GIS là bản
đồ, bảng thống kê không gian như điểm, đường, diện tích, chu vi cùng các thông tin của các loại đối tượng Đặc biệt các bản đồ chuyên đề thể hiện các nội dung chuyên ngành khác nhau sử dụng cho việc nghiên cứu khoa học và phục
vụ các ngành sản xuất tương ứng trong nhiều lĩnh vực
Việc thành lập bản đồ bằng công nghệ GIS phải được tuân theo một quy trình nhất định
Trang 32Quá trình làm bản đồ từ GIS được thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 33đưa vào máy, GIS sẽ biến đổi, xử lý và xây dựng bản đồ Nếu dữ liệu đầu vào
là từ bản đồ đã có sẵn thì ta phải tiến hành tách lớp thông tin tuỳ theo mục đích nghiên cứu và sử dụng
Bản đồ đầu vào và bản đồ đầu ra có sự khác nhau về cả chất lượng Về lượng, bản đồ đầu ra có thể in được với số lượng, tỷ lệ tuỳ ý Về chất, bản đồ số
có thêm những nội dung khác nhờ việc lắp ghép, chồng xếp các lớp thông tin lên nhau tuỳ theo mục đích nghiên cứu và mục đích sử dụng như bản đồ địa chính, bản đồ đất, bản đồ hiện trạng sử dụng…
Về độ chính xác của bản đồ thành quả chủ yếu phụ thuộc vào độ chính xác của số liệu đầu vào, còn sai số do kỹ thuật GIS trong quá trình xử lý chỉ là sai số tính toán rất nhỏ, không đáng kể Như vậy, với phương pháp này sẽ cho
ra những tờ bản đồ thành quả đảm bảo độ tin cậy và chính xác
Hiện nay công nghệ xây dựng bản đồ số đã phát triển mạnh, cho phép
tự động hoá toàn bộ hoặc từng công đoạn trong quá trình xây dựng bản đồ số, đồng thời cho phép tận dụng được dễ dàng và hiệu quả tất cả các nguồn tài liệu Tuỳ thuộc theo khả năng và mức độ trang thiết bị, các số liệu đo đạc, các nguồn tài liệu có sẵn, các loại tư liệu ảnh hàng không, viễn thám thu nhận được vào máy tính dưới dạng số hoặc được số hoá thông qua các thiết bị và phần mềm Dựa trên các tài liệu dạng số, cùng các công tác xử lý tài liệu như nắn chỉnh, chồng xếp, hiệu chỉnh, tổng hợp… thực hiện một cách dễ dàng trên máy tính và các phần mềm chuyên dụng của công nghệ thông tin địa lý Sản phẩm bản đồ
sẽ được lưu trữ trên máy tính
Trên thực tế sử dụng hệ thống thông tin địa lý phục vụ trong sản xuất nông nghiệp như phân tích tính thích hợp của đất với từng loại cây trồng, đánh giá thực trạng đất cho phép xác định được các khả năng dự trữ nước, lưu trữ ôxy, nitơ, tính xói mòn … Từ sự phân tích, đánh giá dựa trên các dữ liệu thu được, lưu trữ, GIS cho phép con người có những quyết định chính xác trong canh tác, trồng trọt theo đặc tính phân tích được Hệ thống thông tin địa lý không chỉ được ứng dụng trong nông nghiệp mà còn được ứng dụng trong rất
Trang 34nhiều ngành, lĩnh vực khác nhau như: Giao thông vận tải, môi trường…
Công nghệ GIS hiện nay đang được đưa vào nghiên cứu rộng rãi trên thế giới trong các lĩnh vực địa chính, nông nghiệp, lâm nghiệp, môi trường, đánh giá tài nguyên tự nhiên… đặc biệt ở các quốc gia châu á đang ở giai đoạn đầu Tuy nhiên, hiện nay nhu cầu ứng dụng công nghệ GIS trong lĩnh vực nghiên cứu tài nguyên tự nhiên ngày càng trở lên cấp thiết, không chỉ trong phạm vi của từng quốc gia mà trên phạm vi quốc tế Tiềm năng của công nghệ GIS ứng dụng trong các lĩnh vực, các ngành rất lớn cho phép hoạch định, lựa chọn các phương án mang tính chiến lược về sử dụng tài nguyên tự nhiên cũng như trong phát triển kinh tế Do vậy, kỹ thuật GIS có thể xem như là một công nghệ đi đầu trong công việc quy hoạch sử dụng tài nguyên tự nhiên và hoạch định chính sách phát triển trên các lĩnh vực kinh tế, xã hội Vì vậy, khả năng ứng dụng GIS trong các lĩnh vực khác nhau đã ngày càng được mở rộng và có hiệu quả, nó trở thành một công cụ hỗ trợ ra quyết định đối với các nhà quy hoạch và quản lý
3.5 Bản đồ số, phần mềm đồ hoạ Mapinfo và khả năng ứng dụng trong công tác thành lập bản đồ số địa chính
3.5.1 Khái quát về bản đồ số
Ngày nay cùng với sự phát triển của công nghệ tin học, các máy tính
số ngày càng mạnh, các thiết bị đo, ghi tự động, các loại máy in, máy vẽ kỹ thuật có số lượng cao không ngừng được hoàn thiện Trên cơ sở đó người ta xây dựng hệ thống thông tin địa lý, hệ thống thông tin đất đai mà phần quan trọng của nó là cơ sở dự trữ bản đồ
Các đối tượng địa lý được thể hiện trên bản đồ dựa trên cơ sở mô hình hoá toán học trong không gian hai chiều hoặc ba chiều Thế giới thực được thu nhỏ, các đối tượng được chia thành các nhóm, tổng hợp các nhóm lại ta được nội dung bản đồ
Định nghĩa: Bản đồ số là một tập hợp có tổ chức các dữ liệu bản đồ trên các thiết bị có khả năng đọc bằng máy tính và được thể hiện dưới dạng