CƠ SỞ LÝ LUẬN
Vài nét cơ bản về đất đai
Theo Docutraiep (1846 – 1903) là người sáng lập khoa học đất hiện đại và định nghĩa rằng đất là tầng mặt của đá bị biến đổi tự nhiên dưới tác động của 5 yếu tố: đá mẹ, sinh vật, khí hậu, địa hình và thời gian Định nghĩa này được coi là hoàn chỉnh, nhưng nhiều nhà nghiên cứu sau này đã bổ sung yếu tố con người, vì sự tác động của con người đã làm thay đổi nhiều tính chất vật lý, hóa học và sinh học của đất, từ đó hình thành các loại đất mới.
Đất đai là tư liệu sản xuất quan trọng, liên quan chặt chẽ đến hoạt động của con người Các tác động của con người lên đất đai có khả năng làm thay đổi tính chất và cách sử dụng của nó.
Diện tích đất có hạn, nhưng khả năng sản xuất của nó là vô hạn Điều này có nghĩa là, nếu chúng ta đầu tư thêm vốn, lao động và áp dụng các công nghệ mới vào sản xuất trên một đơn vị diện tích nhỏ, thì sản lượng thu được sẽ ngày càng gia tăng.
Vị trí đất đai là cố định và chất lượng không đồng đều, trong khi các tư liệu sản xuất khác có thể di chuyển đến vị trí thuận lợi hơn Điều này khiến cho đất đai chỉ có thể được canh tác tại những khu vực đã có sẵn, không thể thay đổi theo ý muốn.
Quan hệ đất đai trong nền kinh tế TT
2.2.1 Sự hình thành hàng hóa QSD đất Đất đai là một tài sản có giá trị, nó được giao dịch trên TT, nhưng chỉ tiến hành giao dịch QSD đất đai chứ không giao dịch đất đai Do vậy, có thể hiểu QSD đất là một loại hàng hoá với sự hình thành hàng hoá QSD đất
Quá trình hình thành hàng hóa quyền sử dụng đất (QSD đất) có nguồn gốc từ sự vận động của các quan hệ kinh tế, trong đó nhu cầu mở rộng sản xuất là yếu tố chính thúc đẩy sự xuất hiện của thị trường QSD đất Việc Nhà nước tách rời quyền sử dụng đất và quyền sở hữu đất thông qua việc giao, cho thuê QSD đất cho các tổ chức, hộ gia đình và cá nhân cũng góp phần hình thành quan hệ trao đổi, mua bán QSD đất Bên cạnh đó, sự phát triển kinh tế, gia tăng dân số, chính sách kinh tế, quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất của Chính phủ, cùng với tập quán, truyền thống và thị hiếu của người dân trong việc sử dụng đất đai, đều là những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sự hình thành hàng hóa QSD đất.
2.2.2 Khái niệm hàng hóa QSD đất a Khái niệm
Có rất nhiều cách hiểu khác nhau về hàng hóa QSD đất sau đây tôi xin chỉ ra một số khái niệm của các tác giả sau
Theo tác giả Nguyễn Xuân Bá, hàng hóa quyền sử dụng đất (QSD đất) là một phần cấu thành của quyền sở hữu đất (QSH đất) Nhà nước, với quyền độc quyền trong việc giao đất và cho thuê đất, trao cho người sử dụng đất những quyền và nghĩa vụ nhất định trong thời gian thuê hoặc nhận giao đất, đồng thời phân biệt theo loại đất, đối tượng sử dụng và hình thức giao đất Định nghĩa này nhấn mạnh rằng QSD đất là một bộ phận quan trọng của QSH đất, trong khi Nhà nước giữ vai trò chủ sở hữu và có quyền quyết định về việc sử dụng đất.
Theo tác giả Lê Văn Tứ, QSD đất được xem như một khái niệm pháp lý, trong đó bản chất của nó là bảo vệ các quyền hợp pháp của người sử dụng đất Đồng thời, QSD đất cũng mang tính chất kinh tế, được coi là tài sản hợp pháp của người sử dụng, từ đó tạo ra thu nhập cho họ.
Nghị quyết hội nghị lần thứ 7 ban chấp hành Trung ương khóa IX khẳng định rằng quyền sử dụng đất (QSD đất) là một hàng hóa đặc biệt Theo quan niệm này, QSD đất vừa có những điểm tương đồng với hàng hóa thông thường, vừa sở hữu những đặc điểm riêng biệt không có ở hàng hóa khác Điều này nhấn mạnh tính chất độc đáo và quan trọng của QSD đất trong nền kinh tế.
- Hàng hóa - QSD đất là loại hàng hóa có điều kiện
- Hàng hóa - QSD đất là loại hàng hóa không có giá cả cố định
Như vậy, có thể nói hàng hóa QSD đất có nhiều đặc điểm khác với hàng hóa thông thường khác.
Thị trường QSD đất
2.3.1 Khái niệm thị trường QSD đất
Thị trường giao dịch đất đai là nơi mà hàng hóa chủ yếu là đất, trong đó đất đai đã được thương phẩm hóa và khai thác sử dụng Tại Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, do đó không có thị trường quyền sở hữu đất đai mà chỉ có thị trường quyền sử dụng đất đai.
Nghiên cứu về TT QSD đất là một đề tài mới được nhiều nhà khoa học quan tâm với những ý kiến khác nhau về khái niệm QSD đất
TT QSD đất là nơi Nhà nước đại diện cho quyền sở hữu toàn dân về đất đai, thực hiện cung cấp đất cho nhu cầu của tổ chức và cá nhân trong xã hội Các tổ chức và cá nhân sử dụng đất có thể tiến hành các giao dịch dân sự như chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp, góp vốn, tặng cho và nhận thừa kế quyền sử dụng đất của mình.
Thị trường đất đai là nơi diễn ra các giao dịch liên quan đến đất đai như chuyển nhượng, cho thuê, thế chấp và góp vốn Theo nghĩa rộng, thị trường đất đai bao gồm tổng hòa các giao dịch đất đai trong một khu vực địa lý và khoảng thời gian nhất định Trao đổi trên thị trường đất đai được coi là giao dịch hàng hóa đất đai có điều kiện.
Thị trường quyền sử dụng đất (QSD đất) ở Việt Nam được định nghĩa là tổng hợp các mối quan hệ giao dịch có điều kiện về QSD đất, diễn ra trong không gian, địa điểm và thời gian xác định Theo Thạc sĩ Bùi Thị Tuyết Mai trong cuốn sách “Thị trường QSD đất ở Việt Nam”, các thể chế phải đảm bảo việc mua bán QSD đất hợp pháp được thực hiện thuận lợi, dựa trên lợi ích của các bên tham gia.
Tóm lại, Trung tâm Quản lý sử dụng đất (TT QSD đất) là nơi tổng hợp các mối quan hệ giao dịch có điều kiện về quyền sử dụng đất, diễn ra trong một không gian, địa điểm và thời gian nhất định Tại đây, các chế độ đảm bảo việc mua bán quyền sử dụng đất hợp pháp được thực hiện thuận lợi, dựa trên lợi ích của các bên tham gia.
2.3.2 Đặc điểm của TT QSD đất
- Mục đích sử dụng đất do pháp luật quốc gia quy định chi phối mọi hoạt động của TT QSD đất
- Giao dịch về QSD đất chủ yếu thông qua hệ thống hồ sơ địa bạ
- Giá trị QSD đất hình thành theo quan hệ cung cầu đối với từng thửa đất
Do đó TT QSD đất là một TT không tập trung
- Các yếu tố chính trị, xã hội cũng tri phối mạnh đến TT QSD đất
- TT QSD đất vừa có tính độc lập, vừa lệ thuộc vào các TT khác
- TT QSD đất hoạt động sẽ kéo theo sự hoạt động của nhiều TT khác, đặc biệt là TT tài chính, tín dụng
- TT QSD đất là TT hoàn hảo, đòi hỏi phải có sự điều tiết rất cao của Nhà nước 2.3.3 Vai trò của TT QSD đất
Hoạt động của Trung tâm Quản lý Sử dụng Đất (TT QSD đất) đã góp phần quan trọng trong việc khai thác và sử dụng đất đai một cách hợp lý, đồng thời liên kết chặt chẽ với quá trình phát triển của phân công lao động trong xã hội.
- Hoạt động của TT QSD đất góp phần mở rộng đối tượng kinh doanh, khả năng kinh doanh và thu hút đầu tư nước ngoài
- Hoạt động của TT QSD đất sẽ góp phần tạo tiền đề cho tăng trưởng và phát triển kinh tế
2.3.4 Thị trường QSD đất ở nước ta trong giai đoạn hiện nay a Giai đoạn 1992 - 2003
Hiến pháp 1992 khẳng định vị trí độc tôn của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đồng thời điều chỉnh một số quan hệ đất đai Luật đất đai năm 1993, cụ thể là Điều 12, quy định rằng Nhà nước có trách nhiệm xác định giá các loại đất để tính thuế chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thu tiền khi giao đất hoặc cho thuê đất, cũng như tính giá trị tài sản khi giao đất và bồi thường thiệt hại về đất khi thu hồi Đây là lần đầu tiên việc xác định giá đất được ghi nhận trong pháp luật, trở thành một nội dung quan trọng trong quản lý Nhà nước về đất đai theo Khoản 1, Điều 13 của Luật đất đai 1993.
Dựa trên quy định của Luật đất đai, vào ngày 6/11/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định 80/NĐ-CP quy định khung giá đất Sau đó, vào ngày 17/8/1994, Nghị định 87/NĐ-CP đã được ban hành để thay thế Nghị định 80/NĐ-CP Tất cả các địa phương trên cả nước đều áp dụng khung giá đất theo Nghị định 87/NĐ-CP để xây dựng biểu giá đất phù hợp cho từng địa phương.
Sự hình thành và phát triển chậm chạp của thị trường đất đai tại Việt Nam đã dẫn đến việc các hoạt động định giá đất còn yếu kém, chưa trở thành một chuyên ngành chính thức Từ năm 2003 đến nay, tình hình này vẫn chưa có nhiều cải thiện.
Luật đất đai năm 2003 đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, tác động trực tiếp đến quyền lợi của người dân và thị trường đất đai cũng như bất động sản.
Luật đất đai 2003 khẳng định rằng đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với Nhà nước đại diện cho chủ sở hữu Chính phủ đã quy định các phương pháp xác định giá đất và khung giá cho từng loại đất theo từng vùng và thời gian, theo Nghị định 188/2004/NĐ-CP và Thông tư 114/2004/TT-BTC.
26 tháng 11 năm 2004 của Bộ tài chính về hướng dẫn thực hiện nghị định 188/2004/NĐ-CP)
2.3.5 Các yếu tố ảnh hưởng đến TT QSD đất
Thị trường quyền sử dụng đất (TT QSD đất) là một phần quan trọng trong kinh tế sản xuất hàng hóa, chịu sự điều tiết của quy luật cung cầu, cạnh tranh và khan hiếm tài nguyên Chính phủ can thiệp vào TT QSD đất thông qua các chính sách và công cụ quản lý Yếu tố chính trị cũng đóng vai trò quan trọng, khi Việt Nam có nền chính trị ổn định và đã xây dựng nhiều bộ luật, bao gồm Luật đất đai, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước.
Yếu tố xã hội đóng vai trò quan trọng trong hoạt động của thị trường quyền sử dụng đất Thị hiếu và phong tục tập quán trong việc sử dụng đất của người dân có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của thị trường này.
Yếu tố kinh tế đóng vai trò quan trọng trong việc tác động đến thị trường quyền sử dụng đất Khi nền kinh tế phát triển, thu nhập của người dân tăng lên, dẫn đến nhu cầu về đất ngày càng gia tăng, đặc biệt trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
TT QSD đất hoạt động rất mạnh.
Các yếu tố tham gia vào hoạt động giao dịch của TT QSD đất
Cầu về quyền sử dụng đất (QSD đất) phản ánh diện tích đất mà người mua hoặc thuê có khả năng và sẵn sàng chi trả với mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định Đường cầu QSD đất cho thấy tính co giãn, tức là khi các yếu tố khác không đổi, sự thay đổi giá sẽ ảnh hưởng đến lượng cầu Cụ thể, khi giá giảm từ P0 xuống P2, lượng cầu về QSD đất sẽ tăng từ Q0 lên Q2, và ngược lại, khi giá tăng từ P2, lượng cầu sẽ giảm.
Khi giá quyền sử dụng đất (QSD đất) giảm từ Q2 xuống Q0, cầu về QSD đất cũng giảm theo Do đó, nếu các yếu tố khác không thay đổi, sự biến động trong cầu về QSD đất sẽ phụ thuộc vào mức giá của nó.
Cầu về QSD đất Giá cả QSD đất (P)
Nhu cầu sử dụng đất là yếu tố quyết định sự tồn tại của thị trường quyền sử dụng đất (TT QSD đất) Các chủ thể như hộ gia đình, cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp đều có nhu cầu này Khi thị trường đạt được sự cân bằng giữa cung và cầu, chúng ta có thể biểu diễn mối quan hệ giữa giá cả đơn vị quyền sử dụng đất và số lượng cầu theo thời gian Cụ thể, với mức giá P0, lượng cầu đạt Q0; khi giá cả tăng, số lượng cầu sẽ giảm và ngược lại.
Cầu về quyền sử dụng đất (QSD đất) bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cung tiềm năng của xã, diện tích đất sản xuất nông nghiệp (RSX) mà xã có, giá cả QSD đất RSX, thu nhập của người tiêu dùng, giá trị sản phẩm từ việc sử dụng đất và tiêu thụ sản phẩm đó Ngoài ra, nguồn lực gia đình, chính sách của chính phủ, an ninh trật tự xã hội địa phương và giá trị hàng hóa thay thế cũng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định cầu về QSD đất.
Cung về quyền sử dụng đất (QSD đất) đề cập đến số lượng hoặc diện tích đất mà người bán hoặc người cho thuê có khả năng và sẵn sàng cung cấp với các mức giá khác nhau trong một khoảng thời gian nhất định, trong khi các yếu tố khác được giữ nguyên.
Mặc dù quỹ đất đai có hạn, nhưng đường cung về quyền sử dụng đất (QSD đất) theo thị trường vẫn phản ánh tỷ lệ thuận với giá QSD đất, chứ không phải là đường thẳng song song với đường giá Đường thẳng song song chỉ thể hiện quỹ đất đai mà không phản ánh đúng hành vi của người bán và người cho thuê QSD đất Do đó, cần xem xét cả quỹ đất và hành vi của người bán, người cho thuê để có cái nhìn toàn diện hơn về thị trường QSD đất.
Lượng đất cung ra thị trường là diện tích mà người bán muốn bán với mức giá nhất định, cho thấy quỹ đất của người bán là có hạn và cố định Mặc dù quỹ đất có giới hạn, nhưng lượng đất cung ra thị trường lại phụ thuộc vào giá quyền sử dụng đất (QSD đất), do đó đường cung về QSD đất vẫn tỷ lệ thuận với giá.
Sự thay đổi của đường cung bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm giá quyền sử dụng đất, chính sách của chính phủ, dự báo tương lai, diện tích đất nông nghiệp hiện có tại địa phương và các ngành nghề thay thế.
Khi xem xét các hoạt động trong thị trường quyền sử dụng đất, việc chú trọng đến mối quan hệ cung cầu là rất quan trọng Mối quan hệ này được thể hiện rõ qua đồ thị 1.3 về cung cầu trong thị trường quyền sử dụng đất.
Khi có sự thay đổi trong các yếu tố khác, đường cung và cầu sẽ dịch chuyển, dẫn đến sự thay đổi của điểm cân bằng Ví dụ, khi lãi suất cho vay mua quyền sử dụng đất tăng, đường cầu sẽ dịch sang trái từ D0 sang D1, làm cho điểm cân bằng cũng bị dịch chuyển.
Nếu cung không thay đổi, giá quyền sử dụng đất (QSD đất) sẽ giảm từ P0 xuống P1 Trong thị trường QSD đất, có thể xảy ra hiện tượng dư cung hoặc dư cầu Khi giá QSD đất tăng nhanh, cầu về QSD đất sẽ giảm, trong khi lượng cung vẫn không thay đổi, dẫn đến dư cung trên thị trường Hiện tượng này buộc giá QSD đất phải điều chỉnh giảm về mức cũ, có thể thấp hơn mức ban đầu.
E’ Đồ thị 1.4: Hiện tượng dư cung, dư cầu trên TT QSD đất
Khi giá quyền sử dụng đất (QSD đất) giảm, cầu về QSD đất tăng nhanh chóng, khiến nhiều người đổ xô mua Trong khi đó, nguồn cung gần như không thay đổi, dẫn đến hiện tượng dư cầu trên thị trường Để cân bằng lại thị trường, giá QSD đất buộc phải tăng cao hơn mức trước đó để đạt được điểm cân bằng.
Do vậy, để TT QSD đất có thể phát triển tốt thì cần phải đưa ra mức giá giao dịch cho hợp lý
2.4.3 Giá QSD đất, định giá QSD đất, các nguyên tắc và phương pháp xác định giá QSD đất a Giá QSD đất
Theo Luật đất đai 2003, đất đai thuộc sở hữu toàn dân, với Nhà nước là đại diện chủ sở hữu và thực hiện quyền định đoạt Nhà nước cấp quyền sử dụng đất cho người dân thông qua các hình thức như giao đất, cho thuê đất, và công nhận quyền sử dụng đất đối với những người đang sử dụng ổn định Không có cá nhân, tổ chức hay cơ quan nào có quyền sở hữu đất đai.
Theo Khoản 23, Điều 4 của Luật Đất đai 2003, giá quyền sử dụng đất (giá đất) được xác định là số tiền trên một đơn vị diện tích đất, do Nhà nước quy định hoặc hình thành từ các giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất.
Giá đất tại đây chỉ phản ánh giá trị quyền sử dụng đất (QSD) chứ không phải giá trị quyền sở hữu (QSH) đất Theo Điểm 24, Điều 4 của Luật Đất đai 2003, giá trị QSD đất được định nghĩa là giá trị bằng tiền của quyền sử dụng đất cho một diện tích cụ thể trong thời gian sử dụng nhất định.
Những chủ chương, chính sách của Đảng và Nhà nước liên quan đến vấn đề nghiên cứu
Kể từ năm 1993, Quốc hội và Chính phủ Việt Nam đã liên tục ban hành nhiều chính sách, bộ luật và văn bản pháp quy nhằm thể hiện chủ trương phát triển thị trường quyền sử dụng đất (QSD đất) Những văn bản này đã đặt nền móng và xây dựng cơ sở pháp lý cho hoạt động của thị trường QSD đất, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế đất nước.
Nghị định 64/CP, ban hành ngày 27/9/1993, cùng với Nghị định 85/1999/CP ngày 28/8/1999, quy định về việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình và cá nhân nhằm sử dụng ổn định lâu dài cho mục đích nông nghiệp.
Nghị định 01/CP của Chính phủ ban hành đầu năm 1994 (căn cứ vào LĐĐ
1993 và luật BVPTR 1991) quy định về việc giao khoán đất sử dụng vào mục đích SX NLN, nuôi trồng thuỷ sản
Nghị định 02/CP ngày 15/1/1994, sau này được thay thế bởi Nghị định 163 ban hành ngày 16/11/1999, quy định về việc giao đất lâu dài cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân nhằm sử dụng ổn định với mục đích sản xuất nông nghiệp.
Luật Đất đai 2003, ban hành ngày 26/11/2003, quy định tại Điều 106 rằng người sử dụng đất có quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thế chấp bảo lãnh và góp vốn bằng quyền sử dụng đất Đồng thời, Điều 61 và 62 xác định rằng những người sở hữu một trong các quyền này được phép tham gia vào thị trường bất động sản.
Nghị định 181/2004/NĐ-CP, được ban hành dựa trên Luật Đất đai 2003, quy định chi tiết về các thủ tục liên quan đến việc giao, thừa kế, thuê, cầm cố quyền sử dụng đất (QSD đất) và góp vốn thông qua hình thức đóng góp QSD đất.
Nghị định 188/CP của Chính phủ, ban hành ngày 16/11/2004, quy định phương pháp xác định giá đất thông qua hai phương pháp chính là phương pháp thu nhập và phương pháp so sánh trực tiếp, đồng thời thiết lập khung giá cho các loại đất.
Thông tư 114/2004/TT - BTC ngày 26 tháng 11 năm 2004 của Bộ tài chính về hướng dẫn thực hiện nghị định 188/2004/NĐ – CP)
Các văn bản luật này đóng vai trò là cơ sở pháp lý quan trọng, đồng thời là động lực thúc đẩy việc thực hiện quyền sử dụng đất (QSD đất) nói chung, cũng như quyền sử dụng đất đối với đất rừng sản xuất (RSX) nói riêng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Những đặc điểm cơ bản của 3 xã Canh Hiệp, Canh Hiển, Canh Vinh huyện Vân Canh tỉnh Bình Định
3.1.1 Điều kiện tự nhiên - tài nguyên thiên nhiên của 3 xã Canh Hiệp, Canh Hiển, Canh Vinh a Vị trí địa lý
Canh Hiệp, Canh Hiển và Canh Vinh là ba xã thuộc huyện Vân Canh, nằm ở vùng trung du miền núi thấp, với tổng diện tích tự nhiên là 26.106,14 ha Các xã này cách trung tâm huyện Vân Canh lần lượt 4km, 9km và 15km về phía bắc, sở hữu vị trí địa lý thuận lợi.
Phía Đông: Xã Canh Vinh giáp với xã Phước Mỹ huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định
Xã Canh Vinh nằm ở phía Tây, giáp xã Nhơn Tân thuộc huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định, trong khi xã Canh Hiệp giáp với xã Canh Liên huyện Vân Canh, tỉnh Bình Định Ở phía Nam, xã Canh Hiệp tiếp giáp với Thị trấn Vân Canh và xã Đa Lộc thuộc huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên.
Phía Bắc: Xã Canh Vinh giáp với xã Phước Thành huyện Tuy Phước tỉnh Bình Định
Canh Hiển là xã nằm giữa 2 xã Canh Hiệp và Canh Vinh, cả 4 hướng của xã đều tiếp giáp với 2 xã này b Địa hình
Diện tích đất đồi núi chiếm 80% tổng diện tích của ba xã, trong đó xã Canh Hiệp có đến 92%, xã Canh Hiển hơn 73% và xã Canh Vinh hơn 74% Đất đai chủ yếu là đất cát xám bạc màu, nghèo dinh dưỡng, dẫn đến tỷ lệ cây trồng sống sót thấp và thu nhập không cao Thêm vào đó, thời tiết nắng nóng kéo dài khiến đất đai thường xuyên khô hạn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển của nhiều loại cây trồng.
Ba xã nằm liền kề nhau có khí hậu nhiệt đới gió mùa, với hai mùa rõ rệt là mùa mưa và mùa khô Mùa mưa thường bắt đầu từ tháng 9 hàng năm.
Mùa khô diễn ra từ tháng 2 đến tháng 8 hàng năm, trong khi thời điểm tập trung nhiều nhất là từ tháng 9 đến tháng 11 Nhiệt độ trung bình hàng năm là
Nhiệt độ dao động từ 27 đến 35 độ C tạo điều kiện khí hậu không thuận lợi cho việc trồng các loại cây ngắn hạn có khả năng chịu hạn kém, cũng như các cây trồng dài ngày có giá trị kinh tế cao.
Suối Cầu và sông Hà Thanh bắt nguồn từ tỉnh Phú Yên, chảy dọc theo tỉnh lộ 638 từ Diêu Trì đến Phú Yên, đi qua ba xã Xã Canh Hiển đã khai thác vị trí nguồn nước chảy qua để xây dựng đập thủy lợi Hiển Quang, giúp tưới tiêu cho diện tích đất nông nghiệp trồng lúa nước của xã.
Khu vực canh tác lúa nước của ba xã có hệ thống kênh mương tưới tiêu được bê tông hoá, đảm bảo nguồn nước cho đồng lúa Chính quyền và người dân thường xuyên nạo vét, tu bổ hệ thống này, giúp duy trì nguồn nước tưới cho nông nghiệp ổn định trong những năm gần đây.
Cả 3 xã đều là các xã vùng miền núi nhưng nguồn tài nguyên thiên nhiên hiện còn rất ít do đã bị khai thác rất nhiều trong những thập niên trước đây Ở xã Canh Hiệp và Canh Hiển có một số khu vực có đá Granit phục vụ cho việc xây dựng các cơ sở hạ tầng hiện nay đã và đang được các doanh nghiệp xây dựng trong huyện khai thác Ở xã Canh Vinh có bãi cát bồi ven sông Hà Thanh thuộc thôn An Long hiện đang được Công ty Viễn Đông khai thác để phục vụ cho nhu
3.1.2 Tình hình phát triển KT-VH-XH của cả 3 xã trong năm 2007 a Tình hình phát triển kinh tế nói chung của cả 3 xã trong năm 2007
Năm 2007 chứng kiến nhiều biến động thời tiết phức tạp và bất thường, dẫn đến dịch bệnh gia cầm và gia súc tái phát ở nhiều địa phương, với tình trạng dịch bệnh luôn ở mức cao tại cả ba xã Đồng thời, giá cả vật tư và hàng hóa phục vụ sản xuất và sinh hoạt của người dân liên tục tăng, trong khi giá đầu ra của một số nông sản lại thiếu ổn định, gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống và sản xuất của nhân dân trong xã.
Nhờ sự quan tâm chỉ đạo kịp thời của Thường vụ huyện ủy, HĐND, UBND huyện Vân Canh và sự hỗ trợ nhiệt tình từ các phòng ban chuyên môn, UBND các xã đã tích cực chỉ đạo các ngành chuyên môn khắc phục khó khăn và tận dụng điều kiện thuận lợi để phát triển kinh tế Đặc biệt, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cây trồng được chú trọng, từng bước quy hoạch vùng chuyên canh và sản xuất các loại cây con mũi nhọn có giá trị kinh tế Sử dụng giống mới năng suất cao và tăng cường đầu tư thâm canh, phòng trừ dịch bệnh đã giúp tạo ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của đời sống nhân dân.
Trồng trọt và công tác khuyến nông
Công tác khuyến nông được chú trọng thông qua việc phối hợp với huyện để tổ chức các lớp tập huấn kỹ thuật và chuyển giao tiến bộ khoa học trong trồng trọt và chăn nuôi Các mô hình tiêu biểu như canh tác lúa lai Nhị ưu 838, trồng mía, vỗ béo bò, và xây dựng hầm khí sinh học Bioga đã được triển khai đến tận tay người dân.
Bảng 3.1: Thống kê các loại cây trồng chủ yếu của 3 xã
Stt Loại cây trồng Diện tích
Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Chăn nuôi và công tác thú y
Tổng đàn bò có 6.113 con, đàn heo có 5.327 con, đàn dê có 1.475 con, gia cầm nhỏ có 18.449 con
Để ngăn chặn sự bùng phát của dịch bệnh phức tạp, các xã đã nhanh chóng triển khai tiêm phòng vắc xin cho đàn gia súc và gia cầm.
Cụ thể: Lở mồm long móng: 9.979 mũi, tụ huyết trùng: 3.946 mũi, cúm gia cầm: 14.480 mũi
Với đặc thù các xã miền núi có đất đai chủ yếu là đồi núi thấp và vừa, công tác lâm nghiệp được lãnh đạo xã đặc biệt quan tâm nhằm tạo thu nhập và bảo vệ môi trường Năm 2007, tổng diện tích rừng trồng đạt 425 ha, trong đó Dự án WB3 đóng góp 201,2 ha với 42 hộ dân ở xã Canh Vinh và Canh Hiển trồng mới 100 ha rừng nguyên liệu giấy Nhờ sự hỗ trợ từ cấp trên, xã Canh Hiệp đã tiếp nhận 43.000 cây và Canh Vinh 80.000 cây Keo lai giống từ dự án WB3, giúp các hộ gia đình tham gia dự án có giống cây trồng chất lượng.
Trong năm qua, các xã đã tiến hành tuần tra và phát hiện 45 lò đốt cây lấn chiếm đất lâm nghiệp trái phép, đồng thời công tác phòng cháy chữa cháy được thực hiện hiệu quả tại cả 3 xã.
Tiểu thủ công nghiệp-dịch vụ-vận tải
Tình hình quản lý, sử dụng và biến động đất đai
3.2.1 Tình hình quản lý và hiện trạng sử dụng đất đai của các xã a Giai đoạn trước 1993
Trước năm 1993, UBND các xã quản lý đất đai theo Hiến pháp và các chính sách của Quốc hội, tiến hành đo đạc đất theo chỉ thị 229/TTg, từ đó lập bản đồ cho từng loại đất Diện tích hành chính được quản lý chặt chẽ, mốc giới giữa các xã được xác nhận và phê chuẩn Các xã cũng giao đất cho người dân sử dụng ổn định, chủ yếu là đất thổ cư và đất sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, do trình độ cán bộ địa chính còn yếu, việc nắm bắt biến động diện tích đất gặp nhiều khó khăn, dẫn đến tình trạng người sử dụng đất tự ý chuyển đổi mục đích mà không có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền Từ năm 1993 đến nay, tình hình quản lý đất đai tiếp tục được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần khắc phục.
Sau khi Quốc hội thông qua luật đất đai năm 1993, công tác quản lý đất đai tại các xã đã được thực hiện một cách chặt chẽ Luật này phân chia đất nông nghiệp thành 6 loại, làm cơ sở cho việc thu thuế, đền bù khi thu hồi, cũng như thu phí khi chuyển mục đích sử dụng Điều này cũng nhằm xây dựng các kế hoạch sử dụng và cải tạo đất một cách phù hợp.
Sau khi ban hành luật đất đai năm 2003 cùng các nghị định và văn bản liên quan, UBND các xã đã tích cực phổ biến thông tin để người dân hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình đối với đất đai đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Những nỗ lực này của UBND các xã đã bước đầu mang lại hiệu quả tích cực trong việc nâng cao nhận thức của cộng đồng.
Việc cấp Giấy Chứng Nhận Quyền Sử Dụng Đất (GCN QSD đất) tại các xã, đặc biệt là đất Rừng Sản Xuất (RSX), diễn ra rất chậm, nhất là tại xã Canh Hiệp Công tác quản lý hành chính về đất đai của các xã trong năm 2007 được thể hiện qua dữ liệu từ ban thống kê các xã.
Bảng 3.2: Tình hình khiếu nại và giải quyết các khiếu nại về đất đai Diễn giải Xã Canh Hiệp Xã Canh Hiển Xã Canh Vinh
Số đơn tiếp nhận 0 17 15 Đã giải quyết xong 0 17 11
(Nguồn: Ban địa chính các xã)
Năm 2007, UBND các xã đã đề xuất huyện cấp 20.068 m² đất thổ cư cho 41 hộ gia đình và 16,3 ha đất lâm nghiệp cho 22 hộ gia đình, nhằm cải thiện tình hình sử dụng đất tại địa phương.
Canh Hiệp, Canh Hiển và Canh Vinh là ba xã trung du miền núi thấp với tổng diện tích 26.106,41 ha, được phân chia thành ba loại đất: đất nông nghiệp, đất phi nông nghiệp và đất chưa sử dụng Hiện trạng đất đai của các xã này được tổng hợp trong bảng dưới đây.
Bảng 3.3: Hiện trạng sử dụng đất năm 2007 của các xã Canh Hiệp, Canh Hiển, Canh Vinh
(Nguồn: Ban địa chính các xã)
Xã Canh Hiệp Xã Canh Hiển Xã Canh Vinh Tổng
1.1 Đất sản xuất NN 904,74 7,25 680.57 18,49 2.003,93 20,13 3.589,24 13,75 Đất trồng cây hàng năm 485,42 3,89 32,19 0,87 1.511,37 15,18 2.028,98 7,77 Đất trồng cây lâu năm 419,32 3,36 328,38 8,92 429,56 4,32 1.177,26 4,51
1.2 Đất lâm nghiệp 8.414,06 67,46 1.970,24 53,54 4.071,46 40,90 14.455,76 55,37 Đất RSX 2.400,56 19,25 1.561,14 42,42 3.914,46 39,33 7.876,16 30,17 Đất RPH 5.923,50 47,49 409,10 11,12 157,00 1,58 6.489,60 24,86
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 0,53 0 0 0,00 0,32 0,00 0,85 0.00
2.3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0,00 0,00 0,00 0,00 1,76 0,02 1,76 0,01
2.4 Đất nghiã trang, nghiã địa 2,37 0,02 5,51 0,15 32,02 0,32 39,90 0,15
2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 77,64 0,62 135,09 3,67 305,87 3,07 518,60 1,99
3.1 Đất bằng chưa sử dụng 61,42 0,49 50,09 1,36 130,53 1,31 242,04 0,93
3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 2.973,80 23,84 671,50 18,25 3.172,08 31,87 6.817,38 26,11
Theo biểu 3.3, tổng diện tích đất lâm nghiệp chiếm 55,37% tổng diện tích tự nhiên của các xã, với 14.455,76 ha Xã Canh Hiệp có diện tích lớn nhất là 8.414,16 ha, chiếm 67,46% diện tích của xã, trong khi xã Canh Hiển có diện tích nhỏ nhất là 1.970,24 ha, chiếm 53,54% Đáng chú ý, diện tích đất chưa sử dụng lên tới 7.059,42 ha, tương đương 27,04% tổng diện tích tự nhiên của ba xã, gấp 1,92 lần diện tích của xã Canh Hiển Xã Canh Vinh có diện tích đất bỏ hoang lớn nhất, với 3.302,61 ha, chiếm 33,18% tổng diện tích đất đai của xã.
Diện tích đất chưa được sử dụng ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp và sự tham gia của hộ dân vào thị trường quyền sử dụng đất Tuy nhiên, khi người dân khai thác và đưa vào sử dụng phần đất này, diện tích đất sản xuất của các hộ sẽ tăng đáng kể, đồng thời số hộ tham gia giao dịch cũng sẽ gia tăng.
3.2.2 Tình hình biến động đất đai của các xã
Theo thống kê, diện tích các loại đất ở các xã từ năm 2005-2007 có sự biến động đáng kể, nhất là tại xã Canh Hiệp, nơi tỷ lệ đất đồi núi chưa sử dụng đã bắt đầu được khai thác trong năm vừa qua Sự biến động này ở cả 3 xã chủ yếu do người dân khai hoang đất chưa sử dụng để trồng nương rẫy và cây màu, dẫn đến sự gia tăng đáng kể trong việc sử dụng đất trồng màu Chi tiết cụ thể được thể hiện qua bảng 3.4 dưới đây.
Bảng 3.4: Tình hình biến động đất đai của các xã Đơn vị t ính: Ha
Xã Canh Hiệp Xã Canh Hiển Xã Canh Vinh Tổng
1 Đất nông nghiệp 9014,81 9319,33 + 304,52 2490,81 2650,81 + 160 5983,08 6075,71 + 92,63 17488,70 18045,85 + 557,15 1.1 Đất sản xuất NN 850,22 904,74 + 54,52 680,57 680,57 0 2006,76 2003,93 -2,83 3537,55 3589,24 + 51,69 Đất trồng cây hàng năm 454,75 485,42 + 30,67 352,19 352,19 0 1514,20 1574,37 + 60,17 2321,14 2411,98 + 90,84 Đất trồng cây lâu năm 395,47 419,32 + 23,85 328,38 328,38 0 492,56 429,56 0,00 1216,41 1177,26 - 39,15 1.2 Đất lâm nghiệp 8164,06 8414,06 + 250 1810,24 1970,24 + 160 3976,00 4071,46 + 95,46 13950,30 14455,76 + 505,46 Đất RSX 2240,56 2490,56 + 250 1401,14 1561,14 + 160 3819,00 3914,46 + 95,46 7460,70 7966,16 + 505,46 Đất RPH 5923,50 5923,50 0 409,10 409,10 0 157,00 157,00 0,00 6489,60 6489,60 0,00
1.3 Đất nuôi trồng thuỷ sản 0,53 0,53 0 0,00 0,00 0 0,32 0,32 0,00 0,85 0,85 0,00
2.3 Đất tôn giáo tín ngưỡng 0 0 1,76 1,76 0,00 1,76 1,76 0,00
2.4 Đất nghiã trang, nghiã địa 1,37 2,37 + 1 5,51 5,51 0 32,02 32,02 0,00 38,90 39,90 + 1,00 2.5 Đất sông suối và mặt nước chuyên dùng 77,64 77,64 0 135,09 135,09 0 305,87 305,87 0,00 518,60 518,60 0,00
3 Đất chưa sử dụng 3345,22 3035,22 - 310 883,18 721,59 - 161,59 3400,42 3302,61 - 97,81 7628,82 7059,42 - 569,40 3.1 Đất bằng chưa sử dụng 141,42 61,42 - 80 51,68 50,09 - 1,59 130,85 130,53 - 0,32 323,95 242,04 -81,91 3.2 Đất đồi núi chưa sử dụng 3203,80 2973,80 - 230 831,50 671,50 -160 3269,57 3172,08 - 97,49 7304,87 6817,38 - 487,49
(Nguồn: Ban địa chính các xã)
Trong 3 xã thì xã có sự biến về đất đai nhiều nhất là xã Canh Hiệp, xã có sự biến động ít nhất là Canh Vinh Thông qua biểu trên, ta thấy loại đất có biến động nhiều nhất là đất chưa sử dụng giảm 569,4 ha, tiếp đến là đất lâm nghiệp tăng 505,46 ha Nguyên nhân của sự biến động trên là do các HGĐ đã tiến hành khai hoang những phần đất chưa được sử dụng và ở xa cách khu dân cư để đưa vào sử dụng Mục đích sử dụng chủ yếu là trồng RSX, trong tổng số 569,4 ha đất chưa sử dụng nay đưa vào sử dụng có thì đến 505,46 ha là trồng rừng, còn lại là trồng mì
Sự biến động về diện tích đất đã mang lại nhiều lợi ích cho người dân, khi nhu cầu đất đai cho sản xuất ngày càng tăng cao Việc đưa phần đất chưa sử dụng vào sản xuất đã mở rộng diện tích canh tác, cho phép người dân trồng rừng và tạo ra việc làm, đồng thời tăng thu nhập trong tương lai Đặc biệt, việc trồng mì đã giúp người dân đáp ứng nhu cầu lương thực, từ đó cải thiện đời sống và giảm tỷ lệ hộ nghèo trong cộng đồng.
Thực trạng các giao dịch QSD đất RSX tại các xã
3.3.1 Những thông tin chung về các HGĐ và sự tham gia của các hộ vào
Trong nghiên cứu về tình hình sử dụng đất RSX tại ba xã, chúng tôi đã xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của hộ nông dân miền núi, bao gồm số thành viên trong gia đình, số người trong độ tuổi lao động, trình độ văn hóa và nghề nghiệp Những đặc điểm này đóng vai trò quan trọng trong quyết định liên quan đến kế hoạch sản xuất và sinh hoạt của gia đình Do đó, trước khi phỏng vấn hộ gia đình về tình hình sản xuất, sinh hoạt và sự tham gia của họ vào việc quản lý đất đai, chúng tôi đã thu thập thông tin chung về hộ gia đình, với kết quả được thể hiện qua bảng thống kê.
Bảng 3.5: Thông tin chung về các hộ điều tra
Xã Canh Hiệp Canh Hiển Canh Vinh Tổng
Diễn giải ĐV tính Số hộ % Số hộ % Số hộ % Tổng %
Tổng số hộ điều tra Hộ 50 100 50 100 50 100 150 100
1.BQ tuổi của người được phỏng vấn Tuổi 43,5 44,4 43 43,6
2.Trình độ văn hoá người được phỏng vấn 50 100 50 100 50 100 150 100
2.1 Chưa từng đi học Hộ 17 34 0 0 1 2 18 12
3.1 Số nhân khẩu BQ/hộ Người 6,26 6,18 6,06 6,17
4.Lao động BQ/hộ Người 4,14 4 3,9 4,01
6 DT đất LN được giao Ha 162,9 271,9 333,9 768,7
7 Tổng thu nhập của HGĐ trong năm qua
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Quá trình điều tra cho thấy, tuổi bình quân của các chủ hộ là 43,6 tuổi, cho thấy đây là độ tuổi còn khá trẻ Kinh tế của các hộ gia đình chủ yếu dựa vào sản xuất nông nghiệp.
Trình độ văn hoá của các chủ hộ tại xã Canh Hiệp thấp hơn rõ rệt so với hai xã Canh Hiển và Canh Vinh, với 34% trong số 50 chủ hộ điều tra chưa từng đi học và không có ai hoàn thành cấp III Điều này đã ảnh hưởng lớn đến đời sống và sản xuất của họ Ngược lại, xã Canh Hiển có trình độ dân trí cao, khi 7 hộ trong số 50 đã học trên cấp III và không có chủ hộ nào chưa được đi học Tóm lại, xã Canh Hiển có trình độ học vấn cao nhất, trong khi xã Canh Hiệp có trình độ thấp nhất.
Tổng số nhân khẩu trong cuộc điều tra là 925 người, với trung bình 6,17 người mỗi hộ và 4,01 lao động/hộ Trong số đó, có 32 hộ kinh tế khá, chiếm 21,33%, trong đó xã Canh Hiển có 15 hộ, còn xã Canh Hiệp chỉ có 4 hộ Số hộ trung bình là 93, nhiều nhất tại xã Canh Vinh với 37 hộ, ít nhất tại xã Canh Hiệp với 23 hộ Số hộ nghèo trong ba xã là 25 hộ, chiếm 16,67%, trong đó 23 hộ tập trung ở xã Canh Hiệp Tổng diện tích đất nông nghiệp được giao cho các hộ là 768,7 ha trên tổng số 1.418,93 ha Mức độ kinh tế giữa các hộ và giữa các xã có sự chênh lệch lớn, rõ nhất giữa xã Canh Hiệp và hai xã Canh Hiển, Canh Vinh Tổng thu nhập cao nhất là 1.862.700.000 đồng tại xã Canh Hiển, trong khi thấp nhất là 628.910.000 đồng tại xã Canh Hiệp.
Các hộ gia đình ở hai xã Canh Hiển và Canh Vinh có điều kiện sống tốt hơn so với xã Canh Hiệp, điều này ảnh hưởng lớn đến kết quả phỏng vấn của chúng tôi Trong khi phần lớn các hộ ở Canh Hiệp có xu hướng giữ đất để truyền lại cho con cháu, thì tại Canh Hiển và Canh Vinh, với điều kiện kinh tế và trình độ dân trí cao hơn, ngày càng nhiều hộ gia đình đầu tư vào trồng rừng, dẫn đến sự gia tăng trong số lượng hộ mua đất để phát triển rừng.
3.3.2 Sự tham gia của các hộ điều tra vào TT QSD đất
Phong tục của đồng bào dân tộc Chăm ở xã Canh Hiệp dẫn đến việc hầu hết các hộ gia đình để lại đất cho thế hệ sau nhằm tạo điều kiện sản xuất và sinh sống, vì vậy số hộ tham gia vào mua - bán quyền sử dụng đất (QSD đất) rất ít, chủ yếu tập trung vào lao động và liên kết sản xuất Ngược lại, tại hai xã Canh Hiển và Canh Vinh, số hộ tham gia mua thêm QSD đất là rất nhiều Chẳng hạn, hộ ông Nguyễn Văn Dũng đã có 25 ha đất nông nghiệp và đã thực hiện giao dịch bán trong khoảng thời gian 2 năm.
Ông Nguyễn Thanh Tùng thu nhập khoảng 120 triệu đồng sau khi trừ chi phí từ diện tích rừng 25 ha, với doanh thu gần 100 triệu đồng từ việc bán cây và sản phẩm phụ hàng năm Số tiền này thực sự lớn đối với nông dân ở ba xã, cho thấy giá trị từ trồng rừng đang thu hút sự quan tâm của nhiều hộ gia đình trong sản xuất và phát triển kinh tế Điều này đã khuyến khích các hộ có điều kiện kinh tế tìm kiếm thêm đất để mở rộng diện tích trồng rừng.
Số hộ tham gia vào TT QSD đất RSX của các xã được tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 3.6: Tổng hợp sự tham gia của các hộ vào TT QSD đất RSX
Tổng số hộ điều tra 50 100 50 100 50 100 150 100
Tổng số hộ tham gia vào TT QSD đất RSX 39 78 37 74 27 54 103 68,67
Số hộ tham gia vào hoạt động bán QSD đất RSX 8 16 5 10 4 8 17 11,33
Số hộ tham gia vào hoạt động mua QSD đất RSX 3 6 18 36 16 32 37 24,67
Số hộ tham gia vào hoạt động cho thuê QSD đất
Số hộ tham gia vào hoạt động thuê QSD đất RSX 0 0 1 2 0 0 1 0,67
Số hộ tham gia vào hoạt động liên doanh liên kết
Số hộ tham gia vào hoạt động cầm cố thế chấp
Theo số liệu điều tra, nhiều hộ gia đình (HGĐ) tham gia vào thị trường quyền sử dụng đất (TT QSD đất) rừng sản xuất (RSX), đặc biệt tại xã Canh Hiệp, nơi chủ yếu là lao động liên kết sản xuất Các hộ ở xã Canh Hiển và Canh Vinh chủ yếu mua thêm QSD đất RSX để mở rộng diện tích trồng rừng, với nhiều hộ tham gia tới 3 giao dịch khác nhau Tất cả 17/18 hộ ở xã Canh Hiển tin rằng trồng rừng sẽ mang lại thu nhập cao trong tương lai Hộ ở xã Canh Vinh cũng cho biết lý do mua thêm đất là vì tiềm năng thu nhập từ trồng rừng và khả năng kinh tế của họ Tuy nhiên, không có hộ nào ở xã Canh Hiệp cho thuê đất RSX, với một hộ nghèo cho biết họ không thể cho thuê vì không có điều kiện sản xuất khác Tương tự, tại xã Canh Hiển và Canh Vinh, các hộ đều khẳng định không có hoạt động cho thuê đất RSX, chỉ có một hộ ở Canh Vinh tham gia lao động liên kết Một trường hợp đặc biệt là hộ Lơ Thị Mai ở xã Canh Hiển, thuê 4 ha đất do UBND xã quản lý để trồng rừng.
Theo điều tra, hầu hết các hộ gia đình tham gia mua QSD đất RSX nhận thấy rằng đầu tư vào trồng rừng nguyên liệu mang lại thu nhập cao và cải thiện đời sống Điều này phản ánh tư duy tiến bộ và hợp lý, khi họ nhận ra nhu cầu gỗ cho sản xuất và ngành công nghiệp giấy ngày càng gia tăng.
3.3.3 Thực trạng cung-cầu QSD đất rừng sản xuất ở các xã a Thực trạng cung QSD đất ở các xã
Thực trạng giao và cấp GCN QSD đất
Tình hình sử dụng đất thực tế cho thấy, thị trường đất đai và quyền sử dụng đất nông nghiệp chỉ có thể phát triển khi có nguồn cung phù hợp để đáp ứng nhu cầu của người mua Cung cấp quyền sử dụng đất nông nghiệp bao gồm số lượng và diện tích mà người bán hoặc cho thuê sẵn sàng giao dịch ở mức giá nhất định trong một khoảng thời gian cụ thể, với điều kiện các yếu tố khác không thay đổi Diện tích đất nông nghiệp đã giao của các xã được thống kê trong bảng dưới đây.
Bảng 3.7: Tình hình giao đất lâm nghiệp của các xã Đơn vị tính: Ha
Trong một cuộc phỏng vấn với các cán bộ UBND xã, ông Trần Đình đã chia sẻ những nhận xét về việc sử dụng đất của các hộ gia đình (HGĐ) sau khi được giao.
Bá chủ tịch xã Canh Hiển cho biết rằng việc trồng rừng tại địa phương đạt hiệu quả lên đến 95% về cả kinh tế và môi trường Ông Nguyễn Trọng Phước, cán bộ địa chính xã Canh Vinh, cho hay nhiều hộ gia đình đã sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để thế chấp vay ngân hàng đầu tư trồng rừng Tuy nhiên, qua khảo sát, một số ít hộ dân tộc chăm ở xã Canh Hiển vẫn chọn trồng mì do thiếu vốn, không nhận thức được lợi ích từ việc trồng rừng và chưa nắm rõ chủ trương của Nhà nước liên quan đến việc giao đất.
Các giao dịch về bán QSD đất RSX của các hộ điều tra
Pháp luật công nhận đất đai là tài sản, nhưng việc mua bán đất khác với các loại tài sản khác Khi bán đất, người bán thực chất chỉ chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSD) cho người mua, nhận lại tiền hoặc tài sản có giá trị tương đương, chứ không bán quyền sở hữu (QSH) vì đất đai thuộc quyền sở hữu của Nhà nước.
DT đất RSX đã giao 0 49,7 100,3 34 184
DT đất RSX đã giao 0 917,74 0 0 917,74
DT đất RSX đã giao 122,8 168,4 25,99 0 317,19
Tổng DT đã giao của các xã 122,8 1.135,84 126,29 34 1.418,93
Kết quả điều tra cho thấy, chỉ một bộ phận nhỏ trong tổng số 150 hộ gia đình ở ba xã thực hiện việc bán quyền sử dụng đất, nhưng hoạt động này đã ảnh hưởng đáng kể đến đời sống sinh hoạt và sản xuất kinh tế của các hộ, khi diện tích đất sản xuất bị giảm sút hoặc không còn nhiều.
Bảng 3.8: Thực trạng giá bán QSD đất RSX ở xã Canh Hiệp
STT Họ và tên Năm sinh
Tình trạng kinh tế hộ
Giá bán (triệu đồng/ha)
3 Lê Hoàng Chiều 1963 Trung bình 2 12,5 2007
9 Tổng diện tích các hộ đã bán 23,9
Bảng 3.9: Thực trạng giá bán QSD đất RSX ở xã Canh Hiển
Tình trạng kinh tế hộ
Giá bán (triệu đồng/ha)
1 Nguyễn Thị Bích 1976 Trung bình 1 30 2006
4 Dương Thị Mai 1961 Trung bình 5,4 8,3 2006
5 Nguyễn Thị Nghĩ 1974 Trung bình 4 20 2007
6 Tổng diện tích các hộ đã bán 27,4
Bảng 3.10: Thực trạng giá bán QSD đất RSX ở xã Canh Vinh
Tình trạng kinh tế hộ
Giá bán (triệu đồng/ha)
1 Phạm Văn Sơn 1986 Trung bình 4 10 2007
2 Nguyễn Văn Thịnh 1960 Trung bình 2 7,5 2006
3 Phạm Quý Trung 1959 Trung bình 3 10 2006
Bảng 3.11: Tổng hợp các hộ tham gia vào bán QSD đất RSX
Xã Canh Hiệp Xã Canh Hiển Xã Canh Vinh Tổng Diễn giải
Số hộ % Số hộ % Số hộ % Số hộ %
1 Tổng số hộ tham gia vào TT QSD đất RSX 39 100 37 100 27 100 103 100
6.1 Thiếu vốn đầu tư sản xuất 5 1 3 9 8,74
6.2 Thiếu kỹ thuật và kinh nghiệm SX 1 0 0 1 0,97
6.3 Lý do khác (trả nợ, chữa bệnh…) 8 5 3 16 15,53
(Nguồn: Số liệu điều tra)
Trong ba xã được khảo sát, có 17 hộ tham gia bán quyền sử dụng đất nông nghiệp, chiếm 16,50% trong số 103 hộ tham gia và 11,3% trong tổng số 150 hộ điều tra Cụ thể, xã Canh Hiệp có 8 hộ bán, xã Canh Hiển có 5 hộ, và xã Canh Vinh có 4 hộ Trong số này, có 2 hộ khá ở xã Canh Hiển, 8 hộ trung bình (Canh Vinh 4 hộ, Canh Hiển 3 hộ, Canh Hiệp 1 hộ) và 7 hộ nghèo đều ở xã Canh Hiệp Tổng số hộ bán tại xã Canh Hiệp gấp 2 lần xã Canh Vinh và 1,6 lần xã Canh Hiển Về diện tích, 8 hộ ở xã Canh Hiệp bán tổng cộng 23,9 ha, Canh Hiển là 27,4 ha, và Canh Vinh là 13,5 ha Diện tích mà các hộ ở xã Canh Hiển bán lớn gấp hơn 2 lần so với xã Canh Vinh, với diện tích bình quân mỗi hộ bán của xã Canh Hiển là 5,48 ha, Canh Hiệp là 2,98 ha, và Canh Vinh là 3,38 ha Như vậy, xã Canh Hiệp có số hộ bán nhiều nhất, nhưng diện tích bình quân bán của mỗi hộ lớn nhất thuộc về xã Canh Hiển.