Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu Tri thức bản địa là hệ thống kiến thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của Ban giám hiệu Trường Đại học Lâm nghiệp, Viện Quản
lý đất đai và PTNT cùng giảng viên hướng dẫn, cô giáo Th.s Đồng Thị Thanh, tôi
tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng người Mông tại xã Phình Giàng, huyện Điện Biên
Đông, tỉnh Điện Biên”
Trong thời gian thực hiện đề tài, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã được hỗ trợ giúp đỡ rất nhiều từ thầy cô, các tổ chức và các cá nhân khác Tới nay đã hoàn thành nghiên cứu này Tôi xin chân thành cảm ơn cô giáo Đồng Thị Thanh, người
đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, khuyến khích chỉ dẫn cho tôi những kiến thức quý báu trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể cán bộ và người dân xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông, Tỉnh Điện Biên, đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực tập tại địa phương
Do còn hạn chế về kiến thức chuyên môn và thực tế, mặt khác thời gian thực hiện đề tài có hạn, nên nghiên cứu không trách khỏi những thiếu xót Vì vậy, tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo để bản báo cáo khoá luận này được hoàn chỉnh hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Sinh viên thực hiện
Sình Duy Tình
Trang 2MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG v
DANH MỤC HÌNH vi
PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1
1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu 1
PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1
2.1 Tổng quan về KTBĐ 1
2.2.1Một số khái niệm về kiến thức bản địa 1
2.1.2 Vai trò của kiến thức bản địa 3
2.1.4 Phân biệt kiến thức bản địa với kiến thức khoa học 6
2.1.5 Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa 7
2.2 Tổng quan về cộng đồng dân tộc Mông tại Việt Nam 9
2.2.1 Lịch sử di cư và hình thành cộng đồng người Mông tại Việt Nam 9
2.2.3 Đời sống văn hóa của người Mông 11
2.3 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan 11
PHẦN III MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
3.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
3.1.1 Mục tiêu tổng quát 13
3.1.2 Mục tiêu cụ thể 13
3.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu 13
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu 13
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu 13
3.4.1 Nghiên cứu và phân tích số liệu thứ cấp 13
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu 14
Trang 3PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 17
4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại điểm nghiên cứu 17
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
4.1.3 Đánh giá chung 24
4.2 Hệ thống kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu 24
4.2.1 Hệ thống kiến thức bản địa trong trồng trọt 24
4.2.1 Kiến thức bản địa trong chăm nuôi 43
4.2.4 Vai trò của kiến thức bản địa đôi với đời sống người dân 47
4.2 Đánh giá kiến thức bản địa 48
4.4 Các giải pháp lữu trữ và phát triển kiến thức bản địa tại điểm nghiên cứu 52 4.4.1 Các giải pháp lưu trữ, cải tiến và phát triển 52
PHẦN V KẾT LUẬN, TỒN TẠI 54
5.3 Kiến nghị 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56
PHỤ LỤC 58
Trang 5DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Phân biệt kiến thức bản địa và kiến thức khoa học 6
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất tại xã Phình Giàng 19
Bảng 4.2 Hiện trạng giống cây trồng chính tại địa phương 25
Bảng 4.3 Đặc điểm các giống Lúa bản địa của người Mông ở Phình Giàng 27
Bảng 4.4 Đặc điểm các giống Ngô bản địa của người Mông ở Phình Giàng 28
Bảng 4.5 KTBĐ trong chọn giống 31
Bảng 4.6 KTBĐ trong sử dụng lâm sản ngoài gỗ của người Mông ở Phình Giàng 46
Bảng 4.7 Đánh giá kiến thức bản địa trong trồng trọt 49
Bảng 4.8 Bảng đánh giá kiến thức bản địa trong chăn nuôi 50
Bảng 4.9 KTBĐ trong lâm nghiệp 51
Trang 6DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1.Các loại đất chính tại xã Phình Giàng 18
Hình 4.2 Diện tích đất của đơn vị hành chính 20
Hình 4.3 Nhóm đất nông nghiệp 20
Hình 4.4 Các giống ngô bản địa tại địa phương 30
Hình 4.5 Bảo quản ngô giống 33
Hình 4.6 Bảo quản giống sắn 34
Hình 4.7 Phát dọn thực bì 37
Hình 4.8 Mảnh nương sau khi đốt xong 37
Hình 4.9 Làm đất 37
Hình 4.10 Dọn Thưc bì mảnh nương 38
Hình 4.11 Thùng bảo quản thóc 41
Hình 4.12 Bảo quản ngô 42
Trang 7PHẦN I ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 Tính cấp thiết của vấn đề nghiên cứu
Tri thức bản địa là hệ thống kiến thức được hình thành trong quá trình lịch
sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội, được tích lũy, phát triển dựa trên kinh nghiệm và lưu truyền từ đời này qua đời khác
thông qua trí nhớ, thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội Tại các vùng dân tộc
thiểu số, hệ thống kiến thức này thực sự là nguồn lực quý giá cho sự phát triển của cộng đồng cũng như sự phát triển của xã hội; nó có vai trò quan trọng đối với sinh
kế của nông hộ, phát triển kinh tế, bảo tồn đa dạng sinh học, bảo tồn văn hóa; là cơ
sở để đề xuất các chính sách nông thôn và được coi là chìa khóa cho sự phát triển ở
cấp địa phương (Đồng Thị Thanh, Kiều Trí Đức, 2012)
Việt Nam là đất nước đa dân tộc, các dân tộc sinh sống rải rác từ vùng núi cao cho tới vùng đồng bằng Chính vì khác nhau về vùng miền, dân tộc và phong tục tập quán mà đã tạo nên hệ thống kiến thức trong cộng đồng đa dạng, phong phú phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương, đặc điểm dân sinh xã hội nhằm đáp ứng nhu cầu mưu sinh của từng cộng đồng Cũng như những cộng đồng dân tộc khác, công đồng dân tộc người Mông cả nước nói chung và cộng đồng dân tộc người ở Điện Biên nói riêng có cuộc sống phụ thuộc chặt chẽ vào tự nhiên Trải qua quá trình sản xuất lâu dài họ đã tích lũy, đúc kết được nguồn kiến thức bản địa trong nhiều lĩnh vực của đời sống sản xuất, văn hóa, tâm linh Trong kho tàng tri thức bản địa đó, các kiến thức trong lĩnh vực nông lâm nghiệp đóng vai trò rất quan trọng và được sử dụng như một cơ chế ứng phó về mưu sinh, duy trì và phát triển cộng đồng
Xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông là một xã nghèo thuộc tỉnh Điện
Biên, với hơn 70% dân số là người dân tộc Mông (UBND xã Phình Giàng, 2019)
Trải qua nhiều thế hệ, cộng đồng người Mông ở miền núi nói chung và cộng đồng người Mông ở xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông nói riêng có đời sống gắn
bó với rừng núi và cuộc sống của họ chủ yếu dựa vào sản xuất nông lâm nghiệp Chính vì thế họ có một hệ thống kiến thức bản địa phong phú liên quan đến sản xuất nông nghiệp Quá trình đấu tranh lâu dài với thiên nhiên, lao động sản xuất để sinh tồn đã đúc kết được hệ thống kiến thức bản địa tạo nên bản sắc văn hoá của người Mông nơi đây Hệ thống kiến thức này đã ăn sâu vào tâm trí người Mông và được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác Nhờ những kiến thức đó, người
Trang 8Mông tại đây đã có thể sản xuất nông lâm nghiệp một cách bền vững, ổn định phục
vụ cho cuộc sống và phát triển cộng đồng
Tuy nhiên cùng với xu thế hội nhập và giao lưu văn hóa, sự tác động của nền kinh tế thị trường, sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và sự gia tăng dân
số một cách nhanh chóng thì những kiến thức văn hóa truyền thống của người Mông đang đứng trước nguy cơ bị xáo trộn và mai một theo thời gian Đây là một điều đáng tiếc bởi vì rất nhiều kỹ thuật truyền thống đã mang lại hiệu quả cao, được thử thách qua hàng thế kỷ, có sẵn ở địa phương, rẻ tiền, phù hợp với văn hóa xã hội
và phong tục tập quán mà không dễ gì các giải pháp kỹ thuật ở các nước phát triển
có được
Với mong muốn hệ thống hóa được nguồn tài nguyên bản địa của cộng đồng dân tộc người Mông tại xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông làm cơ sở cho công tác bảo tồn và khai thác các giá trị của nguồn kiến thức phục vụ phát triển sản xuất, nâng cao đời sống vật chất của người dân và phát triển cộng đồng, tôi tiến
hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp của cộng đồng người Mông tại xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên”
Trang 9PHẦN II TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2.1 Tổng quan về KTBĐ
2.2.1Một số khái niệm về kiến thức bản địa
Trong những năm gần đây kiến thức bản địa đã được các nhà nghiên cứu trong ngoài nước quan tâm và đã đề cập trong các công trình nghiên cứu với những tên gọi khác nhau như tri thức bản địa, tri thức dân gian, văn hoá truyền thống, kiến thức địa phương, tri thức tộc người… Các cách gọi khác nhau này cho thấy những quan niệm và cách hiểu khác nhau về nội hàm của cụm từ “Kiến thức bản địa” Một
số khái niệm về “Kiến thức bản địa” được đề tài tổng hợp dưới đây:
Thuật ngữ kiến thức bản địa được Robert Chambers dùng đầu tiên trong một ấn phẩm phát hành năm 1979, tiếp theo đó được Brrokernha và D.M.Waren
sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục phát triển cho đến ngày nay Đây là những người có rất nhiều đóng góp cho lĩnh vực nghiên cứu kiến thức bản địa ở các nước đang phát triển tại châu Á và châu Phi (Dẫn theo Đồng Thị Thanh, Kiều Trí Đức, 2012)
Theo tác giả Hoàng Xuân Tý (2012), kiến thức bản địa (Indigenouse knowledge) còn được gọi là kiến thức truyền thống (Traditionnal knowledge) hay kiến thức địa phương (Local knowledge) là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa, hoặc của một cộng đồng tại một khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triển trong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trong cộng đồng ở một vùng địa lý xác định
Kiến thức bản địa là nhóm kiến thức được tạo ra bởi một nhóm người qua nhiều thế hệ sống và quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Nói khái quát, kiến thức bản địa là những kiến thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương (Langil
Trang 10khỏe, chế biến thức ăn, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên thiên và các hoạt động chủ yếu của cộng đồng nông thôn Khác với kiến thức bản địa hệ thống kiến thức hàn lâm thường được xây dựng từ các trường đại học, viện nghiên cứu… (Warren, 1991)
Qua nghiên cứu kiến thức bản địa, Lê Trong Cúc nhận định tri thức bản địa phương hay còn gọi là tri thức bản địa là hệ thống tri thức của các cộng đồng dân
cư bản địa ở các quy mô lãnh thổ khác nhau Tri thức địa phương được hình thành trong quá trình lịch sử lâu đời, qua kinh nghiệm ứng xử với môi trường xã hội, được định hình dưới nhiều hình thức khác nhau, được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội Nó hướng đến việc hưỡng dẫn và điều hoà các quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người và thiên nhiên (Lê Trọng Cúc, 2002)
Khi nghiên cứu về tri thức bản địa, Phạm Quang Hoan cho rằng tri thức bản
địa được hiểu các cấp độ khác nhau Một là, “tri thức địa phương” (hay “tri thức
bản địa”, “tri thức dân gian”, “tri thức tộc người”) là toàn bộ những hiểu biết, những kinh nghiệm của một tộc người nhất định được tích lũy, chọn lọc và trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác Vốn tri thức đó phản ánh các lĩnh vực khác nhau của đời sống cộng đồng để mỗi tộc người sinh tồn, phát triển và thích nghi trước những biến đổi đã và đang diễn ra Nói cách khác, tri thức địa phương là phương pháp thức ứng xử, là đặc tính thích nghi với những điều kiện sinh thái nhân
văn của mỗi tộc người Hai là, “ tri thức địa phương” là tri thức cuả các cộng đồng
tộc người cùng cộng cư trong một vùng sinh thái hai một văn hóa nhất định Trong trường hợp này, tri thức địa phương cũng phản ánh xu hướng giao lưu và biến đổi văn hóa hay thích ngi văn hóa giữa các tộc người… (Phạm Quang Hoan, 2003)
Kiến thức bản địa hay tri thức truyền thống là hệ thống kiến thức được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và xã hội, được người dân ở một cộng đồng tích lũy và phát triển dựa trên kinh nghiệm, đã được kiểm nghiệm qua thực tiễn và thường xuyên thay đổi để thích nghi với môi trường văn hóa, xã hội; được lưu truyền từ đời này qua đời khác
qua trí nhớ, qua thực tiễn sản xuất và thực hành xã hội (Đồng Thị Thanh, Kiều Trí
Trang 11Như vậy, mặc dù kiến thức bản địa (KTBĐ) được diễn tả qua nhiều ngôn ngữ, thuật nghữ khác nhau nhưng thực chất chúng có sự thống nhất cao về nghĩa đó là:
Thứ nhất, KTBĐ là những kinh nghiệm được đúc rút và lưu truyền qua
nhiều thế hệ của một cộng đồng dân cư nhất định của một địa phương nhất định
Thứ hai, KTBĐ được sáng tạo và sử dụng bởi những người dân địa phương
qua nhiều thế hệ sống và có quan hệ chặt chẽ với thiên nhiên trong một vùng nhất định Kiến thức bản địa chứa đựng trong tất cả các lĩnh vực của cuộc sống xã hội tại cộng đồng
Thứ ba, KTBĐ là kiến thức địa phương, dạng kiến thức được tạo bởi một
nền văn hóa hay một xã hội nhất định Kiến thức bản địa không hạn chế ở những người dân nông thôn
Thứ tư, KTBĐ là kiến thức của một cộng đồng nhất định phát triển xuyên
thời gian và liên tục phát triển KTBĐ được hình thành dựa vào kinh nghiệm của đời sống, nó thường xuyên được kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hóa và môi trường địa phương Chính vì vậy nhóm kiến thức này liên tục biến đổi
Thứ năm, đây là nhóm kiến thức rất đơn giản, dễ hiểu, dễ áp dụng, thể hiện
sự đa dạng thông qua các nhóm người (phụ nữ, nam giới, người già, trẻ em,…) và được đúc kết sinh động thông qua các bài hát, vè, thơ, ca,…
Thứ sáu, đây là nhóm kiến thức thường được lưu giữ bằng cách truyền
miệng, thường không ghi chép bằng văn bản
Tóm lại, KTBĐ là những nhận thức, những hiểu biết về môi trường sinh sống được hình thành từ cộng đồng dân cư ở một nơi cư trú nhất định trong lịch sử tồn tại và phát triển cộng đồng Trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, đó là những kiến thức về các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, quản lý tài nguyên của cộng đồng một dân tộc sống tại một khu vực địa lý
2.1.2 Vai trò của kiến thức bản địa
Vai trò của kiến thức bản địa trong đời sống của người dân đã được khẳng định, vai trò này đặt trong tiến trình quản lý tài nguyên thiên nhiên bền vững được nhấn mạnh bởi các điểm sau
Trang 12a, Vai trò của kiến thức bản địa là cơ sở đề xuất các chính sách
Theo các nghiên cứu ở châu phi của Attheh (1992) đã coi kiến thức bản địa
là chìa khóa cho sự phát triển ở địa phương Một số nhà nghiên cứu cho rằng kiến thức bản địa là cơ sở để đề xuất các quyết định tại địa phương tron các lĩnh vực nông nghiệp, y tế, giáo dục, quản lý tài nguyên thiên nhiên (Warren, 1991) Trong nhiều trường hợp khoa học hiện đại không thích hợp và việc sử dụng những kỹ thuật và phương pháp đơn giản hơn mang lại hiểu quả Như vậy KTBĐ đã cũng cấp
cơ sở để giải quyết vấn đề chiến lược cho công đồng địa phương, đặc biệt là những người nghèo Các chính sách nên dựa vào KTBĐ của cộng đồn, rất nhiều tổ chức quốc tế công nhận vai trò của cộng đồng địa phương, nhất là của phụ nữ trong quản
lý tài nguyên thiên nhiên như chương trình nghị sự thứ 21 của hội nghị liên hiệp quốc năm 1992 về ván đề môi trường và phát triển các nhà nghiên cứu về hân chủng học và văn hóa ở Việt Nam cũng cho rằng KTBĐ trong quản lý tài nguyên thiên nhiên là cơ sở rất quan trọng để đề xuất các chính sách phù hợp với điah phương (Ngô Đức Thịnh, 2001)
b, Kiến thức bản địa góp phần quan trọng trong việc bảo tồn đa dạng sinh học
KTBĐ bao gồm các luật tục liên quan đến bảo vệ và quản lý tài nguyên thiên nhiên Luật tục là một phần của KTBĐ được hình thành trong quá trình lịch sử lâu dài, qua kinh nghiệm ứng xử của con người với môi trường và ứng xử với xã hội Luật tục xác định các quan hệ sở hữu đối với các nguồn tài nguyên thiên nhiên, luật tục chứa đựng những tri thức dân gian về quản lý bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên (Ngô Đức Thịnh, 2001)
c, Kiến thức bản địa góp phần quan trọng trong việc bảo tồn văn hóa
KTBĐ gắn liền với nền văn hóa riêng của mỗi cộng đồng dân tộc tại từng địa phương Các cộng đồng dân tộc có các quan niện riêng như cúng thần rừng, rừng thiên… được tất cả các thành viên trong cộng đồng tôn trọng và bảo vệ
2.1.3 Đặc điểm của kiến thức bản địa
a Kiến thức bản địa được hình thành và biến đổi liên tục qua các thế hệ trong một cộng đồng địa phương nhất định
Trang 13Kiến thức bản địa là sản phẩm được tạo ra trong qua trình lao động sản xuất của toàn cộng đồng Theo thời gian các kinh nghiệm truyền thống này được cải biến để ngày càng hoàn thiện hơn, nghĩa là có hiệu quả và thích ứng cao hơn với các thay đổi của môi trường tự nhiên và xã hội
b Kiến thức địa phương có khả năng thích ứng cao với môi trường riêng của từng đại phương
Do được hình thành tại địa phương hoặc du nhập rồi sau đó được cải thiện để phù hợp với tự nhiên và tập quán xã hội nên kiến thức bản địa có khả năng thích ứng cao với điều kiện đia phương nơi đang sử dụng
c Kiến thức bản địa do toàn thể cộng đồng sáng tạo ra qua lao động trực tiếp
Kiến thức bản địa được hình thành một cách tự nhiên trong quá trình lao động của cả cộng đồng Mỗi cá nhóm người có những điểm mạnh riêng trong từng lĩnh vực
d Kiến thức bản địa được lưu giữ bằng trí nhớ và được truyền bà từ thế hệ này qua thế hệ khác
Kiến thức bản địa truyền miệng ở nhiều dạng khác nhau bằng thơ ca, tế lễ và nhiều hình thức khác nhau Đây là điểm khác biệt so với kiến thức khoa học và khó khăn trong nghiêm cứu, nhất là ngoài cộng đồng không có cùng ngôn ngữ và văn hóa
e Kiến thức bản địa luôn gắn liền và hòa hợp với nền văn hóa và phong tục địa phương
Kiến thức bản địa có khả nằng tiếp thu và ứng dụng kiến thức trong cộng đồng rất dễ dàng
f Kiến thức bản địa có tính đa dạng cao
Kiến thức bản địa được hình thành trong những điều kiện tự nhiên khác nhau
và được mọi thành viên trong cộng đồng sáng tạo ra, nên sự khác biệt về tuổi tác, giới tính, kinh nghiệm và kỹ năng đã làm cho hệ thống kiến thức này hết sức phong phú
g Kiến thức bản địa có giá trị cao trong việc xây dựng các mô hình phát triển nông thôn bền vững
Kiến thức bản địa là cơ sở đề xuất các quyết định có người dân tham gia tại địa phương trong các lĩnh vực nông nghiệp, y học, giáo dục, quản lý tài nguyên
Trang 14h Kiến thức bản địa ít tốn kém
Kiến thức bản địa không tốn kém hoặc ít tốn kém vì đã có sẵn nền chi phí thấp, có tính khả thi cao, dễ áp dụng vì có sự tham gia của người dân địa phương và góp phần vào quản lý tài nguyên hợp lý
2.1.4 Phân biệt kiến thức bản địa với kiến thức khoa học
Bảng 2.1: Phân biệt kiến thức bản địa và kiến thức khoa học
1) Sự hình
thành
Trực tiếp từ lao động của người dân trong cộng đồng, được hoàn thiện dần dần Linh thiêng và thế tục cùng đồng hành, bao gồm cả siêu nhiên
Hội nhập toàn thể, dựa vào
hệ thống Được lưu truyền thông qua truyền miệng và trong các thực hành văn hóa
Chủ yếu bởi một hoặc một nhóm nhà khoa học, qua quá trình tư duy, nghiêm cứu, phán đoán, được hệ thống hóa và truyền lại qua sách vở
Chỉ tính thế tục, loại trừ siêu nhiên Phân tích hay quy giản dựa vào các tập hợp nhỏ của cái toàn thể
Được lưu giữ thông qua sách vở
2) Đặc điểm
Đa dạng, sinh động, có tính bảo tồn cao
Gắn liền với văn hóa
Bao quát, phổ biến, quy luật, toàn diện, phủ định
Tách biệt về văn hóa
3) Mức độ
chân lý
Được coi là chân lý (chủ quan) Chân lý được tìm thấy trong tự nhiên và trong niêm tin
Giải thích dựa vào ví dụ, kinh nghiêm và tục ngữ
Được coi là tiếp cận gần nhất với chân lý Chân lý được tìm thấy từ sự lý giải của con người
Giải thích dựa vào giải thuyế, lý thuyết
Trừu tượng, trải qua kiểm tra
Trang 15Đặc điểm Kiến thức bản địa Kiến thức khoa học
Thực tế với cuộc sống và tồn tại
Có khả năng dự báo tốt ở địa phương
Yếu hơn trong điều kiện ở các vùng xa khác
Áp dụng trong địa bàn nhỏ, có điều kiện tuong tự
Yêu trong việc sử dụng kiến thức địa phương
Được kiểm nghiệm thông qua các tình huống thực tế
Lĩnh hội nhanh (kiến thức nhanh) Học thông qua giáo dục chính thức Dạy thông qua sách giáo khoa
Được kiểm nghiệm qua các kiểm tra
2.1.5 Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa
2.1.5.1 Tình hình nghiên cứu kiến thức bản địa trên thế giới
Trong quá khứ những người bên ngoài (ví dụ các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu…) đã bỏ qua kiến thức bản địa và xem nhẹ kiến thức bản địa, họ cho rằng kiến thức bản địa là hệ thống kiến thức nguyên thủy đơn giản, không còn phù hợp với tình hình phát triển hiện nay Chính vì sự thờ ơ với kiến thức bản địa đã góp phần làm suy giảm tính đa dạng trong sử dụng và ứng dụng các hệ thống kiến thức bản địa Hơn nữa cùng với cách mạng khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất đã thêm góp phần làm mai mọt và khiến hệ thống kiến thức bản địa trở nên lạc hậu và mất dần Trong giáo dục hệ thống kiến thức bản địa cũng không được củng cố tới người học Từ đó nhiều dân đã không thể áp dụng chính khả năng của mình để giúp
họ trở nên độc lập với những giải pháp từ bên ngoài để giải quyết vấn đề của địa phương của họ
Trang 16KTBĐ mới chỉ thực sự được các nhà khoa học quản lý quan tâm đến trong vòng vài thập kỷ qua, khi mà nhiều quốc gia và dự án đang cố gắng tìm ra những chính sách
và giải pháp cho sự pháp triển bền vững ở các nước nghèo lẫn các nước giàu
Nhận thức được tầm quan trọng của KTBĐ, đến nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về KTBĐ ở hầu hết các trên thế giới và KTBĐ ngày càng có vai trò trong các dự án phát triển nông thôn
2.1.5.2 Tình hình nghiên cứu KTBD ở Việt Nam
Cũng như hầu hết các nước Đông Nam A, Việt Nam là quốc gia có truyền thống về sản xuất nông nghiệp từ hàng nghìn năm nay Cùng với sự đa dạng về dân tộc và vùng sinh sống trải dài khắp cả nước trên nhiều vùng sinh thá khác nhau đã tạo nên một kho tàng hệ thống KTBĐ vô cùng phong phú về sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên dù hệ thống KTBĐ nước ta vô cùng đa dạng và phong phú nhưng cho đến nay các vấn đề nghiên cứu về KTBĐ vẫn còn rất hạn chế và còn mới mẻ
Chính trong sự thay đổi của môi trường sinh thái ngày càng bị suy thoái, cuộc sống con người đang gặp nhiều khó khăn và các chính sách phát triển không thể áp dụng trong điều kiện môi trường ở nhiều vùng khác nhau thì chúng ta mới bắt đầu thừa nhận tầm quan trọng của KTBĐ trong việc sản xuất, bảo tồn và phát triển bền vững
Bên cạnh đó, các nghiên cứu về KTBĐ đã được quan tâm Các nhóm cộng đồng được nghiên cứu chủ yếu là các nhóm dân tộc Mường, Dao, Mông, Thái……
Một số đề tài nghiên cứu liên quan đến kiến thức bản địa
Tạ Quang Trung (2011), khi nghiên cứu kiến thức bản địa của người dân địa phương trong sử dụng và phát triển rau rừng tại tỉnh Lào Cai chỉ ra rằng đối với người dân địa phương rau rừng là vô tân và là nguồn cung cấp thực phẩm không bao giờ hết Do vậy đã có những đề xuất nhằm phát triển rau rừng và bảo tồn ra rừng một cách thích hợp Hình thức bảo tồn và phát triển là phải dựa vào người dân địa phương, bởi họ là người trực tiếp sông với rừng và được hưởng lợi trực tiếp từ rừng Chính quyền địa phương nên truyền đạt thêm kinh nghiện trồng và chăn sóc rau rừng tại nhà
Trang 17Trần Trọng Hiếu (2012) khi thực hiện đề tài “Nghiên cứu kiến thức bản địa trong canh tác nương rẫy của cộng đồng người mường Xã Phúc Tiến-Huyện Kỳ Sơn-Tỉnh Hòa Bình” của tác giả đã chỉ ra rằng: Hệ thống canh tác nương rẫy của
công đồng người Mường đã thể hiện nhiều mặt tích cực trong quản lý bảo vệ và sử dụng đất Hệ thống canh tác này hoàn toàn phù hợp với điều kiện tự nhiên, môi trường và xã hội tại cộng đồng Với các hình thức canh tác và bảo vệ nương rẫy có thể cho thấy các nguồn tài nguyên rừng, nước, đất đã được quản lý và sử dụng một cách hợp lý
Đề tài: “Kiến thức bản địa trong quản lý và sử dụng thực vật lâm sản ngoài
gỗ của cộng đồng người Vân Kiều ở thôn Là Tó, xã Húc Nghì, huyện Đa Krông, tỉnh Quảng Trị” của tác giả Th.S Hàn Tuyết Mai (Tài nguyên và Môi trường,
ĐHQGHN Trung tâm Nghiên cứu) Qua nghiên cứu tác giả đã đưa ra những kết luận sau:
Đời sống của người dân ở thôn Là Tó, xã Húc Nghì còn gặp rất nhiều khó khăn, mà nguyên nhân chủ yếu đó là tình trạng thiếu đất nông nghiệp (kể cả ruộng nước và đất rẫy), nguồn tài nguyên rừng đang bị suy giảm và hạn chế khai thác bởi quy định của Nhà nước Trong khi cuộc sống của họ còn phụ thuộc nhiều vào rừng, đặc biệt là những hộ nghèo, nếu không có giải pháp quản lý phù hợp thì khi nguồn tài nguyên rừng dần bị cạn kiệt đời sống của người dân càng trở nên khó khăn hơn Cần đưa ra những giải pháp, dự án nhằm giúp đỡ người dân địa phương, áp dụng các mô hình nông lâm kết hợp nhằm khai thác nguồn lâm sản ngoài gỗ dựa vào kiến thức của họ
2.2 Tổng quan về cộng đồng dân tộc Mông tại Việt Nam
2.2.1 Lịch sử di cư và hình thành cộng đồng người Mông tại Việt Nam
Người Mông ở Việt Nam hiện nay đều có nguồn gốc từ phương Bắc Theo các nhà dân tộc học Việt Nam thì phần lớn những người Mông ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều di cư trực tiếp từ Quý Châu, Quảng Tây và Vân Nam (Trung Quốc) sang Riêng một số nhóm ở Thanh Hoá, Nghệ An di cư đến Việt Nam qua Lào Người Mông đến Việt Nam bằng các con đường khác nhau và chia thành nhiều đợt, trong
đó có 3 đợt chính:
Trang 18Đợt thứ nhất, khoảng 100 hộ, thuộc các họ Lù, Giàng từ Quý Châu đến khu vực các huyện Đồng Văn, Mèo Vạc, tỉnh Hà Giang, thời gian vào quãng cuối đời Minh, đầu đời Thanh của lịch sử Trung Quốc, tương đương với những năm có phong trào của người Miêu ở Quý Châu chống lại chính sách “cải tổ quy lưu” và bị thất bại, cách đây trên 300 năm Từ đây, họ bắt đầu tiếp tục di cư vào sâu hơn đến các tỉnh thuộc Đông Bắc Việt Nam
Đợt thứ hai, khoảng trên 100 hộ, trong đó có những hộ thuộc họ Vàng, họ Lý cũng vào khu vực Đồng Văn Còn một nhóm khác số người ít hơn, thuộc các họ Vàng, Lù, Chấu, Sùng, Hoàng, Vừ vào khu vực Si Ma Cai, Bắc Hà, tỉnh Lào Cai Sau đó có khoảng 30 hộ gồm các họ Vừ, Sùng chuyển sang phía Tây Bắc Việt Nam Thời gian của đợt di chuyển này cách đây trên 200 năm Một số hộ người H’mông này sau đó tiếp tục di cư rải rác đến các tỉnh của Tây Bắc Việt Nam
Đợt thứ ba, số người Mông di cư vào Việt Nam đông nhất, gồm khoảng trên
10 ngàn người Phần lớn họ từ Quý Châu, có một số từ Quảng Tây và Vân Nam sang, chủ yếu vào các tỉnh Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái… Thời gian của đợt di cư này tương đương với thời kỳ của phong trào “Thái Bình Thiên Quốc”, trong đó có người Miêu tham gia, chống lại nhà Mãn Thanh từ năm 1840 đến 1868 Về sau, họ tiếp tục di cư đến các huyện của các tỉnh thuộc Đông Bắc và Tây Bắc Việt Nam
Về sau hàng năm vẫn có người Mông di cư lẻ tẻ sang Việt Nam Các con đường di chuyển của đồng bào là vào Đồng Văn rồi xuống Tuyên Quang Riêng các nhóm Mông cư trú ở hai tỉnh Thanh Hoá và Nghệ An và các huyện giáp biên giới Lào của Sơn La như Mai Sơn, Mộc Châu, Sốp Cộp, Sông Mã cũng từ Lào và các tỉnh miền núi miền Bắc vào trên dưới 100 năm trở lại đây (Lý Thị Dinh, 2016)
2.2.2 Tổng quan về người Mông Điện Biên
Dân tộc Mông là dân tộc có số dân đông thứ ba trong tổng số 21 dân tộc tại Điện Biên, chiếm 29,6% dân số toàn tỉnh Cộng đồng người Mông tập chung hầu hết ở các huyện nhưng tập chung nhiều nhất ở huyện Tủa Chùa và huyện Điện Biên Đông Người Mông chia làm nhóm chính Mông Đơ, Mông Lềnh, Mông Si, Mông
Đu, Mông Sua Người Mông ở đây có nguồn sống chính chủ yếu là làm nương rẫy,
Trang 19đến với nghề rèn đúc tài hoa.( nguồn internet Ngôn ngữ và các dân tộc tỉnh Điện Biên)
2.2.3 Đời sống văn hóa của người Mông
Cộng đồng người Mông thườngng sinh sống theo bản làng với sô hộ có thể lên đến hơn 50 hộ Cộng đồng người Mông được phân thành như sau: gồm có Mông trắng, Mông đen, Mông Hoa, Mông xanh Các Cộng đồng người Mông có cùng tiến nói chung những qua cách phát âm có sự thay đổi rõ rệt giữa họ (ví dụ: Mông đen sẽ có cách phát âm nặng hơn và người Mông trắng) Để phục vụ cho đời sống, cộng đồng người Mông đã hình thành các nghề truyền thống như trồng lanh dệt vải, làm bản giấy, làm đồ trang sức bằng bạc cùng một số nghề thủ công như rèn đúc các loại công cụ sản xuất như cày, cuốc, dao
Cộng đồng người Mông luôn có những phong tục tập quán riêng biệt nhằm tạo nên một công đồng thống nhất chặt chẽ được lưu truyền và thực hiện cho đến tận ngày nay Một số phong tục của người Mông như:
Tục kéo vợ vào các mùa tết lễ hội, với phong tục này nó đã ăn sâu trong tiềm thức người Mông có đến ngày nay Quy định các dòng họ nếu có cùng họ sẽ không thể lấy nhau đây là một quy định mà có thể nói là quy định chặt chẽ nhất và không thể hủy bỏ Cúng cơm mới đây cũng là một hình thức mà mỗi gia đình khi tham gia sản xuất phải làm, nếu như chưa thực hiện cúng cơm mới thì tất cả thóc lúa của mùa vụ mới sẽ không thể dùng
Người Mông có tết truyền thống riêng với Tết nguyên đán, tết của người Mông nói chung và người Mông Điện Biên nói riêng thường theo lịch dương Dấu hiệu để nhận biết sắp đến tết của người Mông thường là theo loài cây Yên Bạch hay còn gọi là lá chó đẻ, khi loài cây này bắt đầu có nụ hoa cũng là dấu hiệu đã đến tết của người Mông Trong tết của người Mông có nhiều lễ hội kèm theo như lễ hội ném pao, đánh tù lu và hát dao duyên giữa các chàng trai cô gái, đây cũng là thời điểm mà mọi người vui chơi tết sau một năm làm việc vất vả Thương tết của người Mông kéo dài gần 1 tháng khi hoa cây yên bạch bắt đầu tàn cũng là thời điểm sắp kết thúc tết và phải chuẩn bị cho công việc sản xuất mùa vụ mới
2.3 Một số nhận xét rút ra từ nghiên cứu tổng quan
Trang 20Nghiên cứu về kiến thức bản địa ngày càng được các quốc gia trên thế giới
và Việt Nam quan tâm Cho đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về KTBĐ
đã được công bố Các nghiên cứu đều đồng quan điểm khẳng định vai trò và tầm quan trọng của kiến thức bản địa trong sự phát triển kinh tế của đất nước, cộng đồng và từng dân tộc Bên cạnh đó, các công trình nghiên cứu đều khẳng định rằng KTBĐ vẫn còn là một nguồn tài nguyên chưa được sử dụng đầy đủ trong các hoạt động phát triển
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu sâu rộng về KTBĐ của các cộng đồng dân tộc hiện nay còn rất hạn chế, các nghiên cứu mới chỉ được tiến hành lồng ghép trong các dự án và các chương trình khác, phạm vi khảo sát cũng chỉ giới hạn trong các kiến thức chủ yếu về hoạt động quản lý tài nguyên thiên nhiên, canh tác Hơn nữa, những nghiên cứu mới chỉ mang tính chất thống kê và dựa vào ý kiến cộng đồng nhiều hơn là phân tích, đánh giá các kết quả thu thập được trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - xã hội và bảo vệ môi trường sinh thái Việc đưa ra các giải pháp để bảo tồn và phát huy KTBĐ trong nông lâm nghiệp hiện nay không nhiều
Việc nghiên cứu về kiến thức bản địa của cộng đồng dân tộc người Mông đã được một số tác giả đề cập đến trong một vài nghiên cứu ở những địa phương cụ thể Tuy nhiên các nghiên cứu tập trung nhiều về mảng văn hóa, phong tục tập quán của cộng đồng người Mông Hiện chưa có nhiều nghiên cứu về lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp – là lĩnh vực tạo ra nguồn sinh kế chủ yếu cho cộng đồng dân tộc người Mông ở nhiều nơi trong cả nước Vì vậy rất cần có thêm những nghiên cứu rộng rãi hơn về lĩnh vực này nhằm đề ra những chiến lược phát triển nông nghiệp
Trang 21PHẦN III MỤC TIÊU, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đề xuất giải pháp lưu giữ và cải tiến kiến thức bản địa tại điểm nghiên cứu
3.2 Phạm vi và đối tượng nghiên cứu
3.2.1 Phạm vi nghiên cứu
Xã Phình Giàng, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên
3.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Kiến thức bản địa trong lĩnh vực nông lâm nghiệp
3.3 Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Phình Giàng
- Đánh giá thực trạng sản xuất nông lâm nghiệp của xã Phình Giàng
- Phân tích hiện trạng kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu
- Phân tích hiểu quả sử dụng kiến thức bản địa trong sản xuất nông lâm nghiệp tại địa phương nghiêm cứu
- Đề xuất giải pháp lữu giữ và cải tiến kiến thức bản địa của người Mông tại điểm nghiên cứu
3.4 Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Nghiên cứu và phân tích số liệu thứ cấp
- Nghiên cứu các văn bản pháp luật, chính sách của Nhà nước liên quan đến
phát triển sản xuất, phát triển nông nghiệp nông thôn
Trang 22- Nghiên cứu các báo cáo, công trình NCKH và các tài liệu liên quan đến kiến thức bản địa, phát triển sản xuất nông lâm nghiệp
- Nghiên cứu và kế thừa các tài liệu về:
+ Điều kiện tự nhiên kinh tế - xã hội của địa phương
+ Các báo cáo tổng kết của địa phương, các kết quả nghiên cứu đã được công
bố có liên quan đến tình hình sử dụng đất, mô hình sản xuất của địa phương
+ Các báo cáo tổng kết hàng năm về các hoạt động sản xuất của địa phương + Kế thừa các báo cáo tổng kết có liên quan đến nội dung nghiên cứu
+ Thông tin, số liệu được thu thập từ các công trình nghiên cứu khoa học và các nghiên cứu có liên quan đến kiến thức bản địa tại điểm nghiên cứu,…
- Các nghiên cứu về kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp
- Các chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn được áp dụng tại điểm
nghiên cứu
3.4.2 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Đề tài sử dụng bộ công cụ và phương pháp đánh giá nông thôn có sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập các thông tin và số liệu hiện trường cần thiết
có liên quan đến nội dung nghiên cứu Cụ thể bao gồm các công cụ chính sau:
- Phương pháp thăm làng: nhằm khái quát về điều kiện cơ sở vật chất, con
người và tài nguyên thiên nhiên của điểm nghiên cứu để làm cơ sở cho việc thực hiện các công cụ tiếp theo Để làm được phương pháp này, cần thực hiện ngay sau khi xuống điểm nghiên cứu kết hợp sử dụng kỹ năng quan sát, phỏng vấn nhanh bán định hướng và ghi chép
- Phương pháp phỏng vấn hộ gia đình: Phỏng vấn hộ gia đình theo bảng hỏi
đã được chuẩn bị sẵn nhằm tìm hiểu về kiến thức của người dân về các loại giống cây trồng chủ yếu, kỹ thuật chăn sóc, mùa vụ của các giống cây, các phương pháp chăn nuôi, các lâm sản ngoài gỗ tại địa phương Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện xong phương pháp thăm làng
- Thảo luận nhóm: Thảo luận với người dân về các loại lâm sản ngoài gỗ tại
địa phương cũng như công dụng và cách thức sử dụng tại địa phương Việc thảo
Trang 23luận nhóm được tiến hành sau khi hoàn thành phỏng vấn hộ gia đình, việc thảo luận được thực hiện cùng với những người dân có sự hiểu biết về các lâm sản ngoài gỗ
- Đánh giá cho điểm theo các tiêu chí đánh giá: Để đánh giá các kiến
thức bản địa đang được cộng đồng người Mông sử dụng, đề tài căn cứ vào bộ tiêu chí đánh giá kiến thức bản địa của Viện Kinh tế sinh thái được hướng dẫn trong cuốn “Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa” (Sổ tay lưu giữ và sử dụng kiến thức bản địa, 2000) Theo đó, bộ tiêu chí và câu hỏi được sử dụng để đánh giá KTBĐ bao gồm:
Bảng 3.1 Một số chỉ tiêu đánh gá KTBĐ
1 (1) Tính hiệu quả KTBĐ có tác dụng thực tế không?
Sử dụng KTBĐ có giải quyết được vấn đề không? KTBĐ có hiệu quả không, trong trường hợp nào?
2 (2) Hiệu suất tiền
vốn bỏ ra
KTBĐ có đáp ứng được hiệu quả khi bỏ vốn ra không?
KTBĐ có đáp ứng được với người nghèo không?
3 (3) Tính sẵn có Nguyên liệu có sẵn tại địa phương không?
Số lượng có đáp ứng đủ?
Nguyên liệu có giảm trong tương lai?
4 (4) Tính dễ hiểu KTBĐ có dễ áp dụng/thực hiện không?
Phù hợp với trình độ của người dân?
Trang 247 (7) Tác dụng tốt đến
môi trường
Việc sử dụng KTBĐ có ảnh hưởng như thế nào đến môi trường xung quanh? (tốt, xấu)
Liệt kê tổng hợp các thông tin qua quá trình phỏng vấn có liến quan tới vấn
đề nghiên cưu là KTBĐ trong sản xuất nông lâm nghiệp tại địa phương
Tổng hợp các thông tin chung tại đia phương thông qua tài liệu thứ cấp, tổng
hợp những thông tin cập nhật mới nhất về địa điểm nghiên cứu
Trang 25PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tại điểm nghiên cứu
4.1.1 Điều kiện tự nhiên
a Vị trí địa lý
Xã Phình Giàng là xã nằm ở phía Nam huyện Điện Biên Đông, cách trung tâm huyện 40km, với tổng diện tích tự nhiên toàn xã là 10.399,87ha Xã có 12 thôn, bản và có vị trí địa lý như sau:
+ Phía Bắc giáp xã Keo Lôm, Phì Nhừ
+ Phía Đông giáp xã Háng Lìa
+ Phía Tây giáp xã Mường Nhà, huyện Điện Biên
+ Phía Nam giáp xã Pú Hồng
Xã Phình Giàng nằm trên tuyến giao thông Phình Giàng - Pú Hồng - Mường Nhà Là tuyến giao thông quan trọng góp phần thúc đẩy giao lưu kinh tế thế giữa huyện Điện Biên Đông và huyện Điện Biên
b, Địa hình, địa mạo
Phình Giàng là xã vùng núi cao có địa hình phức tạp bị chia cắt bởi nhiều núi cao và khe sâu, có độ độ cao trung bình từ 600 m đến 1.600 m so với mặt nước biển Hai dãy núi Pú Hồng và Phì Sua chia tách địa hình thành hai khu Phình Giàng có địa hình thấp dần từ tây bắc sang Đông Nam Kiểu địa hình phức tạp này rất khó khăn cho việc đi lại và quản lý đất đai
c, Khí hậu, thời tiết
Phình Giàng nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa được chia thành hai mùa rõ rệt:
+ Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, với lượng mưa trung bình từ 1.500 đến 1.600mm/năm
+ Mùa khô lạnh, bắt đầu trung tuần tháng 10 năm trước kết thúc vào mùa hạ tuần tháng 3 năm sau, mùa này lạnh khô hanh, thỉnh thoảng có xuất hiện sương muối, ảnh hưởng trực tiếp của gió Lào thổi về
Trang 26+ Nhiệt độ trung bình năm vào khoảng 23,2 độ C, biên độ chênh lệch nhiệt giữa ngày và đêm khoảng 10,9 độ C
+ Độ ẩm trung bình năm là 83% lượng bốc hơi trung bình 850mm/năm
d, Thủy văn
Nước mặt: Nhìn chung, Lượng nước mặt của xã tương đối dồi dào, có sông
Mã chảy qua, đồng thời, hệ thống sông suối đan xen khá dầy Trên địa bàn xã có các con suối chính là suối Huổi Có, suối Nà Nếnh, Suối Huổi Xa, các con suối này là nơi tích tụ nước từ các khe và Suối nhỏ chảy về
Hệ thống suối trên địa bàn xã Phình Giàng có độ dốc lớn do địa hình chia cắt mạnh nên vào mùa mưa thường gây lũ quét, rửa trôi đất Do vậy, việc trồng rừng, bảo vệ rừng đầu nguồn nhằm hạn chế thiên tai là việc làm rất cần thiết
Nước ngầm: Hiện nay, chưa có tài liệu nào khảo sát về nguồn nước ngầm của vùng nói chung và của xã nói riêng Nhìn chung, nguồn nước ngầm chưa khai thác sử dụng
4.1.2 Tài nguyên đất và hiện trạng sử dụng đất
* Tài nguyên đất
Xã Phình Giàng Có 4 loại đất chính gồm đất đỏ vàng, đất mùn vàng đỏ trên núi, đất núi đá không có rừng và đất sông suối Trong đó, nhóm đất đỏ vàng có diện tích lớn nhất là 6.343,81ha, chiếm 61%, tiếp đến là đất mùn vàng đỏ trên núi là 3.990,45 ha, chiếm 38% Nhóm đất có diện tích nhỏ nhất là đất núi đá có diện tích 67,5ha, chiếm 1%
Trang 27I Tổng diện tích đất của đơn
Từ bảng số liệu 4 cho thấy: Diện tích đất nông nghiệp chiến tỉ lệ rất lớn (chiếm 71,66 % diện tích đất tự nhiên) Đất trồng lúa 1.915,87 ha chiếm 18,42 % Đất trồng cây lâu năm vẫn còn khá hạn chế khi chỉ chiếm một tỷ lệ rất nhỏ 0,23 % Diện tích đất lâm nghiệp có rừng hiện còn khá ít chỉ có 1.29,18 ha chiếm 13,74 % những chủ yếu là rừng phòng hộ, rừng sản xuất khá ít Nhóm đất chƣa sử dụng còn
Trang 28rất ít chiếm 1.404,52 ha chiếm 13,51 % việc đất sử dụng còn lại ít một phần do hình thức chặt phá rừng lấy đất để canh tác nông nghiệp, còn lại là vùng núi đá không có rừng
Hình 4.2 Hiện trạng sử dụng đất tại Xã Phình Giàng
Hình 4.3 Hiện trạng đất nông nghiệp
Qua biểu đồ 4.3 ta rút ra nhận xét sau: trong hệ thống đất canh tác nông lâm nghiệp, đất sản xuất nông nghiệp chiếm tỉ lệ cao nhất với với tổng diện tích đất chiếm 83.87% toàn bộ diện tích đất nông nghiệp, tiếp theo là đất lâm nghiệp chỉ chiếm 16.80% tổng diện tích đất nông nghiệp, còn lại là đất nuôi trồng thủy sản 0.05%
4.1.3Điều kiện kinh tế - xã hội
Trang 29Dân cư phân bố không đồng đều trên địa bàn xã, dân cư phân bố phụ thuộc vào phong tục, tập quán của từng dân tộc Theo thống kê về dân tộc trên địa bàn xã
có 2 dân tộc sinh sống đó là Mông và khơ Mú trong đó:
+ Người Mông có 2.668 người, chiếm 70,5%, tập chung ở các bản Xa Vua
A, Xa Vua B, Xa Vua C, Pá Lâu, Pa Cá, Phì Cao, Phá Khẩu, Phì Sua A, Phì Sua B
+ Người Khơ Mú có 1.112 người chiếm 29,5%, tập chung ở các bản Huổi
Có, Huổi Dụa, Cảnh Lay
Phình Giàng là một trong những xã nghèo của huyện Điện Biên Đông, đời sống của người dân còn gặp nhiều khó khăn Tỷ lệ hộ nghèo còn ở mức cao chiếm 72,35%
Cơ cấu thu nhập của các hộ gia đình chủ yếu là từ nông nghiệp, mức thu nhập bình quân đầu người trên địa bàn xã là 4,65 triệu đồng/người/năm
Lao động chủ yếu là lao động nông nghiệp và trình độ lao động còn thấp, tiếp cận với khoa học kỹ thuật, công nghệ còn hạn chế Do đó cần chú trọng hơn nữa việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn, tay nghề cho người lao động
4.1.2.1 Cơ sở hạ tầng
Hiện tại xã Phình Giàng có tổng cộng 106 km đường bộ trong đó gồm: Đường liên xã, đường liên thôn bản, đường nội bản (toàn xã), đường nội đồng Cho đến nay toàn bộ hệ thống giao thông trên địa bàn xã vẫn là đường đất chưa đáp ứng được nhu cầu đi lại của người dân, đây cũng là một bất lợi cho người dân trong việc giao lưu hàng hóa với bên ngoài
Những năm gần đây, ngành trồng trọt đã phát triển rất nhanh cả về số lượng
và chất lượng diện tích, năng suất, sản lượng các cây trồng chủ yếu trong xã như lúa ngô sắn đều tăng Diện tích đất canh tác được mở rộng, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế toàn xã
Trang 30Nhìn chung, ngành trồng trọt đã đáp ứng được cơ bản nhu cầu lương thực của người dân trên địa bàn xã, một phần sản phẩm của trồng trọt được tận dụng cho chăm nuôi nuôi Phát triển kinh tế tuy nhiên, sản xuất vẫn còn nhỏ lẻ, mang tính tự cung tự cấp là chủ yếu, chưa hình thành sản phẩm hàng hóa trên thị trường và còn phụ thuộc nhiều vào thời tiết, khí hậu nên hiệu quả vẫn còn hạn chế
b Chăm nuôi
Chăm nuôi, đặc biệt là chăm nuôi đại gia súc luôn là một thế mạnh của xã trong những năm qua ,ngành chăm nuôi trên địa bàn xã có sự tăng trưởng cả về số lượng và sản lượng vật nuôi chủ yếu bao gồm trâu bò, lợn, dê, ngựa và các loại gia cầm tuy nhiên, hình thức chăm nuôi nhỏ lẻ, theo quy mô hộ gia đình là phổ biến, chưa chú trọng đầu tư phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa
c Thủy sản
Diện tích nuôi trồng thủy sản hiện có làm ôm 4,87 ha, chủ yếu là các ao nhỏ
do người dân tự đầu tư làm thủ công đào đắp Sản lượng cá, tôm hàng năm thu được hiện nay chủ yếu cung cấp yêu cầu tại chỗ cho các hộ gia đình, chưa góp phần tạo sản phẩm cho thị trường hàng hóa
d Lâm nghiệp
Trên địa bàn xã, có diện tích đất lâm nghiệp khá lớn Hiện nay, cùng với việc
mất rừng do khai thác bừa bãi là sự suy giảm nhanh tới mức báo động các lâm sản, dẫn đến mất cân bằng sinh thái, xói mòn, lũ quét, gây sạt lở đất, thiệt hại lớn vào mùa mưa và thiếu nước nghiêm trọng vào mùa khô Tuy nhiên cho tới nay, xã đã
cố gắng công tác khoanh nuôi, bảo vệ
4.1.3.3 Ngành tiểu thủ công nghiệp
Ngành tiểu thủ công nghiệp của xã chưa phát triển, chưa khai thác ó hiểu quả các nguồn tài nguyên Các ngành nghề thủ công không đa dạng, trong xã chỉ có một số hộ gia đình vẫn duy trì nghề mộc, rèn, khai thác vật liệu xây dựng, may mặc, sản phẩm mang tính tự cung tự cấp là chính Quy mô nhỏ lẻ, manh mún, tốc
độ phát triển chậm
4.1.3.4 Ngành thương mại dịch vụ
Do điều kiện địa hình phức tạp, giao thông còn chưa được đầu tư đồng bộ,
Trang 31địa bàn xã chưa phát triển, chủ yếu là buôn bán nhỏ lẻ Hiện tại xã chưa có chợ, hệ thống thương mại trên xã chỉ có 5 cửa hàng buôn bán nhỏ lẻ, 5 của hàng sửa chữa
xe máy nằm tập trung ở bản trung tâm xã, còn lại người dân tự trao đổi mua bán hàng hóa với nhau
4.1.3.5 Hiện trạng Y tế, Giáo dục
Y tế : Việc chăn sóc sức khỏe tại địa phương đã được cấp chính quyền quan
tâm củng cố và phát triển, hiện tại ở địa phương đã có trạm ý tế xã với 6 người, trong đó có 3 y sỹ, 1 điều dưỡng, 1 dược tá và 1 nữ hộ sinh đang phục vụ đời sống cho người dân Tuy nhiên trạm y tế xã vẫn chưa đạt chuẩn Quốc gia về y tế
Giáo dục: Xã có 1 trường trung học cơ sở, 1 trường tiểu học và một trường
mầm non Ngoài ra còn có 7 điểm trường mầm non được bố trí tại các khu dân cư tập trung nhằm đảm bảo phục vụ nhu cầu học tập
4.1.3.6 Hiện trạng môi trường
a Hệ thống cấp nước
Trên địa bàn đã có hệ thống cấp nước và bể chứa nước, đường ống dẫn nước cung cấp nước cho các hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân Tuy nhiên, chất lượng nước không đảm bảo do nguồn nước chủ yếu được lấy từ các khe suối chưa được qua xử lý lọc, đặc biệt khi mùa mưa đến nguồn nước chủ yếu là tạp chất không đảm bảo an toàn cho việc sử dụng
b Hệ thống thu gon rác thải và thoát nước
Hiện tại chưa có các điểm thu gom rác thải, do đó rác thải sinh hoạt hàng ngày chưa được thu gom và xử lý dẫn đến ô nhiêm môi trường ảnh hưởng đến sức khỏe cuẩ người dân
Ngoài ra điều kiện vệ sinh môi trường cuẩ người dân chưa được đảm bảo, hầu hết chưa có nhà vệ sinh hợp vệ sinh, nhiều tập tục lạc hậu trong đời sống không hợp vệ sinh vẫn tồn tại
Trong chăn nuôi, các công trình chuông trại chưa được xây dựng, bố trí hợp
lý, tình trạng chăn thả gia súc tự do gây mất vệ sinh môi trường, ảnh hưởng đến nguồn nước
Trang 32Tài nguyên đất đai tương đối phong phú, quỹ đất chưa khai thác sử dụng còn nhiều Có thể mở rộng phát triển nông nghiệp cũng như phát triển cơ sở hạ tầng, nhằm mục đích phát triển kinh tế xã hội của xã
Người dân địa phương có truyền thống canh tác lâu đời, có kinh nghiện trong sản xuất, kiến thức bản địa giúp người dân ứng biến được với những thay đổi của thời tiết trong sản xuất
- Khó khăn:
Bên cạnh những thuận lợi bên, xã vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, khó khăn như: Địa hình xã phức tạp bị chia cắt mạnh, chủ yếu là đồi núi nên có độ dốc lớn, thường xuyên gây ra xói mòn, sạt lở đất vào mùa mưa, mùa khô lại thiếu nước cho việc sản xuất nông nghiệp cũng như cho sinh hoạt
Cơ sở hạ tầng đã được đầu tư nhưng chưa có sự đồng bộ
Nền kinh tế địa phương còn mang nặng tính thuần nông, chủ yếu là tự cung
tự cấp, tỷ lệ đói nghèo còn cao, trình độ dân trí thấp
Trình độ canh tác của người dân còn hạn chế lạc hậu, chủ yếu canh tác theo phương thức truyền thống, chưa có sự áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật
Hệ thống thủy lợi chưa có sự đầu tư thỏa đáng nên việc tưới tiêu trong trồng trọt chủ yếu phụ thuộc vào lượng mưa chứ chưa có sự tác động của người dân vào việc tưới tiêu
4.2 Hệ thống kiến thức bản địa trong nông lâm nghiệp tại điểm nghiên cứu
4.2.1 Hệ thống kiến thức bản địa trong trồng trọt
Hệ thống kiến thức bản địa trong trồng trọt của người Mông rất phong phú Các kiến thức này được hình thành trong quá trình sản xuất, phù hợp với năng lực cộng đồng, điều kiện canh tác, tập quán tín ngưỡng của người dân Các kiến thức
Trang 33trong trồng trọt được hình thành, phát triển theo từng giai đoạn trong quá trình sản xuất, được đề tài tổng kết thành từng nhóm kiến thức dưới đây:
- Kiến thức bản địa trong sử dụng giống cây trồng bản địa
- Kiến thức bản địa trong chọn và bảo quản giống
- Kiến thức bản địa trong canh tác
- Kiến thức bản địa trong thu hoạch và bảo quản nông sản
- KTBĐ trong bỏ hóa đất canh tác
- Kiến thức bản địa trong chăn nuôi
- Kiến thức bản địa trong lâm nghiệp
4.2.1.1 Kiến thức bản địa trong sử dụng các giống cây trồng bản địa
Việc sử dụng các giống cây bản địa đóng vai trò quan trọng trong sản xuất, tạo lương thực cho người Mông ở điểm nghiên cứu Qua điều tra cho thấy hệ thống cây trồng bản địa được người dân nơi đây sử dụng rất phổ biến Kết quả được tổng hợp ở bảng dưới đây:
Bảng 4.2 Hiện trạng giống cây trồng chính tại địa phương
bản địa
Tỷ lệ (%)
Số hộ gia đình
sử dụng
Tỷ lệ sử dung/ HGĐ(%)
Từ kết quả bảng cho thấy
- Có 14 giống cây trồng nông nghiệp (ngô, lúa, sắn) trong đó 11 giống là gióng bản địa chiếm 78,6% tỷ lệ giống ở địa phương
- Số HGĐ sư dụng giống bản địa trong đó: giống lúa 29/30 HGĐ chiếm 96,6%, giống ngô 30/30 HGĐ sử dụng chiếm 100%, giống sẵn 30/30% HGĐ sử dụng chiếm 100%
Trang 34Từ kết tổng hợp trên cho thấy ở địa phương hiện tại vẫn sử dụng các loại giống cây trồng bản địa cho các các hoạt động sản xuất chính Các giống này đều là những giống lâu đời, do người dân tự để giống Qua phỏng vấn ghi nhận được, việc
sử dụng giống địa phương chủ yếu một phần vì đã trở thành thói quen sử dụng của người dân mặc khác việc sử dụng các loại giống khác vào địa phương cũng gặp nhiều khó khăn do môi trường và điều kiện khí hậu không phù hợp sẽ dẫn đến chất lượng thấp
Hiện nay tại điểm nghiên cứu, có 3 loại cây trồng nông nghiệp chính là Lúa, Ngô và Sắn Trong đó, giống bản địa chiếm tỷ lệ lớn là 71,42% giống Ngô bản địa, 80% gống lúa bản địa và 100% giống sắn bản địa Cụ thể, trong tổng số 14 giống Lúa, Ngô và sắn hiện đang đưa vào sản xuất thì tổng số giống bản địa là 11 giống Với từng loại cây trồng cũng có sự khác biệt rõ trong cơ cấu giống Với Lúa, thì 4/5
là giống bản địa (chiếm 80%), 5/7 giống Ngô là giống bản địa (chiếm 71,42%) và hầu hết tất cả các giống Sắn hiện đang trồng trên nương rẫy là giống địa phương (chiếm 100%)
Qua đó có thể thấy, vị trí và tầm quan trọng của các giống bản địa trong cơ cấu cây trồng tại điểm nghiên cứu Các giống bản địa không chỉ góp mặt vào hầu hết ở các mô hình canh tác của cộng đồng người Mông mà nó còn có vai trò không thể thay thế thì đã tạo ra nguồn lương thực quan trọng trong việc duy trì cuộc sống
và hoạt động sinh kế của cộng đồng
Đề tài tiến hành nghiên cứu về đặc điểm điều kiện gieo trồng và đặc điểm các giống bản địa đang được sử dụng phổ biến tại địa phương, kết quả cho thấy:
Các giống cây trồng nông nghiệp tại địa phương cần đáp ứng yêu cầu phù hợp với điều kiện địa hình thổ nhưỡng, cây trồng có khả năng chịu hạn tốt, các cây lương thực có khả năng xen canh gối vụ, không tốn nhiều công chăm sóc và phù hợp với điều kiện canh tác trên đất dốc Với những đặc thù riêng về điều kiện canh tác của địa phương nên việc sử dụng giống bản địa được coi là yếu tố quan trọng trong quá trình canh tác của người Mông, đem lại nguồn lương thực thực phẩm đảm bảo duy trì đời sống của người dân nơi đây Cho nên đồng bào rất coi trọng
Trang 35các yếu tố rủi ro do tự nhiên đem lại Trải qua một thời gian dài thâm canh, đồng bào Mông ở Phình Giàng đã tạo ra được bộ giống bản địa phù hợp với điều kiện sản xuất và tập quán canh tác của đồng bào
- Các giống lúa bản địa: Hiện nay người Mông đang gieo trồng 4 giống lúa bản địa chính là: Nếp cẩm, Lúa tẻ 3 tháng, Lúa tẻ 4 tháng, Lúa nếp Đây là những giống lúa được trồng trên nương, có khả năng chịu hạn tốt, thời gian sinh trưởng dài, ít tốn công chăm sóc Các giống lúa bản địa đều có chung đặc điểm hạt thóc dài, chất lượng gạo thơm ngon Đặc điểm chi tiết của 4 giông lúa bản địa được tổng hợp ở bảng dưới đây
Bảng 4.3 Đặc điểm các giống Lúa bản địa của người Mông ở Phình Giàng
1
Nếp cẩm
Cây sinh trưởng cao, phần lá và bông lúa có màu phớt tím riêng phần bông lúa sẽ có màu tím nhiều hơn, chịu hạn tốt phụ thuộc vào thiên nhiên
Hạt nhỏ, lớp vỏ bên ngoài có màu phớt tím khi bóc ra hạt gạo tím đen
4
Lúa nếp Là giống chịu hạn tốt phụ thuộc vào thiên nhiên
Hạt nhỏ dài hơn nếp cẩm, vỏ hạt màu vàng
- Các giống sắn bản địa
Giống sắn bản địa được người dân trồng và hiện tại chưa vẫn chưa có tên cụ thể Việc phân ra làm hai loại giống chủ yếu được người dân phân biệt thông qua đặc điểm hình thái của giống cây trong đó: 1 là giống sắn có là màu xanh và cuống là xanh, 2 là giống sắn có là xanh cuống lá màu đỏ
Trang 36- Các giống ngô bản địa
Việc tạo và lưu giữ được bộ giống Ngô bản địa có ý nghĩa vô cùng với đồng bào người Mông Ngô được coi là nguồn lương thực chính của đồng bào vừa có ý nghĩa về phương diện kinh tế vừa ý nghĩa về phương diện xã hội Các giống Ngô địa phương có thời gian gieo trồng tới khi thu hoạch khá dài ngày (4 đến 6 tháng), cây to cao, lá rộng, không chịu trồng dày, năng suất thấp nhưng hạt lại ngọt, thơm, dẻo, lớp vỏ dầy, dài Các giống đều có phẩm chất tốt, khả năng chịu hạn và chống chịu sâu bệnh tốt, ngoài ra một đặc điểm rất quan trọng được người dân chú ý là khả năng chống được mốc ngoài trời khi trời mưa chưa kịp thu hoạch và chống được mọt trong quá trình bảo quản tại nhà
Hiện tại ở địa phương người dân cũng trồng giống ngô tăng sản Biôxit cho năng suất cao Thời gian sinh trưởng của giống ngô Biôxit nhanh hơn so với giống ngô địa phương 2 tháng, hạt và bắp to nhưng giống ngô mới này có nhược điểm là
vỏ ngô mỏng và ngắn không bao trùm hết quả ngô nên dễ dàng bị mốc, mọt ngay từ trên cây và trong quá trình bảo quản tại nhà Do vậy, giống ngô lai này không phù hợp với tập quán canh tác của đồng bào Người dân hiện đang trồng diện tích nhỏ chủ yếu dùng để chăn nuôi gia súc
Ngoài ra với giống Ngô nếp bản địa còn là nguyên liệu chính để làm món ăn truyền thống “Mèm mém” của người dân tộc Mông Do đó, xét về góc độ xã hội đây được coi là giống không thể thay thế trong đời sống và sản xuất của Người Mông
Đặc điểm chi tiết của 5 giống Ngô bản địa đang được người Mông ở Phình Giàng sử dụng trong sản xuất được đề tài tổng hợp ở bảng dưới đây
Bảng 4.4 Đặc điểm các giống Ngô bản địa của người Mông ở Phình Giàng
Trang 37Stt Tên bản địa Đặc điểm
Bắp ngô bé hơn các loại ngô còn lại, bắp ngô có màu tím hoặc cũng có thể có bắp ngô trắng đặc biệt mỗi cây Ngô sinh trưởng tốt có thể lên đến 7 bắp ngô
3 Ngô Tẻ đỏ Bắp ngô có hạt ngô màu đỏ khác biệt so với các loại ngô còn