1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu lượng các bon tích lũy và phát thải trong hệ thống canh tác và chế biến chè tại công ty chè phú bền

66 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 66
Dung lượng 0,95 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP NGHIÊN CỨU LƯỢNG CÁC BON TÍCH LŨY VÀ PHÁT THẢI TRONG HỆ THÔNG CANH TÁC VÀ CHẾ BIẾN CHÈ... SIN

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆN QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

NGHIÊN CỨU LƯỢNG CÁC BON TÍCH LŨY VÀ PHÁT THẢI TRONG HỆ THÔNG CANH TÁC VÀ CHẾ BIẾN CHÈ

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Nhân dịp hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, lời đầu tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo trong Bộ môn Khuyến nông và Khoa học cây trồng - Viện Quản lý đất đai và Phát triển nông thôn, các Phòng, Ban trực thuộc trường Đại học Lâm nghiệp, những người đã tận tình giảng dạy cho tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đại học Lâm Nghiệp

Tôi xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến thầy giáo – TS Trần Bình Đà, người đã tận tình hướng dẫn, dành công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Trân trọng cảm ơn tập thể lãnh đạo, công nhân Công ty chè Phú Bền đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, thu thập tài liệu

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành khóa luận

Mặc dù đã rất cố gắng nhưng do thời gian, năng lực của bản thân có hạn và điều kiện nghiên cứu còn thiếu nên kết quả đạt được của đề tài không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo, các bạn sinh viên, cũng như những ai quan tâm về vấn

đề này để bài chuyên đề của tôi được hoàn chỉnh hơn

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Mai, ngày 26 tháng 04 năm 2018

Sinh viên thực hiện

Mai Thị Thảo Trinh

Trang 3

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

MỤC LỤC ii

CÁC CHỮ VIẾT TẮT, KÝ HIỆU iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC CÁC HÌNH vi

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1

1.2.MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 2

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.2 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3

PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 4

2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÈ 4

2.1.1 Nguồn gốc 4

2.1.2 Phân loại 4

2.1.3 Yêu cầu điều kiện sinh thái đối với sự sinh trưởng của cây chè 5

2.2 KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY VÀ PHÁT THẢI CÁC BON 6

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 6

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam 10

PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 13

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu: 13

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp 13

3.2.3 Phương pháp lập OTC, thu thập số liệu sơ cấp 13

3.2.4 Phương pháp tính sinh khối và trữ lượng Các bon 15

PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 16

4.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI 16

4.1.1 Vị trí địa lý 16

4.1.2 Điều kiện tự nhiên 17

Trang 4

4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội 17

4.2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CANH TÁC CHÈ TẠI PHÚ BỀN 18

4.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng chè tại điểm nghiên cứu 18

4.2.2 Tổ chức lao động của công ty 19

4.3 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC CHÈ 20

4.3.1 Tổ chức kinh doanh 20

4.3.2 Kỹ thuật canh tác chè tại Phú Bền 20

4.3.3 Tình hình thu mua, chế biến và tiêu thụ chè tại điểm nghiên cứu 24

4.3.4 Đánh giá chung về hiện trạng hệ thống canh tác chè của công ty chè Phú Bền 28

4.4 ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SINH TRƯỞNG CỦA CHÈ TẠI CÔNG TY CHÈ PHÚ BỀN 29

4.4.1 Mật độ 30

4.4.2 Các chỉ tiêu sinh trưởng 31

4.5 SINH KHỐI VÀ LƯỢNG CÁC BON TÍCH LŨY TRONG HỆ THỐNG CANH TÁC CHÈ TẠI CÔNG TY CHÈ PHÚ BỀN 33

4.5.1 Sinh khối và trữ lượng Các bon trong cây chè tại điểm nghiên cứu 34

4.5.2 Lượng Các bon phát thải từ hệ thống sản xuất chè 36

4.6 ĐỀ XUẤT HƯỚNG SẢN XUẤT CHÈ THEO CƠ CHẾ PHÁT TRIỂN SẠCH (CDM) 37

PHẦN V: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 39

5.1 KẾT LUẬN 39

5.2 TỒN TẠI 40

5.3 KIẾN NGHỊ 40 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 5

ĐT - NB Hướng Đông Tây – Nam Bắc

H2O Công thức hóa học của nước

OTC Ô tiêu chuẩn

pH Đơn vị đo độ chua của đất

SKK Sinh khối khô

SKKr Sinh khối khô rễ

SKKt Sinh khối khô thân

TNHH Trách nhiệm hữu hạn

USD Đô la Mỹ (United States Dollar)

Trang 6

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1: Diện tích, năng suất và sản lượng chè tại các khu vực của công ty 19Bảng 4.2 : Kết quả tổng hợp một số chỉ tiêu sinh trưởng của cây chè tại địa điểm nghiên cứu 31Bảng 4.3 : Kết quả tổng hợp sinh khối khô và trữ lượng Các bon của cây chè tại công ty chè Phú Bền 35Bảng 4.4 : Tổng hợp các nguồn phát thải trong canh tác và chế biến chè qua từng năm 36Bảng 4.5: Lượng Các bon phát thải trong quá trình canh tác và chế biến chè tại địa điểm nghiên cứu 37

Trang 7

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 4.1: Bản đồ vị trí địa lý của công ty chè Phú Bền 16

Hình 4.2: Đồi chè tại công ty chè Phú Bền 18

Hình 4.3: Bệnh thối búp chè 22

Hình 4.4: Bệnh phồng lá và bệnh bọ xít muỗi ở cây chè 22

Hình 4.5: Công nhân thu hoạch chè bằng máy hái chè 23

Hình 4.6: Sản phẩm chè đen CTC và chè đen OTC của công ty chè Phú Bền 24

Hình 4.7: Sản phẩm chè xuất khẩu của công ty chè Phú Bền 28

Hình 4.8: Mật độ chè tại điểm nghiên cứu 30

Trang 8

PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Cây chè là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới và Á nhiệt đới, sinh trưởng, phát triển tốt trong điều kiện khí hậu nóng và ẩm Trên thế giới, cây chè phân bố

từ 42 vĩ độ Bắc đến 27 vĩ độ Nam

Việt Nam là một trong những nước có điều kiện tự nhiên thích hợp cho cây chè phát triển Lịch sử trồng chè của nước ta đã có từ lâu, cây chè cho năng suất và sản lượng tương đối ổn định và có giá trị kinh tế Cây chè được coi là cây có hiệu quả kinh tế cao so với các cây trồng khác, đóng vai trò xóa đói giảm nghèo và góp phần quan trọng trong việc xuất khẩu chè của Việt Nam Cả nước hiện có 35 tỉnh thành trồng chè, tổng diện tích 125.000 ha, phần nhiều ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc, Bắc trung bộ và Tây Nguyên

Phú Thọ là một tỉnh thuộc vùng trung du bắc bộ có diện tích và sản lượng chè tương đối lớn Cây chè đã được coi là cây mũi nhọn xóa đói giảm nghèo, cây trồng chủ lực của kinh tế vườn đồi Theo thống kê của Sở NN&PTNT Phú Thọ, đến đầu năm 2016, tổng diện tích chè toàn tỉnh là trên 16,5 nghìn ha; trong

đó diện tích đang cho thu hoạch là khoảng 15,3 nghìn ha Năng suất chè trung bình đạt trên 10 tấn/ha/năm; sản lượng chè năm 2015 của Phú Thọ là hơn 154 nghìn tấn, tăng 2,5 nghìn tấn so với năm 2014 Phú Thọ hiện đang đứng vị trí thứ 3 cả nước về sản lượng và thứ 4 về diện tích trồng chè Những năm gần đây, cấp ủy, chính quyền các cấp ở Phú Thọ đã thực hiện nhiều cơ chế, chính sách quan tâm, khuyến khích cây chè phát triển Bên cạnh việc tạo điều kiện cho người trồng chè tiếp cận những nguồn vốn vay ưu đãi, công tác tập huấn, chuyển giao khoa học kỹ thuật phục vụ sản xuất chè cũng được chú trọng thực hiện có hiệu quả Theo đó, cơ quan chức năng trực tiếp là ngành nông nghiệp, Hội Nông dân các cấp đã chủ động xây dựng kế hoạch, phối hợp với các cơ quan có liên quan mở hàng trăm lớp tập huấn kỹ thuật trồng, chăm sóc, phòng trừ sâu bệnh cho cây chè Người nông dân còn được trang bị những kiến thức về sản xuất chè

an toàn, giảm thiểu tối đa các chất thải giúp giảm hiệu ứng nhà kính Qua đó có

Trang 9

điều kiện nâng cao hơn nữa giá trị kinh tế của cây chè Tại tỉnh Phú Thọ đã hình thành các nhà máy sản xuất và chế biến chè ngay tại địa phương nhằm đảm bảo chất lượng chè cũng như tạo việc làm cho người dân như công ty Chè Đại Đồng, công ty chè Phú Đa, công ty cổ phần Chè Phú Thọ, công ty TNHH Chè Hưng Hà…

Sau bao thăng trầm, từ năm 1997 trở lại đây vị trí cây chè đối với đời sống của người dân Thanh Ba lại được khôi phục Nhiều gia đình đã thoát khỏi đói nghèo, thậm chí vươn lên làm giàu từ cây chè Nằm trên vùng chè Thanh Ba, công ty TNHH MTV Chè Phú Bền được thành lập từ năm 1995, là công ty 100

% vốn nước ngoài, sản xuất và chế biến chè để tiêu thụ trong nước và xuất khẩu

Để đáp ứng nhu cầu chè sạch trong nước và xuất khẩu, cần đảm bảo an toàn về chất lượng chè thành phẩm Do đó quá trình canh tác và chế biến phải gắn với

“Cơ chế phát triển sạch” (CDM) Cơ chế phát triển sạch đã và đang được đưa vào các nhà máy nhằm giảm phát thải khí nhà kính thông qua việc tích lũy và phát thải các bon từ hệ thống canh tác và chế biến

Vì vậy để xác định rõ được lượng các bon tích lũy và phát thải trong canh tác của chè và lượng phát thải trong chế biến chè tại công ty Chè Phú Bền; Các phương pháp nghiên cứu quá trình tích lũy và phát thải đó? Cần có những giải pháp nào nhằm tăng khả năng tích lũy các bon cho chè, giảm lượng phát thải các bon trong canh tác và chế biến? Từ vấn đề trên tôi đã tiến hành thực hiện đề tài

“Nghiên cứu lượng Các bon tích lũy và phát thải trong hệ thống canh tác và chế biến Chè tại công ty chè Phú Bền”

1.2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.2.1 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá lượng các bon tích lũy và phát thải trong hệ thống canh tác và chế biến chè tại công ty chè Phú Bền, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển sản xuất chè theo hướng chè sạch CDM

Trang 10

1.2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu

1.2.2.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tƣợng nghiên cứu của đề tài là cây chè tại công ty chè Phú Bền

1.2.2.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài đƣợc tiến hành nghiên cứu tại công ty Chè Phú Bền, huyện Thanh

Ba, tỉnh Phú Thọ Trong đó tập trung nghiên cứu vào khả năng tích lũy và phát thải các bon trong quá trình canh tác và chế biến chè

Trang 11

PHẦN II: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 2.1 KHÁI QUÁT VỀ CHÈ

2.1.1 Nguồn gốc

Nguồn gốc cây chè trên thế giới: các công trình nghiên cứu và khảo sát trước đây cho rằng nguồn gốc của cây chè là vùng cao nguyên Vân Nam- Trung Quốc, nơi có khí hậu ẩm ướt va ấm Năm 1823, R.Bruce phát hiện được những cây chè dại, lá to ở vùng Atxam (Ấn Độ), từ đó các học giả người Anh cho rằng quê hương của chè là ở Ấn Độ chứ không phải Trung Quốc Từ sự biến đổi sinh hóa của các lá chè mọc hoang dại và các cây chè được trồng trọt, chăm sóc, Dejmukhadze cho rằng, nguồn gốc của cây chè chính là ở Việt Nam Hiện nay cây chè được phân bố khá rộng trong những điều kiện tự nhiên khác nhau trên thế giới

Nguồn gốc cây chè ở Việt Nam: theo thư tịch cổ Việt Nam, cây chè đã có

từ xa xưa dưới dạng: cây chè vườn hộ gia đình vùng châu thổ sông Hồng và cây chè rừng ở miền núi phía Bắc Những công trình nghiên cứu của Djemukhadze (1961-1976) về phức Catechin giữa các loại chè được trồng trọt và chè mọc hoang dại đã nêu luận điểm về sự tiến hóa sinh hóa của cây chè và từ đó ông đã

đi đến kết luận: Nguồn gốc cây chè chính là ở Việt Nam

2.1.2 Phân loại

Theo Cohen Stuart, C P (1916), phân loại cây chè thuộc ngành hạt kín (Angiospermae), lớp hai lá mầm (Dicotyledonae), bộ chè (Theales), họ chè

(Theaceae), chi chè (Camellia), loài chè (Camellia sinensis) và tên khoa học là

Camellia sinensis (L) O Kuntze Trong loài chè (Camellia sinensis) được chia

ra 4 biến chủng (Camellia sinensis var.) bao gồm: Biến chủng chè Trung Quốc

lá nhỏ (Camellia sinensis var bohea), biến chủng chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis var macrophylla), biến chủng chè Ấn Độ (Camellia Sinensis var assamica) và biến chủng chè Shan (Camellia sinensis var shan)

Trang 12

2.1.3 Yêu cầu điều kiện sinh thái đối với sự sinh trưởng của cây chè

Yêu cầu tổng hợp các điều kiện sinh thái thích hợp cho cây chè là: đất tốt, sâu, chua, thoát nước, khí hậu ẩm và ấm

2.1.3.1 Điều kiện đất đai và đia hình

So với một số cây trồng khác, chè yêu cầu về đất không nghiêm khắc lắm Song để cây chè sinh trưởng tốt, năng suất cao và ổn định thì đất trồng chè phải đạt yêu cầu sau: tốt, nhiều mùn, sâu, chua và thoát nước Độ pH thích hợp cho chè phát triển là 4,5 – 6,0 Đất trồng phải có độ sâu ít nhất là 80 cm, mực nước ngầm phải dưới 1 mét thì hệ rễ mới phát triển bình thường

Địa hình và địa thế có ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng và chất lượng chè Nhiều tác giả ở Liên Xô đã xác định chè trồng ở nơi có địa thế càng cao hơn mặt nước biển (trong một chừng mực nhất định) thì khuynh hướng tạo thành và tích lũy Tanin càng lớn

2.1.3.2 Điều kiện độ ẩm và lượng mưa

Yêu cầu tổng lượng mưa bình quân trong một năm đối với cây chè khoảng 1.500 mm và mưa phân bố đều trong các tháng Bình quân lượng mưa của các tháng trong thời kỳ chè sinh trưởng phải lớn hơn hoặc bằng 100 mm Chè yêu cầu độ ẩm không khí cao, trong suốt thời kỳ sinh trưởng độ ẩm không khí thích hợp là vào khoảng 85% Nước có ảnh hưởng lớn đến sinh trưởng và phẩm chất của chè Khi cung cấp đủ nước, cây chè sinh trưởng tốt, lá to mềm, búp non và phẩm chất có xu hướng tăng lên

2.1.3.3 Điều kiện về nhiệt độ không khí

Để sinh trưởng và phát triển tốt, cây chè yêu cầu một phạm vi nhiệt độ nhất định Theo nghiên cứu của Kvaraxkheria (1950) và Trang Vãn Phương (1956) thì cây chè bắt đầu sinh trưởng khi nhiệt độ trên 10 ºC Nhiệt độ bình quân hàng năm để cây chè sinh trưởng phát triển bình thường là 12,5 ºC và sinh trưởng tốt trong phạm vi 15 – 23ºC Cây chè yêu cầu lượng tích nhiệt hàng năm 3.500 – 4.000 ºC Nhiệt độ tối thấp tuyệt đối mà cây có thể chịu đựng được thay đổi tùy theo giống, có thể từ -5 ºC đến -25 ºC hoặc thấp hơn

Trang 13

2.1.3.4 Điều kiện về ánh sáng

Các điều kiện chiếu sáng khác nhau có ảnh hưởng đến cấu tạo của lá và thành phần hóa học của chúng Cây chè được che bóng râm, hàm lượng các vật chất có đạm ( cafein, N tổng số, protein ) lại có chiều hướng giảm xuống Sự giảm thấp tanin, gluxit và tăng hàm lượng các vật chất có đạm trong lá chè ở một mức độ nhất định thường có lợi cho phẩm chất chè xanh và không có lợi cho phẩm chất chè đen

2.2 KHÁI QUÁT VỀ NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY VÀ PHÁT THẢI CÁC BON

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Trong các hệ sinh thái nói chung, thực vật được gọi là sinh vật sản xuất, bởi chỉ có thực vật mới có khả năng quang hợp nhờ ánh sáng khuyếch tán cùng với CO2 và H2O tạo ra O2 và các hợp chất hữu cơ cung cấp cho cho các loài thuộc sinh vật tiêu thụ và sinh vật phân hủy Điều này thể hiện vai trò của thực vật trong bảo vệ môi trường, cụ thể qua phương trình tổng quát sau:

6nCO2 + 5nH2O Ánh sáng, diệp lục (C6H12O5)n + 5nO2

Để duy trì hoạt động sống, song song với quá trình quang hợp thì thực vật còn

hô hấp thông qua việc hấp thu O2 và thải ra môi trường CO2

(C6H12O5)n + 5nO2 Nhiệt độ 6nCO2 + 5nH2O

Như vậy, quá trình sinh trưởng của thực vật cũng đồng thời là quá trình tích lũy Các bon

Khả năng tích lũy Các bon của thực vật được hiểu là khả năng lưu giữ Các bon từ CO2 của khí quyển để thành lượng Các bon tích lũy trong cơ thể thực vật và trong đất Quá trình quang hợp, ngoài ý nghĩa suy trì sự sống cho bản thân cây thì đây còn là quá trình nhằm giữ vững cân bằng lượng khí nhà kính trong khí quyển Cũng trong quá trình này, Các bon sẽ được chuyển hóa thành thành phần khác trong các bộ phận của cây dưới dạng sinh khối

Sinh khối và năng suất của thực vật đều là sản phẩm của quá trình quang hợp Nghiên cứu về khả năng tích lũy Các bon dựa trên cơ sở nghiên cứu sinh

Trang 14

khối thông qua các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này trên nhiều phạm vi khác nhau và đã thu được một

Brown và Lugo, 1984; Gifford, 1992; Brown, 1996 – 1997; Gifford 2000

đã sử dụng hệ số chuyển đổi sinh khối để tính sinh khối cho nhiều loại rừng trên thế giới trong đó có rừng tự nhiên nhiệt đới Kết quả nghiên cứu cho rừng Bạch Đàn và Thông ở Australia và một số nước khác cho thấy hệ số chuyển đổi có quan hệ chặt chẽ với chiều cao, đường kính, tiết diện ngang, tuổi và tổng lượng Các bon trên mặt đất của lâm phần (Kricbaum, 2000; Snowdonet al, 2000), từ quan hệ xây dựng này người ta dễ tính được hệ số chuyển đổi cho một lâm phần nào đó, từ đó có thể tính được tổng sinh khối từ sinh khối thân cây của lâm phần

Năm 1980, Bown và cộng sự đã sử dụng công nghệ GIS dự tính lượng Các bon trung bình trong rừng nhiệt đới Châu Á là 144 tấn/ha trong phần sinh khối và 148 tấn/ha trong lớp đất mặt với độ sâu 1 m, tương đương 42 – 43 tỷ tấn Các bon trên toàn châu lục

Năm 1991, Houghton R.A đã chứng minh lượng Các bon trong rừng nhiệt đới Châu Á là 40 – 250 tấn/ha, trong đó 50 – 120 tấn/ha ở phần thực vật và đất

Kết quả nghiên cứu của Brawn (1991) cho thấy rừng nhiệt đới Đông Nam

Á có lượng sinh khối trên mặt đất từ 50 – 430 tấn/ha (tương đương 25 – 215 tấn C/ha) và trước khi có tác động của con người thì các trị số tương ứng là 350 –

400 tấn/ha (tương đương 175 – 200 tấn C/ha)

Tại Thái Lan, Noonpragop K đã xác định lượng Các bon trên mặt đất là

72 – 182 tấn/ha

Trang 15

Tại Malaysia, Abu Bakar R đã tính lượng Các bon trong rừng biến động

từ 100 – 160 tấn/ha và tính cả trong sinh khối đất là 90 – 780 tấn/ha

Tại Indonesia, Murdiyarso D (1995) đã đưa ra kết quả nghiên cứu rằng rừng Indonesia có lượng Các bon hấp thụ từ 161 – 300 tấn/ha trong phần sinh khối trên mặt đất Năm 2000, Noordwijk đã nghiên cứu khả năng tích lũy Các bon của rừng thứ sinh, các hệ nông lâm kết hợp và thâm canh cây lâu năm Kết quả cho thấy lượng Các bon hấp thụ trung bình là 2,5 tấn/ha/năm và có sự biến động rất lớn trong các điều kiện khác nhau từ 0,5 – 12,5 tấn/ha/năm

Tại philippines, Lasco R (1999) cho biết rừng tự nhiên thứ sinh có 86 –

201 tấn C/ha trong phần sinh khối trên mặt đất; ở rừng già con số đó là 185 –

260 tấn C/ha (tương đương 370 – 520 tấn sinh khối/ha, lượng Các bon chiếm 50

Không những chỉ nghiên cứu khả năng hấp thụ Các bon của rừng mà các nghiên cứu về sự biến động Các bon sau khai thác rừng cũng rất được quan tâm Theo Lasco (2002), lượng sinh khối và Các bon sau khai thác của rừng nhiệt đới châu Á bị giảm khoảng 22 – 67 % sau khai thác; tại Philippines, lượng Các bon

bị mất sau khi khai thác là 50 % so với rừng thành thục trước khai thác; ở Indonesia là 38 – 75 %

Ngoài những nghiên cứu về khả năng tích lũy Các bon ở rừng, các nhà khoa học còn nghiên cứu khả năng tích lũy Các bon của các hệ thống sử dụng đất Trong đó, các hệ thống NLKH được đánh giá cao về mặt hiệu quả trong sử dụng đất, hiệu quả về kinh tế và cả về môi trường giúp giảm thiểu nóng lên toàn cầu

Trang 16

Trong báo cáo “Cây cối cho sự thay đổi” (Trees for change), Lonis Verchot (chuyên gia cao cấp về sinh thái học thuộc ICRAF) diễn giải rằng nhiều

hệ thống NLKH đã trồng cây tăng trưởng nhanh, cố định đạm để dự trữ độ phì nhiêu của đất và nâng cao các tính chất vật lý thổ nhưỡng Một thành phần quan trọng của quá trình phục hồi thổ nhưỡng này như thu hồi các chu trình dưỡng chất hữu cơ, bổ sung thêm các chất hữu cơ cho đất, trong đó khoảng một nửa là Các bon Đất tích lũy các CO2 từ khí quyển vào các kho lưu trữ khí trong hệ thống sinh thái nông nghiệp góp phần làm tăng tính bền vững cho các hệ thống

đó Thông qua việc sử dụng trồng rừng theo CDM, rừng trồng và canh tác NLKH sẽ trở thành một sự lựa chọn hấp dẫn về mặt tài chính

Nghiên cứu sinh khối Các bon trong hệ thống NLKH với các phương thức

sử dụng khác tại Nairobi của Kenya (2000) nêu rõ: Trong khi các khu rừng nguyên sinh tại khu vực nghiên cứu có lượng tích lũy khoảng 300 tấn C/ha với các hệ thống NLKH bao gồm các loài cây: Cà phê + Cao su, Cà phê + Chuối có lượng tích lũy Các bon nằm trong khoảng 40 – 90 tấn C/ha; với đất đồn điền trồng Bông, Cà phê là 11 – 61 tấn C/ha; với đất đồng cỏ, đất hoang hóa thì lượng Các bon tích lũy ở mức thấp nhất là 3 tấn C/ha

Albrecht và Kandji (2003) đã ước lượng Các bon tiềm năng trong các hệ thống NLKH với thành phần là Lúa mỳ, Ngô, cây họ Đậu và các cây công nghiệp từ 12 – 228 Mg/ha (trung bình là 95 Mg/ha) Trong đó diện tích đất thích hợp cho canh tác NLKH tại Sumatra khoảng 585 – 1.215 triệu ha

Theo Ewlis Retnowati (2003), phương thức NLKH với hai loài cây trồng chủ yếu là cây Sầu riêng và cây Bòn bon tại Indonexia đã được xây dựng 23 năm có tổng lượng Các bon tích lũy trong hệ thống là 287,9 tấn C/ha

Những công trình nghiên cứu của Ủy ban Liên Chính phủ về Thay đổi khí hậu (IPCC) về hiện tượng khí hậu cũng đã chứng minh rằng các hệ thống NLKH

có thể “bẫy” được lượng Các bon gấp 3 lần trên cùng một diện tích đất trống và đồng cỏ, đồng thời đạt được 60 % trên cùng một diện tích mới trồng trọt và rừng tái sinh

Trang 17

Qua các kết quả nghiên cứu đã khẳng định vai trò to lớn của rừng cũng như các hệ thống canh tác NLKH

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

Tại Việt Nam, việc nghiên cứu để giảm phát thải khí CO2 trong bầu khí quyển của rừng mới trong giai đoạn khởi đầu và còn khá mới lạ Những nghiên cứu mới được tập trung thực hiện trong những năm gần đây, song kết quả thu được bước đầu rất đáng được ghi nhận

Hoàng Xuân Tý (2004) chỉ ra: Nếu tăng trưởng rừng đạt 15 m3/ha/năm tương đương 15 tấn CO2/ha/năm, với giá thương mại tháng 5/2004 biến động từ

3 – 5 USD/tấn CO2, thì 1 ha rừng như vậy có thể đem lại 45 – 75 USD (tương đương 675.000 – 1.120.000 đồng Việt Nam)

Ngô Đình Quế (2005) và Võ Đại Hải (2007) đã tiến hành đánh giá khả năng hấp thụ CO2 thực tế của một số rừng ở Việt Nam gồm: Thông nhựa, Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, Bạch đàn Uro và Mỡ ở các tuổi khác nhau Kết quả tính toán cho thấy khả năng hấp thụ CO2 của các lâm phần khác nhau phụ thuộc vào năng suất lâm phần đó ở các tuổi nhất định Để tích lũy được 100 tấn C/ha, Thông nhựa phải đạt đến tuổi 16 – 17, Thông mã vĩ và Thông ba lá ở tuổi

10, Keo lai ở tuổi 4 – 5, Keo tai tượng ở tuổi 5 – 6 và Bạch đàn Uro ở tuổi 4 – 5 Kết quả nghiên cứu này là cơ sở quan trọng cho việc quy hoạch vùng trồng, xây dựng các dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch CDM

Vũ Tấn Phương (2006) tiến hành nghiên cứu trên 7 dạng thảm cỏ tươi và cây bụi điển hình là cỏ Tranh, Lau lách, Tế guột, cỏ Lá tre, cỏ Chỉ và cỏ Lông lợn, cây bụi cao 2 – 3 m và cây bụi cao dưới 2 m Kết quả cho thấy trữ lượng Các bon trong sinh khối của Lau lách là cao nhất (khoảng 20 tấn C/ha), tiếp đến

là cây bụi cao 2 – 3 m (khoảng 14 tấn C/ha) Cây bụi cao dưới 2 m và cây Tế guột có trữ lượng gần tương đương nhau (khoảng 10 tấn C/ha) Trữ lượng của

cỏ Tre là 6,5 tấn C/ha, cỏ Tranh là 4,9 tấn C/ha Thấp nhất là cỏ Lông lợn và cỏ Chỉ (khoảng 4 tấn C/ha) Ngoài ra, ông còn nghiên cứu trữ lượng Các bon theo các trạng thái rừng, kết quả cho thấy: Rừng giáu có tổng trữ lượng Các bon

Trang 18

694,9 – 733,9 tấn CO2/ha; rừng trung bình 539,6 – 577,8 tấn CO2/ha; rừng nghèo 387,0 – 478,9 tấn CO2/ha; rừng phục hồi 164,9 – 330,5 tấn CO2/ha và rừng Tre nứa là 116,5 – 277,1 tấn CO2/ha Năm 2007, một nghiên cứu khác của ông chỉ ra khả năng hấp thụ Các bon của cây cá lẻ bao gồm: Keo tai tượng ở tuổi

10 là 655,03 kg C/ha; Keo lá tràm ở tuổi 12 là 93,5 kg C/ha; Bạch đàn Uro ở tuổi 6 là 169,84 kg C/ha

Phạm Tuấn Anh (2007) đã nghiên cứu khả năng hấp thụ Các bon của các loại cây rừng khác nhau trong rừng tự nhiên Kết quả cho thấy khả năng hấp thụ Các bon của các loại cây khác nhau là rất khác nhau Một số cây có khả năng hấp thụ CO2 lớn như: Dẻ (3.493,1 kg CO2/cây), Chò sót (2.638,7 kg CO2/cây) Nhưng cũng có những cây hấp thụ CO2 rất thấp như: Trầm (20,6 kg CO2/cây),

Ba soi (27,5 kg CO2/cây) Đây là cơ sở để lựa chọn cây trồng nhằm đạt kết quả cao nhất trong xây dựng các mô hình NLKH theo CDM

Nguyễn Văn Tuấn (2006) kết luận: CDM làm tăng thu nhập của rừng Bạch đàn Uro lên 2.773.000 đồng/ha/năm so với việc chỉ trồng làm nguyên liệu giấy Đặng Thị Mỹ (2007) cũng chỉ ra: So sánh tỷ lệ tiền thu được từ bán Các bon và bán gỗ của rừng Keo tai tượng thì số tiền thu được từ bán Các bon bằng 1/3 tiền bán gỗ

Trần Bình Đà và Lê Quốc Doanh (2009) sử dụng phương pháp đánh giá nhanh tích lũy Các bon, đối tượng là các phương thức nông lâm kết hợp tại vùng đệm vườn quốc gia Tam Đảo Khả năng tích lũy Các bon được ghi nhận tại các phương thức rừng Vải + Bạch Đàn; Vải + Keo tai tượng và Vải + Thông lần lượt đạt 16,07 tấn/ha, 21,84 tấn/ha và 20,81 tấn/ha

Đỗ Hoàng Chung và cộng tác viên (2010) đã đánh giá nhanh lượng Các bon tích lũy trên mặt đất của một số trạng thái thảm thực vật tại Thái Nguyên, kết quả cho thấy: Trạng thái thảm cỏ, trảng cây bụi xem gỗ tái sinh lượng Các bon tích lũy đạt 1,78 – 13,67 tấn C/ha; rừng trồng đạt 13,52 – 53,25 tấn C/ha; rừng phục hồi tự nhiên đạt 19,08 – 35,27 tấn C/ha

Trang 19

Tổng kết các nghiên cứu về định giá rừng ở Việt Nam trong những năm gần đây, Vũ Tấn Phương (2009) đã khái quát như sau: Giá trị lưu trữ Các bon của rừng gỗ tự nhiên là 35 – 84 triệu đồng/ha và giá trị hấp thụ Các bon hàng năm là khoảng 0,4 – 1,3 triệu đồng/ha/năm ở miền Bắc, tương tự với miền Nam

là 46 – 91 triệu đồng/ha/năm, ở miền Trung là 37 – 91 triệu đồng/ha/năm

Ước tính khả năng tích lũy Các bon của hệ thống sản xuất Chè cũng được quan tâm nghiên cứu Trần Bình Đà, Lê Quốc Doanh và Lê Thị Ngọc Hà (2010)

đã nghiên cứu khả năng tích lũy Các bon của hệ thống canh tác Chè – Muồng của các hộ gia đình tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Kết quả cho thấy tổng trữ lượng CO2 của hệ thống Chè – Muồng là: 125,08, 144,83, 118,15 và 114,54 tấn/ha tương ứng với các cấp tuổi 5, 10, 15 và 20 Khả năng tích lũy Các bon của hệ thống Chè – Quế tại huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái được Vũ Thị Thu Huyền (2010) nghiên cứu và kết luận: Tổng lượng CO2 hấp thu của mô hình Chè thuần 20 tuổi là 177,99 tấn/ha, mô hình Chè 20 tuổi kết hợp với Quế ở tuổi

5, 10 và 15 lần lượt là: 344,49, 483,59 và 745,65 tấn/ha

Trang 20

- Đề xuất một số giải pháp làm tăng tích lũy các bon cho chè, giảm lượng các bon thải ra trong quá trình canh tác và chế biến chè

3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu:

Chọn điểm nghiên cứu mang tính đại diện cho công ty về tình hình phát triển chè cả về diện tích cũng như sản lượng chè Mỗi điểm nghiên cứu tiến hành điều tra 3 OTC, phỏng vấn 10 HGĐ

3.2.2 Phương pháp nghiên cứu và phân tích tài liệu thứ cấp

Tham khảo các tài liệu từ các báo cáo, sách, trang website về cây chè, ngành chè

Thu thập tài liệu về các phương pháp, kết quả nghiên cứu về khả năng tích lũy và phát thải Các bon

Dựa trên các tài liệu sẵn có của công ty, phân tích và tìm hiểu hiện trạng hoạt động sản xuất chè của công ty; diện tích, năng suất, sản lượng…

3.2.3 Phương pháp lập OTC, thu thập số liệu sơ cấp

3.2.3.1 Lập OTC

Điều tra 3 khu thuộc xã Vân Lĩnh là khu1, khu 3, khu 4, là những khu đại diện về diện tích và sản lượng chè của công ty Mỗi khu lập 3 OTC ở các vị trí,

Trang 21

điều kiện khác nhau, cấp tuổi khác nhau Tổng số OTC phải lập điều tra là 9 OTC Mỗi OTC có diện tích là 50m² và có ít nhất 30 cây trở lên

Các OTC được ký hiệu là OTC 01, OTC 02, OTC 03, OTC 04, OTC 05, OTC 06, OTC 07, OTC 08, OTC 09 Trong đó OTC 01, OTC 02 và OTC 03 thuộc khu 1; OTC 04, OTC 05, OTC 06 thuộc khu 3; OTC 07, OTC 08, OTC 09 thuộc khu 4

Tiền hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng của cây: mật độ, chu vi gốc, đường kính tán, chiều cao cây trong mỗi OTC

3.2.3.2 Đo các chỉ tiêu:

- Đo chu vi gốc: Dùng thước dây đo chu vi gốc tại vị trí cách mặt đất 5

cm

- Đo đường kính tán lá: Dùng thước dây đo đường kính tán theo 2 chiều

ĐT – NB, lấy trị số trung bình (đo theo hình chiếu tán)

- Đo chiều cao cây: Dùng thước dây để đo chiều cao cây

Thông tin và kết quả của từng OTC được ghi lại và mẫu biểu sau:

Mẫu biểu 01: Biểu điều tra thu thập số liệu chè Phú Bền

D 0 (cm)

Đường kính tán

D t (m)

Chiều cao vút ngọn

H vn (m)

Ghi chú

3.2.3.3 Phỏng vấn hộ gia đình và cơ sở chế biến chè của công ty

Tìm hiểu các kiến thức địa phương của người dân trồng chè và cơ sở chế biến bằng các bảng hỏi, điều tra thực tế kết hợp với quan sát tại địa phương

Trang 22

3.2.4 Phương pháp tính sinh khối và trữ lượng Các bon

3.2.4.1 Xác định sinh khối và lượng Các bon trong cây chè

Sinh khối và lượng Các bon trong cây bao gồm 2 phần: Trên mặt đất và dưới mặt đất

Sinh khối khô phần trên mặt đất của chè được tính theo công thức (Theo Kalita et al., 2015):

SKKt = 0,062*D^1,877 (kg/cây)

Trong đó: SKKt - là sinh khối khô thân, cành, lá

D - là đường kính gốc (cm) Sinh khối khô phần dưới mặt đất hay chính là sinh khối của rễ (SKKr) được tính toán nhanh thông qua lượng sinh khối phần trên mặt đất với hệ số 0,25 (IPPC, 2003):

SKKr = 0,25* SKKt (kg/cây) Tổng sinh khối của cây: SKK = SKKt + SKKr (kg/cây)

Lượng Các bon trong cây chè (Cc) được xác định thông qua hệ số mặc định 0,46 (IPCC, 2003): Cc = SKK*0,46 (tấn/ha)

3.2.4.2 Xác định lượng Các bon phát thải

Theo IPCC (2003) hệ số phát thải khí CO2 của xăng là 0,0023 (tấn CO2/lít xăng)

Hệ số phát thải khí CO2 của than đá là 2,93 (tấn CO2/tấn than)

Hệ số phát thải khí CO2 của 1 MWh điện là 0,6245 (tấn CO2/MWh)

3.2.5 Phương pháp xử lý số liệu

Các thông tin, số liệu sau khi thu thập được xử lý bằng phần mềm Excel Thông tin đã xử lý được dùng để phân tích các nội dung có trong bài báo cáo

Trang 24

Công ty TNHH MTV chè Phú Bền nằm trong phạm vi hành chính các huyện: huyện Đoan Hùng, huyện Thanh Ba, huyện Hạ Hòa, huyện Phù Ninh Trụ sở chính của công ty đặt tại Thanh Ba ( khu 8, thị trấn Thanh Ba, huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ)

Phía Đông: giáp huyện Phù Ninh và thị xã Phú Thọ

Phía Tây: giáp huyện Cẩm Khê

Phía Nam: giáp thị xã Phú Thọ và huyện Tam Nông

Phía Bắc: giáp huyện Hạ Hòa và huyện Đoan Hùng

4.1.2.2 Khí tượng thủy văn

Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm, một năm chia làm 4 mùa song hể hiện rõ nhất là mùa mưa và mùa khô Tháng lạnh nhất rơi vào tháng 12 và tháng 1, thường xảy ra hiện tượng sương muối Với khí hậu ấm và ẩm như vậy là điều kiện rất tốt cho sự phát triển của cây chè

Nhiệt độ trung bình năm là 22 ºC và lượng mưa trung bình là 1.530 (mm) Đất đai ở khu vực chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng , có độ pH là 5,5

4.1.3 Điều kiện kinh tế xã hội

Thanh Ba là huyện miền núi của tỉnh Phú Thọ với diện tích tự nhiên là 19.503,41 ha với tổng số dân là 114.062 người (dân số thời điểm trước 01/4/2009) Từ một vùng đất chỉ với sản xuất nông nghiệp là chính, hiện tại huyện đã hình thành một cụm công nghiệp gồm công nghiệp sản xuất rượu, bia,

Trang 25

cồn, xi măng, chè Kinh tế phát triển với tốc độ tăng trưởng khá, chính trị, xã hội ổn định

Hiện nay, công ty chè Phú Bền quản lý 1.739 lao động, đa số là lao động tại địa phương và các vùng lân cận Từ những năm 2005, việc trồng chè được chú trọng phát triển, thu hút nhiều hộ gia đình tham gia trồng chè Điều này đã giúp đời sống nhân dân được cải thiện, có nhiều thay đổi tích cực Cây chè dần trở thành cây trồng chủ lực của kinh tế vườn đồi

4.2 HIỆN TRẠNG HỆ THỐNG CANH TÁC CHÈ TẠI PHÚ BỀN

Chè là cây công nghiệp được trồng phổ biến, đem lại hiệu quả kinh tế cao Chính vì vậy, nhiều gia đình đã thoát khỏi đói nghèo và vươn lên làm giàu từ cây chè Công ty chè Phú Bền nằm trên vùng chè lớn của tỉnh Phú Thọ, đã tổ chức kinh doanh khép kín bao gồm cả trồng, chăm sóc, bảo vệ, thu mua và chế biến chè ngay tại địa phương Từ những năm 1998 công ty đã tiến hành trồng các giống chè mới như PH1 và PH11 đã mang lại năng suất chè cao hơn các giống chè trung du Đến nay chè trung du chỉ còn với diện tích rất ít không đáng

kể Đó là lý do trong đề tài nghiên cứu tôi tiến hành điều tra ở độ tuổi 8, 12, 17 của chè với giống chè PH11

4.2.1 Diện tích, năng suất và sản lượng chè tại điểm nghiên cứu

Hình 4.2: Đồi chè tại công ty chè Phú Bền

Trang 26

Công ty chè Phú Bền nằm trong phạm vi hành chính 04 huyện của tỉnh Phú Thọ, do đó diện tích chè của công ty là rất lớn Theo số liệu thống kê của năm 2017, tổng diện tích chè của công ty là 1.705 ha Diện tích đã cho thu hoạch

là 1.675 ha chiếm 98,2 % tổng diện tích Cho sản lượng búp chè tươi hàng năm đạt 32.532,4 tấn, năng suất đạt 3,5 – 4,5 tấn/ha Đa số các nương chè đã cho thu hoạch, gần đây ít có sự trồng chè mới

Bảng 4.1: Diện tích, năng suất và sản lượng chè tại các khu vực của công ty

Năng suất (tấn/ha)

Sản lượng (tấn)

Tổng (tấn)

2016 Nông trường Phú Thọ 532,5 4,141 11.025,41 36.069,66

Nông trường Hạ Hòa 672 4,4 14.784 Nông trường Đoan Hùng 500,5 4,1 10.260,25

2017 Nông trường Phú Thọ 532,5 3,81 10.144,12 32.532,4

Nông trường Hạ Hòa 672 3,9 13.104 Nông trường Đoan Hùng 500,5 3,71 9.284,27

(Nguồn: Công ty chè Phú Bền, 2017)

Qua bảng số liệu có thể thấy, nông trường chè Hạ Hòa có diện tích cũng như sản lượng chè cao nhất trong 2 năm gần đây, tiếp theo là nông trường chè Phú Thọ và nông trường chè Đoan Hùng

4.2.2 Tổ chức lao động của công ty

Hiện nay, tổng số lao động của công ty là 1.739 công nhân, trong đó lao động nông nghiệp là 1.156 người, lao đông công nghiệp là 583 người

Về cơ cấu giới: Tổng số lao động là 1.739 thì có 1.075 lao động nữ, chiếm 61,8%, lao động nam là 664 người và chiếm 38,2 %

Về trình độ chuyên môn: 190 người có trình độ bậc đại học, cao đẳng; 85 người có trình độ trung cấp, còn lại là lao động phổ thông

Trang 27

4.3 HIỆN TRẠNG KỸ THUẬT CANH TÁC CHÈ

sự xói mòn đất Đất trồng phải đƣợc cày sâu, cuốc hố trồng sâu 20 -25 cm Bón phân lót: trộn đều phân hữu cơ ủ hoai mục và phân lân rồi tra vào hố, sau đó phủ

Trang 28

kín đất tơi xốp lên trên Hàng cách hàng 1,3 – 1,35 m, cây cách cây 0,6 – 0,7 m tương ứng với mật độ 15.000 – 16.000 cây/ha

Sau khi trồng khoảng 2 -3 tháng, tiền hành kiểm tra tỷ lệ sống và trồng dặm vào những khoảng cây bị chết kết hợp với làm cỏ, phát quang

b Bón phân:

Theo kết quả điều tra phỏng vấn, các công nhân nông nghiệp của công ty thường bón phân cho chè 3 lần trên một năm Phân bón thường dùng là phân tổng hợp NPK với liều lượng 350 kg/ha Bón vào các thời điểm tháng 3, 6, 9 sau khi mưa, đất ẩm

c Phòng trừ sâu bệnh:

Trong quá trình chăm sóc chè thường gặp phải những loại sâu hại búp như: rầy xanh, bọ cánh tơ, bọ xít muỗi, nhện đỏ Các loại sâu như sâu ăn lá, sâu đục thân; các bệnh phồng lá chè, bệnh đốm nâu, bệnh thối búp chè… Vào các tháng 5, 6, 7 thường xuất hiện nhiều bọ xít muỗi, bọ cánh tơ, rầy xanh Đây là mùa sinh sản của các loại sâu bệnh này đã làm ảnh hưởng nhiều đến chất lượng búp chè cũng như sản lượng chè của các hộ dân Ngoài ra, yếu tố thời tiết cũng ảnh hưởng đến năng suất chè Thời tiết quá nóng hoặc quá lạnh cây chè không sinh trưởng hoặc sinh trưởng kém

Trang 29

Hình 4.3: Bệnh thối búp chè

Hình 4.4: Bệnh phồng lá và bệnh bọ xít muỗi ở cây chè

Khi cây chè đã mắc sâu bệnh hoặc ổ bệnh quá lớn thì công ty cho phép

công nhân được sử dụng thuốc trừ sâu hóa học với liều lượng thích hợp và cách

ly đúng ngày quy định Công ty chè Phú Bền cũng đã phổ biến tới công nhân về việc quản lý dịch hại (IPM) nhằm hạn chế tối đa việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật làm ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe con người, đảm bảo tính bền vững của việc thâm canh chè

d Đốn tỉa:

Đốn chè là biện pháp cắt bỏ một phần sinh khối ngọn, cành, kích thích các mầm nách phát triển, tăng số lượng và trọng lượng búp tạo nên năng suất chè Trong chu kỳ kinh doanh, công nhân của công ty thường áp dụng 4 hình thức đốn: đốn phớt, đốn lửng, đốn đau và đốn trẻ lại Đốn phớt là hình thức đốn hàng năm, tạo tán chè theo mặt bằng để tiện thu hoạch, chăm sóc Khi mật độ cành trên tán quá dày, búp nhỏ và năng suất giảm thì đốn lửng Vết đốn cách mặt đất

Trang 30

60 – 65 cm Đốn đau: khi đốn lửng nhiều lần mà nương chè vẫn có dấu hiệu phát triển kém thì đốn đau, đốn cách mặt đất 40 – 45 cm Tiến hành đốn trẻ lại đối với nương chè già, đã qua nhiều lần đốn đau Đốn cách mặt đất 10 – 15 cm nhằm thay thế toàn bộ khung tán cũ của cây

Thời vụ đốn từ tháng 12 đến hết tháng 1 năm sau

4.3.2.4 Thu hái:

Vụ xuân tháng 3 - 4, hái 1 tôm 2 lá non chừa lại một lá cá và một lá thật tạo tán bằng Từ các lần hái tiếp theo, công nhân sử dụng máy hái chè để thu hoạch Phương pháp hái bằng máy này có ưu điểm là nhanh, năng suất búp chè tăng 12 % so với thu hái thủ công Hơn nữa năng suất lao động cao gấp 8 – 10 lần so với hái bằng tay đã giải quyết được vấn đề thiếu lao động thời vụ Do việc thu hái bằng máy nên thời gian giữa các vụ kéo dài hơn thu hái thủ công, khoảng

45 – 50 ngày một vụ nên trung bình một năm sẽ thu hái 5 lần bằng máy hái Nhờ vậy nên thời gian cách ly thuốc bảo vệ thực vật dài, lượng thuốc sử dụng giảm

Hình 4.5: Công nhân thu hoạch chè bằng máy hái chè

Nguyên liệu này chủ yếu để chế biến chè đen, có thể dùng chế biến chè xanh viên, nếu chế biến chè xanh truyền thống cần hái nhảo 2 – 3 lần Búp chè sau khi thu hái được cho vào bao, sọt và được vận chuyển đến đội thu mua đưa

về xưởng chế biến của công ty không quá 4 – 6 tiếng

Trang 31

4.3.3 Tình hình thu mua, chế biến và tiêu thụ chè tại điểm nghiên cứu

4.3.3.1 Thu mua

Chè sau khi thu hái được công nhân bán cho các đội thu mua của công ty Rồi các đội vận chuyển chè đến cơ sở chế biến của công ty Chè sau khi hái sẽ được bán luôn trong buổi hoặc trong ngày để đảm bảo chất lượng chè sau khi chế biến Giá bán chè búp tươi dao động từ 3.300 – 4.800 đồng/kg Sự chênh lệch giá giữa đầu vụ và cuối vụ dao động từ 1.000 – 1.500 đồng/kg, giá đầu vụ thường cao nhất

4.3.3.2 Chế biến

Chè búp sau khi thu hái được cơ sở của công ty chế biến luôn trong ngày Chè thành phẩm của công ty thường là chè đen CTC, một số ít là chè xanh nhưng sản lượng không đáng kể

Hình 4.6: Sản phẩm chè đen CTC và chè đen OTC của công ty chè Phú Bền

Các công đoạn chế biến chè: Tiếp nhận chè tươi – làm héo – lấy chè héo, cho chè lên quang vận chuyển – sàng lá tươi loại tạp chất – vò xé sơ bộ - cắt, vò nghiền – vo viên – tách vón - lên men – sấy khô – sàng chè – đóng bao – xuất thành phẩm

Tiếp nhận chè tươi: chè được vận chuyển về nhà máy được đựng trong những bao, sọt có khối lượng không quá 25 kg cả bì Trên phương tiện vận

Trang 32

chuyển, chè được ngăn cách bởi các thanh tre hoặc thanh gỗ nhằm hạn chế sự dập nát của búp chè Trước khi đưa vào sản xuất chè phải được cân để xác định trọng lượng, kiểm tra phân loại Nguyên liệu không đạt tiêu chuẩn chất lượng theo quy định được trả lại cho nhà cung cấp Chè ướt được phân tích tỷ lệ nước ngoài mặt lá và quạt khô để đảm bảo nguyên liệu không bị ướt Sau đó chè được chuyển lên hộc héo bằng hệ thống Monoray

Làm héo: Trong hộc, búp chè được làm héo bằng cách cho một luồng gió hoặc khí nóng thổi qua Để làm héo được tốt thì lớp rải chè dày không quá 35

cm, thời gian héo tốt nhất từ 8 – 18 giờ Trong khi làm héo công nhân kết hợp rải chè và loại bỏ tạp chất như cỏ, lá cây khác chè Đối với sản xuất chè CTC,

tỷ lệ héo không thấp hơn 72 % hoặc tỷ lệ thu hồi chè khô không quá 31,5 %

Lấy chè héo, vận chuyển đến sàng lá tươi bằng quang treo: Trước khi bốc chè héo phải chạy quạt làm mát Trong khi bốc chè héo công nhân tiếp tục loại

bỏ tạp chất Chè héo được bốc vào các túi cước, cân chính xác trọng lượng mỗi túi sau đó chuyển lên các quang treo đã được đánh dấu màu Trọng lượng mỗi túi từ 8 – 15 kg tùy theo công suất CTC và máy sấy theo từng thời điểm cụ thể

Sàng lá tươi, loại tạp chất: Mục đích của công đoạn này là để cho chè vào máy Rotovane một cách đều đặn Máy sàng loại bỏ tạp chất sắt và tạp chất nhỏ vụn mà công nhân không loại bỏ được

Vò xé sơ bộ: Chè héo được cắt, vò, xé nhỏ đến kích thước tương đối nhỏ

để cấp chè vào máy CTC được đều Sau khi được cắt sơ bộ tại Rotovan sẽ được

xả ra máy sàng để tách cẫng Phần dưới sàng là lá chè nhỏ và cẫng chè non được cấp cho máy CTC Phần trên sàng gồm cẫng già và một phần lá có kích thước to được cấp vào máy CTC cắt lại rồi lại được đưa vào máy sàng tách lấy phần lá và cấp tiếp vào máy CTC Phần cẫng già được đưa đi sấy riêng

Cắt, vò nghiền: Chè héo được làm cho nhỏ, mịn, làm tăng cấp độ dập tế bào của lá chè, làm cho toàn bộ khối chè được lên men đồng đều trong cùng một lúc ở các điều kiện thời gian như nhau Cùng với đó là loại bỏ tạp chất bằng nam châm Yêu cầu chất lượng chè sau khi được cắt: chè phải nhỏ, mịn và đồng đều

Trang 33

trên toàn bộ bề mặt băng tải Sau mỗi chu kì sản xuất, chè bám trên băng tải và máy móc được vệ sinh thường xuyên bằng nước sạch và công nhân phải kiểm tra vi khuẩn và theo dõi hằng ngày

Vo viên: Sau công đoạn cắt – vò – nghiền chè tơi xốp, chưa có hình dạng thì công đoạn này giúp cho chè cắt có dạng viên tròn Hạt chè chặt lại và đẹp về ngoại hình Nhà máy sử dụng hai loại máy Googhi ngắn và Googhi dài Căn cứ vào yêu cầu của khách hàng và thời vụ sản xuất, tổng giám đốc sẽ quyết định việc sử dụng Googhi ngắn hay dài

Tách vón: Chè cắt sau khi ra khỏi Googhi được cấp vào máy tách vón để tách ra những hạt chè to Những hạt chè nhỏ dưới máy này được cấp trực tiếp vào máy lên men Những hạt chè to được cấp lại vào máy cắt

Lên men: Thời gian lên men được xác định khi chè héo được cấp vào Rotovan tới khi chè đi vào buồng sấy Nhiệt độ phòng lên men tốt nhất từ 26 – 34ºC, độ ẩm phòng phải duy trì từ 74 – 98 % Hệ thống Monorail được lắp đặt các quang treo để chuyển chè từ máy lên men đến từng máy sấy Trọng lượng chè lên men cho một chậu từ 5 – 11 kg tùy theo công suất cắt của CTC Chè trong các chậu phải tơi, không được nén và được đưa lên băng tải sau mỗi quãng thời gian bằng nhau để lượng chè được cấp vào máy sấy một cách đều đặn Nam châm được lắp ở các máy sàng lá tươi, CTC để hút tạp chất sắt

Sấy chè: Là để đình chỉ quá trình lên men và cố định các đặc tính về màu sắc, hương, vị của sản phẩm Loại bỏ thủy phần của chè đến độ ẩm bảo quản và

cố định hình dáng của sản phẩm Nhiệt độ sấy chè là yếu tố quan trọng, sấy từ

110 – 132 ºC Độ ẩm của chè lên men phụ thuộc vào mức độ héo của búp chè và lượng ẩm bổ sung của công đoạn lên men Do vậy chè có độ ẩm cao cần sấy nhiều nhiệt hơn chè có độ ẩm thấp Kết thúc giai đoạn sấy chè miệng máy sấy phải đạt thủy phần từ 3 – 3,5 %

Sàng chè: Phân loại chè miệng máy sấy ra thành các mặt hàng có kích cỡ khác nhau Sàng chuyển chè bán thành phẩm thành các mặt hàng chè thành phẩm Sau khi sàng chè phải đảm bảo các yêu cầu: Kích thước cỡ hạt đồng đều,

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:24

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w