TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
GIỚI THIỆU VỀ CÂY TRÚC ĐÀO
Trúc Đào (Nerium oleander) là một loài cây bụi hoặc cây gỗ nhỏ, thường xanh thuộc họ La bố ma (Apocynaceae) và là loài duy nhất trong chi Nerium Tên gọi của cây này đã được sử dụng để đặt tên cho thành phố cổ Volubilis tại Bắc Phi Tại Trung Quốc, loài cây này được gọi là Giáp trúc đào (夹竹桃).
Về phân loại khoa học Trúc đào thuộc:
Trúc đào là loài cây bản địa từ Maroc và Bồ Đào Nha đến khu vực Địa Trung Hải và miền nam Châu Á, thường mọc quanh các dòng suối khô Cây cao từ 2-6m, với cành mọc thành cặp hoặc xoắn, lá dày, bóng như da, màu xanh sẫm, hình mũi mác dài 5-21 cm và rộng 1-3,5 cm, mép lá nhẵn Hoa trúc đào nở thành cụm, có màu trắng, vàng hoặc hồng, đường kính 2,5-5 cm, với tràng hoa 5 thùy và thường có hương thơm Quả của cây là nang dài, kích thước 5-23 cm, nứt khi chín để giải phóng hạt nhỏ có lông tơ.
Hình 2.1 Cây và hoa trúc đào
- Thế giới: Trúc đào là loài cây bản địa của một khu vực rộng từ Maroc và
Bồ Đào Nha kéo dài tới khu vực Địa Trung Hải và miền nam Châu Á
Trúc đào là loại cây cảnh phổ biến ở Việt Nam, được trồng rộng rãi tại nhiều địa phương Loại cây này phát triển tốt trong khí hậu cận nhiệt đới ấm áp và có khả năng chịu hạn tốt, nên thường được sử dụng trong các cảnh quan công viên và ven đường.
2.1.4 Thành phần trong Trúc đào
Lá Trúc đào chứa nhiều thành phần hóa học quan trọng, bao gồm cardenolid, oleandrin, oleasids A…F và neriolin Ngoài ra, lá còn có nhựa, tanin, parafin, vitamin C và tinh dầu Các glycosid tim là hoạt chất chính trong lá, với tổng cộng 17 loại glycosid khác nhau, trong đó hàm lượng glycosid tim toàn phần đạt 0,5% Đặc biệt, các glycosid như Oleandrin (Neriolin), deacetyloleandrin, Neriantin và adynerin được chú ý nhiều trong nghiên cứu.
Trúc đào, theo tư liệu cổ, được sử dụng trong điều trị suy tâm thu và viêm cơ tim não suy (loạn nhịp tim) Ngoài ra, cây còn có tác dụng chữa các bệnh ngoài da như lở ngứa và mụn loét Tại khu vực Á Đông, Trúc đào đã được ghi chép trong cuốn Y học nhập môn của Lý.
Lá trúc đào có nhiều công dụng hữu ích, bao gồm việc chữa trị cho những người có triệu chứng đỏ bừng và tích tụ nước trong ngũ tạng, giúp giảm bụng to và lợi tiểu Nước chiết xuất từ lá trúc đào được sử dụng để điều trị sung huyết và có thể áp dụng cục bộ cho các rối loạn da Hiện nay, lá cây trúc đào còn được dùng làm nguyên liệu để chế tạo neriolin, một loại thuốc chữa bệnh tim hiệu quả.
Các loại thuốc trừ sâu được chiết xuất từ thảo mộc tự nhiên mang lại hiệu quả cao và thân thiện với môi trường Trong số đó, trúc đào nổi bật với khả năng phòng trừ sâu bệnh, sản xuất thuốc trừ sâu hiệu quả mà không gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.
ĐẶC ĐIỂM CỦA RAU HỌ THẬP TỰ
2.2.1 Đặc điểm chung của rau họ thập tự
Rau họ thập tự, hay còn gọi là họ cải, là một họ thực vật có hoa với nhiều loại cây trồng mang tên "cải" Họ cải chủ yếu phân bố ở khu vực ôn đới và có sự đa dạng loài phong phú nhất tại khu vực ven Địa Trung Hải.
Họ này chứa khoảng 338 - 350 chi và khoảng 3.700 loài
Họ này bao gồm các loài cây thân thảo với chu kỳ sống một, hai hay lâu năm, chủ yếu có lá mọc so le Nhiều loài trong họ này chia sẻ hợp chất glucosinolat, mang lại mùi hăng đặc trưng thường thấy ở các loại rau cải.
Mặc dù một số thành viên trong họ chứa hàm lượng axit erucic cao, khiến chúng không an toàn khi tiêu thụ quá nhiều, nhưng tất cả các thành viên này đều có thể ăn được.
2.2.2 Đặc điểm chung của rau cải ngọt
Cải ngọt (danh pháp hai phần: Brassica juncea) là một loài thực vật thuộc họ cải (Brassicaceae)
Cải ngọt có thân to và nhỏ, với lá màu xanh đậm hoặc xanh nõn lá chuối, mang vị cay và đắng Loại rau này thường được sử dụng để nấu canh hoặc muối dưa Thời gian thu hoạch cải ngọt thường từ 40 đến 45 ngày.
Cải ngọt chứa nhiều thành phần dinh dưỡng quan trọng như vitamin A, B, C, K, axit nicotic, carotene và albumin, được các chuyên gia dinh dưỡng khuyên dùng nhờ vào lợi ích sức khỏe và khả năng phòng chống bệnh tật Theo Đông y Việt Nam, cải bẹ xanh có vị cay, tính ôn, giúp giải cảm hàn, thông đàm và lợi khí Hạt cải bẹ xanh cũng có vị cay, tính nhiệt, không độc, có tác dụng trị phong hàn, ho đờm, hen, đau họng, tê dại và mụn nhọt.
SÂU XANH BƯỚM TRẮNG (Pieris rapae Linnaeus)
- Gây hại chủ yếu trên các loại rau họ hoa thập tự
Sâu non mới nở thường ăn vỏ trứng và nhu mô lá có chứa diệp lục, để lại biểu bì nguyên vẹn Khi đạt tuổi thứ hai, sâu sẽ phân tán và cắn thủng lá, gây ra tình trạng lá bị khuyết và chỉ còn lại gân lá Điều này làm cho cây rau trở nên xơ xác, đặc biệt là trong vụ đông sớm và xuân muộn, khi sâu thường gây hại nhiều hơn.
Sâu xanh trưởng thành có kích thước thân dài từ 15 đến 20mm, với cánh trước màu trắng rộng từ 40 đến 50mm Đặc điểm nổi bật là đầu cánh có vết đen hình tam giác cùng hai chấm đen nhỏ, trong khi cánh sau cũng màu trắng nhưng có góc màu xám tro.
Trứng của sâu bướm có hình dạng giống vỏ phích, màu vàng với nhiều khía dọc, sau khoảng 10 ngày sẽ nở Khi mới nở, sâu non có màu xanh nhạt, sau đó chuyển sang màu xanh lục, với thân có nhiều chấm đen và 3 sọc vàng ở lưng Dọc theo thân, sâu non có lông màu trắng cứng, dài từ 28 đến 30mm Nhộng có màu xanh xám, dài từ 18 đến 20mm, thường được treo ở cuống lá.
2.3.3 Đặc tính sinh học và sinh thái
Bướm hoạt động vào ban ngày và sau khi vũ hóa khoảng 3 - 4 ngày, chúng sẽ bắt đầu đẻ trứng Trứng được đẻ rải rác từng quả trên mặt sau của lá rau, với mỗi con bướm có thể đẻ từ 50 đến 200 trứng Thời gian sống của bướm sâu xanh dao động từ 2 đến 5 tuần lễ.
Sâu xanh mới nở ăn lá rau, và từ tuổi hai trở lên, chúng gặm thủng lá và chỉ để lại gân Nếu mật độ sâu quá cao, ruộng rau sẽ bị hủy hoại, trở nên trơ trụi và xơ xác.
- Vòng đời của sâu xanh bướm trắng từ 26 - 30 ngày Trong đó giai đoạn trứng từ 6 - 8 ngày, sâu non 10 - 14 ngày, nhộng 7 - 8 ngày Bướm vũ hóa sau 3
Sâu xanh thường đẻ trứng sau 4 ngày và gây hại nghiêm trọng từ tháng 10 năm trước đến tháng 5 năm sau, với mức độ thiệt hại cao nhất diễn ra từ tháng 2 đến tháng 5 do điều kiện thời tiết thuận lợi cho sự phát triển của chúng Chúng thường tập trung và gây hại nặng nề trên các ruộng rau xanh.
MỘT SỐ KHÁI NIỆM
2.4.1 Chế phẩm thuốc trừ sâu sinh học
Chế phẩm thuốc trừ sâu sinh học (TTSSH) là sản phẩm có nguồn gốc sinh học, được sản xuất từ thảo dược hoặc vi sinh vật nuôi cấy trong môi trường dinh dưỡng bằng các phương pháp thủ công, bán thủ công hoặc lên men công nghiệp Những chế phẩm này có khả năng phòng trừ sâu bọ gây hại cho cây trồng nông, lâm nghiệp mà không gây hại cho môi trường và sức khỏe con người.
TTSSH đã được giới thiệu tại Việt Nam từ đầu những năm 1970 với số lượng ban đầu hạn chế Mặc dù nghiên cứu về TTSSH đã đạt được một số thành tựu nhất định, nhưng việc ứng dụng nó trong sản xuất vẫn chưa được chú trọng nhiều.
Hiện nay các loại TTSSH đã nghiên cứu cho kết quả và tiêu thụ ngoài thị trường gồm những loại sau:
Các hormone cản trở sự phát triển biến thái của côn trùng có tác động đến một giai đoạn nhất định trong vòng đời của chúng, ngăn cản sự hình thành vỏ bọc của sâu non Một số sản phẩm tiêu biểu bao gồm Trebon 10EC, Agoplaud 80SC, Butyl 10WPI và Nômlt 5SC.
- Các chất có tác dụng hấp dẫn các cá thể khác giới trong cùng loài, gồm:
Toba, Ruvacon, VizubonD là những chất đƣợc tiết từ tuyến sinh dục cái của ruồi đục trái để hấp dẫn con đực vào bẫy
Thuốc trừ sâu vi sinh vật Bt, được chiết xuất từ độc tố của vi khuẩn Bacillus thuringiensis, là một loại thuốc phổ biến và được sử dụng rộng rãi trong nông nghiệp.
TTSSH là phương pháp hiệu quả trong việc phòng trừ sâu bệnh bền vững và bảo vệ sức khỏe con người Tuy nhiên, việc áp dụng phương pháp này ở Việt Nam hiện còn nhiều hạn chế do một số nguyên nhân nhất định.
Trong nghiên cứu triển khai công nghệ sinh học, chúng ta đang gặp khó khăn do thiếu điều kiện và phương tiện nghiên cứu, cùng với số lượng nhà nghiên cứu ít ỏi trong lĩnh vực này Hơn nữa, các cơ sở thực nghiệm về công nghệ sinh học còn nhỏ bé và hạn chế, dẫn đến việc sản xuất và sử dụng các sản phẩm công nghệ sinh học gặp nhiều trở ngại.
Giá cả của loại mặt hàng này còn cao so với TTS hóa học
Trong phân phối sản phẩm, TTSSH chƣa đƣợc quan tâm quảng bá ra thị trường và đến người tiêu dùng
Việc truyền thông và cung cấp kiến thức cho nông dân hiện vẫn còn hạn chế, khiến họ chủ yếu mong muốn các sản phẩm TTS mang lại hiệu quả ngay lập tức và dễ sử dụng, dẫn đến việc ít người quan tâm đến các chế phẩm TTSSH.
- Thành phần giết sâu có trong chế phẩm sinh học có thể là:
Vi sinh vật (nấm, vi khuẩn, virut,…)
Các chất do vi sinh vật tiết ra (thường là các chất kháng sinh)
Các chất có trong cây thảo mộc (chất có độc tính)
- Với thành phần trên, thuốc trừ sâu sinh học có thể chia thành 2 loại chính:
Nhóm thuốc thảo mộc (Plant Pesticides) Hoạt chất là các chất thu đực từ cây cỏ, kể cả tinh dầu từ củ quả, hoặc lá
Thuốc TTSSH có một số ƣu điểm và nhƣợc điểm sau
Tạo ra các sản phẩm sạch cho người dùng
Không gây tính kháng thuốc với sâu hại, không làm mất đi một quần thể thiên địch có ích trong tự nhiên
Không gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người
Không cần phun nhiều lần mà vẫn duy trì đƣợc hiệu quả
Hiệu quả chƣa thật cao
Diễn biến chậm, khi gặp điều kiện thời tiết bất lợi thì khó đạt kết quả tốt
Chịu những tác động của môi trường rất lớn như ánh sáng, lượng nước tưới, nước mưa, nhiệt độ…
Khó cân đong ngoài đồng ruộng, thời gian bảo quản ngắn, thường 1 - 2 năm, trong những điều kiện lạnh, khô
TTSSH là giải pháp hiệu quả cho nông nghiệp bền vững tại Việt Nam và toàn cầu Để TTSSH được áp dụng rộng rãi trong sản xuất nông nghiệp, cần tăng cường tuyên truyền kiến thức và nghiên cứu phát triển nhiều chế phẩm sinh học, nhằm dần thay thế thuốc hóa học trong bảo vệ thực vật.
Chất trừ sâu có nguồn gốc từ thực vật có khả năng hiệu quả trong việc kiểm soát sâu bệnh, phân hủy nhanh chóng trong môi trường và ít độc hại đối với con người cũng như động vật máu nóng Do đó, việc sử dụng chúng trong sản xuất nông nghiệp sạch được khuyến khích.
Cơ chế hoạt động của thuốc thảo mộc
Thuốc trừ sâu thảo mộc tiêu diệt côn trùng qua tiếp xúc, vị độc hoặc xông hơi, với phổ tác động hạn chế và khả năng diệt cả nhện hại cây Sau khi xâm nhập, thuốc nhanh chóng tác động đến hệ thần kinh của côn trùng, gây tê liệt và chết Ngoại trừ nicotin, một loại thuốc độc hại cho động vật máu nóng và bị cấm ở nhiều quốc gia, các loại thuốc thảo mộc khác thường ít độc với con người, động vật có ích và động vật hoang dã Do khả năng phân huỷ nhanh, thuốc thảo mộc không tích tụ trong cơ thể và môi trường, không gây hiện tượng sâu kháng thuốc Chúng an toàn cho thực vật và có thể kích thích sự phát triển của cây Tuy nhiên, do việc thu hái và bảo quản khó khăn cùng giá thành cao, thuốc trừ sâu thảo mộc đã bị thuốc trừ sâu hóa học lấn át trong thời gian dài.
2.4.3 Tóm tắt tiêu chuẩn của rau hữu cơ
Bảng 2.1 Tóm tắt tiêu chuẩn Quốc gia về sản xuất và chế biến các sản phẩm hữu cơ (10TCN 602-2006)
1 Nguồn nước được sử dụng trong canh tác hữu cơ phải là nguồn nước sạch, không bị ô nhiễm (theo quy định trong tiêu chuẩn sản xuất rau an toàn của TCVN 5942-1995)
2 Khu vực sản xuất hữu cơ phải đƣợc cách ly tốt khỏi các nguồn ô nhiễm nhƣ các nhà máy, khu sản xuất công nghiệp, khu vực đang xây dựng, các trục đường giao thông chính…
3 Cấm sử dụng tất cả các loại phân bón hóa học trong sản xuất hữu cơ
4 Cấm sử dụng các loại thuốc bảo vệ thực vật hóa học
5 Cấm sử dụng các chất tổng hợp kích thích sinh trưởng
6 Các thiết bị phun thuốc đó dựng trong canh tác thông thường không được sử dụng trong canh tác hữu cơ
7 Các dụng cụ đó dùng trong canh tác thông thường phải được làm sạch trước khi đưa vào sử dụng trong canh tác hữu cơ
8 Nông dân phải duy trì việc ghi chép vào sổ tất cả vật tƣ đầu vào dùng trong canh tác hữu cơ
9 Không đƣợc phép sản xuất song song: Các cây trồng trong ruộng hữu cơ phải khác với các cây được trồng trong ruộng thông thường
10 Nếu ruộng gần kề có sử dụng các chất bị cấm trong canh tác hữu cơ thì ruộng hữu cơ phải có một vùng đệm để ngăn cản sự xâm nhiễm của các hóa chất từ ruộng bên cạnh Cây trồng hữu cơ phải trồng cách vùng đệm ít nhất là một mét (01m)
Để ngăn chặn sự xâm nhiễm qua không khí, cần trồng một loại cây trong vùng đệm nhằm hạn chế bụi phun xâm nhiễm.
Trong vùng đệm, cần trồng loại cây khác với cây trồng hữu cơ để ngăn ngừa xâm nhiễm Nếu có nguy cơ xâm nhiễm qua nước, việc thiết lập bờ đất hoặc rãnh thoát nước là cần thiết để bảo vệ cây trồng khỏi nước bẩn.
TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÂY TRÚC ĐÀO Ở TRONG NƯỚC VÀ TRÊN THẾ GIỚI
2.5.1 Tình hình trên Thế giới
Các công trình nghiên cứu về thành phần hóa học của cây trúc đào:
Theo nghiên cứu của Oezel Hueseyin Ziva và cộng sự vào năm 1989, dịch chiết lá trúc đào chứa hai phân đoạn chính: một oligosaccharid với trọng lượng phân tử dưới 10.000 và một polysaccharid có trọng lượng phân tử từ 17.000 đến 120.000 Qua phương pháp sắc ký trao đổi ion, phân đoạn polysaccharid này được xác định là bao gồm nhiều đơn vị acid D-galacturonic và có khả năng kích thích miễn dịch trong thử nghiệm yếu tố hoại tử khối u.
Lá còn có 16 - anhydro digitalinum verum monoacetat, odorosid D, K, odorobiosid K, monoacetat của odorotriosid G, odorobiosid G và odorosid H
Lá trúc đào chứa glycosid tim với hàm lượng 0,5%, trong đó oleandrin là thành phần chính, còn được biết đến với các tên gọi khác như oleandrosid, neriolin và folinerin Khi thủy phân, oleandrin tạo ra oleandrose và aglycon oleandrigenin Hàm lượng oleandrin trong lá khô dao động từ 0,08% đến 0,15%, theo D A Muraviova, không được dưới 0,2%.
Các glycosid khác bao gồm neriin, có tác dụng trợ tim yếu; deacetyloleandrin với tính sinh vật đạt 6.000 đơn vị ếch trong 1 gam; neriantin có hàm lượng cao nhưng hoạt tính sinh vật thấp do không có nhóm OH ở C14; và adynerin có hàm lượng thấp và không ảnh hưởng đến tim do nhóm OH ở C14 bị khóa lại.
Các chất I, III, và IV có khả năng ức chế hệ thần kinh trung ương ở chuột nhắt với liều 25 mg/kg, trong khi chất II không cho thấy tác dụng này ngay cả với liều 50 mg/kg.
The roots of the oleander plant contain various compounds, including digitoxigenin β-gentiotriosyl-(1->4)-β-D-digitaloside, uzarigenin β-gentiobiosyl-(1->4)-β-D-digitaloside, and 5α-oleandrigenin glycoside, along with 40 known cardenolides Additionally, they also comprise 5α-pregnanolone bis-o-β-D-glucosyl-(1->2, 1->6)-β-D-glucoside and pregnenolone-β-D-apiosyl-(1->6)-β-D-glucoside.
Lá trúc đào chứa polysaccharid pectic với các thành phần như acid galacturonic, rhamnose, arabinose và galactose trong dịch chiết nước Mặc dù chất này có ít hoặc không có tác dụng in vivo, nhưng lại thể hiện một số hoạt tính điều hòa miễn dịch đáng chú ý.
According to Siddiqui Bina Shaheen et al (1995), two triterpenes found in oleander leaves exhibit toxicity to cells: cis-karenin acid (3 β-hydroxy-28-Z-p-coumaroyl-urs-12-en-oic) and trans-karenin acid (3-β-hydroxy-28-E-p-coumaroyloxy-urs-12-en-27-oic).
Hiện tại, nghiên cứu về cây trúc đào vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào lĩnh vực y học Chưa có nghiên cứu nào về khả năng phòng trừ sâu hại của cây trúc đào Tuy nhiên, một số địa phương đã tự áp dụng, chẳng hạn như người dân Ấn Độ sử dụng bột từ thân cây trúc đào để làm bả chuột.
2.5.2 Tình hình ở Việt Nam Ở Việt Nam việc sử dụng các biện pháp sinh học phòng trừ sâu hại còn hạn chế và việc nghiên cứu các chế phẩm sinh học mới đƣợc chú trọng phát triển trong những năm gần đây Việc nghiên cứu trúc đào để phục vụ trong Y học đã có nhiều công trình nghiên cứu nhƣng việc sử dụng trúc đào để chế biến thuốc trừ sâu thì còn rất ít nghiên cứu liên quan đến vấn đề này Đây là một vấn
16 đề hoàn toàn mới mẻ nên cần đƣợc chú trọng nghiên cứu để tìm ra những loại thuốc trừ sâu sinh học thân thiện với môi trường
Tiến sĩ Đỗ Tất Lợi, thuộc Bộ môn Dược liệu của trường Đại học Y Dược Hà Nội, đã sản xuất Neriolin từ năm 1955 Đến cuối năm 1962, ông cải tiến phương pháp chiết xuất glycoside toàn phần từ lá trúc đào và bàn giao quy trình sản xuất này cho xí nghiệp Dược phẩm II vào năm 1963 Thuốc đã được sử dụng để điều trị bệnh nhân suy tim trong nhiều năm qua.
VẬT LIỆU - NỘI DUNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Trường Đại học Lâm Nghiệp
3.1.2 Thời gian nghiên cứu Đề tài đƣợc thực hiện từ ngày 07/03/2018 - 01/05/2018.
VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU
- Hộp nhựa, vải màn, tấm meca trong, dao, kéo, thớt, bình đong thể tích…
- Cuốc, xẻng, bạt nilon, phân vi sinh, giống rau cải, bình ô doa….
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
- Pha chế phẩm mộc từ cây trúc đào
- Đánh giá khả năng sinh trưởng của rau cải ngọt
- Thử hiệu lực của chế phẩm chiết xuất từ lá trúc đào đến thành phần và mật độ của sâu xanh bướm trắng.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Các nhân tố chỉ tiêu nghiên cứu đƣợc bố trí với nhiều thí nghiệm khác nhau và phải có thì nghiệm đối chứng
- Các nhân tố không phải là chỉ tiêu nghiên cứu cần đảm bảo tính đồng nhất giữa các công thức thí nghiệm
- Số lƣợng thí nghiệm cần phải đủ lớn
- Thí nghiệm cần phải đƣợc lặp lại
3.4.2.Tạo chế phẩm thảo mộc chiết xuất từ cây trúc đào
Bước 1: Chuẩn bị nguyên liệu
Bước 2: Sơ chế nguyên liệu
Trúc đào sau khi chặt từ cây về ta giã nát
Bước 3: pha chế nguyên liệu
Cách pha chế: 250-750g cây trúc đào giã nát rồi ngâm với 1 lít nước, để trong thùng có nắp 30 phút trước khi phun
1 Băm nhỏ sau đó đem giã nát
2 Trúc đào đã nghiền cho vào 3 bình nhựa 1l để ngâm với các tỷ lệ nồng độ khác nhau là : 250g/1l nước, 500g/1l nước, 750g/1l nước Ngâm trong vòng 30 phút đến 1 giờ
Bước 4: Thu nhận chế phẩm
Phần bã nghiền đƣợc lọc qua vải lọc, gạn lấy dung dịch
Phun thuốc vào buổi chiều tối (thuốc pha chế xong nên phun ngay và phun kỹ vào cây bị sâu bệnh)
Hình 3.1 Sơ đồ điều chế thuốc thảo mộc chiết xuất từ cây trúc đào
THU NHẬN CHẾ PHẨM PHA CHẾ NGUYÊN LIỆU
SƠ CHẾ NGUYÊN LIỆU CHUẨN BỊ NGUYÊN LIỆU
3.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm
Để trồng cải, trước tiên cần chuẩn bị hộp nhựa còn nguyên vẹn với nắp đậy bằng vải màn Hãy vệ sinh sạch sẽ hộp trước khi cho vào một lớp đất dày và tiến hành trồng cải.
- Cải đƣợc trồng có 4 lá thật, mỗi hộp từ 1-2 cây cải, khi cải bén rễ xanh tốt mới tiến hành thả sâu vào và làm thí nghiệm
- Thí nghiệm trong hộp đƣợc bố trí 3 công thức lặp lại 3 lần và một công thức đối chứng Thả sâu trước 2 giờ khi phun
CT1 – 250g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT2 – 500g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT3 – 750g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT4 - Đối chứng (nước lã)
Mỗi công thức thả 10 con sâu trên cây rau đƣợc trồng trong hộp, phun ƣớt đẫm cây rau
Mỗi hộp nhựa đƣợc đánh dấu số thứ tự 1, 2, 3, 4 và sắp xếp lặp lại sao cho phù hợp
- Ngâm thuốc theo các công thức: 17/03/2018
- Theo dõi hàng ngày số sâu sống ở mỗi công thức sau 3, 5, 7 và 9 ngày
3.4.3.2 Thí nghiệm ngoài đồng ruộng (ô thí nghiệm)
- Thời gian bố trí thí nghiệm: 09/3/2018, tại trường Đại học Lâm Nghiệp
Các ô thí nghiệm được thiết lập trực tiếp trên đồng ruộng, với mỗi ô có diện tích 1m² Để đảm bảo tính chính xác của kết quả thí nghiệm, nilon chắn được sử dụng nhằm ngăn chặn sự xâm nhập từ bên ngoài, bao gồm cả sâu hại và các loại côn trùng khác.
Cải được trồng và chăm sóc kỹ lưỡng để đảm bảo sức khỏe tốt trước khi tiến hành thí nghiệm Khi cây cải có từ 2 đến 3 lá thật, chúng ta sẽ bắt đầu làm ô thí nghiệm bằng cách chia luống cải thành các ô riêng biệt.
- Ô thí nghiệm đƣợc ngăn bằng nilon Nilon cao 50cm đƣợc quây lại cẩn thận
- Khi rau bắt đầu có sâu, nên phun thuốc thảo mộc chiết xuất từ cây trúc đào vào 4-5h chiều
Thí nghiệm được tiến hành trên ba nhóm chế phẩm CT1, CT2, CT3 và một công thức đối chứng, với các nhóm này có thành phần giống nhau nhưng khác nhau về nồng độ thuốc thảo mộc Để đạt hiệu quả tối ưu, thuốc cần được phun ướt đẫm lên cây rau.
CT1 – 250g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT2 – 500g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT3 – 750g trúc đào ngâm với 1 lít nước
CT4 - Đối chứng (nước lã)
Thử hiệu lực của thuốc thảo mộc chiết xuất từ cây trúc đào đối với sâu xanh bướm trắng
- Trộn đều phân hữu cơ vi sinh vào trong đất trồng: 09/03/2018
- Ngày gieo hạt giống rau: 10/03/2018
- Hạt nảy mầm (2 lá mầm): 13/03/2018
- Ngâm chế phẩm theo các nồng độ: 18/03/2018
- Theo dõi hàng ngày số sâu sống ở mỗi công thức sau 3, 5, 7 và 9 ngày
CÁC CHỈ TIÊU THEO DÕI
3.5.1 Đánh giá khả năng sinh trưởng của rau cải ngọt
STT Các chỉ tiêu theo dõi Cách theo dõi Thời gian theo dõi
- Chiều cao cây (cm/cây)
- Số lá xanh (lá/cây)
- Điều tra theo 5 điểm góc chéo của từng ÔTN
- Đo từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng
- Đếm số sâu theo 5 điểm góc chéo của từng ÔTN, mỗi điểm xác định từ 5 hoặc 10 cây
- Đếm số con/cây, theo dõi 30 cây ngẫu nhiên/ công thức
4 Cỏ dại Quan sát ghi chép 7 ngày/lần
+ Các vi sinh vật trong đất
- Quan sát ghi nhận 7 ngày/lần
6 Thời tiết Theo dõi hàng ngày 7 ngày/lần
3.5.2 Hiệu lực phòng trừ của thuốc thảo mộc chiết xuất từ cây trúc đào
- Số sâu sống (n) hàng ngày ít nhất trong 9 ngày ở CTTN và CTĐC n = số sâu sống đếm đƣợc hàng ngày
- Hiệu lực của thuốc đƣợc hiệu đính theo công thức Abbott
E là: hiệu lực của thuốc tính bằng (%)
C là: số sâu sống ở công thức đối chứng
T là: số sâu sống ở công thức xử lí
3.6 Phương pháp xử lý số liệu:
- Các số liệu thu đƣợc bằng cách quan sát và đo đếm trực tiếp đƣợc ghi vào bảng theo dõi và cho vào phân tích
-Các số liệu đƣợc xử lý bằng phần mềm Excel, Irristat và máy tính Casio…