TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tƣợng nghiên cứu: Tất cả các thông tin liên quan đến 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã Ngọc Hòa
Phạm vi nghiên cứu: Xứ đồng Mạ Sổ xã Ngọc Hòa.
NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.2.1 Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của xã Ngọc Hòa
- Điều kiện tự nhiên: Vị trí địa lý, khí hậu, thủy văn, nguồn nước
Trong bối cảnh hiện nay, phát triển kinh tế - xã hội đang diễn ra mạnh mẽ, với tăng trưởng kinh tế ổn định và dân số ngày càng gia tăng Thị trường lao động có sự chuyển biến tích cực, tạo ra nhiều cơ hội việc làm và cải thiện thu nhập cho người dân Sự phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn cũng được chú trọng, góp phần nâng cao chất lượng sống Đồng thời, việc đầu tư vào cơ sở hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội đang được đẩy mạnh, nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển bền vững trong tương lai.
3.2.2 Kết quả thực hiện công tác dồn điền đổi thửa xã Ngọc Hòa trong giai đoạn 1997-1998
- Các văn bản công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã
- Kết quả dồn điền đổi thửa giai đoạn 1997-1998
3.2.3 Kết quả thực hiện công tác dồn điền đổi thửa xã Ngọc Hòa trong giai đoạn 2012-2013
- Các văn bản công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn xã
- Kết quả dồn điền đổi thửa giai đoạn 2012-2013
3.2.4 Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa tại xã
Đánh giá hiệu quả kinh tế của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp là một yếu tố quan trọng trong việc nâng cao năng suất và phát triển bền vững Các chỉ tiêu kinh tế như giá sản xuất, giá trị gia tăng, thu nhập, thu nhập thuần và thu nhập thực tế trên công sẽ được sử dụng để phân tích và so sánh hiệu quả của từng loại hình sử dụng đất Việc áp dụng các chỉ tiêu này không chỉ giúp xác định mức độ sinh lời mà còn hỗ trợ trong việc ra quyết định đầu tư và phát triển các mô hình sản xuất phù hợp.
- Đánh giá hiệu quả xã hội của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
- Đánh giá hiệu quả môi trường của các loại hình sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
3.2.5 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau dồn điền đổi thửa
3.2.7 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu thứ cấp
Điều tra và thu thập các văn bản liên quan đến công tác chuyển đổi mục đích sử dụng đất do UBND thành phố Hà Nội và UBND huyện Chương Mỹ quy định là một bước quan trọng trong việc đảm bảo tính minh bạch và hợp pháp trong quản lý đất đai.
Bộ câu hỏi điều tra bao gồm thông tin cơ bản về hộ gia đình, quy mô và cơ cấu đất đai, tình hình sử dụng các loại đất, hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp, cùng với những khó khăn và kiến nghị của nông dân Các câu hỏi được thiết kế ngắn gọn, dễ hiểu và dễ trả lời, phù hợp với trình độ của người nông dân Mẫu phiếu điều tra có trong phụ lục số 1.
3.2.8 Phương pháp điều tra số liệu sơ cấp
- Điều tra phỏng vấn trực tiếp các trang trại theo mẫu phiếu in sẵn
- Số hộ điều tra 6 hộ Những hộ đƣợc chọn để điều tra đều là các hộ có trang trại tổng hợp trên địa bàn xã
Bộ câu hỏi điều tra tập trung vào việc thu thập thông tin cơ bản về trang trại, bao gồm quy mô và cơ cấu đất đai, tình hình sử dụng đất, hoạt động sản xuất trên đất nông nghiệp, cũng như những khó khăn và kiến nghị từ nông dân.
3.2.9 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
- Phương pháp thống kê: Tổng hợp sắp xếp các số liệu theo từng mục đích điều tra
- Phương pháp phân tích: Phân tích ảnh hưởng của các yếu tố đến việc sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng đất trang trại
- Phương pháp chọn mẫu phi ngẫu nhiên:
Chọn mẫu phi ngẫu nhiên, hay còn gọi là chọn mẫu phi xác suất, là phương pháp chọn mẫu trong đó các đơn vị trong tổng thể không có cơ hội ngang nhau để được chọn vào nghiên cứu Ví dụ, khi phỏng vấn các bà nội trợ đến siêu thị vào một thời điểm nhất định, sẽ có nhiều bà nội trợ không có mặt tại đó và do đó không có khả năng được chọn.
Việc lựa chọn mẫu phi ngẫu nhiên hoàn toàn dựa vào kinh nghiệm và sự hiểu biết tổng thể của người nghiên cứu, dẫn đến kết quả điều tra thường mang tính chủ quan Hơn nữa, việc xác định sai số trong quá trình này là điều không thể thực hiện.
14 chọn mẫu, do đó không thể áp dụng phương pháp ước lượng thống kê để suy rộng kết quả trên mẫu cho tổng thể chung
3.2.10 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong giai đoạn 2012-2013, xã Ngọc Hòa đã thực hiện dồn điền đổi thửa tại 5 thôn, nhằm tối ưu hóa việc sử dụng đất Nghiên cứu đã được tiến hành tại 6 trang trại để đánh giá tác động của hoạt động sản xuất kinh doanh trang trại đối với đất nông nghiệp và phi nông nghiệp.
3.2.11 Phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất
Tổng chi phí: Là khoản đầu tƣ ban đầu mà chủ trang trại đùng để duy trì sản xuất kinh doanh của trang trại
Tổng thu nhập: Là khoản lợi nhuận mà chủ trang trại thu đƣợc sau một năm kể thừ khi bỏ tiền đầu tƣ và cho đến khi thu hoạch
Gía trị gia tăng: Là phần chênh lệch giữa tổng thu nhập và tổng chi phí trong một năm của trang trại
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ, XÃ HỘI
Xã Ngọc Hòa, thuộc huyện Chương Mỹ, nằm ở phía Bắc và gần trung tâm văn hóa huyện Khu vực này giáp với thị trấn Chúc Sơn và được kết nối bởi quốc lộ 6A cùng tỉnh lộ 419.
Giáp ranh của xã bao gồm:
Phía Đông giáp thị trấn Chúc Sơn
Phía tây giáp xã Phú Nghĩa
Phía Nam giáp xã Đại Yên
Phía Bắc giáp xã Tiên Phương
Ngọc Hòa là một xã đồng bằng với địa hình phẳng, đặc trưng của vùng đồng bằng Bắc Bộ, có nhiều ô trũng và đê viền, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển nông nghiệp Xã tập trung vào việc phát triển các cây trồng và vật nuôi mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Khí hậu Ngọc Hòa có đặc điểm nhiệt đới gió mùa, với sự phân chia rõ ràng giữa mùa nóng và mùa lạnh Khu vực này trải qua hai mùa chính: mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10 và mùa đông từ tháng 11 đến tháng 3 Tuy nhiên, Ngọc Hòa vẫn tận hưởng thời tiết bốn mùa nhờ vào các tháng giao mùa Mùa nóng kéo dài từ giữa tháng 4 đến giữa tháng 9, với thời tiết nóng ẩm ở đầu và cuối mùa mưa, sau đó trở nên mát mẻ và khô ráo vào tháng 10 Mùa lạnh bắt đầu từ giữa tháng 11 và kéo dài đến hết tháng 3 năm sau.
Từ tháng 1 đến tháng 3, Hà Nội trải qua thời tiết lạnh và hanh khô, với những đợt mưa phùn kéo dài Cuối tháng 9 đến tháng 11 là thời gian Hà Nội đón nhận những ngày thu mát mẻ, rõ nét hơn so với Hải Phòng, Nam Định và nhiều tỉnh phía Bắc khác, nhờ vào sự ảnh hưởng của những đợt không khí lạnh yếu Tuy nhiên, thời gian bắt đầu và kết thúc của mỗi mùa ở Hà Nội bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi gió mùa.
16 thường không đồng đều nhau giữa các năm, nên sự phân chia các tháng chỉ mang tính tương đối
Mùa đông có nhiệt độ trung bình là 16,5 °C, với mức thấp nhất đạt 2,7 °C Trong khi đó, mùa hè có nhiệt độ trung bình 29,5 °C, có thể lên đến 43,7 °C Nhiệt độ trung bình cả năm là 23 °C, và lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.800mm đến 2.000mm.
Điều kiện thủy văn tại xã rất thuận lợi với hệ thống kênh mương, ao, và đầm phong phú, đảm bảo cung cấp đủ nước cho sản xuất nông nghiệp.
Chế độ thủy văn khá tuận lợi nhìn chung là chủ động đƣợc, ít phụ thuộc vào chế độ mƣa
Về nguồn nước ngầm: đã được các hộ trong xã sử dụng tương đối tốt, chất lƣợng hiện nay đảm bảo nhƣng về lâu dài vẫn cần phải chú ý
Thảm thực vật tại xã có sự đa dạng đáng kể, với cơ cấu cây trồng nông nghiệp chủ yếu bao gồm lúa, khoai lang, sắn, lạc đậu và nhiều loại rau khác nhau.
4.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội
Trong những năm qua, xã đã có sự phát triển kinh tế tích cực với tốc độ tăng trưởng liên tục Năm 2015, tốc độ tăng trưởng kinh tế đạt 15%, đồng thời thu nhập bình quân đầu người cũng đạt 23 triệu đồng.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng:
Hệ thống mạng lưới giao thông chủ yếu là đường dân sinh, bao gồm quốc lộ 6A và tỉnh lộ 419 Sự hình thành các tuyến đường này xuất phát từ nhu cầu sinh hoạt và sản xuất, diễn ra một cách tự phát mà không có quy hoạch lâu dài Sau nhiều năm sử dụng, chính quyền xã và người dân đã cứng hóa hầu hết các con đường chính, cải thiện đáng kể điều kiện giao thông trong khu vực.
Mạng lưới đường bộ trong xã được phân bố đồng đều, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông nội bộ và kết nối với các xã lân cận Hiện tại, hơn 90% hệ thống đường bộ đã được bê tông hóa.
17 các tuyến đường đã được cứng hóa đã đảm bảo cho xe cơ giới, xe thô sơ đi lại thuận tiện
Hệ thống trạm bơm của xã bao gồm 6 trạm với tổng công suất 9600m3/h, cụ thể là trạm thôn Ngọc Gỉa, trạm Mạ Sổ, trạm Cửu Khê, trạm Đìa Bệt, trạm thôn Cầu và trạm thôn Non Nông.
Hệ thống kênh mương tại xã bao gồm 2 kênh chính với tổng chiều dài gần 5 km và 17,83 km kênh mương nội đồng, phục vụ cho hơn 70% diện tích đất nông nghiệp trong khu vực.
Hiện tại các kênh chất lượng còn kém, chưa được đầu tư cải tạo thường xuyên dễ bị sat lở, bồi lắng, dò rỉ gây thất thoát nước lớn
Hệ thống thủy lợi của xã Ngọc Hòa đã trải qua những cải cách đáng kể, góp phần thúc đẩy sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa đa dạng.
- Mạng lưới điện, bưu chính viễn thông
Hệ thống điện tại xã Ngọc Hòa được cung cấp qua trạm biến áp 110KV Ngọc Hòa, với 5 trạm hạ áp gồm TBA thông Chúc Lý, TBA thôn Ngọc Gỉa, TBA thôn Cầu, TBA thôn Cả, và TBA thôn Non Nông Mặc dù hoạt động tốt, nhưng hệ thống hiện tại chưa đủ để đáp ứng nhu cầu sản xuất ngày càng tăng Do đó, cần xây dựng thêm trạm điện trong tương lai để phục vụ tốt hơn cho hoạt động sản xuất.
Hệ thống đường điện hiện tại đang hoạt động hiệu quả, nhưng với nhu cầu điện năng ngày càng tăng để phục vụ cho quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa, việc nâng cấp hệ thống đường điện trong tương lai là cần thiết.
Xã hiện có một bưu điện văn hóa xã nằm ở khu UBND xã có thể liên lạc tốt, đây là điểm trao đổi thông tin sách báo của xã
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG ĐẤT Ở XÃ NGỌC HÒA
4.2.1 Tình hình dồn điền đổi thửa tại xã Ngọc Hòa
Thực hiện Nghị quyết của Ban thường vụ huyện Chương Mỹ về lãnh đạo phát triển kinh tế Nông nghiệp trong đó có việc dồn điền đổi thửa
Theo Nghị quyết của Đảng ủy xã Ngọc Hòa và sau khi có Nghị quyết từ Ban Thường vụ Huyện ủy, UBND xã đã thực hiện việc chuyển đổi ô thửa từ năm 1997-1998 Trước khi chuyển đổi, mỗi hộ gia đình trung bình sở hữu từ 6 đến 9 thửa ruộng Sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, các hộ tại khu vực Chúc Lý, Ngọc Gỉa còn lại từ 4 đến 6 thửa, trong khi khu vực Non Nông, Cầu, Cả có trung bình từ 1 đến 4 thửa, bao gồm cả đám mạ chuyên và đất 5%.
Kết quả việc dồn điền đổi thửa năm 1997-1998 được thể hiện dưới bảng:
Bảng 4.1: Kết quả việc dồn điền đổi thửa năm 1997-1998
TT Tên thôn Số hộ Số khẩu Số DT khẩu CB
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa,2013 4.2.1.2 Giai đoạn 2012-2013
Thực hiện Nghị quyết của Ban thường vụ huyện Chương Mỹ về lãnh đạo phát triển kinh tế Nông nghiệp trong đó có việc dồn điền đổi thửa
Thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy xã Ngọc Hòa, UBND xã đã tiến hành chuyển đổi ô thửa vào năm 1997 – 1998 sau khi nhận được Nghị quyết từ Ban Thường vụ Huyện ủy Trước khi thực hiện chuyển đổi, mỗi hộ dân tại khu vực Chúc Lý và Ngọc Giả đã được thông báo và hướng dẫn cụ thể.
Trong khu vực Non Nông, Cầu, Cả, mỗi hộ gia đình có từ 4 đến 6 thửa đất, với bình quân từ 1 đến 4 thửa (bao gồm cả đám mạ chuyên và đất 5%) Sau quá trình dồn điền đổi thửa, trung bình mỗi hộ đã có 2 thửa đất Kết quả của việc dồn điền đổi thửa trong năm 2012-2013 được thể hiện rõ qua bảng số liệu.
Bảng 4.2: Kết quả việc dồn điền đổi thửa năm 2012-2013
TT Tên thôn Tổng diện tích đất thực hiện DĐĐT(m 2 )
BQ thửa / hộ sau DĐĐT
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa,2013
4.2.2 Hiện trạng sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa tại xã Ngọc Hòa
4.2.2.1 Hiện trạng sử dụng đất năm 2015 (bao gồm đánh giá hiện trạng)
Tính đến ngày 31/12/2015, xã Ngọc Hòa có tổng diện tích tự nhiên là 564,59 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 59,48% với 335,84 ha, và đất phi nông nghiệp chiếm 32,49% với 183,46 ha.
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Ngọc Hòa (2015)
TT Loại đất Mã Diện tích Tỷ lệ (%)
Tổng DT đất tự nhiên 564,59 100 Đất NN NNP 335,84 59,48
2 Đất trồng cây hàng năm còn lại HNK 0,33 0,06
3 Đất trồng cây lâu năm CLN 8,15 1,44
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa
- Đất sản xuất nông nghiệp
Diện tích sản xuất nông nghiệp của xã là 335,84 ha, chiếm 59,48% tổng diện tích đất nông nghiệp toàn xã Trong đó, đất trồng cây hằng năm chiếm tỷ lệ lớn nhất với 48,43%.
Đất nuôi trồng thủy sản tại Việt Nam có tổng diện tích 23,75 ha, chiếm 4,20% tổng diện tích đất nông nghiệp Trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, các loại cá nước ngọt phổ biến được nuôi bao gồm cá trắm cỏ, cá rô phi, cá mè và cá chép.
Diện tích đất nông nghiệp khác chiếm 5,41% tổng diện tích đất nông nghiệp, với 30,53 ha chủ yếu sử dụng cho các lán, trại và chuồng trại chăn nuôi của người dân trong xã Khu vực này phục vụ việc tích trữ nông sản và nuôi thả vật nuôi tại các khu đồng xa.
Bảng 4.4: Biến động diện tích nông nghiệp năm 2015 so với 2014
TT Mục đích sử dụng Mã
Tổng diện tích đất của ĐVHC 564,59 564,59 0 Đất nông nghiệp NNP 335,84 381,28 -45,44
1.2 Đất trồng cây hàng năm còn lại
1.3 Đất trồng cây lâu năm CLN 8,15 8,15 0
1.4 Đất nuôi trồng thủy sản NTS 23,75 24,13 -0,38
1.5 Đất nông nghiệp khác NKH 30,53 30,53 0
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa
Từ năm 2014 đến 2015, diện tích đất nông nghiệp có xu hướng giảm nhẹ do mật độ dân số tăng cao, dẫn đến nhu cầu về nhà ở và các công trình công cộng gia tăng Kết quả là một phần diện tích đất nông nghiệp đã được chuyển đổi sang mục đích sử dụng phi nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu sống của người dân trong xã.
4.2.2.2 Các trang trại tổng hợp
Sau quá trình dồn điền đổi thửa từ năm 2012 đến 2013, đến cuối năm 2018, xã Ngọc Hòa đã phát triển 31 trang trại với tổng diện tích lên tới 166.809m² Danh sách các cá nhân và tổ chức sở hữu các trang trại này được ghi chép chi tiết trong số liệu gốc.
Bảng 4.5: Biểu thống kê mục đích sản xuất trang trại trên địa bàn xã
TT Xứ đồng Số lƣợng hộ
Trồng cây lâu năm Lúa – cá – chăn nuôi
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa
Tất cả các trang trại có mô hình tổng hợp tại xã Ngọc Hòa đều tọa lạc trong xứ đồng Mạ Sổ, đạt tỷ lệ 100% Trong khi đó, các trang trại trồng cây lâu năm lại nằm ở xứ đồng Đồng Hóp.
Trong 31 trang trại trên địa bàn xã có:
- 6 trang trại tổng hợp với diện tích 14.320m 2 chiếm 8,6% tổng diện tích đất làm trang trại toàn xã
- 24 trang trại trồng cây lâu năm với diện tích 7.382 m 2 chiếm 4% tổng diện tích đất làm trang trại toàn xã
- 1 dự án Lúa – Cá – Chăn nuôi của HTX NN với diện tích 166.809m 2 chiếm 87,4% tổng diện tích đất làm trang trại toàn xã
Số liệu thống kê diện tích đất làm trang trại đƣợc thống kê trong bảng 4.5 nhƣ sau:
Bảng 4.6: Tỷ lệ cơ cấu sử dụng đất của các trang trại
Mục Đích Diện tích (m 2 ) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa 4.2.2.3 Thực trạng giao ruộng cho nông dân
Thực hiện quyết định số 205/QĐ – UBND ngày 03/08/1992 của UBND tỉnh
Hà Tây thực hiện Nghị định số 64/1993/NĐ-CP của Chính phủ, giao ruộng ổn định lâu dài cho nông dân UBND xã Ngọc Hòa đã tiến hành giao ruộng theo nguyên tắc phân chia hợp lý, bao gồm cả các yếu tố tốt, xấu, xa, gần và dựa trên số nhân khẩu hiện có tính đến thời điểm 15/10/1993 Tổng số khẩu được chia ruộng là 5858,85 khẩu, đảm bảo ổn định diện tích theo các thôn.
Bình quân số thửa đất sản xuất nông nghiệp mỗi hộ nhận đƣợc sau khi chia đƣợc thể hiện hiện trong bảng:
Bảng 4.7: Hiện trạng các loại đất nông nghiệp trên địa bàn xã
DT đất giao ổn định theo Nghị định
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa,2013
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ĐẤT NÔNG NGHIỆP SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA CỦA CÁC TRANG TRẠI TỔNG HỢP TẠI XÃ NGỌC HÒA
Sau dồn điền đổi thửa 2012-2013, toàn xã Ngọc Hòa có 6 trang trại tổng hợp với tổng diện tích là 14.320 m 2 tập trung ở khu Mạ Sổ thôn Chúc Lý Trong
6 trang trại tổng hợp đó thì:
- Trang trại của ông Trần Xuân Qúy với diện tích 4.760m 2 chiếm 33,24% diện tích đất trang trại tổng hợp
- Trang trại của ông Lê Tuấn Thêm với diện tích 3051m2 chiếm 21,31% diện tích đất trang trại tổng hợp
- Trang trại của bà Trịnh Thị Qúy với diện tích 2425m 2 chiếm 16,93% diện tích đất trang trại tổng hợp
- Trang trại của ông Trịnh Duy Phịch với diện tích 1174m 2 chiếm 8,20% diện tích đất trang trại tổng hợp
- Trang trại của ông Lê Tuấn Mai với diện tích 1455m 2 chiếm 10,16% diện tích đất trang trại tổng hợp
- Trang trại của ông Lê Tuấn Mai với diện tích 1455m 2 chiếm 10,16% diện tích đất trang trại tổng hợp
Tất cả số liệu vừa trình bày ở trên được thể hiện dưới bảng 9:
Bảng 4.8: Diện tích và tỷ lệ của các trang trại tổng hợp trên địa bàn xã Ngọc Hòa năm 2018
TT Tên chủ trang trại Diện tích (m 2 ) Tỷ lệ (%)
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa trong giai đoạn 2012-2013, mỗi hộ nông dân tại xã Ngọc Hòa chỉ còn sở hữu 2 thửa ruộng lớn Nhiều hộ đã chủ động đề xuất hợp nhất các thửa đất xa khu dân cư để chuyển đổi sang mô hình trang trại tổng hợp Đặc biệt, một số hộ dân mong muốn mở rộng diện tích sản xuất đã mua hoặc thuê thêm quyền sử dụng đất từ các hộ xung quanh Kết quả là, đã hình thành những trang trại lớn với tỷ lệ diện tích đất ban đầu so với diện tích sau khi thuê được thể hiện rõ trong bảng 10.
Bảng 4.9: Diện tích ban đầu, diện tích thuê mƣợn và tỷ lệ diện tích của các trang trại tổng hợp
TT Tên của chủ trang trại Tổng
DT sau DĐĐT Tỷ lệ
DT thuê, mƣợn, đấu thầu
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Sau khi thực hiện dồn điền đổi thửa, tổng diện tích của các trang trại tổng hợp tại xã đạt 14.320 m² Trong đó, diện tích ban đầu của các trang trại là 7.199 m², chiếm tỷ lệ 50%.
Diện tích thuê, mượn, đấu thầu của các trang trại sau khi dồn điền đổi thửa chiếm 7.121 m², tương đương 50% tổng diện tích Khoảng 60-70% các trang trại trong xã có diện tích này, trong khi đó, 30-40% các trang trại không tham gia vào việc thuê, mượn, đấu thầu thêm diện tích.
Trang trại tổng hợp là mô hình kết hợp giữa chăn nuôi và trồng cây ăn quả, thường có diện tích lớn Để quản lý và hoạt động hiệu quả, các trang trại này cần xây dựng nhà bảo vệ và nhà kho Danh sách và diện tích các hạng mục công trình của các trang trại được thể hiện trong bảng 11.
Bảng 4.10: Hạng mục và diện tích các hạng mục của các trang trại tổng hợp
Số hộ Diện tích (m 2 ) Tỷ lệ
Kho 4 140 0,97 Đường đi, trồng cây 6 7.020 49,02
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Trong 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã thì tất cả 6 trang trại tổng hợp đều xây dựng chuồng trại chăn nuôi, diện tích chuồng trại chăn nuôi của 6 trang trại tổng hợp là 1.880 m2 chiếm tỷ lệ 13,13%
Trong 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã thì có 3 trang trại tổng hợp đào ao thả cá, diện tích ao nuôi của 3 trang trại tổng hợp đó là 5.020 m2 chiếm tỷ lệ 35,06%
Trong 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã thì tất cả 6 trang trại tổng hợp đều xây dựng nhà bảo vệ, diện tích nhà bảo vệ của 6 trang trại tổng hợp là 260 m2 chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 1,82%
Trong 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã thì có 4 trang trại tổng hợp xây dựng nhà kho, diện nhà kho của 4 trang trại tổng hợp là 140 m2 chiếm tỷ lệ rất nhỏ là 0,97%
Trong 6 trang trại tổng hợp trên địa bàn xã thì tất cả 6 trang trại tổng hợp đều xây dựng đường đi và trồng cây, diện tích đường đi và trồng cây của 6 trang trại tổng hợp là 7.020 m2 chiếm tỷ lệ 49,02%
Hầu hết các trang trại tổng hợp tại xã đều sử dụng lao động từ con em trong gia đình Tuy nhiên, chỉ có ba trang trại của ông bà Lê Tuấn Thêm, Trịnh Thị Qúy và Trần Xuân Qúy là có thuê lao động bên ngoài.
Trong năm 2018, tổng số tiền công mà ba trang trại phải trả cho người lao động là 240 triệu đồng, với mức lương 60 triệu đồng/người/năm Mặc dù quy mô sản xuất của các trang trại không thể tạo ra nhiều việc làm, nhưng vẫn giúp một số lao động có thu nhập ổn định từ 4,5 đến 5 triệu đồng/tháng Kết quả điều tra cho thấy tổng chi phí tiền lương của các trang trại được thể hiện trong bảng 4.11.
Bảng 4.11: Số lao động thuê và tiền công năm 2018 của các trang trại
TT Tên Số lao động thuê
Tổng tiền công (triệu đồng)
Nguồn: Tổng hợp từ phiếu điều tra
Trang trại của ông Lê Tuấn Thêm không chỉ sử dụng lao động trong gia đình mà còn thuê thêm một lao động bên ngoài Trong năm 2018, tổng chi phí tiền công mà trang trại của ông Thêm phải trả lên tới 60 triệu đồng.
Trang trại của bà Trịnh Thị Qúy không chỉ dựa vào lao động của gia đình mà còn thuê thêm một lao động bên ngoài Trong năm 2018, số tiền công mà trang trại phải trả cho lao động bên ngoài này là 60 triệu đồng.
Trang trại của ông Trịnh Duy Phịch không thuê lao động bên ngoài, chỉ sử dụng sức lao động của gia đình, vì vậy số tiền công mà trang trại phải chi trong năm 2018 là 0 triệu đồng.
Trang trại của ông Lê Tuấn Mai chỉ sử dụng lao động trong gia đình và không thuê thêm lao động bên ngoài, do đó, chi phí tiền công của trang trại trong năm 2018 là 0 triệu đồng.
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG ĐẤT XÃ NGỌC HÒA
4.4.1 Tỷ trọng diện tích đất nông nghiệp
Theo số liệu thống kê, kiểm kê tính đến thời điểm 31/12/2015, tổng diện tích tự nhiên của xã Ngọc Hòa là: 564,59 ha, trong đó:
Tỷ trọng diện tích đất nông nghiệp hiện đạt khoảng 335,84 ha, chiếm 59,48% tổng diện tích tự nhiên Tuy nhiên, diện tích này đang có nguy cơ giảm do chuyển đổi sang đất phi nông nghiệp để đáp ứng nhu cầu chỗ ở của người dân.
Diện tích đất phi nông nghiệp có tỷ trọng thấp khoảng 183,46 ha, chiếm 32,49% tổng diện tích tự nhiên
Diện tích đất ở tại nông thôn chiếm tỷ trọng rất thấp khoảng 31,69 ha, hiếm khoảng 5,61% diện tích đất tự nhiên
Diện tích đất chƣa sử dụng cũng chiếm tỷ trọng rất thấp khoảng 13,6 ha, chiếm 2,40% diện tích đất tự nhiên
4.4.2 Cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp
Cơ cấu sử dụng đất tại xã Ngọc Hòa chủ yếu tập trung vào nông nghiệp, với đất sản xuất nông nghiệp chiếm 59,48%, đất nuôi trồng thủy sản chiếm 4,21%, và đất nông nghiệp khác chiếm 5,41% tổng diện tích đất nông nghiệp của toàn xã.
4.4.3 Tỷ lệ sử dụng đất
Đất đai trên toàn xã đã được khai thác một cách triệt để, với diện tích đất chưa sử dụng rất hạn chế, chủ yếu là những vùng đất cằn cỗi và có hiệu quả sản xuất thấp.
4.4.4 Loại hình sử dụng đất và kiểu sử dụng đất
Xã Ngọc Hòa có 3 loại hình sử dụng đất với 13 kiểu sử dụng khác nhau Các loại hình và kiểu sử dụng đất được phân bổ hợp lý trên tổng diện tích đất của xã Cụ thể, đất nông nghiệp chiếm 59,48% tổng diện tích tự nhiên, với 5 kiểu sử dụng và tổng diện tích là 335,84 ha.
- Đất trồng cây hàng năm chiếm 0,06%
- Đất trồng cây lâu năm chiếm 1,44%
- Đất nuôi trồng thủy sản chiếm 4,22%
- Đất nông nghiệp khác chiếm 5,41% Đất phi nông nghiệp: Gồm 7 kiểu sử dụng đất với tổng diện tích là 183,46 ha, chiếm 32,49% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó:
- Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp chiếm 0,06%
- Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh chiếm 3,69%
- Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ chiếm 11,02%
- Đất di tích, danh thắng chiếm 0,23%
- Đất nghĩa trang, nghĩa địa chiếm 1,56%
- Đất phát triển hạ tầng chiếm 11,75% Đất ở tại nông thôn: với diện tích là 31,69 ha, chiếm tỷ lệ 5,61% tổng diện tích đất tự nhiên
Bảng 4.16: Hiện trạng sử dụng đất trên địa bàn xã
Hiện trạng sử dụng đất Diện tích
1.2 Đất trồng cây hàng năm
1.3 Đất trồng cây lâu năm
1.4 Đất nuôi trồng thủy sản
2.1 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp 0,31 0,06
2.2 Đất cơ sở sản xuất, kinh doanh
2.3 Đất sản xuất vật liệu xây dựng, gốm sứ 57,23 11,02
2.4 Đất di tích, danh thắng
2.5 Đất nghĩa trang nghĩa địa
2.7 Đất phát triển hạ tầng
Nguồn: Uỷ ban nhân dân xã Ngọc Hòa
4.4.5 Đánh giá hiệu quả môi trường
Việc sử dụng đất không chỉ mang lại hiệu quả kinh tế và xã hội mà còn cần chú trọng đến tác động môi trường Đánh giá tính bền vững về môi trường của các loại hình sử dụng đất là điều thiết yếu.
4.5 MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH TẾ TRANG TRẠI TỔNG HỢP TRÊN ĐỊA BÀN XÃ SAU DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
4.5.1 Giải pháp về thị trường tiêu thụ nông sản
Thị trường tiêu thụ nông sản là yếu tố quyết định trong sản xuất nông nghiệp, đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự phát triển của ngành Việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất mà còn là khâu then chốt trong việc phát triển nông nghiệp hàng hóa Tại huyện Thuận Thành, thị trường nông sản có tiềm năng lớn nhờ vị trí địa lý thuận lợi gần các tỉnh, thành phố lớn như Hà Nội, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Giang Để mở rộng thị trường tiêu thụ, cần hình thành các tổ chức hợp tác tiêu thụ, thu gom nông sản thành khối lớn, và phát triển các trung tâm thương mại tại các khu vực trọng điểm Điều này sẽ tạo điều kiện cho nông dân có nhiều kênh tiêu thụ, đặc biệt là với các sản phẩm theo mùa như rau, củ, quả Bên cạnh đó, việc cung cấp thông tin thị trường và dự báo tương lai là cần thiết để khuyến khích người dân đầu tư vào sản xuất nông nghiệp hiệu quả.
Vốn đóng vai trò quan trọng trong quy mô và hiệu quả sản xuất nông nghiệp Ngành này có đặc điểm sản xuất thời vụ, vì vậy việc đầu tư đúng mức và đúng thời điểm cho cây trồng sẽ mang lại hiệu quả cao Ngược lại, nếu không được đầu tư hợp lý, hiệu quả sản xuất sẽ bị giảm sút.
Vốn đóng vai trò quan trọng trong phát triển sản xuất, đặc biệt khi nông nghiệp chuyển sang sản xuất hàng hóa, dẫn đến nhu cầu vốn đầu tư tăng cao Hiện tại, giá cả đầu vào cho sản xuất nông nghiệp đang gia tăng, tạo ra thách thức cho các nhà sản xuất.
Khi nông dân bước sang tuổi 35, nhu cầu về vốn để phát triển sản xuất trở nên rất cấp thiết Việc giải quyết vấn đề đầu tư vốn cho nông dân là điều kiện tiên quyết để xây dựng nền sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa.
Hiện nay, các hộ nông dân có thể vay vốn từ nhiều chi nhánh ngân hàng trên địa bàn huyện để đầu tư sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, cần tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các hộ nghèo trong việc tiếp cận nguồn vốn này Do đó, cần triển khai một số giải pháp cụ thể để hỗ trợ các hộ sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là những hộ có hoàn cảnh khó khăn.
- Nhanh chóng hoàn thiện hồ sơ địa chính và cấp cho Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình
Để phát triển kinh tế nông thôn bền vững, cần đa dạng hóa các hình thức tín dụng và huy động vốn nhàn rỗi từ cộng đồng dân cư Việc khuyến khích phát triển quỹ tín dụng trong nhân dân sẽ giúp hạn chế tình trạng cho vay nặng lãi, từ đó tạo ra môi trường tài chính lành mạnh hơn cho người dân.
Hỗ trợ các hộ vay vốn để mở rộng sản xuất với mức vay và thời gian linh hoạt, phù hợp với quy mô từng loại hình sản xuất, đồng thời cho phép thế chấp tài sản hình thành từ vốn vay Cung cấp chế độ ưu đãi cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất hàng hóa nhằm tạo việc làm tại nông thôn.
Khuyến khích đầu tư từ mọi thành phần kinh tế trong và ngoài nước vào các lĩnh vực như sản xuất giống cây trồng, vật nuôi, công nghiệp chế biến, thương mại, dịch vụ và phát triển ngành nghề truyền thống Chính phủ sẽ áp dụng các chính sách ưu đãi về đất đai, giá thuê, thuế thu nhập doanh nghiệp và tín dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư.
4.5.3 Hoàn thiện hệ thống chính sách tác động đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Để phát triển nông nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, nâng cao giá trị thu nhập, vấn đề quy hoạch vùng sản xuất hàng hóa là nhu cầu bức xúc hiện nay mà huyện cần tiến hành xây dựng Vùng sản xuất hàng hóa tập trung có thể xây dựng dưới dạng: vùng chuyên canh, vùng đa canh hoặc kết hợp chuyên canh một loại cây trồng chủ lực với đa canh nhiều loại cây trồng khác Trên cơ sở đặc điểm kinh tế, đất đai, các xã chủ động xây dựng vùng sản xuất hàng hóa cho phù hợp với tình hình thực tiễn, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng nhu cầu của thị trường Cần xây dựng vùng sản xuất hàng hóa ổn định, phải giải
Để nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản, cần đồng bộ hóa các yếu tố như thị trường đầu vào và đầu ra, vốn đầu tư, cơ sở hạ tầng, đào tạo kỹ thuật, cơ giới hóa, và áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất Đồng thời, việc xây dựng thương hiệu cho từng loại sản phẩm cũng rất quan trọng.