1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy hoạch rà soát chuyển đổi đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất cho thị xã phúc yên tỉnh vĩnh phúc từ năm 2018

84 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quy hoạch rà soát chuyển đổi đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất cho thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2018
Tác giả Trương Văn Khôi
Người hướng dẫn ThS. Lê Tuấn Anh
Trường học Đại học Lâm nghiệp Việt Nam
Thể loại khóa luận
Năm xuất bản 2018
Thành phố Phúc Yên
Định dạng
Số trang 84
Dung lượng 887,15 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU (9)
    • 1.1. Trên thế giới (9)
      • 1.1.1. Vấn đề phân chia và phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn (9)
    • 1.2. Ở Việt Nam (12)
      • 1.2.1. Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ (12)
      • 1.2.2. Phân chia rừng sản xuất (18)
  • Chương 2 MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (24)
    • 2.1. Mục tiêu nghiên cứu (24)
      • 2.1.1. Mục tiêu tổng quát (24)
      • 2.1.2. Mục tiêu cụ thể (24)
    • 2.2. Nội dung nghiên cứu (24)
      • 2.2.1. Điều tra, phân tích điều kiện cơ bản của thị xã Phúc Yên (24)
      • 2.2.2. Thực trạng quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp (24)
      • 2.2.3. Quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang diện tích đất rừng sản xuất (24)
    • 2.3. Phương pháp nghiên cứu (24)
      • 2.3.1. Phương pháp thu thập số liệu (24)
      • 2.3.2. Phương pháp xử lý số liệu (28)
  • Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (29)
    • 3.1. Điều kiện cơ bản của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc (29)
      • 3.1.1. Điều kiện tự nhiên (29)
      • 3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội (34)
    • 3.2. Thực trạng quản lý rừng và đất lâm nghiệp (43)
      • 3.2.1. Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch 3 loại rừng (43)
      • 3.2.2. Hiện trạng đất rừng phòng hộ năm 2016 (45)
      • 3.2.3. Hiện trạng đất rừng sản xuất năm 2016 (47)
      • 3.2.4. Đánh giá công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch ba loại rừng (48)
    • 3.3. Quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng PH ít xung yếu sang rừng SX (50)
      • 3.3.1. Những cơ sở lập phương án quy hoạch (50)
      • 3.3.2. Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ (53)
      • 3.3.3. Phương án quy hoạch rà soát chuyển đổi một phần diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất (54)
      • 3.3.4. Đề xuất một số giải pháp thực hiện phương án quy hoạch rà soát, chuyển đổi rừng trên địa bàn thị xã Phúc Yên (65)
    • 1. Kết luận (72)
    • 2. Tồn tại (72)
    • 3. Khuyến nghị .................................................................................................... 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO (73)
  • PHỤ LỤC (76)

Nội dung

TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trên thế giới

1.1.1 Vấn đề phân chia và phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn

Công tác phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn đã được quan tâm từ lâu, bắt đầu với các nghiên cứu về xói mòn đất Những nghiên cứu này đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về sự tác động của rừng phòng hộ đối với môi trường và bảo vệ nguồn nước.

- Wischmeier W.H và Smith D.D (1978) khi nghiên cứu về lƣợng đất mất do mưa đã xây dựng được phương trình dự báo lượng đất xói mòn như sau:

A = 2,47.R.K.LS.C.P Trong đó: A = Lƣợng đất xói mòn (tấn/ha/năm)

2,47 = hệ số chuyển đổi từ acre sang hecta

R = hệ số xói mòn do mƣa

K = hệ số xói mòn đất

LS = nhân tố địa hình

C = hệ sô thảm thực vật

P = hệ số bảo vệ đất

Hệ số xói mòn do mưa (R) cho thấy rằng lượng mưa trung bình hàng năm càng cao thì mức độ xói mòn đất càng lớn, dẫn đến hiện tượng xói mòn đất diễn ra mạnh mẽ hơn.

Hệ số xói mòn đất (K) là chỉ số quan trọng xác định mức độ bền vững của các loại đất đối với xói mòn, với đất có hệ số K cao dễ bị xói mòn hơn so với đất có hệ số K thấp khi chịu cùng cường độ mưa K phụ thuộc vào bản chất của đất, bao gồm các yếu tố như thành phần cơ giới, kết cấu bền vững trong nước, khả năng thấm nước, hàm lượng chất hữu cơ, độ ẩm tự nhiên và độ xốp Hai tác giả đã phát triển một toán đồ để xác định hệ số xói mòn đất dựa trên hệ số K, với năm thông số cơ bản làm nền tảng cho việc đánh giá.

- Tỷ lệ % hạt bụi và hạt cát mịn có kích thước 0,05 - 0,1 mm;

- Tỷ lệ % hạt cát có kích thước 0,1 - 2,0 mm;

- Tỷ lệ % chất hữu cơ;

- Tỷ lệ % hạt phân tán và hạt kết bền trong nước;

- Tốc độ thấm nước của đất

Hệ số địa hình (LS) bao gồm độ dốc và chiều dài sườn dốc, trong đó chiều dài sườn dốc được xác định từ điểm bắt nguồn dòng chảy mặt đến điểm lắng đọng bùn cát hoặc điểm tiếp xúc với lòng dẫn Mối liên hệ chặt chẽ giữa độ dốc và chiều dài sườn dốc cho phép tính gộp hai hệ số này, tạo thành một chuyên đề duy nhất để đánh giá ảnh hưởng của chúng đến xói mòn đất.

Hệ số thực bì (C) đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và chống xói mòn Khả năng chống xói mòn của thực bì phụ thuộc vào nhiều yếu tố như độ che phủ, loài cây, tầng thứ, cấu tạo tán lá, vỏ cây và hệ rễ Hệ số C thể hiện ảnh hưởng của loại cây trồng và phương thức canh tác đến khả năng bảo vệ đất.

Hệ số bảo vệ đất (P) được đưa vào phương trình nhằm thể hiện tác động của các biện pháp chống xói mòn khác nhau trên sườn dốc.

P là tỷ số thể hiện lượng đất xói mòn trên ruộng trồng cây có áp dụng biện pháp chống xói mòn so với ruộng không thực hiện các biện pháp này.

P cao nhất = 1 khi trong điều kiện canh tác không áp dụng các biện pháp chống xói mòn đất, P < 1 khi thực hiện các biện pháp đó

- Vào cuối những năm 1980, ở Thái Lan sử dụng phương trình hồi quy toán học đa nhân tố để phân cấp phòng hộ, phương trình có dạng:

WSC = a + b X1 + cX2 + dX3 + eX4 + fX5 + gX6

Trong đó: - a,b,c,d,e,f và g là các hệ số của phương trình tương quan

- X1, X2, X3, X4, X5, X6 lần lƣợt là độ dốc, dạng đất, độ cao, địa hình, đất (tính chất của đất) và thảm thực vật rừng

Phương pháp raster chia đầu nguồn thành các ô vuông kích thước 1 km², trong đó các biến số được xem xét và gán giá trị từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/50.000 Dựa vào các giá trị này, trị số phân cấp đầu nguồn được tính toán Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là không xác định được vị trí địa lý chính xác và thiếu tính linh hoạt, không cho phép sử dụng riêng biệt từng lớp bản đồ của các biến số Kích thước ô 1 km² quá lớn khiến tính đồng nhất của các đơn vị đầu nguồn không cao.

Kết quả là 5 lớp của vùng đầu nguồn được xây dựng tại Thái Lan nhằm phát triển các dự án quản lý đất cho tài nguyên nước, lâm nghiệp và nông nghiệp, trải dài từ vùng cao xuống vùng thấp.

+ Lớp đầu nguồn 1: Rừng phòng hộ, bảo tồn và đầu nguồn nước

+ Lớp đầu nguồn 2: Rừng sản xuất

+ Lớp đầu nguồn 3: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất

+ Lớp đầu nguồn 4: Nông nghiệp vùng cao

+ Lớp đầu nguồn 5: Nông nghiệp vùng thấp

Năm 1989, dự án tại Lào và Việt Nam (Campuchia tham gia sau này) áp dụng phương pháp phân cấp đầu nguồn tương tự như Thái Lan, nhưng do thiếu tài liệu về đất, địa hình và thảm thực vật rừng, chỉ sử dụng 3 tiêu chí là độ dốc, dạng đất và độ cao để tính toán Phương pháp tính toán được thực hiện theo công thức tương tự như ở Thái Lan.

WSC = a + b*X1 + c*X2 + d*X3 Trong đó: - a, b, c, d là các tham số của phương trình

- X1, X2, X3 lần lƣợt là độ dốc, dạng đất và độ cao

Kết quả nghiên cứu tại Lào cho thấy các hệ số a= 1,709, b= -0,035, c= 0,163, d= -0,002 Sau hội thảo tháng 6 năm 1991, phương pháp raster, đặc biệt với kích thước 1 km2, đã bị chỉ trích, cho thấy cần cải tiến phương pháp và cách tiếp cận hiện tại Việc áp dụng kỹ thuật GIS và ảnh viễn thám, cùng với phương pháp vùng, đã được đưa vào trong quá trình tính toán.

Phương pháp này ưu việt vì thay thế các đơn vị đầu nguồn hình vuông bằng cách xác định và vẽ ranh giới các vùng có giá trị biến số đồng nhất trên bản đồ địa hình Các biến số như độ dốc, dạng đất và độ cao được phân chia thành nhiều cấp độ nhất định Việc phân loại này không chỉ giúp đáp ứng yêu cầu xây dựng bản đồ mà còn giảm thiểu khối lượng công việc cần thực hiện.

Độ dốc được phân chia thành 7 cấp độ, từ 1 đến 7, với cấp độ 1 là phẳng và cấp độ 7 là dốc trên 60% Các giá trị độ dốc này được nội suy dựa trên khoảng cách giữa hai đường đồng mức gần nhau trên bản đồ địa hình.

- Độ cao: đƣợc chia thành các cấp 100 m một (0 - 100 m, 100 - 200 m, ), với mỗi giá trị độ cao đƣợc gán cho các vùng trong cùng một cấp

Dạng đất được phân loại và gán giá trị từ 1 đến 21, với giá trị này được ước đoán dựa trên các đường đồng mức, hình dạng và mật độ giữa các đường này.

Khi các biến số đƣợc xác định cho một vùng và đƣa vào bản đồ, chúng phải đƣợc phối hợp bởi mô hình phân cấp nêu trên.

Ở Việt Nam

1.2.1 Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ

1.2.1.1 Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ đầu nguồn

Phương pháp phân cấp do Viện ĐTQHR đề xuất đã được áp dụng hiệu quả trong Chương trình 327 nhằm xây dựng lâm phận phòng hộ quốc gia và bổ sung các dự án liên quan Quá trình phân cấp xung yếu được thực hiện qua 3 bước chính, giúp tối ưu hóa quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.

- Bước 1: Đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng quan trọng và quyết định đến mức xung yếu thông qua mô hình định lƣợng:

DELTA H là chỉ số thể hiện độ chênh cao địa hình trong mỗi lưu vực cấp 3, được tính bằng hiệu số giữa độ cao tại điểm đang xem xét và độ cao thấp nhất trong lưu vực cấp 3.

- DOC là độ dốc trung bình của bề mặt địa hình tại điểm đang xét

- MUA là lƣợng mƣa trung bình năm (mm) tại điểm đang xét

Mô hình này được triển khai trên toàn lãnh thổ theo lưới ô vuông, với mỗi ô vuông có kích thước 50m x 50m (tương đương 1/4 ha) trên thực địa, và mỗi điểm đầu nguồn sẽ có giá trị PH1 tương ứng.

- Bước 2: Căn cứ vào các yếu tố bổ sung ngoài 3 yếu tố trên để chỉnh cấp cho mỗi yếu tố, ví dụ:

+ Nằm ở nhóm đất dễ xói mòn, tăng 1 cấp

+ Nằm ở vùng đất mỏng, tăng 1 cấp

- Bước 3: Phân tổ với cự ly thích hợp Các bước xử lý bao gồm:

+ Từ bản đồ địa hình tỷ lệ 1/ 50.000 với các lớp đồng mức chính, nội suy bản đồ độ cao 3 chiều, bản đồ độ dốc trung bình

Chồng bản đồ lưu vực cấp 3 tỷ lệ 1/50.000 với độ cao xâm thực cơ sở được kết hợp với bản đồ độ cao 3 chiều, tạo ra bản đồ 3 chiều thể hiện độ chênh cao tương đối.

+ Từ bản đồ đất 1/500.000, gộp nhóm đất tạo ra bản đồ 2 nhóm đất theo đặc tính chịu xói mòn và bản đồ 2 nhóm đất theo độ dày tầng đất

Bằng cách sử dụng ba loại bản đồ, bao gồm bản đồ 3 chiều thể hiện độ chênh cao tương đối, bản đồ độ dốc trung bình và bản đồ lượng mưa trung bình năm với tỷ lệ 1/1.000.000, chúng tôi đã áp dụng mô hình (1) để tạo ra bản đồ độ đo phòng hộ Y (ĐĐPH 1).

Bản đồ phân cấp phòng hộ 2 (PCPH2) được tạo ra từ bản đồ ĐĐPH1, phân tổ theo cự ly thích hợp Sau khi xếp tổ, Y sẽ nằm trong phạm vi của một số tổ nhất định, tùy thuộc vào cự ly tổ được lựa chọn.

Phương pháp phân cấp xung yếu đầu nguồn, được Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam phát triển và áp dụng, đã được GS.TSKH Nguyễn Ngọc Lung, cố PGS Vũ Đình Phương và GS.TS Nguyễn Xuân Quát triển khai vào đầu những năm 1990 Phương pháp này được sử dụng trong các nghiên cứu khả thi cho các lưu vực phòng hộ của sông và các nhà máy thủy lợi, thủy điện tại miền Nam Việt Nam, như Dầu Tiếng và Thác Mơ.

Phương pháp phân cấp cho điểm các nhân tố ảnh hưởng đến xói mòn đất và dòng chảy, với thang điểm từ 1 đến 10 hoặc hơn Các nhân tố tự nhiên có tác động đến mức xung yếu đầu nguồn bao gồm nhiều yếu tố khác nhau.

+ Lƣợng mƣa bình quân năm;

Khi xuất hiện nhân tố chủ đạo, thang điểm của nhân tố này sẽ được nhân với hệ số lớn hơn 1, tùy thuộc vào mức độ, có thể là 1,2; 2,0; Điểm đánh giá năng lực phòng hộ của các kiểu thảm thực vật là điểm âm (-) Rừng tự nhiên 3 tầng với độ tàn che > 0,7 sẽ đạt trị số tối đa, tương đương 100% điểm dương của tổng số điểm xung yếu tự nhiên cao nhất Các kiểu thảm thực vật khác sẽ có thang điểm âm tính bằng 90%, 80%, 70%, so với rừng 3 tầng Các bước phân cấp được thực hiện như sau:

- Bước 1: Chia vùng đầu nguồn thành mạng lưới các ô vuông diện tích 1 km X 1 km hoặc 0,5 km X 0,5 km gọi là đơn vị đầu nguồn

- Bước 2: Xem xét các nhân tố ảnh hưởng chính và xây dựng thang điểm cho từng nhân tố để đƣa vào đánh giá

Bước 3: Đánh giá từng nhân tố ảnh hưởng trên mỗi ô vuông bằng cách cho điểm, sau đó tính tổng điểm cho các nhân tố này Quy trình này cần được thực hiện cho tất cả các đơn vị đầu nguồn.

Dựa vào tổng số điểm thu được từ các ô vuông trong khu vực đầu nguồn, chúng ta sẽ phân chia thành 3 đến 5 cấp độ xung yếu khác nhau, thể hiện trên bản đồ bằng các màu sắc khác nhau Các vùng có điểm số cao sẽ được đánh giá có mức xung yếu cao hơn so với những vùng có điểm số thấp.

Phương pháp phân cấp xung yếu đầu nguồn do Uỷ ban sông Mê Kông áp dụng từ năm 1990 tại ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia bao gồm hai phương pháp chính: phương pháp raster và phương pháp vùng.

- Biện pháp phân cấp phòng hộ và phân chia 3 loại rừng các tiểu dự án

Phân cấp rừng phòng hộ dựa trên các tiêu chí như độ cao, lượng mưa và loại đất Độ cao và độ dốc được phân loại theo địa hình thành ba vùng: núi, đồi cao và đồi thấp Mỗi tiêu chí được chia thành ba cấp độ: rất nguy hại, nguy hại và ít nguy hại Bốn yếu tố này được chồng xếp trên bản đồ phân cấp rừng phòng hộ (PCPH), tạo ra ba cấp độ phân loại: rất xung yếu, xung yếu và ít xung yếu.

+ Về phân chia 3 loại rừng: căn cứ vào mục đích sử dụng chủ yếu: Rừng đặc dụng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất

Hoàng Sỹ Động (2002) đã nghiên cứu và phân cấp đầu nguồn vùng Buôn Hồ, tỉnh Đắk Lắk bằng cách sử dụng các nhân tố như độ dốc, độ cao, dạng đất, đất và địa chất (ký hiệu từ x1 đến x5) Ông áp dụng phương trình nguyên thủy của Ủy ban sông Mê Kông, đã được sử dụng tại ba nước Lào, Việt Nam và Campuchia, để đạt được kết quả đáng chú ý trong nghiên cứu này.

Phương trình được tính toán bằng phần mềm SPSS, lưới ô vương kích thước 50 X 50 m

Kết quả thu đƣợc là vùng phân bố của rừng Khộp vùng Buôn Hồ nằm trên các cấp là:

+ Cấp II Rừng sản xuất

+ Cấp III: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất

+ Cấp IV: Nông nghiệp vùng cao

Biện pháp kỹ thuật xác định lâm phận phòng hộ cấp tỉnh của Bộ NN&PTNT dựa trên bản tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ, tập trung vào diện tích đất lâm nghiệp, bao gồm cả đất có rừng và chưa có rừng Các tiêu chí được lựa chọn có ảnh hưởng lớn đến xói mòn đất và dòng chảy, bao gồm độ dốc, đai cao, lượng mưa và loại đất Những nhân tố này được đưa vào tính toán và chồng xếp, sau đó điều chỉnh ngoại nghiệp tại các vùng ven hồ, đập, sông, suối Điểm số được phân loại theo cấp độ của từng tiêu chí.

MỤC TIÊU - NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Mục tiêu nghiên cứu

Từ năm 2018, thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã tiến hành quy hoạch rà soát nhằm chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất Điều này nhằm thúc đẩy sản xuất và phát triển kinh tế địa phương.

- Rà soát, đánh giá đƣợc hiện trạng ba loại rừng trên địa bàn thị xã Phúc Yên - tỉnh Vĩnh Phúc

Quy hoạch chuyển đổi một phần diện tích rừng và đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang đất rừng sản xuất nhằm nâng cao hiệu quả kinh tế và sử dụng bền vững tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại thị xã Phúc Yên.

Nội dung nghiên cứu

2.2.1 Điều tra, phân tích điều kiện cơ bản của thị xã Phúc Yên

- Điều kiện kinh tế - xã hội

2.2.2 Thực trạng quản lý sử dụng rừng và đất lâm nghiệp

- Đánh giá hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch ba loại rừng

- Hiện trạng quản lý rừng và đất lâm nghiệp theo chủ quản lý

- Đánh giá công tác quy hoạch ba loại rừng trên địa bàn thị xã Phúc Yên

2.2.3 Quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang diện tích đất rừng sản xuất

Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Phương pháp kế thừa chọn lọc số liệu

Phương pháp kế thừa số liệu được sử dụng để thu thập những thông tin cơ bản về:

Khu vực nghiên cứu được đánh giá dựa trên các điều kiện tự nhiên và hiện trạng kinh tế - xã hội, tập trung vào các số liệu quan trọng như dân số, thành phần dân tộc, lao động, thu nhập bình quân, tình hình sản xuất ngành nông nghiệp, và cơ sở hạ tầng Những thông tin này cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển và tiềm năng kinh tế của khu vực.

Báo cáo và bản đồ quy hoạch ba loại rừng có hiệu lực, cùng với các tài liệu về hiện trạng sử dụng đất, hiện trạng rừng và kiểm kê rừng có độ chính xác cao, bao gồm bản đồ và số liệu phân cấp trong phòng dự kiến rà soát chuyển đổi đất, rừng Các tài liệu này bao gồm Bản đồ và số liệu Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc năm 2016 đã được phê duyệt, Bản đồ dự án kiểm kê đất đai 2015 của Sở Tài nguyên và Môi trường, và Bản đồ Điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đai đến năm 2020 cùng Kế hoạch sử dụng đất kỳ cuối (2016-2020) của tỉnh Vĩnh Phúc Ngoài ra, tài liệu cũng kế thừa và sử dụng các bản đồ khác liên quan mới nhất với độ tin cậy cao để phục vụ cho việc rà soát hiện trạng và dự kiến khu vực chuyển đổi ba loại rừng.

- Kế thừa các số liệu tổng quan từ các chương trình, dự án hội thảo và các văn bản pháp luật liên quan

- Các số liệu cần chính thống, cập nhật đầy đủ, chính xác theo yêu cầu của chủ đề nghiên cứu

2.3.1.2 Phương pháp điều tra ngoài thực địa a) Điều tra, rà soát khoanh vẽ lô trạng thái chuyển đổi: Sử dụng bản đồ dự kiến chuyển đổi đã in, dùng máy định vị GPS hoặc phương pháp khoanh lô theo dốc đối diện để khoanh ranh giới lô trạng thái thuộc khu vực dự kiến chuyển đổi và các lô liền kề lên bản đồ này Quan sát thực địa để nắm bắt tình hình chung về các nhân tố điều tra nhƣ trữ lƣợng, mật độ, chất lƣợng rừng để khoanh vẽ lô bổ sung vào bản đồ Diện tích lô khoanh vẽ tối thiểu là 0,5 ha, sử dụng hệ thống phân loại đất, loại rừng theo quy định tại Chương trình Tổng điều tra, kiểm rừng toàn quốc giai đoạn 2013-2016 Rà soát xác định lô trạng thái chuyển đổi cụ thể nhƣ sau:

Đối với các lô đất chưa có rừng, đất trồng cây nông nghiệp và rừng trồng, cần thực hiện quan sát thực địa và điều chỉnh hiện trạng trên bản đồ lô chuyển đổi nếu có sự sai khác Thông tin về trữ lượng rừng trồng sẽ được kế thừa từ tài liệu kiểm kê rừng.

Đối với lô rừng tự nhiên nghèo, cần sử dụng máy định vị GPS để tiếp cận, khoanh vẽ và đo đếm trữ lượng rừng Việc này nhằm xác định rõ trạng thái của lô rừng theo hướng dẫn tại Thông tư số 34/2009/TT-BNN-PTNT.

Khi thực địa, bên cạnh việc kiểm tra trạng thái lô chuyển đổi, cần chú ý đến các yếu tố liên quan khác trong lô để xác định xem lô đó có đủ tiêu chuẩn chuyển đổi sang quy hoạch rừng sản xuất hay không.

- Độ cao: Có độ cao bình quân đạt yêu cầu theo tiêu chí

- Độ dốc: Có độ dốc bình quân dưới 25 độ

- Thành phần cơ giới: Là đất thịt hoặc cát pha…

- Độ dày tầng đất: Trên 50 cm

- Là diện tích liền kề với rừng sản xuất; nơi thuận lợi để tổ chức sản xuất (gần đường giao thông, gần khu dân cư …)

Diện tích đất và rừng phòng hộ đầu nguồn cần chuyển đổi phải có quy mô tối thiểu là 50 ha, với ưu tiên xem xét chuyển đổi toàn bộ thửa đất nằm trong khu vực phòng hộ đầu nguồn.

Ranh giới các lô chuyển đổi cần được xác định rõ ràng giữa bản đồ và thực địa, nhằm đảm bảo công tác quản lý và sử dụng rừng sau khi chuyển đổi diễn ra thuận lợi.

Không được phép chuyển đổi diện tích ven bờ sông, suối chính, hồ, và đập thủy lợi, thủy điện; đồng thời, cũng không được chuyển đổi diện tích liền kề các công trình trọng điểm và đường giao thông miền núi, theo quy định tại Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN.

Trong quá trình rà soát chuyển đổi theo tiêu chí phát triển rừng sản xuất, nếu khu vực chuyển đổi có lô không đạt tiêu chí, vẫn cho phép chuyển đổi để tạo khu vực phòng hộ liên tục, đảm bảo ranh giới bền vững giữa phòng hộ và sản xuất, thuận lợi cho quản lý rừng sau chuyển đổi Các lô này cần được rà soát thông tin đầy đủ theo quy định.

Sử dụng bản đồ dự kiến vùng chuyển đổi trong phòng, thực hiện xác định sơ bộ trạng thái rừng tự nhiên nghèo kiệt theo phương pháp chuyên gia hoặc điều tra nhanh trữ lượng bằng thước bitterlich, chọn 3 điểm đại diện cho mỗi lô Những lô được xác định là rừng tự nhiên nghèo kiệt sẽ tiến hành lập ô đo đếm để đảm bảo độ chính xác và đúng đối tượng chuyển đổi theo tiêu chí quy định tại Thông tư số 34/2009/TT-BNN-PTNT.

- Đối tƣợng rừng tự nhiên nghèo kiệt đƣợc xác định theo tiêu chí tại Thông tƣ 23/2013/TT-BNNPTNT;

- Phương pháp đo đếm xác định trạng thái rừng nghèo kiệt:

Để xác định trữ lượng cho trạng thái rừng nghèo kiệt, cần lập ô đo đếm (ÔĐĐ) theo phương pháp rút mẫu điển hình, với tỷ lệ 2% diện tích rừng tự nhiên nghèo kiệt Đối với các lô chuyển đổi có diện tích trên 0,5 ha, phải lập 1 ÔĐĐ để xác định trữ lượng và cây tái sinh Các lô nhỏ hơn không đủ điều kiện lập ÔĐĐ sẽ được quan sát và sử dụng số liệu từ các lô đã thiết lập Mỗi ô đo đếm rừng gỗ và hỗn giao bao gồm 1 ÔĐĐ chính và 4 ÔĐĐ phụ ÔĐĐ chính có hình chữ nhật diện tích 1.000 m², có thể điều chỉnh kích thước tùy theo địa hình nhưng phải đảm bảo diện tích tối thiểu Trong mỗi ÔĐĐ chính sẽ được lập 4 ÔĐĐ phụ kích thước 5m x 5m tại các góc.

- Trong ÔĐĐ chính: Điều tra toàn bộ tầng cây cao ở rừng gỗ

Trong ô điều tra phụ tại rừng gỗ, tiến hành đo đếm số lượng cây tái sinh Đối với rừng hỗn giao, cần thực hiện việc đo đếm cây tái sinh cũng như số lượng cây tre nứa, bao gồm cả cây trong bụi và cây mọc phân tán.

Để xác định vị trí ÔĐĐ, cần sử dụng các công cụ định hướng như địa bàn cầm tay và thước dây kết hợp với cọc tiêu Ranh giới ÔĐĐ được xác định với chiều dài song song và chiều rộng vuông góc với đường đồng mức, trong đó các cạnh không song song cần được cải bằng Tại tâm ÔĐĐ, đóng cọc mốc bằng gỗ có kích thước dài 50 cm và đường kính 5 cm, hoặc có thể sử dụng thân cây gần đó, với số hiệu ô đo đếm được ghi bằng sơn đỏ và tọa độ được ghi vào phiếu điều tra Đường ranh giới các ô cần được phát quang rõ ràng, và ở bốn góc của ô đo đếm cần đóng cọc tiêu để phân biệt rõ ràng giữa trong và ngoài ô.

Thu thập số liệu trong ô đo đếm nhƣ sau: Xác định tên loài cây, xác định phẩm chất cây, đo chiều cao vút ngọn và tính trữ lƣợng

2.3.2 Phương pháp xử lý số liệu

- Phân tích số liệu, tổng hợp thống kê và so sánh

- Xử lý số liệu sử dụng phần mềm Ecxel

- Các phương pháp này được sử dụng một cách linh hoạt kết hợp hoặc riêng lẻ để giải quyết vấn đề một cách tốt nhất

Dữ liệu đã được tổng hợp và phân tích thông qua phương pháp thống kê mô tả để đánh giá tình hình quản lý và bảo vệ rừng trong khu vực.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Điều kiện cơ bản của thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh phúc

Đánh giá các điều kiện cơ bản là yếu tố quan trọng giúp nhà quy hoạch có cơ sở khoa học và thực tiễn để lựa chọn phương án quy hoạch phù hợp, đồng thời đưa ra các giải pháp thực hiện quy hoạch hiệu quả.

Thị xã Phúc Yên được tái thành lập vào ngày 9/12/2003 theo Nghị định số 153/2003/NĐ-CP của Chính phủ, đánh dấu sự hình thành của thị xã Phúc Yên và huyện Tam Đảo thuộc tỉnh Vĩnh Phúc, sau khi tách ra từ huyện Mê Linh.

- Phía Đông giáp thành phố Hà Nội;

- Phía Tây giáp huyện Bình Xuyên;

- Phía Nam giáp huyện Mê Linh (Hà Nội)

- Phía Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên

Thị xã Phúc Yên có vị trí giao thông thuận lợi với tuyến đường bộ Phúc Yên - Xuân Hoà kết nối với Thái Nguyên, nằm cạnh Quốc lộ 2 và có đường sắt Hà Nội – Lào Cai đi qua, trong đó ga Phúc Yên là một trong những ga chính quan trọng Ngoài ra, thị xã còn cách sân bay quốc tế Nội Bài chỉ 8 km.

Thị xã, được công nhận là đô thị loại III vào năm 2012, dự kiến nâng cấp lên đô thị loại II vào năm 2015 và loại I vào năm 2020, đóng vai trò là trung tâm công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ tổng hợp của tỉnh, đồng thời là một trong những trung tâm quan trọng của vùng.

Theo Nghị định số 39/2008/NĐ-CP ngày 4/4/2008 của Chính phủ, thị xã Phúc Yên thuộc tỉnh Vĩnh Phúc đã được điều chỉnh địa giới hành chính và hiện nay có 10 đơn vị hành chính, trong đó bao gồm 06 phường: Xuân Hoà, Đồng Xuân.

Trưng Trắc, Trưng Nhị, Hùng Vương, Phúc Thắng và 04 xã: Cao Minh, Nam Viêm, Tiền Châu, Ngọc Thanh

Thị xã Phúc Yên, nằm trong vùng trung du và giáp ranh với vùng núi cao của tỉnh Vĩnh Phúc, có địa hình đa dạng với tổng diện tích 12.029,55 ha, được chia thành hai vùng chính.

- Vùng đồi núi bán sơn địa gồm: các xã Ngọc Thanh, Cao Minh và các phường Xuân Hoà, Đồng Xuân với diện tích khoảng trên 9.650 ha;

- Vùng đồng bằng gồm: các phường Phúc Thắng, Hùng Vương, Trưng Trắc, Trƣng Nhị và xã Nam Viêm, Tiền Châu, có diện tích tự nhiên khoảng 2.350 ha

Thị xã sở hữu nhiều loại hình địa hình phong phú như đồng bằng, vùng núi và rừng, đặc biệt là hồ Đại Lải cùng với nhiều đầm, ao, hồ lớn nhỏ khác, tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các loại hình du lịch đa dạng.

Theo tài liệu điều tra của Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng, đất của thị xã chủ yếu là đất đồi núi, với các loại đất chính được xác định.

Đất Feralitic màu nâu vàng, phát triển trên nền phù sa cổ, thường có tính chua và cấu trúc viên tơi xốp Với thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, loại đất này rất thuận lợi cho việc trồng hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và cây lâm nghiệp.

Đất Feralitic màu vàng hoặc đỏ hình thành trên phiến thạch sét, là loại đất rừng có năng suất cao Loại đất này thích hợp cho việc phát triển cây ăn quả, cây công nghiệp và các loại đặc sản, đặc biệt ở những vùng đất dốc dưới 20 độ.

- Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám phát triển đá Macma chua Đất chua, tầng đất mặt mỏng, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp

Đất Feralitic vàng đỏ hoặc vàng xám hình thành trên nền đá sa thạch quăczit, cuội kết và dăm kết Loại đất này thường xấu, bị trơ sỏi đá, do đó cần được cải tạo tích cực để có thể phát triển rừng.

- Đất Feralitic xói mòn mạnh, trơ sỏi đá Phân bố dọc theo QL2 từ Phúc Yên đi Vĩnh Yên, chủ yếu là các dải đất dốc thoải

Phân bố đất đai: Theo số liệu thống kê, tổng diện tích đất tự nhiên của thị xã có 12.029,55 ha, trong đó phân ra:

Đất nông nghiệp tại thị xã chiếm 69,6% tổng diện tích, tương đương 8.356 ha Trong đó, diện tích đất sản xuất nông nghiệp chiếm 29,7% (6,1% tổng diện tích đất nông nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc), đất lâm nghiệp có rừng chiếm 38,6% (14,1% toàn tỉnh), và đất nuôi trồng thủy sản chiếm 1,2% (5,8% toàn tỉnh).

Đất phi nông nghiệp tại thị xã chiếm khoảng 3.470 ha, tương đương 28,9% tổng diện tích đất tự nhiên Trong đó, đất ở chiếm 6,8% (đất ở đô thị 3,2% và đất ở nông thôn 3,6%) Đất chuyên dùng, bao gồm trụ sở cơ quan, công trình sự nghiệp, an ninh, quốc phòng, sản xuất và kinh doanh phi nông nghiệp, cùng đất công trình công cộng, chiếm 16,2% Đất dành cho tín ngưỡng, tôn giáo, nghĩa trang và nghĩa địa chiếm khoảng 0,5%, trong khi đất sông, suối và mặt nước chiếm khoảng 5,3%.

- Đất chƣa sử dụng: chiếm khoảng 1,5% tổng diện tích đất tự nhiên

Khả năng khai thác đất đai của thị xã còn phong phú, mặc dù không giàu dinh dưỡng nhưng vị trí gần thủ đô Hà Nội đã biến đất ở đây thành tài nguyên có giá trị kinh tế cao.

Thị xã Phúc Yên có khí hậu nhiệt đới gió mùa với nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 23°C Vào mùa hè, thời tiết nóng ẩm và mưa nhiều, trong khi mùa đông lại hanh khô và lạnh kéo dài Nhiệt độ có sự chênh lệch lớn, với mức cực đại đạt 41,6°C và cực tiểu chỉ khoảng 3,1°C Độ ẩm không khí trung bình hàng năm ở mức 83%, trong khi độ ẩm cực tiểu tuyệt đối là 16%.

Thực trạng quản lý rừng và đất lâm nghiệp

3.2.1 Hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp theo quy hoạch 3 loại rừng

Theo kết quả thống kê kiểm kê rừng trên địa bàn thị xã cho thấy diện tích các loại rừng nhƣ sau:

Bảng 3.1 Diện tích rừng và đất lâm nghiệp năm 2016

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Đến năm 2016, chương trình Điều tra, kiểm kê rừng toàn quốc tại tỉnh Vĩnh Phúc đã ghi nhận sự thay đổi rõ rệt trong cơ cấu 3 loại rừng, với tổng diện tích rừng và đất lâm nghiệp đạt 4.761,48 ha.

- Đất rừng đặc dụng 657,34ha, chiếm 13,81% diện tích đất lâm nghiệp;

- Đất rừng phòng hộ 1.572,8ha, chiếm 33,03% diện tích đất lâm nghiệp;

- Đất rừng sản xuất 2.531,34ha, chiếm 53,16% diện tích đất lâm nghiệp

Để phân tích sự thay đổi cơ cấu và diễn biến diện tích đất lâm nghiệp tại thị xã Phúc Yên giai đoạn 2007 – 2016, khóa luận đã tiến hành so sánh diện tích đất lâm nghiệp theo các chức năng rừng Kết quả của nghiên cứu được trình bày chi tiết trong bảng dưới đây.

Bảng 3.2 Diễn biến diện tích đất lâm nghiệp qua các thời kỳ

Stt Diện tích đất lâm nghiệp

Nguồn: Số liệu diện tích đất lâm nghiệp năm 2007: Theo Quyết định số 678/QĐ-CT về quy hoạch rà soát 3 loại rừng năm 2007

Diện tích đất lâm nghiệp năm 2016: Theo Quyết định số 667/QĐ-UBND tỉnh Vính Phúc

Theo số liệu, tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 2016 đã tăng thêm 122,46 ha, trong đó rừng đặc dụng tăng 122,84 ha và rừng phòng hộ tăng 31,5 ha, nhưng rừng sản xuất lại giảm 31,88 ha Điều này trái ngược với thực tế tại thị xã Phúc Yên, nơi nhiều loại đất phi nông nghiệp như đất giao thông, khu dân cư và khu công nghiệp đều có nguồn gốc từ đất lâm nghiệp và đang gia tăng.

Kết quả rà soát diện tích rừng được thực hiện dựa trên hai nguồn tư liệu: Bản đồ ranh giới ba loại rừng năm 2007 theo Quyết định 678/QĐ-CT.

Ranh giới giữa ba loại rừng phòng hộ, đặc dụng và sản xuất không có sự khác biệt lớn, nhưng diện tích của chúng lại có nhiều khác biệt Khi tính toán lại diện tích ở các đơn vị xã, phường theo cùng một đường ranh giới, kết quả thu được tương tự như kết quả của năm 2016.

Hình 3.2: So sánh diện tích đất lâm nghiệp năm 2007 với năm 2016

Nghiên cứu cho thấy sự tăng giảm diện tích rừng và đất lâm nghiệp năm 2007 chủ yếu dựa vào bản đồ kiểm kê đất đai năm 2005 mà không tiến hành điều tra mới Nhiều đơn vị xã, phường đã tính toán số liệu không chính xác hoặc bị ép số liệu, dẫn đến tổng diện tích đất lâm nghiệp của các đơn vị hành chính không phản ánh đúng thực tế Sự chênh lệch rõ rệt nhất được ghi nhận ở thị xã Phúc Yên, với diện tích tăng 122,46 ha, tuy nhiên, trong khi diện tích đất rừng phòng hộ và đặc dụng tăng, thì diện tích đất rừng sản xuất lại giảm.

Một số xã phường trong quá trình thống kê rừng năm 2016 đã ghi nhận diện tích rừng trồng từ Dự án 327 và Dự án 661, vốn phát triển rừng phòng hộ, nhưng lại phân loại kết quả kiểm kê vào rừng phòng hộ thay vì rừng sản xuất.

3.2.2 Hiện trạng đất rừng phòng hộ năm 2016

3.2.2.1 Hiện trạng đất rừng phòng hộ năm 2016 theo đơn vị hành chính

Trước khi rà soát chuyển đổi, diện tích đất rừng phòng hộ tại thị xã Phúc Yên là 1.572,8ha, chiếm 33,03% tổng diện tích đất lâm nghiệp Số liệu cụ thể về diện tích rừng được trình bày như sau:

Bảng 3.3 Diện tích đất rừng PH trước rà soát, chuyển đổi theo đơn vị hành chính

TT Xã, phường Cộng Đất có rừng Đất chƣa có rừng

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Theo bảng kết quả, xã Ngọc Thanh sở hữu diện tích đất rừng phòng hộ lớn nhất, tiếp theo là phường Xuân Hòa, phường Đồng Xuân, và xã Cao Minh đứng cuối cùng.

3.2.2.2 Hiện trạng đất rừng phòng hộ năm 2016 phân theo chủ quản lý

Chủ thể quản lý rừng đóng vai trò quan trọng trong phát triển rừng và các hoạt động liên quan đến đất lâm nghiệp Điều này cũng là cơ sở để xem xét việc chuyển đổi mục đích sử dụng rừng Theo số liệu thống kê từ năm 2016, hiện trạng đất rừng phòng hộ tại thị xã Phúc Yên được phân loại theo chủ quản lý, cho thấy rõ ảnh hưởng của các chủ thể này đến công tác quản lý và phát triển rừng.

Bảng 3.4 Diện tích đất rừng PH trước rà soát, chuyển đổi phân theo chủ quản lý

TT Chủ quản lý Cộng Đất có rừng Đất chƣa có rừng

1 Hộ gia đình, cá nhân 1.396,98 375,87 834,94 186,17 88,82

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Kết quả cho thấy rằng diện tích đất rừng phòng hộ được sở hữu bởi hộ gia đình và cá nhân trong xã chiếm tỷ lệ lớn nhất, tiếp theo là các tổ chức khác, và cuối cùng là UBND xã.

3.2.3 Hiện trạng đất rừng sản xuất năm 2016

3.2.3.1 Hiện trạng đất rừng sản xuất năm 2016 phân theo đơn vị hành chính

Trước khi rà soát chuyển đổi, diện tích rừng sản xuất tại thị xã Phúc Yên là 2.531,34ha, tương đương 53,16% tổng diện tích đất lâm nghiệp trong khu vực Thông tin chi tiết được trình bày trong bảng dưới đây.

Bảng 3.5 Diện tích đất rừng sản xuất trước rà soát, chuyển đổi theo đơn vị hành chính

TT Xã, phường Cộng Đất có rừng Đất chƣa có rừng

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Diện tích đất rừng sản xuất tại xã Ngọc Thanh đạt 2.467,77ha, lớn nhất trong khu vực, trong khi xã Cao Minh chỉ có 63,57ha Phường Đồng Xuân và Phường Xuân Hòa không có đất rừng sản xuất do vị trí và địa hình thuận lợi, cùng với sự phát triển của giao thông, dẫn đến việc tập trung vào sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ.

3.2.3.2 Hiện trạng đất rừng sản xuất năm 2016 phân theo chủ quản lý

Diện tích đất rừng sản xuất tại thị xã Phúc Yên chủ yếu do các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, hộ gia đình, UBND xã và các tổ chức khác quản lý Để có cái nhìn tổng quan về diện tích đất lâm nghiệp theo từng chủ quản lý, việc rà soát và chuyển đổi mục đích sử dụng là cần thiết, và chúng ta có thể tham khảo số liệu kiểm kê trong bảng dưới đây.

Bảng 3.6 Diện tích đất rừng SX trước rà soát, chuyển đổi theo chủ quản lý

TT Chủ quản lý Cộng Đất có rừng Đất chƣa có rừng

2 Hộ gia đình, cá nhân 1963,98 148,59 1584,99 230,4 77,59

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Theo bảng 3.6, hộ gia đình và cá nhân chiếm diện tích đất rừng sản xuất lớn nhất, tiếp theo là các tổ chức khác, doanh nghiệp ngoài quốc doanh và UBND xã Sự chênh lệch này phản ánh mục tiêu phát triển kinh tế cho người dân địa phương, tạo việc làm, giảm tệ nạn xã hội và khuyến khích người dân tích cực bảo vệ và phát triển rừng.

3.2.4 Đánh giá công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch ba loại rừng

3.2.4.1 Đánh giá công tác quy hoạch ba loại rừng

Quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng PH ít xung yếu sang rừng SX

3.3.1 Những cơ sở lập phương án quy hoạch

- Luật Bảo vệ và Phát triển rừng năm 2004 và nghị định số 23/2006/NĐ-

- Nghị định số 117/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 của Chính phủ về Tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng;

- Nghị quyết số 134/2016/QH13 ngày 09/4/2016 về điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất cuối kỳ (2016-2020) cấp quốc gia;

- Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg ngày 09/6/2015 của Thủ tướng chính phủ về ban hành Quy chế quản lý rừng phòng hộ;

- Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg ngày 01/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý rừng sản xuất;

Quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/03/2016 của Bộ NN&PTNT đã ban hành Bộ tiêu chí nhằm rà soát diện tích đất và rừng phòng hộ đầu nguồn có mức độ xung yếu thấp, với mục tiêu chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất.

- Quyết định số 886/QĐ-TTg ngày 16/6/2017 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020;

- Thông tƣ số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009 của Bộ NN&PTNT hướng dẫn chuyển đổi rừng phòng hộ, đặc dụng được quy hoạch sang rừng sản xuất và ngƣợc lại;

- Thông tƣ số 23/2013/TT-BNN ngày 04/5/2013 của Bộ NN&PTNT quy định cải tạo rừng tự nhiên nghèo kiệt là rừng sản xuất;

Kế hoạch số 8418/KH-BNN-TCLN, ban hành ngày 13/10/2015 bởi Bộ NN&PTNT, nhằm rà soát diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu để điều chỉnh sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất.

- Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg, ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát, quy hoạch lại ba loại rừng;

- Văn bản số 1927/TTg-KTN ngày 02/11/2016 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân bổ chỉ tiêu sử dụng đất cấp quốc gia;

Văn bản số 10121/BNN-TCLN ngày 30/11/2016 của Bộ NN&PTNT quy định hướng dẫn kỹ thuật để rà soát đất và rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu Mục tiêu của văn bản là chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất, đồng thời tiến hành rà soát và điều chỉnh quy hoạch cho ba loại rừng.

- Quyết định số 678/QĐ-CT ngày 02/03/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc về việc Phê duyệt kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Vĩnh Phúc;

Quyết định số 667/QĐ-CT ngày 01 tháng 3 năm 2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc đã phê duyệt kết quả thực hiện Phương án Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc trong giai đoạn 2014-2015 Quyết định này đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng của tỉnh, đồng thời góp phần vào việc phát triển bền vững môi trường sinh thái.

- Văn bản số 4485/UBND-NN3 ngày 13/8/2013 của UBND tỉnh về việc lập Quy hoạch, kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng tỉnh giai đoạn 2011 - 2020;

- Văn bản số 450/KH-UBND ngày 20/01/2016 của UBND tỉnh về Kế hoạch Phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2016 - 2020 tỉnh Vĩnh Phúc;

Hội đồng nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đã thông qua nghị quyết điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020, cùng với kế hoạch sử dụng đất giai đoạn cuối kỳ 2016-2020 Nghị quyết này nhằm tối ưu hóa việc quản lý và sử dụng đất đai, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh trong thời gian tới.

Công văn số 9095/UBND-NN3 ngày 15/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc yêu cầu Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chủ trì, phối hợp với các sở, ngành và đơn vị liên quan để thực hiện rà soát và chuyển đổi đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất, đồng thời điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng tại tỉnh Vĩnh Phúc.

- Báo cáo kết quả rà soát, quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Vĩnh Phúc năm

2007 kèm theo Quyết định số 678/QĐ-CT ngày 02/03/2007 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

- Báo cáo kết quả Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc giai đoạn 2014-2015 kèm theo Quyết định số 667/QĐ-CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

- Số liệu và bản đồ kiểm kê đất đai 2015 các cấp (tỉnh, huyện, xã) do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh cung cấp;

- Niên giám thống kê năm 2016;

- Bản đồ quy hoạch lại 3 loại rừng tỉnh Vĩnh Phúc;

- Bản đồ kiểm kê rừng năm 2015 tỉnh Vĩnh Phúc;

- Bản đồ ranh giới và vị trí cắm mốc 3 loại rừng thị xã Phúc Yên

- Bản đồ phân cấp lý thuyết và dự kiến chuyển đổi trong phòng thị xã Phúc Yên;

3.3.2 Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ

Rà soát thực trạng ba loại rừng cần thiết để so sánh với phương án trước đây, nhằm làm rõ những thành tựu đạt được cùng các hạn chế, vướng mắc Dựa trên kết quả điều tra và kiểm kê rừng từ các địa phương, cần áp dụng các tiêu chí phân loại rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đồng thời định hướng tái cơ cấu ngành lâm nghiệp Quy hoạch ba loại rừng cần tuân thủ chỉ thị 38/2005/CT-TTg ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc rà soát và quy hoạch lại ba loại rừng.

Rà soát và điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng là cần thiết, ưu tiên chuyển đổi một phần diện tích rừng và đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang rừng sản xuất và các mục đích khác Đồng thời, cần cải tạo đất có rừng trồng và đất có rừng tự nhiên kém chất lượng để nâng cao hiệu quả sử dụng.

- Đề xuất các giải pháp, cơ chế chính sách nhằm phát triển bền vững tài nguyên rừng và nâng cao giá trị kinh tế của ngành lâm nghiệp

Rà soát và chuyển đổi một phần diện tích rừng và đất rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất là cần thiết để điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng Điều này nhằm tái cơ cấu ngành Lâm nghiệp, nâng cao hiệu quả kinh tế và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng và đất lâm nghiệp tại thị xã Vĩnh Yên.

Rà soát và chuyển đổi phải tuân thủ theo các tiêu chí được quy định tại Quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN và Văn bản số 10121/BNN-TCLN ngày 30/11/2016 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, cùng với các văn bản pháp luật hiện hành khác.

Rà soát và điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng giai đoạn 2016-2025, với định hướng đến năm 2030 là rất cần thiết Bên cạnh đó, cần tiến hành rà soát diện tích đất có rừng ngoài lâm nghiệp và quỹ đất chưa sử dụng để bổ sung vào mục đích phát triển lâm nghiệp.

Để phát triển bền vững tài nguyên rừng và nâng cao giá trị kinh tế ngành lâm nghiệp giai đoạn 2023-2025, cần đề xuất các giải pháp và cơ chế chính sách phù hợp Những chính sách này sẽ tập trung vào việc bảo vệ và phục hồi rừng, khuyến khích sử dụng tài nguyên rừng một cách hiệu quả, đồng thời phát triển các sản phẩm lâm nghiệp có giá trị cao Định hướng đến năm 2030, việc tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan và nâng cao nhận thức cộng đồng về bảo vệ rừng sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của ngành lâm nghiệp.

Báo cáo chuyển đổi cần đảm bảo tổ chức sản xuất hiệu quả, với ranh giới chuyển đổi rõ ràng trên thực địa và bản đồ địa hình Đồng thời, cần có kế hoạch giao đất và cho thuê đất cụ thể, phù hợp với kế hoạch sử dụng đất giai đoạn 2016-2020.

3.3.3 Phương án quy hoạch rà soát chuyển đổi một phần diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất

3.3.3.1 Kết quả phân cấp phòng hộ trên đất rừng phòng hộ trong phòng

- Căn cứ các tiêu chí quy định tại Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg ngày 09/6/2015 của Thủ tướng Chính phủ về Ban hành Quy chế quản lý rừng phòng hộ;

Theo quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN ngày 16/03/2016 của Bộ NN&PTNT, Bộ tiêu chí rà soát diện tích đất và rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu đã được ban hành nhằm chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất.

Dựa trên các tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ, quá trình rà soát sơ bộ đã chỉ ra diện tích rừng phòng hộ tại thị xã Phúc Yên như sau:

Bảng 3.7 Kết quả phân cấp đất rừng theo địa phương và cấp phòng hộ

TT Xã, phường Diện tích phân cấp phòng hộ (ha)

Cộng Ít xung yếu Xung yếu Rất xung yếu

Nguồn: Kiểm kê rừng tỉnh Vĩnh Phúc theo Quyết định số 667/QĐ -

CT ngày 01/3/2016 của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Phúc

Kết luận

Trong quá trình thực hiện đề tài nghiên cứu "Quy hoạch rà soát chuyển đổi đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất cho thị xã Phúc Yên – tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2018", chúng tôi đã đạt được nhiều mục tiêu quan trọng và hoàn thành các nội dung đã đề ra, phù hợp với điều kiện thực tế của khu vực.

Phân tích và đánh giá các điều kiện tự nhiên của thị xã Phúc Yên, đặc biệt là tình hình quản lý và sử dụng đất lâm nghiệp, giúp xác định những thuận lợi và khó khăn trong công tác quy hoạch ba loại rừng Qua đó, có thể xây dựng phương án quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất và phát triển kinh tế địa phương.

Xác định phương hướng mục tiêu và nhiệm vụ phù hợp với tình hình thực tế của thị xã Phúc Yên là điều cần thiết Điều này sẽ giúp định hướng cho bản phương án quy hoạch, nhằm rà soát và chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất hiệu quả.

Đề xuất quy hoạch chuyển đổi diện tích đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất tại thị xã Phúc Yên đã được rà soát và điều chỉnh, bao gồm 3 loại rừng với tổng diện tích 530,97 ha Cụ thể, phường Đồng Xuân có diện tích 100,42 ha (72,08 ha rừng và 28,34 ha đất chưa có rừng), phường Xuân Hòa 109,25 ha (67,47 ha rừng và 39,78 ha đất chưa có rừng), xã Cao Minh 10,06 ha (toàn bộ là đất có rừng), và xã Ngọc Thanh 313,24 ha (261,53 ha rừng và 49,71 ha đất chưa có rừng).

- Đề xuất một số giải pháp thực hiện phương án quy hoạch rà soát, chuyển đổi.

Tồn tại

Trong quá trình nghiên cứu do điều kiện thời gian, nguồn nhân lực và kinh

- Đề tài chƣa có điều kiện nghiên cứu tỷ mỉ về điều kiện tự nhiên, kinh tế

Hiện trạng sử dụng đất đai và quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu đang gặp nhiều thách thức Nhiều giải pháp đưa ra chỉ mang tính định hướng và chưa thực sự khả thi trong thực tiễn.

Việc thu thập thông tin hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế, do đó, đề tài này chủ yếu tập trung vào việc phân tích và đánh giá các thông tin đã được thu thập từ các số liệu và điều tra trước đó Nghiên cứu này đặc biệt chú trọng đến đối tượng rừng phòng hộ ít xung quanh thị xã Phúc Yên.

Đề tài chưa đề xuất phương án quy hoạch phát triển sản xuất lâm nghiệp cho các diện tích rừng chuyển đổi từ rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất.

Khuyến nghị 67 TÀI LIỆU THAM KHẢO

Quy hoạch chuyển đổi đất rừng phòng hộ ít xung yếu sang đất rừng sản xuất tại thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc từ năm 2018 là bước quan trọng cho sự phát triển lâm nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân địa phương Tôi đề nghị UBND thành phố Phúc Yên, UBND tỉnh Vĩnh Phúc và Nhà nước cần chú trọng hơn vào việc thực hiện quy hoạch này để đảm bảo lợi ích cho cộng đồng.

Chính quyền địa phương cần hỗ trợ chuyên môn và thông tin cho người dân, đồng thời tiếp tục đầu tư vào các chương trình dự án hiện tại Họ cũng nên kêu gọi vốn cho các dự án quy hoạch hiệu quả, phù hợp với điều kiện của thị xã.

- Chính quyền các cấp cần có các chính sách phù hợp và đem lại hiệu quả cho đời sống nhân dân, khiến người dân tin tưởng và thực hiện

- Đề tài còn nhiều hạn chế và thiếu sót nên cần tiếp tục nghiên cứu để bổ sung và hệ thống một cách đầy đủ, hoàn thiện hơn

Bộ NN&PTNT (2000) đã ban hành hướng dẫn phân cấp phòng hộ và phân chia ba loại rừng cho các tiểu dự án trong khu vực lâm nghiệp, đồng thời quản lý rừng phòng hộ đầu nguồn tại Hà Nội.

2 Bộ NN&PTNT (2005), Bản quy định về tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ, ban hành kèm theo Quyết định số 61/2005/QĐ-BNN ngày 12/10/2005 của

Bộ Nông nghiệp và PTNT, Hà Nội

Bộ NN&PTNT đã ban hành Thông tư số 24/2009/TT-BNN ngày 05/5/2009, hướng dẫn quy trình chuyển đổi giữa rừng phòng hộ, rừng đặc dụng và rừng sản xuất Quy định này nhằm đảm bảo việc quản lý và sử dụng rừng một cách hiệu quả, đồng thời bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Bộ NN&PTNT đã thực hiện rà soát diện tích rừng phòng hộ ít xung yếu nhằm điều chỉnh sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất, theo Kế hoạch số 8418/KH-BNN-TCLN ban hành ngày 13/10/2015 tại Hà Nội.

Bộ NN&PTNT đã ban hành Quyết định số 845/QĐ-BNN-TCLN vào ngày 16/03/2016, quy định bộ tiêu chí rà soát diện tích đất và rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu để chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất.

Bộ NN&PTNT đã ban hành Hướng dẫn kỹ thuật rà soát đất, rừng phòng hộ đầu nguồn ít xung yếu để chuyển đổi sang quy hoạch phát triển rừng sản xuất Quy trình này gắn liền với việc rà soát và điều chỉnh quy hoạch ba loại rừng, theo công văn số 10121/BNN-TCLN ngày 30/11/2016, nhằm đảm bảo quản lý và phát triển bền vững tài nguyên rừng tại Hà Nội.

7 Chính phủ ( 2006), Nghị định số 23/2006/NĐ-CP ngày 3/3/2006 của Chính phủ về thi hành Luật bảo vệ và phát triển rừng, Hà Nội

8 Hoàng Sỹ Động (2002), Rừng lá rộng rụng lá ở miền Nam Việt Nam và Quản lý bền vững, Nxb Khoa học và Kỹ thuật, Hà Nội

9 Hoàng sỹ Động (2007), “Đổi mới công tác quy hoạch lâm nghiệp”, Tạp chí

10 Võ Đại Hải (1996), Nghiên cứu các dạng cấu trúc hợp lý cho rừng phòng hộ đầu nguồn ở Việt Nam, Luận án PTS khoa học Nông nghiệp, Hà Nội

11 Vũ Tiến Hinh, Phạm Ngọc Giao (1997), Giáo trình điều tra rừng, NXB Nụng nghiệp, Hà Nội

12 Hà Quang Khải, Đặng Văn Phụ, Khái niệm về hệ thống sử dụng đất, Tài liệu tập huấn hỗ trợ LNXH, trường ĐHLN, Hà Tây

13 Hà Quang Khải, Trần Thanh Bình, Trần Hữu Viên (2000), Quản lý sử dụng đất, Chương trình hỗ trợ lâm nghiệp xã hội, Trường ĐHLN, tr 35

Đỗ Văn Nhân (2007) đã thực hiện nghiên cứu về cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch ba loại rừng tại huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai trong luận văn thạc sĩ của mình tại Trường Đại học Lâm nghiệp, Hà Nội Nghiên cứu này đóng góp vào việc hiểu rõ hơn về quy hoạch rừng, giúp nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng tại khu vực này.

15 Quốc hội (2004), Luật bảo vệ và phát triển rừng, Hà Nội

16 Quốc hội (2013), Luật đất đai, Hà Nội

Quốc hội đã ban hành Nghị quyết số 134/2016/QH13 vào ngày 09/4/2016, điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất cuối kỳ giai đoạn 2016-2020 cấp quốc gia tại Hà Nội.

18 Lê Trọng Trải (1997), “Một số tiêu chuẩn lựa chọn các khu bảo tồn thiên nhiên ở Việt Nam”, Tạp chí lâm nghiệp, (6), tr 20-21

19 Thái Văn Trừng (1978), Những hệ sinh thái rừng nhiệt đới ở Việt Nam, Hà Nội

20 Thủ tướng chính phủ (2005), Rà soát, quy hoạch lại ba loại rừng, ban hành theo Chỉ thị số 38/2005/CT-TTg, ngày 05/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Hà Nội

21 Thủ tướng chính phủ (2006), Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt Nam giai đoạn 2006 - 220, Ban hành theo QĐ số 18/2007/QĐ - TTg ngày 05/02/2007 của Thủ tướng chính phủ

22 Thủ tướng chính phủ (2006), Quy chế quản lý rừng, ban hành kèm theo Quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14/8/2006 của Thủ Tướng Chính phủ, Hà Nội

Vào ngày 09/6/2015, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 17/2015/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý rừng phòng hộ Quyết định này nhằm mục đích quản lý và bảo vệ rừng phòng hộ, đảm bảo sự phát triển bền vững của tài nguyên rừng tại Việt Nam.

Vào ngày 01/11/2016, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 49/2016/QĐ-TTg về việc ban hành Quy chế quản lý rừng sản xuất, nhằm quy định các nguyên tắc và phương thức quản lý hiệu quả tài nguyên rừng Quyết định này thể hiện cam kết của Chính phủ trong việc bảo vệ và phát triển bền vững rừng sản xuất tại Việt Nam.

Vào ngày 16 tháng 6 năm 2017, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 886/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình mục tiêu phát triển Lâm nghiệp bền vững giai đoạn 2016-2020 Quyết định này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững trong lĩnh vực lâm nghiệp tại Việt Nam.

26 Lê Sỹ Việt, Trần Hữu Viên (1999), Quy hoạch lâm nghiệp, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội

27 Viện điều tra quy hoạch rừng (1995), Sổ tay điều tra quy hoạch, NXB Nụng nghiệp, Hà Nội.

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w