TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Trên thế giới
1.1.1.1 Nghiên cứu quy luật cấu trúc đường kính thân cây (N/D)
Quy luật phân bố số cây theo cỡ kính (N/D1.3) là chỉ tiêu quan trọng trong cấu trúc rừng, đã được nghiên cứu từ cuối thế kỷ trước Nhiều tác giả như Balley (1973) đã sử dụng hàm Weibull, trong khi Schiffel biểu thị đường cong cộng dồn phần trăm số cây bằng đa thức bậc ba Naslund (1936, 1937) xác lập quy luật phân bố Charlier cho lâm phần thuần loài đều tuổi khép tán Drachenko và Svalov áp dụng phân bố số cây theo đường kính lâm phần Thông ôn đới Để tăng tính mềm dẻo, một số tác giả như Loetch (1973) đã sử dụng họ hàm Bêta, trong khi Roemich (1995) nghiên cứu khả năng dùng hàm Gamma để mô phỏng biến đổi phân bố đường kính Lembeke, Knapp và Ditbma (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) sử dụng phân bố Gamma với các phương trình thể hiện mối tương quan giữa tuổi và chiều cao tầng trội.
Việc xây dựng dãy phân bố thực nghiệm N/D1.3 phụ thuộc vào kinh nghiệm của từng tác giả và bản chất của quy luật điều tra đo đạc Một dãy phân bố thực nghiệm có thể chỉ tương thích với một dạng hàm số cụ thể, nhưng cũng có thể phù hợp với nhiều hàm số khác nhau ở các mức xác suất khác nhau.
Một số tác giả sử dụng các hàm như Meyer, Poisson, Charlier, Logarit chuẩn, đường cong Pearson và Weibull để biểu thị phân bố kinh nghiệm của số cây theo đường kính (N/D) Nghiên cứu định lượng cấu trúc N/D và phân bố N/H thường dựa vào dãy số lý thuyết để mô tả và ứng dụng các tần số này Qua phương pháp giải tích, nhiều hàm toán học đã được lựa chọn để mô phỏng quy luật cấu trúc Kết quả nghiên cứu định lượng này là cơ sở quan trọng cho việc nghiên cứu đối tượng Thông đuôi ngựa Trong việc xây dựng mô hình cấu trúc N/D và N/H, hàm Weibull đã được chọn làm phương pháp chính.
F(X) là tần số quan sát x là cỡ đường kính hay cỡ chiều cao α, β là hai tham số của phương trình
1.1.1.2 Nghiên cứu quy luật quan hệ giữa chiều cao và đường kính thân cây
Nghiên cứu tương quan Hvn/D1.3 là quy luật quan trọng trong hệ thống quy luật kết cấu lâm phần Kết quả từ nhiều tác giả cho thấy, khi tuổi cây rừng tăng, chiều cao cây cũng tăng theo, phản ánh quá trình sinh trưởng tự nhiên Ở mỗi cỡ đường kính xác định, các cây ở các cấp tuổi khác nhau sẽ thuộc các cấp sinh trưởng khác nhau, với cấp sinh trưởng giảm dần khi tuổi lâm phần tăng, dẫn đến tỷ lệ H/D gia tăng theo tuổi Do đó, đường cong quan hệ H/D có thể thay đổi hình dạng và dịch chuyển lên phía trên khi tuổi lâm phần tăng Vagui A.B (1955) đã khẳng định rằng “đường cong chiều cao thay đổi và luôn dịch chuyển lên phía trên khi tuổi tăng lên”.
Vào năm 1972, hiện tượng về đường cong chiều cao theo các cấp tuổi khác nhau đã được phát hiện Prodan M (1965) nhận thấy rằng độ dốc của đường cong chiều cao giảm dần khi tuổi cây tăng Trong khi đó, Prodan M (1944) khi nghiên cứu kiểu rừng “Plenter wal” đã kết luận rằng đường cong chiều cao không thay đổi do vị trí của các cây có đường kính nhất định là tương đương nhau Curtis R.O đã mô phỏng mối quan hệ giữa chiều cao, đường kính và tuổi cây thông qua một phương trình.
Nghiên cứu của Krauter G (1958) và Tiourin A.V (1931) (theo Phạm Ngọc Giao, 1995) cho thấy mối tương quan giữa chiều cao và đường kính ngang ngực của cây rừng không phụ thuộc vào cấp đất hay cấp tuổi Khi phân hóa theo các cấp chiều cao, các yếu tố như hoàn cảnh và tuổi tác đã được phản ánh trong kích thước cây, cho thấy mối quan hệ H/D đã bao hàm ảnh hưởng của những yếu tố này.
Thực tiễn điều tra rừng cho thấy có thể xác định chiều cao tương ứng cho từng cỡ kính dựa vào quan hệ H/D mà không cần đo toàn bộ số cây Nhiều tác giả đã đề xuất các phương trình toán học khác nhau để mô tả quan hệ này, như Naslund M (1929), Asnann F (1936), và nhiều người khác, với các dạng phương trình như h = a + a1*d + a2*d² và h = a*d^b Để mô phỏng tương quan giữa chiều cao và đường kính, có thể sử dụng nhiều dạng phương trình khác nhau, nhưng việc lựa chọn phương trình phù hợp nhất cho từng đối tượng vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ Tuy nhiên, phương trình parabol và phương trình logarit là hai dạng được sử dụng phổ biến nhất để biểu thị đường cong chiều cao.
Ở trong nước
Việc nhận diện các quy luật cấu trúc là yếu tố then chốt trong kinh doanh rừng Hiện nay, những kết quả nghiên cứu này đã được áp dụng rộng rãi, mang lại hiệu quả cao cho sản xuất và kinh doanh rừng tại Việt Nam.
Tác giả Đồng Sĩ Hiền (1974) đã áp dụng họ đường cong Pearson với 7 họ đường cong khác nhau để biểu diễn phân bố số cây theo cỡ đường kính trong rừng tự nhiên Nguyễn Hải Tuất (1975, 1982, 1990) đã sử dụng hàm Meyer và hàm khoảng cách để nghiên cứu quy luật cấu trúc đường kính của rừng thứ sinh, đồng thời ứng dụng quá trình Poisson vào nghiên cứu quần thể rừng Nguyễn Văn Trương (1983) cũng đã áp dụng phân bố Poisson để mô phỏng quy luật cấu trúc đường kính thân cây cho các loại rừng hỗn giao khác tuổi, trong khi các tác giả như Vũ Nhâm (1988) và Trịnh Đức Huy đã nghiên cứu các lâm phần thuần loài ở giai đoạn còn non và trung niên.
Các nghiên cứu của Phạm Ngọc Giao (1987, 1988) và Vũ Tiến Hinh (1990) đã chỉ ra quy luật phân bố N/D có dạng lệch trái đối với các đối tượng khác nhau Họ đã áp dụng nhiều hàm toán học, bao gồm hàm Scharlier và hàm Weibull, để biểu thị quy luật này.
Phạm Ngọc Giao (1995) đã chứng minh tính thích ứng của hàm Weibull trong nghiên cứu quy luật N/D cho Thông Nhựa vùng Đông Bắc, đồng thời xây dựng mô hình cấu trúc cho lâm phần Thông Nhựa Các tác giả Vũ Nhâm cũng có những đóng góp quan trọng trong lĩnh vực này.
Vũ Tiến Hinh (1990) và nghiên cứu năm 1988 đều áp dụng phân bố Weibull hai tham số để mô tả phân bố N/D cho các lâm phần thuần loài, như Thông nhựa (Pinus merkusii) và Mỡ (Manglietia glauca).
Phạm Ngọc Giao (1995) [8] đã khẳng định tương quan H/D của các lâm phần Thông Nhựa tồn tại chặt dưới dạng phương trình logarit một chiều: h = a + b*logd (1.12)
Bảo Huy (1993) đã tiến hành thử nghiệm bốn phương trình tương quan chiều cao (H) và đường kính (D) cho các loài cây ưu thế như Bằng lăng, Cẩm xe, Kháo và Chiêu liêu trong môi trường rừng rụng lá và rừng nửa rụng lá Các phương trình được áp dụng bao gồm: h = a + b*logd^1.3, h = a + b*d^1.3, logh = a + b*d^1.3, và logh = a + b*logd^1.3.
Từ đó, tác giả đã chọn được phương trình thích hợp nhất là:
Nghiên cứu cấu trúc rừng chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa chiều cao và đường kính thân cây, cùng với quy luật phân bố N/D Những kết quả từ các nghiên cứu này đã được ứng dụng trong sản xuất kinh doanh, góp phần đáp ứng nhu cầu điều tra, điều chế và nuôi dưỡng rừng.
Nguyễn Trọng Bình (1996) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa kỳ vọng toán và phương sai của biến ngẫu nhiên đối với ba loài cây: Thông đuôi ngựa, Thông nhựa và Mỡ, liên quan đến đại lượng sinh trưởng (D 1.3, Hvn) ở các thời điểm khác nhau Nghiên cứu này cung cấp cơ sở quan trọng để phân cấp năng suất các lâm phần thuần loài Bên cạnh đó, việc ứng dụng các mô hình toán học trong nghiên cứu sinh trưởng và mối quan hệ giữa sinh trưởng của các loài cây ở nhiều vùng đã gặp phải không ít khó khăn.
(1) Đặc điểm hình thái của Thông
Tên khác: Thông ta, thông hai lá
Tên khoa học: Pinus merkusii Juss et de Vries
Họ thực vật: Thông (Pinaceae)
Cây gỗ lớn có chiều cao từ 25-30 m, thậm chí hơn, với đường kính ngang ngực từ 50-60 cm, có thể đạt tới 1 m Thân cây thẳng, tròn và chứa nhiều nhựa, vỏ dày màu nâu đỏ nhạt hoặc nâu đen, có nứt dọc sâu Tán lá rộng với lá kim màu xanh thẫm, dài từ 15-25 cm và có bẹ lá dài 1-2 cm Quả cây hình nón, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, ra hoa vào tháng 5-6 và quả chín vào tháng 9-10 năm sau, với khoảng 35-40 kg quả cho 1 kg hạt, mỗi kg hạt chứa từ 27.000-30.000 hạt.
Cây ưa sáng hoàn toàn, có khả năng chịu bóng râm nhẹ khi còn nhỏ Cây xanh quanh năm và có khả năng tái sinh hạt mạnh mẽ Rễ cây phát triển rất tốt, ăn lan rộng đến 8-10 m, với rễ cọc đâm sâu và rễ tơ có nấm cộng sinh tạo thành nốt sần Giai đoạn phát triển chậm nhất là từ 4-5 tuổi, nhưng từ 10-12 tuổi, cây bắt đầu phát triển nhanh hơn.
Quê hương chính của thông nhựa là các nước Đông Nam Á, mọc ở vành đai độ cao từ 10-250m và 700-900 m so với mức nước biển; có 2 nhóm xuất xứ:
Nhóm lục địa phân bố ở những khu vực có mùa khô kéo dài từ 3 đến 6 tháng, với giai đoạn cỏ diễn ra trong khoảng 3 đến 5 năm đầu Trong giai đoạn này, hàm lượng và chất lượng nhựa không cao Thông nhựa ở Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam thuộc về nhóm này.
Nhóm đảo nằm ở vùng cận nhiệt đới có lượng mưa và độ ẩm cao, với một mùa khô ngắn và không có giai đoạn cỏ Khu vực này có hàm lượng và chất lượng nhựa cao hơn, đặc biệt là thông nhựa chỉ có ở Sumatra.
Thông nhựa ở Việt Nam phân bố rộng rãi trong khoảng 10 vĩ độ và gần 5 kinh tuyến, với độ cao từ 100-200m đến gần 1000m, từ sát biển đến cách biển trên 100 km Có hai dạng sinh học của cây con thông nhựa với các đặc trưng hình thái và sinh trưởng khác nhau, tương ứng với hai vùng có chế độ mưa khác nhau trong vụ Hè Thu và vụ Thu Đông.
Dạng 1 có lá dài, màu xanh thẫm mọc tập trung ở đỉnh thân, sinh trưởng nhanh về đường kính và chậm về chiều cao gồm thông nhựa ở Bảo Lộc, Di Linh (Lâm Đồng), Yên Lập, Uông Bí (Quảng Ninh), Phú Bình (Thái Nguyên), Mộc Châu (Sơn La)
Dạng 2 có lá ngắn, màu xanh nhạt mọc tập trung từ giữa đến 1/3 trở lên đến đỉnh thân, sinh trưởng chậm về đường kính và nhanh hơn về chiều cao, gồm thông nhựa ở Huế, Bố Trạch (Quảng Bình), Hoàng Mai (Nghệ An),
Hà Trung (Thanh Hoá), Nho Quan (Ninh Bình)
Vùng thấp dưới 300-400m so với mực nước biển có thông nhựa dạng
MỤC TIÊU, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát: Đánh giá được tình hình sinh trưởng và đặc điểm cấu trúc rừng Thông
Nhựa trồng thuần loài đều tuổi
Nghiên cứu đƣợc cấu trúc rừng trồng Thông Nhựa tại khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu được các chỉ tiêu sinh trưởng rừng trồng Thông Nhựa tại khu vực nghiên cứu Đề xuất đƣợc một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh.
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Rừng trồng Thông Nhựa thuần loài 9 tuổi tại khu vực nghiên cứu
Nghiên cứu một số đặc điểm sinh trưởng và cấu trúc của tầng cây cao của rừng Thông trồng thuần loài tại Thanh Liên- Thanh Chương – Nghê An
Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của đề tài, nội dung đƣợc xác định nhƣ sau:
2.3.1 Nghiên cứu cấu trúc rừng
- Phân bố số cây theo cỡ đường kính (N/D1.3)
- Phân bố số cây theo chiều cao (N/Hvn)
- Quan hệ tương quan giữa chiều cao và đường kính thân cây (Hvn/D1.3)
2.3.2 Nghiên cứu các chỉ tiêu sinh trưởng
- Nghiên cứu sinh trưởng đường kính ngang ngực (D 1.3 )
- Nghiên cứu sinh trưởng chiều cao cây (Hvn)
- Nghiên cứu sinh trưởng đường kính tán (Dt)
2.3.3 Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động hợp lý
Phương pháp nghiên cứu
Thu thập các tài liệu báo cáo có liên quan đến tài liệu nhƣ : các số liệu
2.4.2 Điều tra, thu thập số liệu ngoài hiện trường Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng của thông nhựa thần loài Tác giả tiến hành lập 9 ÔTC điển hình Mỗi ô tiêu chuẩn có diện tích 100 m 2 ( 25 × 40) tại các vị trí: chân 3 ÔTC, sườn 3 ÔTC, đỉnh 3 ÔTC; lập ÔTC đảm bảo theo quy trình của bộ môn điều tra quy hoạch của trường Đại Học Lâm Nghiệp
Sau khi lập xong OTC tôi tiến hành đo đếm các chỉ tiêu D 1.3 ,Hvn, Hdc,
D t của tất cả các cây ghi vào mẫu phiếu điều tra 01
Đường kính ngang ngực D 1.3 được xác định bằng thước kẹp kính với độ chính xác đến mm Việc đo được thực hiện theo hai hướng Đông Tây và Nam Bắc, sau đó tính giá trị trung bình.
Đường kính tán lá D t được xác định bằng cách sử dụng thước dây để đo chiều rộng của tán lá theo hình chiếu thẳng đứng xuống mặt đất Việc đo được thực hiện theo hai hướng chính: Đông - Tây và Nam - Bắc, sau đó tính giá trị trung bình của các số đo này.
Đo chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) bằng thước đo cao Blumles, với độ chính xác 0,1m Chiều cao vút ngọn được xác định từ mặt đất đến đỉnh sinh trưởng của cây.
Chất lƣợng cây rừng đƣợc đánh giá thông qua các chỉ tiêu hình thái theo 3 cấp: Tốt, Trung bình, Xấu
Biểu 01: Điều tra tầng cây cao
Ngày điều tra: Người điều tra: Độ cao tuyệt đối: Độ dốc:
(T, TB, X) ĐT NB TB ĐT NB TB
Theo yêu cầu của khoá luận, tôi đã tiến hành xử lý số liệu thu thập được dựa trên giáo trình thống kê toán học của giáo sư Nguyễn Hải Tuất (1982) Quy trình thực hiện bao gồm các bước cụ thể như sau.
Bước 1 Xử lý sai số thô
Bước 2 Kiểm tra sự thuân nhất giữa các ÔTC
Bước 3 Tính các đặc trưng mẫu
+Trị số trung bình mẫu:
S 2 = Với Qx = ∑ - ∑ (2.2) + Sai tiêu chuẩn:
Căn cứ vào phân bố thực nghiệm, tiến hành mô hình hóa quy luật cấu trúc tần số theo những phân bố lý thuyết khác nhau
+ Phân bố Weibull: là phân bố sác xuất của biến ngẫu nhiên liên tục với miền giá trị (0, +∞) Hàm mật độ có dạng:
F(x) = α*λ*x α-1 *e -λ*x (2.9) Trong đó: Tham số α đặc trƣng cho độ lệch của phân bố
Tham số λ đặc trƣng cho độ nhọn của phân bố
Giá trị λ được ước lượng từ công thức λ ∑ (2.10), trong đó x = di - dmin, với di là trị số giữa cỡ kính thứ i và dmin là trị số quan sát nhỏ nhất Phân bố Weibull mô tả các phân bố thực nghiệm có dạng đặc trưng.
- α=1 phân bố có dạng giảm
Để kiểm tra giả thuyết về luật phân bố α t 05 thì có sự sai khác rõ rệt t ≤ t 05 thì không có sự sai khác
- Đánh giá chất lƣợng rừng của khu cứu nghiên cứu Dùng tiêu chuẩn χ n
Bài viết tiến hành so sánh sự sinh trưởng và chất lượng của cây Thông trên các dạng địa hình khác nhau, bao gồm chân núi và đỉnh núi Mục tiêu là xác định sự khác biệt và tương đồng về các chỉ tiêu sinh trưởng của Thông ở các vị trí địa hình này.
Kiểm tra sự thuần nhất bằng cách áp dụng tiêu chuẩn Kruskal và Wallis cho k mẫu độc lập giúp so sánh chất lượng thông ở các vị trí khác nhau Đánh giá này được thực hiện dựa trên mẫu biểu đã được xác định.
Vị trí Tốt Trung bình Xấu Tai
Tbj Tb1 Tb2 Tb3 Ts
T ai là tần số quan sát cấp chất lƣợng i
Tbj là tần số quan sát toàn thí nghiệm
Với fij là tần số thực nghiệm ứng với mẫu j và cấp chất lƣợng i
Tra bảng để xác định χ 05 có bậc tự do k = (c-1)(r-1)
Cấp chất lượng được ký hiệu là c, trong khi r đại diện cho số vị trí địa hình Nếu giá trị χ TT lớn hơn χ 05, sẽ có sự khác biệt rõ rệt về chất lượng Ngược lại, nếu χ TT nhỏ hơn hoặc bằng χ 05, không có sự khác biệt nào được ghi nhận.
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨu
Đặc điểm tự nhiên
Địa giới xã Thanh Liên hiện nay giáp với các xã: Thanh Tiên, Thanh
Mỹ, Phong Thịnh, Thanh Hương Thanh Liên nằm giáp Sông Giăng bên kia sông giáp với xã Cát Văn Xã Thanh Liên có 16 xóm chia làm hai hợp:
Đặc điểm kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
Thanh Liên có tổng diện tích tự nhiên là 1.659,55 ha, trong đó 695,02 ha được sử dụng cho sản xuất nông nghiệp Diện tích đất trồng lúa chiếm 385,47 ha, còn lại là 127,46 ha dành cho cây hàng năm Ngoài ra, khu vực này còn có 628,86 ha đất lâm nghiệp và 96,28 ha đất nuôi trồng thủy sản, cùng với các mặt nước và công trình thủy lợi phục vụ cho phát triển nông nghiệp.
Toàn xã có: 2010 hộ gia đình với: 9357 khẩu, 4397 lao động
Năm nay, chúng ta tập trung vào việc cải tạo đồng ruộng để nâng cao sản xuất nông nghiệp Nhiều mô hình kinh tế và công thức luân canh đã được áp dụng, mang lại hiệu quả tích cực và tạo niềm tin cho người dân trong việc phát triển kinh tế trang trại Điều này đặt nền tảng cho việc xây dựng các đề án phát triển nông nghiệp hàng năm và trong cả nhiệm kỳ Tổng diện tích gieo trồng đạt 864,5 ha.
Diện tích gieo cấy 690,7 ha, Năng suất bình quân 5,77 tấn/ ha, sản lƣợng 3984,9 tấn; 105,2% KH, vƣợt 0,53% so với cùng kỳ
Diện tích gieo trồng 457,8 ha Đạt: 87,5% KH
Cây ngô 251,1 ha, năng suất 4,15 tấn/ ha, sản lƣợng 1042,4 tấn, đạt 94,7% so với KH, vƣợt 22,4% so với cùng kỳ
Cây lạc 15,1 ha, năng suất 25,1 tạ/ ha, sản lƣợng 37,9 tấn, đạt 58% so với kế hoạch 90,1% so với cùng kỳ
Bầu bí 6,5 ha năng suất tấn 400 tạ/ ha sản lƣợng 260 tấn Đạt 95% KH
Rau màu các loại: 57,4 ha, năng suất: 294,4 tạ/ha, Sản lƣợng 1690,1 tấn Đậu các loại: 118,8 ha, năng suất: 7,2 tạ/ha, Sản lƣợng: 85,54 tấn
Mía 11 ha: Năng suất 55 tấn/ha, sản lƣợng 605 tấn
Khoai lang: 24,3 ha Sản lƣợng 241,7 tấn
Tổng sản lượng cây có hạt: 5 027.8 tấn; đạt: 95,8% KH năm
Bình quân lương thực đầu người: 550 kg/người/ năm b Chăn nuôi
Tổng đàn trâu, bò 2474 con Đạt: 97,4% KH năm
Trong đó: Đàn bò 1761 con Trâu 713 con Đàn lợn 2802 con Đạt: 81.09 % KH năm
Trong đó đàn lợn nái 1124 con Đạt: 66.23% KH Đàn gia cầm 67 040 con Đạt 121% Đàn Dê 282 con Đàn ong: 166 đàn
Tổng giá trị sản xuất 188 475 700.000 đồng Đạt 103% KH
Trong đó: Giá trị từ Nông nghiệp 90 536 700.000 đồng, chiếm 48.04 %; Dịch vụ thương mại ngành nghề 56 616.000.000 đồng, chiếm 30.04 %; Công nghiệp, xây dựng, vận tải 41 323.000.000 đồng, chiếm 21.92 %
Bình quân thu nhập đầu người 20 142 749 đồng/người/năm
3.2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng, văn hóa xã hội
Tuyến đường nhựa xóm Liên Đình sẽ được tu sửa và nâng cấp, cùng với việc đào đắp bổ sung một số tuyến nội đồng nhằm cải thiện lưu thông Dự án triển khai cấp phối tuyến 533 đi Liên Đình với tổng kinh phí 430 triệu đồng, đảm bảo đáp ứng các yêu cầu đề ra.
Thi công gói 1 đường bê tông Liên Sơn 450 triệu đồng Đổ và lắp đặt các loại cống, cọc mốc phục vụ cho công tác xây dựng nông thôn mới
Xây dựng tuyến mương Khe tràm 800 triệu đồng
Phối hợp giải tỏa hành lang dọc đường 533 từ chợ Giăng đến cầu Chùa, đồng thời triển khai kế hoạch phòng chống lụt bão và tìm kiếm cứu nạn trong năm.
3.2.3.2 Văn hóa,giáo dục Y tế, văn hóa, giáo dục
Hệ thống cơ sở hạ tầng giáo dục tại tỉnh và huyện đã hoàn thiện, với 100% số xã có trường học kiên cố và cơ sở vật chất đáp ứng tốt nhu cầu dạy và học Tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đến trường cao, cùng với tỷ lệ tốt nghiệp hàng năm đạt trên 95%.
Tất cả các xã đều có trạm y tế với cơ sở vật chất khang trang, bộ máy tổ chức được kiện toàn, và trình độ chuyên môn của cán bộ y tế được nâng cao Điều này giúp nâng cao chất lượng khám chữa bệnh, đáp ứng tốt nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân trong khu vực.
Hiện nay, toàn bộ số xã trong tỉnh và khu vực đều được cung cấp điện, phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt và phát triển kinh tế Hệ thống thông tin liên lạc tại các huyện đã được xây dựng hoàn chỉnh, và hầu hết các xã đều có nhà văn hóa phục vụ cộng đồng.
Tổng số học sinh đầu năm: 1015 em
Trong đó: Trẻ vào mẫu giáo 265 em; tiểu học 424 em; THCS 326 em
Tỷ lệ trẻ em vào lớp 1 đạt 100% Học sinh giỏi tỉnh 2 em, giỏi huyện, cụm
Trường THCS đã đạt được thành tích đáng ghi nhận với 144 em học sinh xuất sắc và 257 em học sinh tiên tiến, đồng thời được công nhận là trường đạt tiên tiến cấp huyện Để nâng cao chất lượng giáo dục, nhà trường sẽ tiếp tục đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục và giữ vững tiêu chuẩn trường Tiểu học đạt chuẩn quốc gia Bên cạnh đó, trường cũng sẽ đầu tư vào cơ sở vật chất để xây dựng trường chuẩn quốc gia trong giai đoạn tiếp theo.
3.2.3 Thực trạng ngành lâm nghiệp xã Thanh Liên – Thanh Chương Nghệ
Công tác khoán rừng và đất lâm nghiệp, cùng với khoán bảo vệ rừng, đã được triển khai theo nghị định 01/CP ngày 4/1/1995 Tại huyện, có 474 hộ nhận khoán bảo vệ rừng với tổng diện tích 2455 ha, bao gồm 1255 ha rừng trồng và 1200 ha rừng tự nhiên; trong đó, xã Thanh Liên có 214 hộ với diện tích 709 ha Diện tích trồng keo là 325 ha, trồng thông 203 ha và các loại cây lâu năm khác như bạch đàn, sưa Ngoài ra, đã thực hiện trồng bổ sung cho một số diện tích khai thác và chặt tỉa cây sâu bệnh Các lớp huấn luyện về phòng chống cháy rừng và phòng trừ sâu bệnh đã được tổ chức cho nông dân, đảm bảo công ăn việc làm và tạo nguồn thu nhập, góp phần phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo cho cộng đồng.
Vai trò của ngành lâm nghiệp trong sự phát triển KTXH của xa
Thống kê rừng hiện có đóng vai trò quan trọng trong việc hạn chế xói mòn và rửa trôi, bảo vệ đất và nguồn nước, đồng thời bảo vệ môi trường và làm đẹp cảnh quan thiên nhiên Bên cạnh đó, rừng cũng góp phần vào an ninh quốc phòng.
Hệ thống rừng và đất lâm nghiệp tại khu vực đã đóng góp quan trọng vào việc ổn định cuộc sống của người dân vùng đồi rừng Sự phát triển kinh tế xã hội không chỉ nâng cao đời sống mà còn củng cố an ninh chính trị và trật tự xã hội trong khu vực đồi rừng và toàn tỉnh Giá trị kinh tế từ rừng và đất lâm nghiệp là một yếu tố then chốt trong sự phát triển bền vững của địa phương.
Giá trị sản xuất lâm nghiệp đã tăng trưởng mạnh mẽ trong những năm qua, với số liệu năm 2005 ghi nhận: sản lượng gỗ đạt 250 m³, củi 136.000 ste/năm, nhựa thông từ 35 đến 40 tấn/năm, và hoa quả từ vườn đạt 85.000 đến 87.000 tấn/năm.
Thông qua hoạt động xây dựng rừng tạo ra công ăn việc làm cho 12.000 ÷ 14.000 lao động tại chỗ, tạo thêm nguồn thu nhập cho người dân vùng đồi rừng.
KẾT QUẢ
Kết quả nghiên cứu cấu trúc của rừng trồng Thông Nhựa
4.1.1 Mật độ và độ tàn che
4.1.1.1 Mật độ trồng (Phải giải thích được ảnh hưởng của mật độ đến sinh trưởng tại thời điểm hiện tại chứ không đi viết lại lý luận)
Mật độ trồng rừng là số lượng cây trên một đơn vị diện tích, đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành cấu trúc quần thể rừng Mật độ trồng quyết định thời gian khép tán của rừng; mật độ cao giúp rừng khép tán sớm hơn Sau khi khép tán, mật độ ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của từng cá thể và toàn bộ quần thể, cũng như đến chất lượng gỗ Mật độ còn có thể kiểm soát tỷ lệ chiều cao và đường kính của cây, hạn chế những đặc tính xấu như thân cong hay tỉa cành kém, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng và chất lượng gỗ.
Biểu 4.1: Mật độ cây rừng tại khu vực nghiên cứu
Vị trí Chân Sườn Đỉnh
Độ tàn che tại các OTC dao động từ 0,68 đến 0,70, với mức cao nhất ở Chân và thấp nhất ở sườn, cho thấy ánh sáng được tận dụng hiệu quả nhất ở khu vực chân Tuy nhiên, mức độ sử dụng ánh sáng trong rừng Thông vẫn còn thấp, điều này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải thiện công tác chăm sóc và bảo vệ rừng nhằm nâng cao khả năng sử dụng ánh sáng, từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng của cây rừng.
4.1.2.1 Quy luật phân bố số cây theo đường kính ngang ngực (N/D 1.3 )
Quy luật phân bố số cây theo đường kính là một quy luật cơ bản trong lâm phần, giúp xác định các yếu tố điều tra như mật độ hiện tại (N) và các chỉ tiêu bình quân Quy luật này cũng là cơ sở để dự đoán các yếu tố của lâm phần tại một thời điểm nhất định, từ đó đưa ra các biện pháp hợp lý nhằm tăng năng suất rừng Để mô phỏng phân bố N/D1.3, đề tài đã sử dụng phân bố Weibull để điều chỉnh phân bố thực nghiệm tại khu vực nghiên cứu, với kết quả được tổng hợp trong biểu 4.3.
Biểu 4.3: Kết quả mô hình hóa quy luật phân bố N/D 1.3
Vị trí α Λ Phương trình lý thuyết χ² n χ² 05
Kết quả từ biểu 4.3 cho thấy phân bố N/D1.3 ở các OTC có χ n < phỏng phân bố N/D1.3 thực nghiệm cho các lâm phần Thông nhựa tại khu vực nghiên cứu Phân bố N/D1.3 của lâm phần Thông Nhựa có dạng đường cong một đỉnh lệch phải (α>3) với 100% dữ liệu, trong đó giá trị nhỏ nhất ở vị trí đỉnh là 0,37 Hình ảnh mô hình hóa phân bố N/D1.3 được thể hiện qua các ôtc 1,3,5, mô tả cho ba dạng địa hình: chân, sườn và đỉnh.
4.1.2.2 Quy luật phân bố số cây theo chiều cao vút ngọn (N/H vn ) Phân bố N/Hvn là phân bố phản ánh một mặt của đặc trƣng sinh thái và hình thái quần thể thực vật rừng, đồng thời phản ánh hiện trạng và trình độ kinh doanh Dựa vào phân bố N/H vn mà các nhà nghiên cứu có thể tính đƣợc mật độ hiện tại, dự đoán đƣợc trữ lƣợng rừng ở các cấp chiều cao khác nhau Đặc biệt, là dựa vào phân bố này để biết được tình hình sinh trưởng của rừng về chiều cao Vì vậy, phân bố N/Hvn cần đƣợc nghiên cứu để nắm chắc quy luật cấu trúc rừng, từ đó đề xuất các biện pháp tác động phù hợp phát triển rừng ổn định theo mục đích kinh doanh, lợi dụng rừng Để mô phỏng phân bố N/Hvn thực nghiệm tại khu vực nghiên cứu đề tài đã sử dụng phân bố Weibull nắn phân bố thực nghiệm
4.1.3 Quy luật tương quan H vn /D 1.3
Trong các lâm phần thuần loài đều tuổi, nghiên cứu đã chỉ ra mối quan hệ chặt chẽ giữa chiều cao và đường kính của cây Việc hiểu rõ quy luật này là cần thiết cho công tác điều tra kinh doanh lợi dụng rừng, vì chiều cao là một yếu tố quan trọng trong các chỉ số phục vụ cho điều tra này.
Có rất nhiều dạng phương trình tương quan mô phỏng quan h nay nhưng ở đây sử dụng phương trình
Hệ số xác định (R²) trong nghiên cứu cho thấy giá trị dao động từ 0,65 đến 0,84, với giá trị cao nhất ở sườn là 0,84 và thấp nhất ở chân là 0,65, điều này chứng tỏ mối quan hệ chặt chẽ giữa Hvn và D1.3 Tham số a có giá trị nhỏ nhất tại sườn là -4,63 và lớn nhất tại chân là -3,51, trong khi tham số b tại sườn đạt giá trị lớn nhất là 14,84 và nhỏ nhất tại chân là 13,86 Kết quả mô hình hóa tương quan Hvn/D1.3 được minh họa qua hình ảnh, với otc 1,3,5 mô tả cho ba dạng địa hình: chân, sườn và đỉnh.
Sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn)
Chiều cao cây là chỉ số quan trọng phản ánh tình trạng sinh trưởng của lâm phần, chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như loài cây, mật độ trồng, điều kiện lập địa và mức độ thâm canh Kết quả tính toán các chỉ tiêu sinh trưởng sẽ cung cấp cái nhìn tổng quan về sự phát triển của cây trồng trong rừng.
Sinh trưởng đường kính ngang ngực (D 1.3 )
Đường kính cây rừng là chỉ tiêu quan trọng phản ánh tình hình sinh trưởng của từng cá thể, bao gồm thể tích (V) và trữ lượng (M) Chỉ tiêu này thể hiện khả năng tận dụng điều kiện tự nhiên của cây trồng và đánh giá hiệu quả của các biện pháp tác động Kết quả này được tổng hợp để cung cấp cái nhìn tổng quan về sức khỏe và phát triển của rừng.
Vị trí Tốt Trung Bình xấu Tai
4 3.1 Tính toán mật độ thích hợp cho các dạng địa hình
Từ kết quả tình toán Dt tôi tính toán mật độ thích hợp (Notp) theo công thức:
Notp = [Theo Kell-1932] (4.1) Trong đó: Notp là mật độ tối ƣu (cây/ha)
Từ Notp chúng ta có thể tính đƣợc số cây cần tỉa thƣa ở mỗi vị trí địa hình theo công thức:
Nc=Nht - Notp (cây/ha) (4.2) Trong đó: N c là số cây cần chặt
Nht là mật độ hiện tại Qua đó tính cường độ chặt theo công thức:
Tại ba vị trí địa hình, N otp đều nhỏ hơn N ht, cho thấy cần áp dụng biện pháp chặt tỉa thưa Cụ thể, tại vị trí chân cần chặt 414 cây/ha, trong khi tại sườn là 429 cây/ha Cường độ chặt tại sườn là 43.2% và tại đỉnh là 45.6% Số lượng cây cần chặt khá cao, chủ yếu là những cây xấu, cong queo, và sâu bệnh, nhằm tăng không gian dinh dưỡng cho các cây khỏe mạnh phát triển Bên cạnh đó, cần có thêm các biện pháp lâm sinh tác động vào rừng.
UBNN là đơn vị chuyên trách trồng rừng, chăm sóc và bảo vệ rừng, với mục tiêu nâng cao chất lượng rừng và phủ xanh đất trống Kết quả điều tra cho thấy, bên cạnh diện tích rừng tự nhiên, các loài cây chủ yếu được trồng là Keo và Bạch đàn Đặc biệt, rừng trồng Thông đuôi nhựa không chỉ góp phần cải thiện môi trường mà còn đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế nhờ việc thu hoạch nhựa.
4.3.2 Đề xuất một số biện pháp phát triển rừng trồng Thông đuôi ngựa
Ban quản lý rừng UBNN chịu trách nhiệm chính trong việc trồng, chăm sóc và bảo vệ rừng Điều tra cho thấy, ngoài diện tích rừng tự nhiên, cây trồng chủ yếu là keo và bạch đàn, nhằm phủ xanh đất trống đồi núi và khai thác nhựa Đặc biệt, thông đuôi ngựa là một loài cây quan trọng đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế.
Với mục tiêu nâng cao sản lƣợng và năng suất rừng trồng tại khu vực nghiên cứu tác giả đề xuất các giải pháp sau:
Theo nghiên cứu về cấu trúc và chỉ tiêu sinh trưởng của cây Thông đuôi nhựa, rừng Thông nhựa tuổi 9 tại khu vực này đang phát triển tốt Tuy nhiên, cây rừng đã bắt đầu cạnh tranh về không gian và dinh dưỡng Do đó, cần áp dụng các biện pháp như chặt nuôi dưỡng, chăm sóc và bảo vệ rừng trong thời gian tới để duy trì sự phát triển bền vững.
Tại khu vực nghiên cứu, cây thông nhựa đã bắt đầu khép tán, dẫn đến sự cạnh tranh về không gian dinh dưỡng Do đó, cần thiết phải chặt bỏ một số cây kém chất lượng, bao gồm những cây phẩm chất C, cây bị chèn ép, cây còi cọc và sinh trưởng chậm, nhằm tạo điều kiện cho những cây khỏe mạnh phát triển tốt hơn.
Trong giai đoạn này, cây thông nhựa dễ bị tấn công bởi nhiều loại sâu bệnh hại như sâu ăn lá, sâu đục nón và bệnh rơm lá Do đó, việc phát hiện sớm và áp dụng các biện pháp phòng trừ kịp thời là rất quan trọng để bảo vệ cây trồng.
Công tác phòng cháy chữa cháy rừng đối với Thông nhựa tuổi 9 tại khu vực nghiên cứu là rất quan trọng, đặc biệt trong mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Cần tăng cường tuần tra, thiết lập đường ranh cản lửa và đảm bảo chữa cháy kịp thời khi xảy ra cháy.
Nghiên cứu và phổ biến các mô hình nông lâm kết hợp (NLKH) là cần thiết để cải thiện đời sống của người dân làm nghề rừng Những mô hình này không chỉ giúp người dân chăm sóc cây nông nghiệp hiệu quả hơn mà còn bảo vệ và phát triển cây rừng, từ đó tạo ra lợi ích bền vững cho cộng đồng.