TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu về cây Mỡ
1.1.1 Đặc điểm hình thái, sinh thái học loài cây Mỡ
Tên: Tên khoa học: Manglietia glauca Bl ( M conifera Dandy )
Gỗ Mỡ, có màu trắng hoặc vàng nhạt, là loại gỗ mềm nhẹ với tỷ trọng 0,480 ở độ ẩm 15% Gỗ này có dăm mịn, thịt đều, ít co rút và nứt nẻ, đồng thời cũng ít bị mối mọt và mục Nó chịu được mưa nắng, dễ dàng trong việc cưa xẻ, bào trơn, tiện, chạm trổ, và có khả năng bắt sơn tốt Gỗ Mỡ được ưa chuộng và sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, bao gồm làm cột, kèo nhà, đồ mộc, bàn ghế, giường, tủ, công nghệ dán lạng và sản xuất bút chì.
Đặc điểm hình thái: Mỡ là cây gỗ lớn thường xanh cao tới 25-
Cây có chiều cao khoảng 30m, đường kính ngang ngực 30 cm và có thể đạt tới 50-60 cm Thân cây tròn, thẳng, với vỏ màu xám bạc và thịt trắng có mùi thơm đặc trưng Cây có thân đơn trục với một ngọn chính, lúc còn non có hình tháp và cành nhỏ mọc quanh thân Lá đơn mọc cách, phiến lá hình trứng, gân nổi rõ ở cả hai mặt và cuống lá mảnh Hoa lưỡng tính lớn, màu trắng phớt vàng, thường mọc đơn độc ở đầu cành Quả kép hình trụ, hạt màu đỏ, nhẵn bóng và có mùi thơm.
Cây mỡ, một loài cây lá rộng thường xanh, thường xuất hiện trong rừng thứ sinh tại các tỉnh Yên Bái, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Phú Thọ, Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh Loài cây này thường sống chung với các cây giổi, giẻ, trâm, ngát và gội.
Cây mỡ thích hợp với vùng có lượng mưa từ 1400 - 2000 mm/năm và không quá 2 tháng khô hạn với lượng mưa dưới 50 mm/tháng Nhiệt độ trung bình hàng năm lý tưởng cho cây mỡ là từ 22 - 24°C, với nhiệt độ tối cao tuyệt đối là 42°C và tối thấp là -1°C Cây mỡ ít chịu nắng nóng và giá rét, đặc biệt trong giai đoạn tuổi non, do đó cần được che bóng dưới 18 tháng tuổi Cây phát triển tốt nhất ở mức ánh sáng bằng 1/3 ánh sáng trực xạ tự nhiên, và ánh sáng gay gắt vào mùa hè, mùa thu không thuận lợi cho sự sinh trưởng của cây Khi cây lớn, yêu cầu ánh sáng tăng lên, nếu không đủ ánh sáng sẽ dẫn đến sự phát triển yếu kém Cây mỡ ưa đất tốt, sâu ẩm, thoát nước và giàu mùn, thường xanh quanh năm và ra hoa vào tháng 3-4, quả chín vào tháng 8-9.
Hạt được thu hoạch vào tháng 8-9, khi quả chín chuyển từ màu xanh sang xám với các đốm trắng Sau khi tách quả, hạt có màu đỏ tươi, vỏ cứng màu đen và nhân trắng chứa tinh dầu.
Khi quả chín và nứt, cần thu hái ngay để tránh chim ăn mất lớp thịt mềm và làm rụng hạt Hái quả khi mới bắt đầu chín nứt và ủ thành đống cao dưới 50 cm trong 2-3 ngày, đảo đều hàng ngày để quả chín đều Sau đó, phơi quả dưới nắng nhẹ hoặc trong bóng râm cho đến khi nứt hẳn Tách quả để lấy hạt đỏ, ngâm hạt trong nước lã và chà sạch lớp cùi ngoài, rửa thật sạch để lấy toàn bộ hạt đen Cuối cùng, hong hạt nơi râm mát cho ráo nước trước khi sử dụng.
Hạt Mỡ có dầu dễ bị mất phẩm chất, vì vậy nên bảo quản chúng trong cát ẩm để giữ được trong vài tháng Tuy nhiên, cách tốt nhất là gieo hạt ngay sau khi thu hái.
Mỡ không có quả đều, với khoảng 50-60% số cây cho quả Cây trong rừng thường ít quả hơn so với cây đứng riêng lẻ, mỗi cây có thể thu hoạch từ 5-6 kg quả Từ 1 kg quả tươi, ta có thể thu được 0,2 kg hạt đỏ, với tỉ lệ hạt đen so với hạt đỏ là 1/4 Đặc biệt, 1 kg hạt đen chứa từ 25.000 đến 26.000 hạt.
Để chuẩn bị vườn ươm hiệu quả, đất cần phải tơi xốp, có độ ẩm thích hợp, thoáng khí và dễ thoát nước Loại đất lý tưởng là đất sét pha nhẹ hoặc trung bình, ít chua và có độ dốc không đáng kể Cần cày bừa kỹ lưỡng và tạo luống cao từ 10-20cm, dài 10m và rộng 0,8-1,0m Đối với đất chua, nên bón vôi để cải thiện độ pH Trước khi gieo ươm, hãy bón lót khoảng 3-4 kg phân chuồng hoai trên mỗi mét vuông.
Trước khi gieo hạt mỡ, cần xử lý hạt để đảm bảo tỷ lệ nảy mầm cao Tùy theo điều kiện thời tiết, có thể ủ hạt với cát ẩm cho đến khi hạt nứt nanh hoặc ngâm hạt trong nước lã hoặc nước ấm (không quá 40 độ C) tối đa 24 giờ Khi gieo, có thể gieo vãi nếu sau này cấy cây hoặc gieo theo hàng với khoảng cách 10-15 cm Ban đầu, cây trong hàng cách nhau 5 cm và sau đó tỉa thành 10 cm.
15 cm, lấp đất sâu khoảng 1cm, che phủ mặt đất bằng rơm đã khử trùng
+ Thời vụ gieo chính là vụ thu Gieo sớm, thu hái hạt gieo ngay để kịp trồng vụ xuân
Chăm sóc cây gieo cần tưới nước đều để giữ ẩm cho đất Sau khoảng 12-15 ngày, khi hạt bắt đầu mọc mầm, cần loại bỏ rơm rạ và che nắng để tạo bóng râm cho cây Đồng thời, cần làm cỏ và phá váng mà không làm tổn thương cây non Cũng cần chú ý đề phòng sương muối để bảo vệ cây.
Cây Mỡ non thường có 3-8 lá và dễ bị nấm cổ rễ, gây ra tình trạng chết hàng loạt, đặc biệt trong thời kỳ mưa phùn và nhiệt độ ấm Khi phát hiện cây bị bệnh, cần ngừng ngay việc tưới nước, để cho đất khô, không bón thúc, đồng thời nhổ bỏ cây bệnh và phun thuốc Boócđô để kiểm soát tình hình.
Để cấy cây thành công, đất cấy trên luống hoặc trong bầu cần phải tơi xốp và được bón lót đầy đủ phân hữu cơ, với thành phần hỗn hợp ruột bầu tối thiểu gồm 10% phân chuồng hoai và 1% super lân Thời điểm tốt nhất để cấy là khi cây có 4-5 lá Sau khi cấy, cần thường xuyên giữ ẩm cho đất và thực hiện làm cỏ để phòng chống sâu bệnh.
1.1.2.3 Kỹ thuật trồng cây Mỡ và chăm sóc rừng trồng
+Thời vụ: Vụ xuân trồng vào lúc có mƣa phùn, đất đã ẩm, lƣợng mƣa lớn hơn lƣợng bốc hơi
Vụ thu hoạch thường diễn ra từ cuối tháng 8 đến đầu tháng 10 Để đạt hiệu quả cao, nông dân nên tận dụng những ngày thời tiết râm mát và có mưa rào, khi đất đã đủ ẩm, đồng thời tránh thu hoạch vào những ngày nắng nóng hoặc có mưa lớn.
Phát dọn sạch và đốt trên toàn diện tích chỉ nên áp dụng ở những khu vực địa hình thấp, đồi bát úp, dốc dưới 10 độ, đất sâu và tầng đất dày Sau khi dọn sạch, cần trồng lại cây phủ đất để nhanh chóng có tàn che, và nên lựa chọn cây cốt khí vì nhiều ưu điểm của chúng.
- Phát dọn theo băng đƣợc dùng ở nơi đất dốc, nhất là vùng núi cao, dễ xói mòn, tầng đất mỏng, bốc hơi mạnh
Những nghiên cứu về sinh trưởng
Hiện nay, nhiều nhà khoa học cả trong nước và quốc tế đang nghiên cứu quá trình sinh trưởng của cây rừng và các yếu tố hoàn cảnh liên quan Mỗi tác giả và đề tài nghiên cứu đều có những cách nhìn nhận và đánh giá khác nhau dựa trên quan điểm riêng của họ.
Vào thế kỷ XV nhà bác học Lonard (Hy lạp) là người đầu tiên phát hiện sự sinh trưởng của cây gỗ vào mùa mưa ở vùng khô hạn
Năm 1895, nhà bác học Gompertt đã mô hình hóa quá trình sinh trưởng của cây rừng, từ đó nhiều nhà khoa học cho rằng quá trình này là một hàm đơn điệu chịu ảnh hưởng bởi nhiều nhân tố và trải qua nhiều giai đoạn khác nhau, trong đó ít nhất có một điểm uốn.
P.E.Odum năm 1974 đã xây dựng cơ sở sinh thái học về mối quan hệ giữa các yếu tố sinh trưởng, sinh trưởng có thể định lượng được bằng phương pháp toán học, phản ánh các quy luật tương quan phức tạp trong tự nhiên
Baterson năm 1956 đã phát hiện ra tăng trưởng của thực vật ở các vùng khí hậu khác nhau và kết luận là phụ thuộc vào chế độ thủy nhiệt
Lachor (1978) đã tiến hành nghiên cứu về sự sinh trưởng và khả năng thích nghi của thực vật đối với các điều kiện dinh dưỡng khoáng, ánh sáng và khí hậu Nghiên cứu này cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà thực vật điều chỉnh sự phát triển của chúng trong môi trường sống khác nhau.
T.T.Bisvins (1979) đã cho rằng : các nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây rừng không phụ thuộc vào khí hậu hiện tại mà cả khí hậu vài năm trước đây ( ảnh hưởng của các yếu tố khí hậu rất phức tạp) và phụ thuộc vào từng vùng địa lý khác nhau
Romell (1932) và Ruesh (1955) đã tiến hành nghiên cứu sâu về tác động của các yếu tố cụ thể, đặc biệt là ảnh hưởng của chế độ nước đến sự sinh trưởng của cây.
1.2.2 Ở Việt Nam Ở Việt Nam nghiên cứu đánh giá sinh trưởng rừng trồng đã được nhiều tác giả thực hiện và đã đƣa ra đƣợc những kết luận có ý nghĩa quan trọng phục vụ cho việc lựa chọn loài cây trồng hợp lý và đƣợc cụ thể bởi các đề tài:
Nghiên cứu khảo nghiệm đánh giá sinh trưởng loài cây trồng rừng ở Việt Nam được bắt đầu từ những năm 1930 do các nhà Lâm nghiệp người pháp thực hiện
Phùng Ngọc Lan (1986) đã nghiên cứu các phương trình sinh trưởng cho nhiều loài cây, bao gồm Thông đuôi ngựa và Mỡ Kết quả cho thấy rằng các đường thực nghiệm và đường sinh trưởng lý thuyết hầu hết giao nhau tại một điểm, điều này chứng minh sai số của các phương trình là rất nhỏ Tuy nhiên, có hai giai đoạn sai số ngược dấu nhau một cách hệ thống.
Vào những năm 1980, Nguyễn Hoàng Nghĩa đã tiến hành khảo nghiệm và đánh giá sự sinh trưởng của các loài keo, cho thấy rằng cây keo là một trong những loại cây có tốc độ phát triển nhanh, đáp ứng kịp thời nhu cầu của doanh nghiệp.
Trần Hậu Huệ đã tiến hành khảo sát đánh giá sinh trưởng của các loài E urophylla, E camaldulensis, và E tereticornis tại lâm trường nguyên liệu giấy Trị An – Đồng Nai Kết quả cho thấy loài E camaldulensis có triển vọng sinh trưởng tốt nhất và ít sâu bệnh, tiếp theo là E tereticornis Trong khi đó, loài E urophylla có tỷ lệ sống thấp nhất, chỉ đạt 58,6%, và có sinh trưởng kém hơn so với hai loài còn lại.
Trong nghiên cứu và phát triển rừng trồng, việc xây dựng các biểu cấp đất và biểu quá trình sinh trưởng là rất quan trọng để dự đoán sản lượng và năng suất của rừng trồng.
Nguyễn Ngọc Lung (1987) đã thí nghiệm hàm Gompertt và một số hàm sinh trưởng mô tả quá trình sinh trưởng của một số cây mọc nhanh ở nước ta
Nghiên cứu cho thấy phương trình Schumacher là công cụ hiệu quả để mô tả sự sinh trưởng của một số loài Thông ba lá tại Đà Lạt Xu hướng toán học trong việc nghiên cứu quy luật sinh trưởng đã thu hút sự quan tâm của nhiều tác giả, trong đó có GS Vũ Tiến.
Hinh, Bảo huy,… Đã ứng dụng lý thuyết hàm ngẫu nhiên để nghiên cứu sinh trưởng của cây rừng
Lê Mộng Chân (1994) đã nghiên cứu sự biến động của thời tiết trong năm để dự đoán thời gian nảy mầm của hạt giống, cũng như thời kỳ ra hoa và chín quả.
Nhiều nghiên cứu đã được thực hiện để đánh giá sự sinh trưởng của rừng trồng, với sự đa dạng về loài cây và vùng sinh thái Kết quả cho thấy nhiều loài cây chủ yếu được trồng ở các vùng sinh thái khác nhau tại Việt Nam.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NÔI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích sự sinh trưởng, tăng trưởng và chất lượng của cây Mỡ ở các độ tuổi khác nhau Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm nâng cao hiệu quả của rừng trồng Mỡ tại xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.
Đối tƣợng và pham vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tương nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu là các lâm phần Mỡ trồng thuần loài ở ba tuổi khác nhau là: lâm phần 5 tuổi, 8 tuổi và 10 tuổi
- Về loài cây: Chỉ nghiên cứu về loài cây Mỡ
- Về địa điểm: Chỉ nghiên cứu tại xã Khang Ninh, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
Bài viết này tập trung vào việc nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng và tăng trưởng của rừng trồng Mỡ, đồng thời đánh giá chất lượng của loại rừng này Ngoài ra, bài cũng đề xuất một số biện pháp kỹ thuật lâm sinh nhằm cải thiện hiệu quả quản lý và phát triển rừng trồng Mỡ.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh trưởng, chất lượng rừng Mỡ ở các độ tuổi
5 tuổi, 8 tuổi, 10 tuổi tại khu vực nghiên cứu
2.3.2 Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sinh trưởng rừng Mỡ 2.3.3 Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả trồng rừng Mỡ tại khu vực nghiên cứu.
Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa tài liệu
Thu thập tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồm các thông tin về điều kiện tự nhiên như địa hình, đất đai, đá mẹ, thực bì, khí hậu, cũng như các yếu tố kinh tế xã hội như dân sinh và kinh tế.
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoài thực địa
Trên các mô hình rừng trồng Mỡ thuần loài ở độ tuổi 5, 8 và 10, tiến hành thiết lập 2 ô tiêu chuẩn tạm thời tại các vị trí khác nhau (sườn chân và sườn đỉnh) với diện tích mỗi ô là 1000m² (40m x 25m) Một chiều sẽ song song với đường đồng mức, trong khi chiều còn lại sẽ vuông góc với đường đồng mức Việc xác định góc vuông được thực hiện bằng cách sử dụng thước dây và địa bàn theo định lý Pythagore.
Trong mỗi OTC đƣợc lập tiến hành điều tra đo đếm số liệu về tầng cây cao: D1.3, Hvn, Dt, lớp cây bụi thảm tươi
2.4.2.1 Điều tra tầng cây cao
Các chỉ tiêu về lƣợng
Trong ô tiêu chuẩn đo toàn bộ số cây theo chỉ tiêu sau
- Đường kính (D 1.3 ): Dùng thước kẹp kính đo đường kính ngang ngực
Chiều cao vút ngọn (Hvn) được xác định bằng cách sử dụng sào đo cao kết hợp với thước đo cao Blumeleiss, cho phép đo từ mặt đất đến sinh trưởng ở ngọn với độ chính xác lên đến decimet.
- Chiều cao dưới cành (Hdc): Dùng sào đo cao từ mặt đất đến phân cành đầu tiên với độ chính xác đến dm
Đường kính tán lá (Dt) được xác định bằng cách sử dụng thước dây để đo hình chiếu tán cây theo hai chiều Đông Tây và Nam Bắc Sau khi đo, cần lấy trị số trung bình với độ chính xác đến decimet.
Chỉ tiêu về chất: Việc đánh giá cây tốt trung bình, xấu dựa vào hình thái cây, thân cây, án lá, về trạng thái sinh trưởng của cây
Cây tốt: là những cây thẳng, đẹp, tròn đều, tán lá rộng, không cong queo, sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt
Cây trung bình: là cây có thân hình cân đối, tán lá đều, không cong queo sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát bình thường
Cây phẩm chất xấu là những cây trưởng thành bị khuyết tật nặng như sâu bệnh, cong queo, rỗng ruột, hoặc cụt ngọn, khiến chúng hầu như không có khả năng cung cấp gỗ Ngoài ra, những cây chưa trưởng thành với nhiều khiếm khuyết cũng khó có khả năng tiếp tục sinh trưởng và phát triển đến độ trưởng thành.
Kết quả đo đếm đƣợc ghi vào mẫu biểu 2.1
Biểu 2.1: Điều tra tầng cây cao rừng trồng Địa điểm điều tra: Độ dốc:
Vị trí OTC: Hướng dốc:
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Độ Cao: Người điều tra:
+ Cây bụi thảm tươi:Tiến hành lập 5 ô dạng bản ở 5 vị trí, 4 ô ở 4 góc và 1 ô ở giữa ô tiêu chuẩn Mỗi ô có diện tích là 4 m 2 Cụ thể nhƣ hình vẽ sau:
Cây bụi là loại cây thuộc tầng thấp với thân chính không rõ rệt và nhiều cành nhánh, trong khi thảm tươi là lớp cây cỏ phủ trên bề mặt đất rừng Để điều tra, cần xác định tên loài cây, chiều cao trung bình, độ che phủ của từng loài và độ che phủ chung, thường được thực hiện bằng phương pháp ước lượng Kết quả điều tra sẽ được ghi vào mẫu biểu 2.2.
Biểu 2.2: Điều tra cây bụi, thảm tươi Địa điểm điều tra: Độ dốc:
Vị trí OTC: Hướng dốc:
Số hiệu OTC: Ngày điều tra: Độ Cao: Người điều tra:
Tên loài cây chủ yếu Độ che phủ TB (%)
Phân bố Tình hình sinh trưởng Đều Không đều Tốt Trung bình Xấu
Điều tra đất là quá trình quan trọng tại mỗi lâm phần rừng với độ tuổi khác nhau, trong đó cần tiến hành đào một phẫu diện và mô tả chi tiết theo giáo trình Đất lâm nghiệp của trường Đại học Lâm nghiệp.
Biểu 2.3: Biểu mô tả phẫu diện đất Địa hình: Tên đất: Trạng thái rừng: Độ cao: Số hiệu OTC: Độ tàn che: Độ dốc: Số hiệu phẫu diện: Thực bì:
Hướng dốc Ngày điều tra: Thời tiết:
Tên tầng đất Độ sâu
Màu sắc Độ chặt Độ ẩm Thành phần cơ giới
2.4.3 Phương pháp xử lý số liệu
Các số liệu thu thập đƣợc sẽ đƣợc phân tích và xử lý thống kê bằng phần mềm Excel
Tính các đặc trƣng thống kê để đánh giá kết quả nhƣ sau:
-Xác định tổng tiết diện ngang của lâm phần
+ Tiết diện gang của từng cây trong lâm phần đƣợc tính toán theo công thức: gi+ Tổng tiết diện ngang ô tiêu chuẩn đƣợc tính toán theo công thức:
Gi= (m 3 ) + Tổng tiết diện ngang:
- Xác đinh trữ lƣợng của lâm phần:
+ Thể tích thân cây đƣợc tính theo công thức:
Trong đó: gi là tiết diện ngang của cây thứ i
Hi là chiều cao của cây thứ i f là hình số thân cây (lấy bằng 0.5 đối với rừng trồng)
+ Trữ lƣợng ô tiêu chuẩn đƣợc tính theo công thức:
- Xác định mật độ tối ƣu cho rừng trồng ở các ở các tuổi theo công thức:
Trong đó: - Nopt là mật độ tối ƣu
- D T là đường kínhlá tán trung bình
- Để xác định lượng tăng trưởng của cây Mỡ ở 3 độ tuổi khác nhau,chuyên đề sử dụng công thức tính chung nhƣ sau: ΔM = X tb /A
Trong đó: ΔM là lượng tăng trưởng bình quân
Xtb: là giá trị bình quân của ô tiêu chuẩn
- Tính toán ba mẫu về chất lƣợng rừng trồng chúng tôi sử dụng tiêu chuẩn
: là tần số quan sát mẫu thứ i cấp chất lƣợng thứ j
Tai: là trị số quan sát của mẫu thứ i
Tbj: là tổng trị số quan sát của cấp chất lƣợng thứ j
Ts: là tổng dung lƣợng quan sát
So sánh với 05 2 tra bảng:
=>Nếu n 2 ≤ 05 2 → a mẫu về chất thuần nhất với nhau
=>Nếu n 2 > 05 2 →a mẫu về chất không thuần nhất với nhau
- Tính tiêu chuẩn U theo công thức:
Trong đó: U Là tiêu chuẩn so sánh
X1 Là giá trị trung bình của ô tiêu chuẩn 1
X 2 Là giá trị trung bình của ô tiêu chuẩn 2
S1 Là sai tiêu chuẩn của ô tiêu chuẩn1
S2Là sai tiêu chuẩn của ô tiêu chuẩn2 n1,n2 Là số cây của ô tiêu chuẩn 1 và 2
So sánh |U| với 1,96 ứng với mức ý nghĩa là 0,05
Nếu |U| > 1,96 => Hai mẫu khác nhau
Nếu |U| ≤ 1,96 => Hai mẫu không khác nhau
Tiêu chuẩn U đƣợc dùng để kiểm tra tính thuần nhất của các ô tiêu chuẩn ở cùng một độ tuổi.
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU
Điều kiện tự nhiên
Khang Ninh là một xã miền núi cao nằm ở Tây Bắc của huyện Ba Bể cụ thể:
Phía Bắc giáp xã Cao Thƣợng
Phía Nam giáp xã Quảng Khê
Phía Tây giáp xã Nam Mẫu
Phía Đông giáp xã Cao Trĩ
Khang Ninh cách thị trấn Chợ Rã 10 km, khu vực trung tâm của xã nằm trên trục tỉnh lộ 258 do vậy giao thông của xã tương đối thuận lợi
Xã nằm ở vùng núi với nhiều thung lũng và sườn đồi dốc, tạo nên địa hình phức tạp Tuy nhiên, khu vực trung tâm của xã lại có địa hình tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho hoạt động canh tác nông lâm nghiệp.
Khang Ninh có khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 và mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau.
Theo số liệu trạm khí tƣợng thủy văn Bắc Kạn: nhiệt độ trung bình 22 0 c nhiệt độ thấp nhất 2 0 c nhiệt độ cao nhất 39 0 c
Lượng mưa trung bình hàng năm dao động từ 1.300 đến 1.500 mm, chủ yếu tập trung vào các tháng 7, 8 và 9, gây ra tình trạng ngập úng và ảnh hưởng tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp Vào mùa đông, đặc biệt trong tháng 12 và tháng 1 năm sau, thời tiết rét đậm và sương muối xuất hiện, gây khó khăn cho việc làm mạ và gieo cấy vụ chiêm xuân.
Để tận dụng điều kiện khí hậu với nhiệt độ cao và độ ẩm tương đối, quy hoạch sử dụng đất cần khuyến khích việc trồng nhiều vụ trong năm tại các vùng nông nghiệp Đồng thời, cần thiết lập hệ thống cây trồng có độ che phủ quanh năm nhằm hạn chế hiện tượng rửa trôi và xói mòn đất trong mùa mưa, cũng như giảm bốc hơi nước trong mùa khô, từ đó bảo vệ đất và duy trì nguồn nước, đảm bảo sự bền vững trong sử dụng đất.
Xã Khang Ninh có hệ thống sông, suối và khe rạch phong phú, nổi bật là sông Năng và hồ Ba Bể Trong những ngày mưa lớn, khu vực quanh sông suối thường xảy ra lụt cục bộ Nguồn nước từ hệ thống này không chỉ phục vụ nhu cầu sinh hoạt mà còn hỗ trợ sản xuất của người dân Trung tâm xã Khang Ninh còn có hồ Bản Vài với diện tích 15,43 ha.
Các nguồn tài nguyên
3.2.1 Tài nguyên đất Đất đai xã Khang Ninh có 2 loại đất chính:
Đất phù sa có đặc điểm không được bồi đắp hàng năm, với thành phần cơ giới nặng, giúp giữ nước và duy trì độ màu mỡ tốt Loại đất này rất thích hợp cho nhiều loại cây trồng như đậu đỗ, lúa, ngô, cây thực phẩm và cây ăn quả.
Đất phù sa ngòi suối có thành phần cơ giới nhẹ và hạt thô, thường nằm ở địa hình bậc thang Khi càng xa bờ, thành phần cơ giới của đất trở nên nặng hơn, điều này tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều loại cây trồng phát triển.
Đất dốc tụ trồng lúa nước thường nằm ven đồi với hình dạng bậc thang, được hình thành từ sản phẩm bào mòn của đất đồi Những chất liệu này theo dòng chảy tích tụ thành các rải rộng dốc tụ, chủ yếu phục vụ cho việc trồng lúa một vụ.
Đất feralít biến đổi do trồng lúa nước, hình thành từ các loại đá mẹ khác nhau, dẫn đến sự thay đổi tính chất đất do khai thác canh tác Kết cấu đất bị phá vỡ, màu sắc lớp đất mặt nhạt dần, và tỷ lệ mùn cùng độ tơi xốp giảm Do đó, việc cải tạo đất là cần thiết, kết hợp với việc tận dụng nguồn nước từ các công trình thủy lợi để thâm canh và tăng vụ.
Đất vàng đỏ trên đá phiến thạch sét, kết hợp với sa thạch và các loại đất khác, hình thành từ đá mẹ phiến thạch sét Đất có màu vàng, nâu vàng với thành phần cơ giới nặng Vùng đất có độ dày trên 100cm và độ dốc dưới 20 độ thích hợp cho trồng cây công nghiệp dài ngày như chè, cây ăn quả và cây nông nghiệp ngắn ngày Trong khi đó, vùng đất có độ dốc trên 20 độ và cao trên 200m phù hợp cho phát triển cây lâm nghiệp.
Đất đỏ nâu trên đá vôi được hình thành từ sự phân hủy của đá vôi và diệp thạch vôi dưới ảnh hưởng của biến đổi nhiệt độ và lượng mưa, tạo ra đất có màu nâu sẫm, nâu đỏ hoặc đỏ nâu Loại đất này có tính chất hơi chua và dễ bị hạn vào mùa khô, với tầng đất chứa kết vón măng gan và các mảnh đá mẹ Độ dày trung bình của tầng đất cùng với các đặc điểm này rất thích hợp cho việc trồng các loại cây như đậu đỗ, na, hồng và chuối.
Đất feralít mùn trên núi có độ cao từ 700 đến 1000 m, với độ dốc lớn dẫn đến quá trình phong hóa chậm, tạo ra tầng đất mỏng và màu vàng nhạt Khu vực này xuất hiện nhiều đá lộ đầu và địa hình hiểm trở, nhưng lại có tỷ lệ mùn cao, thích hợp cho một số loại cây trồng như đào, lê, táo, mận và một số cây lâm nghiệp khác.
Xã Khang Ninh sở hữu một hệ thống sông, suối, ao, hồ phong phú, phân bố đồng đều tại các thôn, chủ yếu phục vụ nhu cầu nước sinh hoạt và sản xuất của người dân Tuy nhiên, nguồn nước chưa ổn định do lượng mưa phân bố theo mùa, dẫn đến trữ lượng nước không đồng đều, đặc biệt là trong mùa khô gây hạn hán, ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp.
- Nước ngầm: Xã chưa có khảo sát, điều tra đầy đủ về trữ lượng cung nhưchất lượng nước ngầm
Nhìn chung nguồn cung cấp nước chủ yếu vẫn là nước mặt
Theo kiểm kê đất đai năm 2010, Khang Ninh có 3.475,26 ha đất lâm nghiệp, chiếm 78,37% diện tích tự nhiên, chủ yếu là rừng phòng hộ và rừng đặc dụng Rừng tự nhiên ở các thôn chủ yếu là rừng tái sinh với trữ lượng gỗ nhỏ Tài nguyên rừng ở đây rất đa dạng, phong phú với nhiều loại động thực vật quý hiếm có trong sách đỏ Việt Nam và thế giới Từ khi thành lập Vườn quốc gia, công tác quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng đã được tăng cường, và theo ý kiến của người dân, nhiều loại động vật quý hiếm như phượng hoàng đất, khỉ, hươu đã quay trở lại sinh sống.
Tính đến tháng 5 năm 2010, xã có 4.064 khẩu và 916 hộ, với sự hiện diện của các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao, Mông Trên địa bàn xã, hầu như không có làng nghề truyền thống, và một phần diện tích thuộc khu bảo tồn quốc gia Ba.
Bể thuận lợi cho phát triển du lịch nghỉ dƣỡng
Trong những năm gần đây, xã Khang Ninh đã nhận được sự quan tâm từ Cấp ủy Đảng và Chính quyền, giúp địa phương vượt qua khó khăn và phát triển Khang Ninh đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng trong lĩnh vực kinh tế và văn hóa, đồng thời giữ vững an ninh trật tự, được tỉnh và huyện ghi nhận qua nhiều bằng khen và giấy khen.
Thực trạng môi trường
Xã miền núi với địa hình phức tạp và nhiều dãy núi, cùng với thảm thực vật đa dạng, tạo ra những cảnh quan hấp dẫn cho du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng và nghiên cứu hệ sinh thái.
Những sườn đồi uốn lượn và ruộng bậc thang tạo nên vẻ đẹp hoang sơ của vườn quốc gia Ba Bể Với diện tích lớn, khu vực ven hồ có nhiều vách đá hiểm trở và hệ thống hang động phong phú, nơi đây sở hữu cảnh quan đa dạng và kỳ thú Để đảm bảo sự phát triển bền vững trong tương lai, cần thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái hiệu quả.
Khang Ninh sở hữu diện tích rừng rộng lớn với hệ sinh thái phong phú, bao gồm đa dạng thực vật và động vật Nếu được bảo vệ và quản lý hiệu quả, khu vực này sẽ trở thành điểm đến tiềm năng cho du lịch sinh thái và khai thác bền vững nguồn lợi rừng.
Kinh tế – xã hội
3.4.1 Thực trạng phát triển các ngành kinh tế
Trong lĩnh vực nông nghiệp, việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng và vật nuôi là rất quan trọng, cùng với đó là đầu tư vào sản xuất kết hợp với chế biến sản phẩm Cần chú trọng phát triển những loại cây trồng và vật nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái và thổ nhưỡng của địa phương, nhằm mục tiêu đa dạng hóa sản phẩm nông nghiệp.
Xã chủ yếu tập trung vào trồng lúa, ngô và rau củ quả Diện tích đất trồng lúa lên tới 377,5 ha với năng suất đạt 50 tạ/ha, sản lượng trung bình hàng năm đạt 1680 tấn.
Ngành chăn nuôi đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra nguồn thu nhập bổ sung cho người dân, với các mô hình chăn nuôi chủ yếu là trang trại tập trung và một số hộ chăn nuôi nhỏ lẻ Đến năm 2010, tổng đàn gia súc và gia cầm đạt 1153 con, trong đó có 448 con bò, 3085 con lợn và 13507 con gia cầm.
Trong những năm qua, nhờ vào sự đầu tư của Đảng và Nhà nước qua các chương trình dự án như Dự án 661 và chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng từ năm 1999, xã đã thực hiện theo quyết định 147 với sự chủ trì của Vườn Quốc gia Ba Bể, trồng 200 ha rừng.
Khang Ninh không có khu công nghiệp mà chủ yếu phát triển các ngành nghề tiểu thủ công nghiệp Hiện tại, nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của người dân đã dẫn đến sự hình thành các ngành nghề như sản xuất vật liệu xây dựng, bao gồm cát, đá và sỏi với quy mô nhỏ Ngoài ra, còn có các dịch vụ sửa chữa cơ giới phục vụ nông nghiệp và chế biến sản phẩm nông nghiệp đặc trưng như men nấu rượu, cá chua, và tép chua, tất cả đều hoạt động chủ yếu ở quy mô hộ gia đình để phục vụ nhu cầu du lịch địa phương.
Tại trung tâm xã, đã hình thành các cửa hàng buôn bán vật tư nông nghiệp và sản phẩm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày của người dân Đây là nơi mua bán, trao đổi hàng hóa nông sản cho cộng đồng trong xã và khu vực lân cận Bên cạnh đó, các dịch vụ vận tải như xe tải, dịch vụ xuồng và máy say xát cũng đã được phát triển.
3.4.2 Dân số, lao động và việc làm
Năm 2010, tỷ lệ phát triển dân số đạt 1,09% với 4.064 nhân khẩu, góp phần tạo ra lực lượng lao động dồi dào cho xã Sự gia tăng số lao động xã qua các năm đã thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương.
Lao động và việc làm
Xã hiện có tổng cộng 2.344 lao động, trong đó 2.227 người làm trong lĩnh vực nông nghiệp và 117 người làm việc phi nông nghiệp Trình độ của người lao động ngày càng được nâng cao, cho thấy sự cải thiện trong chất lượng nguồn nhân lực.
Việc làm tại xã ngày càng tăng nhờ vào sự phát triển của thương mại dịch vụ Xã đã triển khai nhiều biện pháp tích cực nhằm hỗ trợ và đầu tư xây dựng các mô hình kinh tế, đồng thời phối hợp với các ngành liên quan để thúc đẩy cơ hội việc làm cho người lao động.
Thực trạng phát triển khu dân cƣ nông thôn
Các khu dân cư nông thôn của xã được hình thành từ lâu đời, gồm 15 thôn liên kết với nhau qua các đường liên thôn, liên xóm Kiến trúc nhà ở chủ yếu là truyền thống, do người dân tự xây dựng, phù hợp với lối sống canh tác tiểu nông, kết hợp sản xuất, sinh hoạt và chăn nuôi để phát triển kinh tế Tổng diện tích khu dân cư là 116,31 ha, trong đó diện tích đất ở chiếm 76,09 ha, còn lại 17,53 ha là đất không phải đất ở.
Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Hệ thống giao thông trên quốc lộ 258 đã phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại và giao thương hàng hóa giữa huyện và xã, cũng như giữa các xã với nhau Các thôn bản có đường giao thông cho xe máy, và phần lớn hệ thống này đang được nâng cấp lên bê tông hóa.
Các công trình công ích phục vụ cộng đồng được Nhà nước quan tâm đầu tư: Trường, lớp học, trạm y tế; Trụ sở UBND xã,
Điện xã có đường điện lưới quốc gia đến trung tâm xã
Hệ thống thủy lợi tại xã Khang Ninh hiện chưa hoàn chỉnh và có chất lượng kém, với diện tích đất thủy lợi phân tán khắp các thôn nhưng thiếu quy hoạch cụ thể Nhìn chung, hệ thống này chưa đáp ứng được nhu cầu tưới tiêu, đặc biệt là nguồn nước phục vụ cho phát triển sản xuất nông lâm nghiệp.
3.6.2 Thực trạng phát triển các lính vực xã hội
Xã có ba cấp học: mầm non, tiểu học và trung học cơ sở Để nâng cao chất lượng dạy và học, cơ sở vật chất luôn được đầu tư, sửa chữa và xây mới, tạo điều kiện thuận lợi cho giáo viên và học sinh.
Các trường đã thực hiện hiệu quả năm học với chủ đề “Năm học đổi mới quản lý, nâng cao chất lượng giáo dục”, đồng thời tiếp tục đẩy mạnh cuộc vận động “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”.
Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được đảm bảo với việc thực hiện hiệu quả các chương trình y tế quốc gia và y tế dự phòng Tổ chức khám chữa bệnh ban đầu cho người dân được cải thiện, cùng với những kết quả tích cực trong công tác tuyên truyền vận động kế hoạch hoá gia đình Nhân dân tham gia tích cực vào các chương trình như tiêm chủng mở rộng, chăm sóc sức khoẻ bà mẹ và trẻ sơ sinh, sơ cấp cứu ban đầu, cũng như ngăn ngừa và đẩy lùi dịch bệnh Hoạt động của Ban dân số kế hoạch hoá gia đình cũng được duy trì thường xuyên.
Các hoạt động văn hóa, văn nghệ và thể dục, thể thao tại xã được tổ chức hiệu quả, đặc biệt trong các dịp lễ Tết Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa tại khu dân cư, làng văn hóa và gia đình văn hóa ngày càng được đẩy mạnh Công tác thông tin tuyên truyền về các chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước cũng được các cấp, các ngành chú trọng.
Công tác quân sự địa phương đã đạt được nhiều kết quả tích cực, bao gồm việc hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch khám tuyển quân và huấn luyện dân quân tự vệ Đồng thời, chính sách hậu phương quân đội cũng được thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao ý thức quốc phòng toàn dân thông qua công tác bồi dưỡng chính trị và giáo dục tư tưởng.
Công tác an ninh, trật tự tại xã đã được củng cố và kiện toàn, nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần thực hiện thành công các mục tiêu kinh tế - xã hội Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc được đẩy mạnh, cùng với công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật được tổ chức bài bản, từ đó giữ vững an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội.
3.7 Lịch sử rừng trồng 3 mô hình rừng trồng Mỡ ở xã
Mô hình rừng trồng Mỡ 5 và 10 tuổi của gia đình ông Dương Văn Cảnh thôn Bản Vài
- Mô hình Mỡ 5 tuổi với diện tích là 0.8ha đƣợc trồng vào đầu vụ xuân vào tháng 4 năm 2013
+ Với mật độ trồng ban đầu là 1800 cây/ha, cự lý trồng là 2,5x3, kích thước hố trồng là 40x04x40
+ Rừng đƣợc chăm sóc và bón phân 3 năm đầu, cây đến 5 tuổi đã đƣợc tỉa thƣa 1 lần nên mật độ rừng còn khoảng 1200 cây/ha
- Mô hình Mỡ 8 tuổi với diện tích là 0.7ha đƣợc trồng vào đầu vụ thu vào tháng 8 năm 2010
+ Với mật độ trồng ban đầu là 1600 cây/ha, cự lý trồng là 2,5x2,5, kích thước hố trồng là 40x04x40
+ Rừng đƣợc chăm sóc và bón phân 3 năm đầu, cây đến 5 tuổi đã đƣợc tỉa thƣa 1 lần nên mật độ rừng còn khoảng 1000 cây/ha
Nhà nước hỗ trợ gia đình về giống và vốn, đồng thời cử cán bộ từ Trung tâm Khuyến nông tỉnh và Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện hướng dẫn kỹ thuật trồng và chăm sóc cây trồng phù hợp với từng loại đất rừng.
Mô hình rừng trồng Mỡ 10 tuổi của gia đình Dương Văn Thứ thôn
Nà Làng cho biết diện tích rừng trông là 1 ha, đƣợc trồng vào đầu vụ thu vào tháng 9 năm 2008
- Trông với mật độ là 1600cây/ha cư lý trồng là 3x3, kích thước hố trồng là 40x40x40
- Rừng đƣợc chăm sóc và bón phân 2 năm đầu, khi cây đến 5 tuổi cây đƣợc tỉa thƣa 1 lần nên mật độ giảm xuống còn có 1000cây/ha
- Giống cây trồng được nhà nước hỗ trợ và có các cán bộ của phòng nông nghiệp hương đẫn ký thuật trồng.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Đặc điểm sinh trưởng và chất lượng rừng trồng Mỡ
4.1.1 Sinh trưởng đường kính D 1.3 ở các độ tuổi khác nhau
Cây mỡ là loài cây trồng phát triển tốt trong nhiều loại địa hình và điều kiện khác nhau Quá trình sinh trưởng của cây mỡ và cây rừng nói chung chủ yếu phụ thuộc vào hoạt động của thượng tầng, với sự sinh trưởng mạnh mẽ nhất diễn ra vào mùa Xuân Đường kính D 1.3 là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá mức độ sinh trưởng của rừng, phản ánh tốc độ sinh trưởng nhanh hay chậm của cây rừng.
Kết quả nghiên cứu sinh trưởng đường kính D1.3 của cây Mỡ ở các tuổi khác nhau đƣợc tổng hợp tại bảng 4.1nhƣ sau:
Bảng 4.1: Sinh trưởng D 1.3 của cây Mỡ ở các cấp tuổi khác nhau
Vị trí 5 tuổi 8 tuổi 10 tuổi
Qua bảng 4.1 cho thấy sinh trưởng bình quân D 1.3 của Mỡ như sau:
- Lâm phần Mỡ ở cấp tuổi 5: Sinh trưởng về đường kính D 1.3 đạt bình quân ở vị trí sườn chân là 7,55 cm, sườn đỉnh là 7,47 cm
- Ở cấp tuổi 8 đường kính sinh trưởng bình quân của Mỡ ở ví trí sườn chân là 12,79 cm, sườn đỉnh là 12,66cm
- Ở cấp tuổi 10 sinh trưởng về đường kính D 1.3 đạt bình quân ở vị trí sườn chân là 17,52 cm, sườn đỉnh là 16,87cm
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong cùng một điều kiện lập địa và với các biện pháp tác động như chăm sóc, bón phân, làm đất và bảo vệ, sự sinh trưởng của cây trồng có sự cải thiện rõ rệt.
D1,3 của cây Mỡ ở các cấp tuổi 5, 8, 10 trên 2 vị trí địa hình là khác nhau, ở vị trí sườn chân cây ỡ phát triển tốt hơn tại vị trí sườn đỉnh
Kết quả tính toán ở biểu 4.1 trên còn cho thấy hệ số biến động (S%) ở các ô tiêu chuẩn nằm trong khoảng 7,42-9,93% Nhƣ vậy hệ số biến động
(S%)