Trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu đặc điểm sinh thái học
Thanh thất, hay còn gọi là Ailanthus triphysa (Dennst) Alston, thuộc họ Simaroubaceae, là cây gỗ lớn có thể cao tới 30 m và đường kính lên đến 1,2 m Loài cây này ưa sáng, thường xuất hiện trong rừng thường xanh ẩm, phân bố ở độ cao từ 60 đến 1.500 m so với mực nước biển Với nhiệt độ trung bình năm khoảng 27 °C và lượng mưa trung bình 1.920 mm, Thanh thất thích hợp phát triển trên đất pha cát, có khả năng thoát nước tốt Hoa của cây thường nở vào tháng 2 và 3 tại Ấn Độ, trong khi quả chín vào tháng 5 đến tháng 7.
1.1.2 Nghiên cứu về nhân giống
E Getti (2008) đã nghiên cứu nhân giống và kiểm tra đặc tính chống chịu ô nhiễm của kim loại nặng của cây Thanh thất núi (Ailanthus altissima) Tác giả đã nhận thấy rằng tốc độ sinh trưởng và chiều dài chồi bị ảnh hưởng BAP (6-benzylaminoprurine), kết quả tốt nhất đạt được trong môi trường MS có bổ sung 1,32 hoặc 2,64 M BAP Tỷ lệ ra rễ bị ảnh hưởng mạnh bởi IBA (indole-3-butyric acid) [15]
I D’Silva và L D’Souza (1992) đã tiến hành nuôi cấy mô cây Thanh thất, kết quả là số lượng chồi cao nhất là ở môi trường MS có bổ sung 50 mg/l than hoạt tính, 175,29 mM đường sucroza và 133,2 M BA (6-ben- zyladenine) mô cây 2 mầm, số lượng chồi sinh ra nhiều nhất trong môi trường
MS đã được bổ sung 175,29 mM đường sucroza và 88,3 µM BA Chồi từ mô cây trưởng thành không có khả năng sinh trưởng và tạo rễ, trong khi chồi từ cây mầm có thể phát triển và hình thành các chồi nhỏ mới trong môi trường thích hợp.
MS có bổ sung 22,2 M BA, và 2,32 M KN (kinetin) Cây chồi đƣợc tạo rễ
Sau 15 ngày trong môi trường MS với 58,43 mM đường sucroza và 26,85 µM NAA, cây con được chuyển sang môi trường MS mới với 58,43 mM đường sucroza, 5,37 µM NAA và 53,71 µM IAA Cuối cùng, cây con đã được chuyển ra đất và phát triển ngoài hiện trường.
S.R Natesha và N.K Vijayakumer (2004) đã tiến nuôi cây mô cây Thanh thất bằng mô chồi đỉnh và chồi bên từ cây mẹ 3 – 4 tuổi Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng môi trường MS là môi trường nuôi cấy tốt nhất, tỉ lệ tạo chồi 77,9% Việc bổ sung riêng rẽ hoặc kết hợp với IAA, BA với liều lƣợng 3,0 mg/l có kết quả tốt cho việc tạo chồi Việc kết hợp BA (3,0 mg/l) với kinetin (1,0 mg/l) cho số lƣợng chồi trung bình lớn nhất (4,3) Sự tạo rễ đã được thực hiện thành công ở môi trưởng 1/2MS có bổ sung 4,0 mg/l IAA và 0,4 mg/l IBA [19]
1.1.3 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng
Năm 1991, Naveed Shujauddin và B Mohan Kumar đã thực hiện nghiên cứu thử nghiệm trồng cây Thanh thất với bốn nghiệm thức mật độ khác nhau, bao gồm khoảng cách 3 x 1 m và 2 x 1 m.
Nghiên cứu đã thực hiện với các nghiệm thức phân bón gồm 0:0:0, 50:25:25, 100:50:50 và 150:75:75 kg/ha, tương ứng với tỷ lệ N:P2O5:K2O, lặp lại sau 1, 2, 5 năm trồng Kết quả cho thấy mật độ trồng ảnh hưởng lớn đến chiều cao, đường kính, diện tích lá, sinh khối và năng suất, với khoảng cách 2 x 2 m mang lại kết quả tốt nhất Ngược lại, phân bón không có tác động đáng kể đến sự phát triển của cây Thanh thất Tác giả nhận định rằng các nghiệm thức bón phân với hàm lượng cao có thể dẫn đến sự phát triển mạnh của cỏ dại và sâu bệnh, hoặc do đất đã đủ dinh dưỡng cho cây Về sinh khối, phần thân chiếm hơn 70%, trong khi lá chỉ chiếm dưới 7%.
Sự hấp thụ các chất dinh dưỡng N, P, K chủ yếu diễn ra ở lá, tiếp theo là cành, trong khi rễ và thân có mức hấp thụ thấp nhất Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng trong các thí nghiệm với mật độ trồng khác nhau, sự hấp thụ này có sự thay đổi đáng kể.
Các nghiên cứu cho thấy sự tích lũy N, P, K trong cây trồng cao hơn, góp phần tạo ra dinh dưỡng cho sản phẩm thu hoạch Phần thân chỉ chiếm 56 – 64% tổng lượng dinh dưỡng lấy ra, trong khi cành và lá là phần còn lại Khoảng cách trồng rộng hơn (3 x 2m và 3 x 3m) mang lại hiệu quả sử dụng N và K cao nhất, trong khi P lại được sử dụng tốt hơn ở khoảng cách (2 x 2 m) Đặc biệt, những cây trong thí nghiệm không bón phân cho thấy hiệu quả sử dụng N, P và K cao nhất.
B Mohan Kumar và các cộng sự (2001) đã tiến hành nghiên cứu trồng gừng dưới tán rừng Thanh thất với nhiều mật độ và chế độ bón phân khác nhau Tác giả cho thấy tốc độ sinh trưởng của Thanh thất bị ảnh hưởng bởi mật độ và chế độ bón phân, tăng trưởng đường kính đạt 1,28 – 1,60 cm/năm, chiều cao đạt 0,7 – 0,85 cm/năm, sau 4 năm trồng Năng suất rừng đạt cao nhất ở nơi Thanh thất đƣợc trồng với mật độ 2.500 cây/ha, 5 năm tuổi, trên lập địa tốt [14]
1.1.4 Nghiên cứu về giá trị sử dụng của cây Thanh Thất
Gỗ Thanh thất là loại gỗ mềm, thớ mịn, dễ gia công và thường được sử dụng trong ngành sản xuất diêm Ngoài ra, lá cây còn được dùng làm thuốc trừ sâu, trong khi nhựa mủ từ vỏ cây được ứng dụng làm thuốc nhuộm Vỏ thân và vỏ rễ cũng có giá trị y học Cây có dáng đẹp, thích hợp trồng làm cảnh và tạo bóng mát ven đường, được xem là cây đa mục đích trong các chương trình trồng rừng nhiệt đới Thanh thất nổi bật với khả năng sinh trưởng nhanh, năng suất cao và khả năng tái sinh tốt, thường được trồng trong các hệ thống sử dụng đất ở Kerala, Ấn Độ Gỗ của cây còn được sử dụng để sản xuất bao bì, thuyền bè, đồ chơi và làm trống, nhưng ứng dụng quan trọng nhất vẫn là trong ngành sản xuất diêm Nhựa cây cũng được sử dụng rộng rãi trong ngành chế biến thực phẩm và thuốc bản địa.
Ở Việt Nam
1.2.1 Nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học
Thanh thất là một loài cây gỗ lớn, cao tới 30m, với đường kính lên đến 1,2m Thân cây tròn thẳng và phân cành cao, có vỏ màu xám nâu và mùi hắc Lá cây là lá kép lông chim, dài từ 50 – 100cm, thường tập trung ở đầu cành, với cuống lá màu nâu hồng phủ lông mềm Lá chét có từ 11 – 35 đôi, mọc gần đối và có phiến lá hình trứng ngọn giáo, dài 7 – 12 cm, rộng 2 – 4,5 cm Hoa của cây nở vào tháng 3 – 4, có hình chùm viên chuỳ và cánh tràng màu xanh vàng Quả kín dài 5,5 cm và rộng 1,7 cm, chín vào tháng 6 – 7 Cây ưa sáng, thường mọc ở ven rừng hoặc chỗ trống, có khả năng chịu hạn tốt, phân bố rải rác trong rừng thứ sinh ở các tỉnh từ Bắc tới Nam Việt Nam.
Phạm Văn Bốn và cộng sự (2011) đã nghiên cứu đặc điểm sinh thái học của Thanh thất tại Phú Yên và Bình Định Nghiên cứu cho thấy Thanh thất phân bố chủ yếu trên đất Feralit phát triển trên đá Granite với độ dày từ 40-60 cm, chứa nhiều đá lẫn và có tính axít yếu (pH = 5,46 đến 6,24) Đặc biệt, Thanh thất giảm dần theo độ cao so với mặt nước biển, tập trung chủ yếu dưới 300m và thường xuất hiện ở rừng thứ sinh, khoảng trống trong rừng, ven đường và khe suối Khả năng tái sinh tự nhiên từ hạt của Thanh thất là kém, với mật độ cây tái sinh khác nhau ở các cấp độ tàn che của tán rừng, giảm dần khi tàn che tăng Thời gian ra hoa của Thanh thất vào tháng 2, tháng 3, và quả chín vào tháng 5, tháng 6 tại khu vực Đông Nam Bộ.
6 khu vực Nam Trung Bộ thì muộn hơn khoảng 1 tháng, quả chín vào tháng 6,
7 Tỷ lệ cây ra hoa đạt 90%, tỷ lệ cây đậu quả 50% Chỉ thị quả chín: Quả chín có mầu vàng cánh gián Thời điểm thu hái tốt nhất vào lúc lâm phần có trên 50% số cây có quả chín
1.2.2 Nghiên cứu về nhân giống
Vào năm 1998, Trung tâm kỹ thuật Lâm nghiệp Phú Yên đã tiến hành giâm hom cây Thanh thất để khảo sát khả năng ra rễ của chúng nhằm phát triển sản xuất Vật liệu được thu hái từ hai nguồn: hom từ chồi tái sinh già ở rừng tự nhiên An Thọ và hom từ chồi non tại vườn ươm Trạm thực nghiệm Lâm nghiệp Bình Kiến Kết quả sau 30 ngày cho thấy hom từ rừng tự nhiên có tỷ lệ sống 100% (200/200 hom), trong khi hom từ vườn ươm có 33/300 hom chết, 261/300 hom xuất hiện mô sẹo và chỉ 6/300 hom ra rễ Đây là kết quả bước đầu và cần nghiên cứu dài hạn hơn.
Năm 2010, Nguyễn Thành Danh và Vương Đình Tuấn đã nghiên cứu kỹ thuật nhân giống In-vitro cây Thanh thất từ cành bánh tẻ thu từ rừng trồng Kết quả cho thấy, việc xử lý mẫu nuôi cấy bằng cồn 70 độ trong 30 giây, tiếp theo là ngâm trong HgCl2 nồng độ 0,1% trong 3 phút và trong nước javen 40% trong 30 phút mang lại hiệu quả tốt cho việc vô trùng bề mặt mẫu Môi trường nhân chồi tối ưu là 1/2MS với 3,0 mg/l BA và 10% than hoạt tính Mặc dù bổ sung 0,3-0,5 mg/l IBA không kích thích tạo chồi, nhưng giúp chồi vươn dài Đặc biệt, môi trường 1/2MS với IBA 0,5 mg/l đạt tỷ lệ chồi ra rễ lên tới 73,3%.
Phạm Văn Bốn và cộng sự (2011) đã tiến hành nghiên cứu về kỹ thuật bảo quản và xử lý hạt nẩy mầm, cũng như gieo ươm cây con tại Thanh Thất Nghiên cứu này cung cấp những phương pháp hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng cây giống và tối ưu hóa quy trình sản xuất nông nghiệp.
Hạt Thanh thất có thể được xử lý bằng hai phương pháp: xử lý bằng nước lạnh và nước ấm (2 sôi + 3 lạnh), cả hai đều cho kết quả tương tự Tuy nhiên, hạt giống có thể mất khả năng nẩy mầm sau 2-3 tháng nếu để ở điều kiện thông thường Trong môi trường lạnh với nhiệt độ 10 độ C, khả năng nẩy mầm của hạt vẫn được duy trì.
Trong 12 tháng, tỷ lệ nảy mầm của cây Thanh thất đạt 70% Ánh sáng đóng vai trò quan trọng trong quá trình sinh trưởng của cây trong giai đoạn gieo ươm (6 tháng tuổi), với mức độ che bóng 25% mang lại kết quả tốt nhất Hơn nữa, hỗn hợp ruột bầu cũng có tác động rõ rệt đến sự phát triển của cây, trong đó tỷ lệ 90% đất và 10% phân bò hoai là công thức tối ưu cho sự sinh trưởng của cây con.
1.2.3 Nghiên cứu về kỹ thuật trồng Ở Việt Nam, Viện Khoa học Lâm nghiệp Nam Bộ đã trồng mô hình rừng cây mọc nhanh (dự án 661) trên diện tích gần 05 ha cho loài cây này từ năm 2002 Đến nay, cây sinh trưởng tốt, tuy nhiên chưa có nghiên cứu về chọn giống, bón phân, mật độ cây trồng nên mô hình không có cơ sở để mở rộng trên các vùng khác [12]
Từ năm 2007 đến 2012, Viện đã thực hiện đề tài nghiên cứu về kỹ thuật trồng rừng Thanh thất dưới sự chủ trì của Phạm Văn Bốn tại Bình Phước và Khánh Hòa với tổng diện tích 9,6 ha Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi cây giống (6 và 12 tháng) không ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng đường kính và chiều cao của Thanh thất Việc sử dụng cây giống 6 tháng tuổi giúp giảm chi phí chăm sóc trong vườn ươm Ngoài ra, kỹ thuật làm đất có tác động rõ rệt đến sinh trưởng của Thanh thất tại Khánh Hòa trong 26 tháng, và mật độ trồng 1.111 cây/ha cũng cho thấy ảnh hưởng tích cực đến sự phát triển của cây.
Mật độ trồng 833 cây/ha và 1.666 cây/ha mang lại hiệu quả tốt hơn về chiều cao dưới cành và sinh trưởng đường kính Việc chăm sóc rừng bằng thuốc diệt cỏ cho kết quả vượt trội khoảng 10%.
Việc bón lót có tác động rõ rệt đến sự sinh trưởng của rừng trồng Thanh Thất tại hai địa điểm nghiên cứu Các nghiệm thức bón lót cho kết quả tốt nhất, cho thấy hiệu quả vượt trội so với phương pháp chăm sóc rừng thủ công.
Sử dụng 100 g NPK (16:16:8) kết hợp với 200 g vi sinh Sông Gianh hoặc 100 g NPK (16:16:8) cùng với 2 kg phân bò hoai, nghiên cứu cho thấy phân bón thúc không ảnh hưởng đến sự sinh trưởng của cây Thanh thất ở cả hai địa điểm Cần tiến hành nghiên cứu bổ sung để làm rõ hơn về tác động của phân bón này.
Trong hầu hết các thí nghiệm, tăng trưởng bình quân năm về đường kính đạt trên 2,5 cm/năm và chiều cao đạt trên 1,6 m/năm sau 3 năm, tương đương với mức sinh trưởng của cây Bạch đàn và Keo.
Nhóm nghiên cứu đã chỉ ra một số tồn tại trong việc điều tra đặc điểm sinh thái của loài, bao gồm: (1) Phạm vi điều tra còn hạn chế, chỉ tập trung ở hai tỉnh Phú Yên và Bình Định, chưa phản ánh đầy đủ đặc điểm sinh thái khi mở rộng nghiên cứu; (2) Thời gian theo dõi vật hậu mới chỉ qua một mùa, do đó chưa xác định được chu kỳ sai quả; (3) Chưa có giống cây được chọn cho trồng rừng thí nghiệm, dẫn đến độ biến động sinh trưởng lớn (CV > 20%); (4) Chưa thực hiện nghiên cứu về kỹ thuật nuôi dưỡng rừng như tỉa thưa, nhằm cung cấp gỗ lớn và định hướng sử dụng gỗ Thanh thất từ rừng trồng.
Nhận xét chung
Qua các nghiên cứu về nhân giống cây lâm nghiệp, có thể áp dụng các kỹ thuật giâm hom cho cây Thanh thất Các phương pháp trồng rừng như làm đất, bón phân, mật độ trồng và chăm sóc cũng rất quan trọng để nâng cao hiệu quả trồng cây.
Việc nuôi dưỡng rừng thông qua tỉa thưa và trồng mới có thể nâng cao sức sinh trưởng và năng suất của rừng trồng, đặc biệt là đối với cây Thanh thất Tuy nhiên, các nghiên cứu về Thanh thất vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào phân loại, hình thái, đặc điểm sinh học và một số biện pháp kỹ thuật trồng Hơn nữa, sự xuất hiện của Thanh thất trong các quần thể rừng tự nhiên cho thấy tiềm năng sử dụng chúng trong trồng rừng hỗn giao hoặc trong các mô hình làm giàu rừng tự nhiên.
Mục tiêu
Xác định các biện pháp kỹ thuật trồng rừng bổ sung Thanh Thất nhằm mục tiêu cung cấp gỗ lớn, từ đó nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho rừng trồng.
+ Xác định đƣợc một số đặc điểm lâm học của loài Thanh thất
+ Xác định và đề xuất bổ sung đƣợc một số biện pháp kỹ thuật trồng rừng Thanh thất theo mục tiêu cung cấp gỗ lớn.
Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: Cây Thanh thất (Ailanthus triphysa Alston) phân bố trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu đƣợc thực hiện trên địa bàn huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm lâm học của cây Thanh thất
+ Đặc điểm cấu trúc lâm phần;
+ Đặc điểm cây bụi thảm tươi;
3.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất bằng giâm hom
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể tới các chỉ số ra rễ giâm hom;
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của chất kích thích tới các chỉ số ra rễ giâm hom;
3.3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc rừng trồng Thanh thất
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của bón lót;
+ Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng;
Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Kế thừa tài liệu đã có
Các tài liệu phục vụ cho đề tài dưới đây được kế thừa:
Các tài liệu đã có về các thông tin ban đầu liên quan đến khu vực phân bố loài cây và tình hình sử dụng gỗ trên thị trường
Các tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
Các tài liệu tham khảo liên quan đến vấn đề nghiên cứu của đồng nghiệp cũng như các tác giả trong và ngoài nước
3.4.2 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu
3.4.2.1 Phương pháp thu thập số liệu ngoại nghiệp a Các số liệu về tầng cây cao Đối với các số liệu này, đề tài sử dụng phương pháp lập ô tiêu chuẩn (OTC) Tiến hành lập 3 OTC đại diện điển hình theo độ cao cho loài Thanh thất với diện tích mỗi OTC là 500 m 2 (25 x 20m)
Trong mỗi OTC, cần đánh số thứ tự cho tất cả các cây để tiến hành điều tra các chỉ tiêu Đường kính ngang ngực (D1.3) được đo ở vị trí 1,3m cho những cây có D1.3 ≥ 6cm bằng thước kẹp kính có độ chính xác cao Mỗi cây sẽ được đo theo hai chiều Đông – Tây và Nam – Bắc, sau đó lấy giá trị trung bình.
Chiều cao cây được xác định bằng thước Blume-Leiss, bao gồm chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) Đường kính tán (Dt) được đo bằng thước dây theo hai chiều vuông góc và sau đó lấy trung bình.
Các chỉ tiêu đo đếm trên cây đƣợc mô phỏng trong hình 3.1
Trong mỗi OTC tiến hành lập 5 ô dạng bản (ODB), diện tích mỗi ODB là 16m 2 (4 x 4m) đƣợc bố trí: 4 ODB ở 4 góc của OTC và 1 ODB ở chính giữa OTC
Hình 3.2: Sơ đồ bố trí ô dạng bản (OBD)
Trong quá trình điều tra cây tái sinh và cây bụi, cần tiến hành khảo sát trong mỗi ô một cách đồng bộ nhằm bảo vệ cây tái sinh và tối ưu hóa hiệu quả điều tra.
Hình 3.1: Những bộ phận của cây và các kí hiệu về các chỉ tiêu chỉ tiêu đo đếm
13 b Các số liệu về cây bụi thảm tươi
Tiến hành điều tra các chỉ tiêu nhƣ: chiều cao (m), độ che phủ (%), phẩm chất các loài cây bụi, thảm tươi c Các số liệu về tầng cây tái sinh
Khi điều tra cây bụi thảm tươi, tiến hành điều tra tình hình tái sinh trong mỗi ODB Công việc cần triển khai bao gồm:
- Xác định chiều cao cho từng cây tái sinh theo cấp chiều cao có sẵn trong biểu điều tra cây tái sinh bằng sào đo cao
- Phân cấp chất lƣợng cây tái sinh theo 3 cấp: Tốt, trung bình, xấu
+ Cây tốt: Là những cây có tán lá phát triển đều, tròn, có trục chính rõ ràng, không bị sâu bệnh, lá màu xanh, không bị khuyết tật
+ Cây trung bình: Là những cây có tán lá thƣa, số lá ít, ít khuyết tật
+ Cây xấu: Là những cây có tán lá lệch, lá tập trung ở ngọn, sinh trưởng kém, khuyết tật nhiều, bị sâu bệnh
- Xác định số cây tái sinh trong từng ODB
- Xác định nguồn gốc cây tái sinh: Tái sinh hạt hoặc tái sinh chồi d Một số thí nghiệm biện pháp kỹ thuật trồng và chăm sóc
Một số biện pháp kỹ thuật gây trồng đƣợc kế thừa từ đề tài “Nghiên cứu chọn giống và kỹ thuật trồng cây gỗ lớn mọc nhanh (Thanh thất -
Ailanthus triphysa Alston và Chiêu liêu nước - Terminalia calamansanai
Rolfe) trên một số vùng sinh thái trọng điểm” đƣợc thu thập ở huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ năm 2017 Cụ thể nhƣ sau:
Thí nghiệm giâm hom được thiết kế với 3 công thức về giá thể và 9 công thức về loại, nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng Mỗi công thức thí nghiệm sử dụng 30 mẫu và được thực hiện lặp lại để đảm bảo tính chính xác.
3 lần Hom dùng trong thí nghiệm là các hom 1, lấy từ cây mẹ 2 năm tuổi, ở cành giữa tán Các điều kiện khác đƣợc đồng nhất Cụ thể nhƣ sau:
Thí nghiệm về giá thể giâm hom gồm 3 công thức theo ký hiệu sau:
GT1: 100% đất tầng mặt GT2: 70% đất tầng mặt + 30 % xơ dừa GT3: 50% đất tầng mặt + 50 % xơ dừa
Thí nghiệm về loại nồng độ các chất điều hòa sinh trưởng được bố trí với 9 công thức theo ký hiệu sau:
KT1: Không sử dụng kích thích (đối chứng)
Trong nghiên cứu này, chúng tôi đã thử nghiệm các nồng độ khác nhau của IBA và IAA để đánh giá hiệu quả của chúng trong việc kích thích sự phát triển của cây trồng Các nồng độ IBA được sử dụng bao gồm 500 ppm, 1000 ppm, 1500 ppm và 2000 ppm, trong khi các nồng độ IAA là 500 ppm và 1500 ppm Những kết quả này sẽ giúp xác định nồng độ tối ưu cho sự phát triển của cây trồng.
KT8: IAA nồng độ 1000 ppm KT9: IAA nồng độ 2000 ppm
Để đo rễ cây, trước tiên cần nhổ toàn bộ rễ lên và rửa sạch Sau đó, tiến hành quan sát và đếm số lượng cũng như chiều dài của các rễ, đặc biệt chú ý đến những rễ lớn và rễ chính, đo từ gốc đến ngọn rễ Dụng cụ cần thiết bao gồm thước đo có đơn vị centimet (cm) để đo chiều dài, mắt thường để quan sát số lượng rễ, và que để đếm chính xác số lượng rễ.
Thí nghiệm bón phân được thực hiện theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ với 3 lần lặp lại, tạo thành tổng cộng 15 ô thí nghiệm từ 5 công thức khác nhau Diện tích mỗi ô thí nghiệm là 64 cây trên 9 m²/cây, tổng diện tích cho 15 ô thí nghiệm đạt 8.640 m², tương đương 0,9 ha.
Thí nghiệm gồm 5 công thức thức theo ký hiệu sau:
BL1: không bón (đối chứng) BL2: 100 g NPK/cây BL3: 200 g NPK/cây
BL4: 100 g NPK + 200 g phân vi sinh/cây BL5: 100 g NPK + 400 g phân vi sinh/cây
Mật độ trồng 1.111 cây/ha (3 x 3 m 2 ) Phân bón dùng trong thí nghiệm:
NPK tỉ lệ N:P:K = 16:16:8 Phân vi sinh có đặc tính sau: chất hữu cơ: 15%;
P2O5: 1,5%; acid humic: 2,5%; Các chủng vi sinh vật hữu ích: 3 x 106 CFU/g
Kích thước hố trồng 40 x 40 x 40 cm Sau 12 tháng bón phân tiến hành đo đếm các chỉ tiêu D 00 (cm), H vn (m)
Thí nghiệm mật độ trồng được thực hiện trên rừng thuần loài, đều tuổi từ 6 đến 8 tuổi Trong đó, tỉa thưa rừng 12 năm tuổi được áp dụng theo 2 công thức khác nhau.
- Tỉa thƣa rừng 6 năm tuổi Gồm 2 công thức theo ký hiệu sau:
TL1: để lại 833 cây/ha (không tỉa) TL2: để lại 500 cây/ha
- Tỉa thƣa rừng 7 năm tuổi Gồm 2 công thức theo ký hiệu sau:
TN1: để lại 1.111 cây/ha (không tỉa) TN2: để lại 700 cây/ha
- Tỉa thƣa rừng 8 năm tuổi Gồm 2 công thức theo ký hiệu sau:
TT1: để lại 1.667 cây/ha (không tỉa) TT2: để lại 900 cây/ha
Diện tích ô thí nghiệm là 1.600 m 2 Diện tích thí nghiệm: 1.600 m 2 x 2 công thức x 4 lần lặp = 12.800 m 2 = 1,3 ha Tổng diện tích cho 2 thí nghiệm là 1,3 ha/thí nghiệm x 2 thí nghiệm = 2,6 ha
Kỹ thuật tỉa thưa yêu cầu đo đếm để phân cấp đường kính và chiều cao trước khi thực hiện Cây tỉa bao gồm những cây có đường kính và chiều cao nhỏ, cây bị sâu bệnh, và cây có hình dáng xấu, với việc chọn cây tỉa từ cấp thấp nhất trở lên cho đến khi đạt đủ số lượng cây cần chừa lại Cần tránh tỉa liền kề 3 cây trên cùng một hàng, ngay cả khi cây thuộc đối tượng phải tỉa Việc chăm sóc mô hình được thực hiện 1 lần mỗi năm vào đầu mùa mưa, kéo dài trong 4 năm sau khi tỉa Sau khi tỉa thưa, cần tiến hành đo đếm các chỉ tiêu D1.3.
3.4.2.2 Phương pháp xử lí số liệu
Sử dụng Giáo trình Thống kê Toán học trong Lâm nghiệp của GS Nguyễn Hải Tuất kết hợp với bảng tính Excel là phương pháp hiệu quả để xử lý số liệu, đặc biệt đối với tầng cây cao.
* Xác định tổ thành tầng cây cao
Xác định tỷ lệ tổ thành loài theo phương pháp xác định chỉ số IV% (Important value) của Daniel Mamillud, công thức IV% đƣợc tính nhƣ sau:
IV% là tỷ lệ phần trăm tổ thành của một loài so với tổng số loài
N% là tỷ lệ phần trăm theo số cây một loài trong quần xã thực vật
G% là tỷ lệ phần trăm theo tổng tiết diện ngang của một loài trong quần xã thực vật
Cách viết công thức tổ thành:
Viết danh sách các loài từ có hệ số tổ thành cao đến thấp, trong đó phần số thể hiện hệ số tổ thành và phần chữ là viết tắt tên loài Những loài có chỉ số IV% ≥ 5% sẽ được đưa vào công thức tổ thành.
* Xác định mật độ tầng cây cao theo phương pháp nội suy từ OTC theo công thức:
N/ha = n × (1.2) Trong đó: N/ha là mật độ cây trên 1ha
S là diện tích OTC (m 2 ) n là tổng số cây trong OTC
* Xác định độ tàn che theo công thức:
T = (1.3) Trong đó: T là độ tàn che
Gd là tổng giá trị các điểm điều tra
Sd là tổng số điểm điều tra (Sd = 200) Đối với tầng cây tái sinh
* Xác định mật độ cây tái sinh:
Mật độ cây tái sinh đƣợc tính theo công thức:
Mật độ cây tái sinh trên 1 hectare (Nts/ha) được tính bằng công thức Nts/ha = n (1.4), trong đó n là tổng số cây tái sinh trong các ODB của một OTC, và ODB là tổng diện tích của các ODB trong một OTC.
* Phân bố cây tái sinh theo chất lƣợng và nguồn gốc:
Chất lượng cây tái sinh là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển của khu rừng Để đảm bảo một khu rừng khỏe mạnh, cần phải có cây tái sinh có phẩm chất tốt Việc đánh giá chất lượng cây tái sinh dựa trên ba tiêu chí chính: tốt, trung bình và xấu, là cần thiết trong nghiên cứu về tái sinh rừng.
Tỷ số cây tái sinh theo từng cấp chất lƣợng đƣợc tính theo công thức sau: n% = × 100 (1.5)
Tỷ lệ phần trăm n% đại diện cho số lượng cây của một cấp chất lượng trong một OTC, trong khi ni là số lượng cây tái sinh của cấp chất lượng đó trong cùng một OTC.
N là tổng số cây của các cấp chất lƣợng trong một OTC
- Nguồn gốc cây tái sinh:
Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý Đoan Hùng là một huyện đồi núi trung du, nằm tại ngã ba ranh giới giữa tỉnh Phú Thọ với hai tỉnh Yên Bái và Tuyên Quang Diện tích tự nhiên của huyện Đoan Hùng là 302,4 km² Ranh giới hành chính của huyện đƣợc xác định nhƣ sau:
+ Phía Đông Nam giáp huyện Phù Ninh
+ Phía Nam giáp huyện Thanh Ba
+ Phía Tây Nam và phía Tây giáp huyện Hạ Hòa, đều là huyện của tỉnh Phú Thọ
+ Phía Tây Bắc, Đoan Hùng giáp huyện Yên Bình của tỉnh Yên Bái
Huyện Đoan Hùng nằm ở phía Bắc và phía Đông giáp với các huyện của tỉnh Tuyên Quang, cụ thể là huyện Yên Sơn ở phía Bắc và huyện Sơn Dương ở phía Đông Phía Đông Bắc huyện có đoạn cuối của sông Chảy, nơi nước chảy vào sông Lô, một con sông lớn thuộc hệ thống sông Hồng Dọc theo ranh giới với huyện Sơn Dương - Tuyên Quang là dòng sông Lô, nhưng ngã ba giữa sông Chảy và sông Lô lại nằm sâu trong lòng huyện Đoan Hùng.
Huyện Đoan Hùng, với tổng diện tích tự nhiên 30.244,47 ha, nằm ở vùng chuyển tiếp giữa miền trung du và miền đồi núi cao Đặc trưng của huyện là diện tích đất gò đồi chiếm ưu thế, cùng với địa hình phức tạp có sự xen kẽ giữa các cánh đồi Huyện còn nằm trên trục quốc lộ 2 và quốc lộ 70, tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông và phát triển kinh tế.
Huyện 20 đồng lầy thụt có 27 xã và một thị trấn, với 14 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm ưu thế Địa hình huyện phức tạp, thấp dần từ bắc xuống nam và từ tây sang đông, với độ dốc trung bình 3 - 5 độ Nơi đây có nhiều cánh đồng chua, lầy thụt nằm ở các khe dốc, kéo dài 31 km theo hướng tây bắc - đông nam và rộng 14 km theo hướng đông - tây Sự thay đổi độ cao của các vùng trong huyện giảm dần về phía sông Lô và sông Chảy, được chia thành 3 tiểu vùng địa hình.
Tiểu vùng 1, hay còn gọi là tiểu vùng thượng huyện, có diện tích 12.347 ha và bao gồm 9 xã: Bằng Luân, Minh Lương, Bằng Doãn, Quế Lâm, Phúc Lai, Đông Khê, Tây Cốc, Ca Đình, và Ngọc Quan, chiếm khoảng 41% tổng diện tích tự nhiên Địa hình nơi đây chủ yếu là núi cao với rừng tự nhiên suy kiệt, chủ yếu là rừng trồng, có độ dốc trung bình từ 12 - 25 độ Khu vực này có nhiều gò đồi bát úp mấp mô với độ cao trung bình từ 50 - 100 m, tạo điều kiện cho các thung lũng nhỏ hẹp, thích hợp cho việc trồng rừng sản xuất, cây công nghiệp và cây ăn quả.
Tiểu vùng 2, với diện tích 10.800 ha, bao gồm 13 xã như Chí Đám, Vân Du và Thị trấn Đoan Hùng, chiếm 35,7% diện tích tự nhiên Đây là vùng chuyển tiếp với địa hình núi thấp và các dải đồng bằng hẹp ven sông Lô, sông Chảy Đất ở khu vực này chủ yếu là đất phù sa cổ và một phần sình lầy, rất thích hợp cho việc trồng cây lương thực, rau màu, cây công nghiệp ngắn ngày, chăn nuôi và cây ăn quả.
Tiểu vùng 3 (tiểu vùng hạ huyện) có diện tích là 7.097,47 ha, bao gồm
Sáu xã gồm Minh Phú, Chân Mộng, Vân Đồn, Tiêu Sơn, Yên Kiện và Minh Tiến chiếm khoảng 23,5% tổng diện tích tự nhiên, với địa hình chủ yếu là núi thấp và đồi bát úp, xen kẽ nhiều cánh đồng lòng chảo Khu vực này có độ cao phổ biến từ 25 đến 50 m, thuận lợi cho hoạt động chăn nuôi và trồng cây công nghiệp dài ngày, cũng như cung cấp nguyên liệu cho nhà máy giấy Bãi Bằng.
Đoan Hùng, nằm ở vùng trung du Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng ẩm với hai mùa rõ rệt Mùa mưa có lượng mưa cao, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa năm, thường đi kèm với nắng gắt và hiện tượng lốc xoáy cục bộ Ngược lại, mùa khô ít mưa, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông Bắc, mang đến thời tiết lạnh và nhiệt độ thấp.
- Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình năm từ 23 - 24ºC, mùa nóng nhiệt độ từ
27 - 28ºC, mùa lạnh nhiệt độ từ 15 - 16ºC
- Chế độ mƣa: lƣợng mƣa trung bình 1780 mm/năm, phân bố theo mùa rõ rệt mùa mƣa kéo dài 7 tháng (tháng 5- tháng 11)
- Độ ẩm không khí: độ ẩm tương đối trung bình hằng năm là 85%, mùa mƣa độ ẩm cao có thể đạt tới 88%, độ ẩm thấp nhất là 24%
Huyện chịu ảnh hưởng chủ yếu của hệ thống sông Chảy và sông Lô
Sông Lô dài 25km chảy qua huyện từ xã Chí Đám đến xã Vụ Quang, đi qua các xã như Chí Đám, thị trấn Đoan Hùng, Sóc Đăng, Hữu Đô, Đại Nghĩa, Phú Thứ, Hùng Long và Vụ Quang.
Sông Chảy có chiều dài khoảng 22 km chảy qua huyện, bắt đầu từ xã Đông Khê giáp ranh với Yên Bái, theo hướng Tây Bắc - Đông Nam Sông đi qua các xã Phương Trung, Nghinh Xuyên, Phong Phú, Hùng Quan, Thị trấn Đoan Hùng, Vân Du, Chí Đám và cuối cùng đổ vào sông Lô tại Mom Cầy (Ngọc Trúc - Chí Đám).
Sông Hai có lượng phù sa thấp hơn sông Hồng và nước chảy xiết, gây ra lũ lụt lớn trong mùa mưa với lưu lượng 1.150m/s Do đó, công tác phòng hộ đê được chính quyền và người dân trong vùng đặc biệt chú trọng.
Huyện có 28 ngòi như ngòi Nạp Xuyên, ngòi Quế Lâm, ngòi Sống, ngòi Ruỗn, và ngòi Rằm, tạo thành một hệ thống tưới tiêu phong phú Trung bình cứ 3,36 km² lưu vực lại có 1 km ngòi dài, giúp tiêu nước hiệu quả trong mùa mưa lũ và cung cấp nước cho các xã vùng thượng huyện vào mùa khô.
3.1.5 Đặc điểm đất đai Đoan Hùng có những nhóm đất chính sau:
Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét có thành phần cơ giới đa dạng từ thịt nặng đến sét, với tầng đất dày và khả năng thấm nước tốt Đất này chứa lượng chất hữu cơ trung bình và nghèo lân dễ tiêu, đồng thời có độ pH biến đổi từ trung tính đến chua Loại đất này rất thích hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Nhóm đất Feralít đỏ vàng phát triển trên nền phù sa cổ có đặc điểm là hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số nghèo, lân tổng số trung bình, lân dễ tiêu nghèo, và kali tổng số và trao đổi ở mức giàu và trung bình Với những đặc tính này, nhóm đất này rất phù hợp cho sản xuất nông lâm nghiệp.
Nhóm đất thung lũng được hình thành từ sản phẩm dốc tụ, với thành phần cơ giới chủ yếu là thịt trung bình đến thịt nặng Đất có hàm lượng chất hữu cơ và đạm tổng số khá, nhưng lân tổng số và lân dễ tiêu lại nghèo Độ pH của đất này thường ở mức chua đến rất chua Nhóm đất này chủ yếu được sử dụng để gieo trồng lúa nước và các loại cây màu.
Điều kiện kinh tế xã hội
3.2.1 Hiện trạng dân số, dân tộc, lao động và phân bố dân
Năm 2010, Đoan Hùng có dân số 104.471 người, với mật độ 345,23 người/km2; trong đó, dân số nông thôn chiếm 93,63% và dân số thành thị 6,37% Có 57.000 người trong độ tuổi lao động, chiếm 54,56% tổng dân số, trong đó chỉ có 2,7 nghìn người làm việc trong khu vực kinh tế Nhà nước Cơ cấu dân số huyện Đoan Hùng chủ yếu là dân số trẻ, với hơn 80% tổng dân số là người trong độ tuổi lao động, trẻ em đi học và chưa đi học.
Trong giai đoạn 2010 - 2020, huyện sẽ nỗ lực tạo ra việc làm cho người lao động, phát triển các ngành nghề mới và xây dựng trung tâm đào tạo nghề Công tác đào tạo đã được chú trọng, với sự phát triển mạnh mẽ của các trường và trung tâm dạy nghề, đặc biệt là các khóa học ngắn hạn Nhờ thực hiện các chương trình phát triển kinh tế - xã hội và chương trình quốc gia về giải quyết việc làm, từ 2010 - 2013, huyện đã tạo ra gần 25.000 việc làm mới trong các lĩnh vực như may mặc, thêu ren, sửa chữa cơ khí, điện dân dụng, tin học văn phòng, dược, chăn nuôi và trồng trọt.
3.2.2 Thực trạng phát triển cơ sở hạ tầng
Đoan Hùng sở hữu mạng lưới giao thông phát triển với hai tuyến quốc lộ 2 và 70 chạy xuyên suốt huyện Trong đó, 12 xã được kết nối trực tiếp với quốc lộ và 16 xã có đường rải cấp phối Hiện tại, toàn bộ 28 xã và thị trấn trong huyện đều có đường giao thông đến trung tâm xã, tạo thành mạng lưới liên kết giữa các xã và trung tâm huyện cũng như các trung tâm kinh tế trong vùng.
+ Đường thuỷ: có 2 hệ thống đường thuỷ quan trọng trong lưu thông hàng hoá và các lâm đặc sản trong khu vực đó là sông Lô và sông Chảy
Huyện hiện có 70 km kênh mương và 14 trạm bơm với công suất tưới 1.400 ha và tiêu 450 ha Hệ thống mương máng dẫn nước được đầu tư cải tạo và xây mới thường xuyên Tổng diện tích đất được tưới là 3.200 ha, trong khi diện tích còn lại phụ thuộc vào nước mưa, thường xuyên gặp tình trạng khô hạn Địa hình chủ yếu là đồi với các cánh đồng nhỏ lẻ và thung lũng hẹp, do đó, vấn đề thủy lợi chủ yếu là đắp đập và làm mương để giữ nước phục vụ tưới cho nông nghiệp theo phương thức tự chảy Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng các hồ đập còn thấp, cần nâng cấp và khai thác hiệu quả hơn các công trình thủy lợi để đáp ứng tốt hơn cho sản xuất nông nghiệp.
Hệ thống điện tại huyện được cung cấp từ đường dây 35KV từ Thác Bà và các đường dây 10KV từ trạm trung gian Tây Cốc và Thanh Ba Hiện nay, lưới điện trong huyện đã hoàn chỉnh, với tất cả các xã và thị trấn đều có ít nhất một trạm biến áp 100% thôn được sử dụng điện lưới quốc gia, trong đó 98% hộ gia đình và 100% dân cư được hưởng lợi từ nguồn điện này để phục vụ sản xuất và sinh hoạt.
Huyện hiện có 5 nhà máy nước phục vụ sinh hoạt, nhưng chỉ khoảng 20% hộ gia đình được sử dụng nước sạch Phần lớn còn lại sử dụng nước từ giếng đào, trong khi một số hộ ở vùng cao phải dùng nước từ khe, suối cho sinh hoạt và sản xuất.
Toàn huyện có 4 trường trung học phổ thông với 112 lớp học; 56 trường trung học cơ sở và tiểu học với 549 lớp học ; có 29 nhà mẫu giáo với
144 lớp học Tổng số giáo viên các cấp học là 1.516 người, trong đó THPT là
116 người, THCS là 544 người, tiểu học là 578 người và 278 giáo viên nhà trẻ mẫu giáo
Huyện có 1 bệnh viện và 28 trạm y tế cấp xã, thị trấn, với tổng cộng 174 cán bộ y bác sĩ và 162 giường bệnh Y tế dự phòng được chú trọng, và hàng năm huyện thực hiện tốt các chương trình y tế quốc gia như tiêm chủng mở rộng và hiến máu nhân đạo Công tác kế hoạch hóa gia đình ngày càng được quan tâm và đã đạt được nhiều thành quả khả quan.
Hiện nay, huyện đã có đài phát thanh, truyền hình và 100% các xã được phủ sóng truyền hình Hệ thống thông tin liên lạc thông suốt với tất cả các xã, thị trấn đều có điểm bưu điện văn hoá Vào các ngày lễ lớn của đất nước, phòng văn hoá tổ chức tốt các hoạt động thông tin tuyên truyền.
Nhận xét chung về địa điểm nghiên cứu
Huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ có các tuyến giao thông quan trọng thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế - xã hội và du lịch
Khu vực này là trung tâm của các hoạt động nghiên cứu, thực nghiệm và chuyển giao khoa học công nghệ trong lĩnh vực lâm nghiệp, thu hút sự đầu tư từ nhà nước Với điều kiện khí hậu, địa hình và đất đai thuận lợi, khu vực này phù hợp cho nhiều loại cây trồng lâm, nông và công nghiệp, tạo tiền đề cho sự phát triển của ngành lâm nghiệp cũng như các ngành kinh tế khác.
Diện tích đất lâm nghiệp rộng lớn với chất lượng đất tốt, đặc trưng của đất rừng, nhiều khu vực có tầng đất dày và hàm lượng chất hữu cơ cao, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển sản xuất lâm nghiệp trong khu vực.
Nguồn lao động của khu vực khá dồi dào có thể huy động vào việc phát triển lâm nghiệp cũng nhƣ các ngành khác
Huyện đang đối mặt với thách thức trong việc phát triển kinh tế do nguồn nhân lực chưa đáp ứng đủ nhu cầu hiện tại, đặc biệt là thiếu lao động có trình độ khoa học kỹ thuật Ngoài ra, một số xã vùng sâu với địa hình dốc gặp khó khăn trong công tác xây dựng, quản lý và bảo vệ rừng, cũng như triển khai các hoạt động sản xuất lâm nghiệp.
Nghiên cứu bổ sung một số đặc điểm lâm học của cây Thanh Thất
4.1.1.Đặc điểm cấu trúc lâm phần
Tổ thành của lâm phần đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc sinh thái của rừng, ảnh hưởng đến các yếu tố sinh thái khác Nó thể hiện tỷ trọng của một hoặc nhóm loài cây trong lâm phần, là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính bền vững, ổn định và đa dạng sinh học của hệ sinh thái rừng Cấu trúc tổ thành giúp định hướng các biện pháp kinh doanh và khai thác rừng hiệu quả.
Qua điều tra, tính toán số liệu thu đƣợc kết quả công thức tổ thành các OTC đƣợc trình bày trong bảng 4.1:
Bảng 4.1: Công thức tổ thành tầng cây cao tại khu vực nghiên cứu
OTC Số cây Số loài CTTT
7,50 N + 7,5 T + 2,50 BG + 20,0 LK Trong đó: ĐĐ – Đáng đỏ KLP – Keo lá phƣợng LXE – Lim xẹt G – Găng
TT – Thanh thất LX – Lim xanh TB – Thôi ba B – Bứa
DC – Dẻ cau GB – Giổi bà KĐ – Kháo đũm N – Ngát
LB – Lọng bàng GGM – Giàng giàng mít CT – Châm tía T – Trẩu
28 ĐT – Đáng trắng MV – Mai vòng BG – Ba gạc LK – Loài khác Nhƣ vậy, qua bảng 4.2 cho thấy:
Mức độ đa dạng loài trong tầng cây gỗ tại khu vực nghiên cứu là khá thấp, với 8 loài tại OTC1, 7 loài tại OTC2 và 8 loài tại OTC3 Những loài có chỉ số IV > 5% có ý nghĩa sinh thái quan trọng, bao gồm các loài cây chiếm ưu thế như Thanh thất, Đáng đỏ, và Giàng giàng mít, thường xuyên xuất hiện trong tổ thành thực vật.
4.1.2 Đặc điểm cây bụi thảm tươi
Cây bụi thảm tươi có tác động lớn đến quá trình tái sinh rừng, ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng cây tái sinh trong lâm phần Chúng tạo ra sự cạnh tranh về dinh dưỡng và ánh sáng dưới tán rừng, làm giảm khả năng phát triển của cây tái sinh Nghiên cứu cho thấy khi độ tàn che của rừng giảm, cây bụi thảm tươi phát triển mạnh mẽ hơn, gây cản trở cho sự phát triển của cây tái sinh Kết quả là tỷ lệ cây triển vọng giảm do sức sinh trưởng vượt trội của cây bụi thảm tươi Thông tin chi tiết về đặc điểm cây bụi thảm tươi được trình bày trong bảng 4.2.
Bảng 4.2: Đặc điểm của cây bụi thảm tươi tại khu vực nghiên cứu
Cây bụi thảm tươi Chất lượng cây tái sinh (%)
Loài cây chủ yếu Htb
( m) Độ che phủ trung bình (%)
2 Dương xỉ, Dây dánh tỏi… 0,86 26 0 50,00 50,00
3 Dương xỉ, Đom đóm, Dây dánh tỏi… 1,00 42 9,39 36,36 54,55
Tầng cây bụi thảm tươi có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh, với độ che phủ trung bình đạt 43,33% và chiều cao trung bình 1,11 m Cây bụi và dây leo phát triển mạnh, với chiều cao tối đa lên tới 1,47 m và chất lượng tốt nhất đạt 42,86% tại OTC1 Mặc dù tầng cây bụi này phát triển tương đối tốt, nhưng nó cạnh tranh về dinh dưỡng và không gian sống với cây tái sinh, dẫn đến sự phát triển kém của cây tái sinh Các loài cây chủ yếu như Đom đóm, Dây dánh tỏi, và Dương xỉ trong tầng cây bụi thảm tươi cũng phần nào ảnh hưởng đến sinh trưởng của cây tái sinh.
4.1.3.1 Đặc iểm tổ thành loài tái sinh
Tổ thành tầng cây tái sinh đóng vai trò quan trọng trong lâm phần, là nền tảng cho sự phát triển của tầng cây cao trong tương lai Điều kiện sống thuận lợi sẽ thúc đẩy sự sinh trưởng và phát triển của cây tái sinh, góp phần vào sự bền vững của hệ sinh thái rừng.
Nghiên cứu về tổ thành cây tái sinh giúp dự đoán và đánh giá tình hình lớp cây cao trong tương lai Từ đó, các giải pháp kỹ thuật lâm sinh có thể được đề xuất để điều chỉnh tổ thành một cách hợp lý, hướng tới lợi ích kinh doanh rừng bền vững.
Kết quả xử lý và tính toán số liệu thu thập từ các ODB cho thấy số loài cây tham gia vào công thức tổ thành và công thức tổ thành của lớp cây tái sinh được xác định rõ ràng.
Bảng 4.3: Công thức tổ thành loài tái sinh tại khu vực nghiên cứu OTC Số loài Công thức tổ thành
1 16 2,16 Đáng đỏ + 1,08 Sơn xã + 0,81 sảng nhung + 0,81
Cu ba bét + 5,14 loài khác
2 18 3,60 Dẻ cau + 1,40 Trẩu + 1,0 Giàng Giàng mít + 1,0 Đáng đỏ + 3,0 loài khác
3 13 1,85 Trẩu + 1,85 Mãi táp + 1,11 Sồi gai + 5,19 loài khác Trong đó: ĐĐ – Đáng đỏ SX – Sơn xã SN – Sảng nhung CBB – Cu ba bét
DC – Dẻ cau MT – Mãi táp SG – Sồi gai T – Trẩu
LK – Loài khác GGM – Giàng giàng mít
Công thức tổ thành cây tái sinh ở hai trạng thái rừng cho thấy sự kế thừa từ tầng cây cao, với các loài chủ yếu như Đáng đỏ và Ràng ràng mít chiếm ưu thế Trong ba OTC nghiên cứu, OTC có số loài tham gia nhiều nhất là bốn, trong khi OTC nhỏ nhất chỉ có ba loài (Phụ lục 02)
4.1.3.2 Phân cấp chiều cao cây tái sinh
Phân bố số cây theo cấp chiều cao là chỉ số quan trọng phản ánh đặc trưng sinh thái của quần xã thực vật theo chiều thẳng đứng Điều này cho thấy quy luật sinh trưởng của lớp cây tái sinh dưới tán rừng Nghiên cứu về phân bố số cây tái sinh đóng vai trò quan trọng trong việc hiểu rõ hơn về sự phát triển và cấu trúc của hệ sinh thái rừng.
Để đề xuất các giải pháp kỹ thuật lâm sinh hiệu quả, cần xác định 31 cấp chiều cao làm cơ sở điều chỉnh độ tàn che của tầng cây cao Điều này đảm bảo không gian dinh dưỡng cho lớp cây tái sinh phát triển tốt nhất Phân tích số liệu cho thấy sự phân bố số cây tái sinh theo các cấp chiều cao rõ ràng.
Bảng 4.4: Phân bố số cây theo các cấp chiều cao tại khu vực nghiên cứu
Số cây tái sinh/OTC (cây)
Cấp I Cấp II Cấp III
Ta có biểu đồ phân bố nhƣ sau:
Biểu đồ 4.1: Phân bố số cây tái sinh theo các cấp chiều cao
Biểu đồ 4.1 chỉ ra rằng số lượng cây tái sinh chủ yếu tập trung ở các cấp độ I đến III (>1 - >0.5m), với số lượng cây nhiều ở hai cấp có chiều cao lớn Điều này cho thấy lớp cây tái sinh đang phát triển tương đối tốt.
Cấp I Cấp II Cấp III
4.1.3.3 Phẩm chất và nguồn gốc của cây tái sinh
Chất lượng cây tái sinh được hình thành từ sự tương tác giữa các cây rừng và môi trường xung quanh, bao gồm cả sự ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng.
Năng lực tái sinh của rừng được đánh giá qua các chỉ tiêu như mật độ, phẩm chất, nguồn gốc và số lượng cây triển vọng Trong giai đoạn tái sinh, các điều kiện môi trường rừng có ảnh hưởng lớn đến sự sinh trưởng của cây con.
Năng lực tái sinh của khu vực cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để đề xuất các biện pháp phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng cây tái sinh và đảm bảo sự thay thế cho tầng cây cao trong tương lai Dữ liệu điều tra cho thấy kết quả tổng hợp được trình bày trong bảng 4.5.
Bảng 4.5: Kết quả đánh giá nguồn gốc và chất lƣợng cây tái sinh
Cây tái sinh ở các OTC chủ yếu có nguồn gốc từ hạt, với tỷ lệ cao nhất là 88% ở OTC2 và thấp nhất là 37% ở OTC3 Ngược lại, số lượng cây tái sinh từ chồi cao nhất đạt 33% ở OTC3, trong khi OTC2 ghi nhận tỷ lệ thấp nhất là 12%.
Về chất lƣợng cây tái sinh: chất lƣợng cây tái sinh ở các OTC đạt mức trung bình Các cây ở phẩm chất B chiếm tỷ lệ cao nhất
Nghiên cứu ảnh hưởng của kỹ thuật nhân giống cây Thanh thất bằng giâm hom
4.2.1 Ảnh hưởng của giá thể (GT) tới các chi số ra rễ của hom
Bảng 4.6: Ảnh hưởng của giá thể tới các chỉ số ra rễ của hom
Công thức * Tỉ lệ ra rễ (%) Số lƣợng rễ bình quân (rễ/hom)
Chiều dài rễ trung bình (cm)
(*) GT1: 100% ất tầng mặt; GT2: 70% ất tầng mặt + 30 % xơ dừa; GT3: 50% ất tầng mặt + 50 % xơ dừa
Kết quả từ bảng 4.6 cho thấy rằng tất cả các chỉ số quan sát trong công thức GT1 (100% đất) đều thấp hơn so với hai loại giá thể còn lại, mặc dù sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (P-value > 0,05) Tỉ lệ ra rễ cao nhất đạt 79,5% ở công thức GT3, trong khi số lượng rễ và chiều dài rễ trung bình lớn nhất lần lượt là 11,6 rễ/hom và 7,8 cm cũng ở công thức GT3.
Hình 4.1: Thí nghiệm giá thể giâm hom Thanh thất
4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ chất kích thích tới tỉ lệ ra rễ của Thanh thất
Bảng 4.7: Ảnh hưởng của chất kích thích tới các chỉ số ra rễ của hom
Công thức * Tỉ lệ hom ra rễ (%)
Số lƣợng rễ bình quân (rễ/hom)
Chiều dài rễ trung bình (cm)
(*) KT1: Không sử dụng kích thích ( ối chứng); KT2 : IBA nồng ộ
500 ppm; KT3: IBA nồng ộ 1500 ppm KT4: IAA nồng ộ 500 ppm; KT5: IAA nồng ộ 1500 ppm; KT6: IBA nồng ộ 1000 ppm; KT7: IBA nồng ộ
2000 ppm; KT8: IAA nồng ộ 1000 ppm; KT9: IAA nồng ộ 2000 ppm
Nghiên cứu cho thấy nghiệm thức KT2 (IBA 1.000 ppm) có tỉ lệ hom ra rễ cao nhất đạt 76,9%, tiếp theo là nghiệm thức KT1 (không sử dụng chất kích thích) với 74,4%, trong khi nghiệm thức KT8 (IAA 2000 ppm) có tỉ lệ thấp nhất Tỉ lệ hom ra rễ trung bình giữa IBA và IAA chỉ chênh lệch không nhiều, lần lượt là 61,5% và 57,6% Kết quả cho thấy sự dao động lớn giữa các nồng độ và ở cả hai chất (Bảng 4.7) Số lượng rễ bình quân lớn nhất là 11,8 rễ/hom ở nghiệm thức KT1, trong khi thấp nhất là 6,6 rễ/hom ở nghiệm thức KT3 Chiều dài rễ trung bình lớn nhất đạt 9,5 cm ở nghiệm thức KT7 và nhỏ nhất là 7,0 cm ở nghiệm thức KT2 Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P-value > 0,05).
Công thức KT1 không sử dụng chất kích thích cho thấy số lượng rễ/hom cao nhất với 11,8 rễ/hom, trong khi công thức KT3 (IBA 1000 ppm) ghi nhận số lượng thấp nhất Mặc dù số lượng rễ trung bình của IBA (9,9 rễ/hom) cao hơn IAA (9,1 rễ/hom), nhưng phân tích thống kê không chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa giữa các công thức Điều này cho thấy không có xu hướng rõ rệt về sự tăng giảm số lượng rễ theo nồng độ chất kích thích.
Chiều dài rễ bình quân cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, tuy nhiên kết quả có sự dao động lớn và chưa thể hiện rõ quy luật khi tăng nồng độ chất kích thích sinh trưởng Điều này được quan sát ở cả hai chất Tương tự, chỉ số chiều dài rễ ở công thức KT1 tương đối cao, chỉ kém ba công thức (KT4, KT6 và KT7) và bằng giá trị trung bình của cả chín công thức.
Như vậy, xét về khía cạnh kinh tế, môi trường thì nghiệm thức KT1 (không sử dụng chất kích thích) cho hiệu quả cao nhất
Hình 4.2: Hom Thanh thất ra rễ sau 60 ngày
Nghiên cứu ảnh hưởng của một số biện pháp kỹ thuật chăm sóc rừng trồng Thanh Thất
4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của bón lót
Bảng 4.8: Sinh trưởng Thanh thất sau 12 tháng bón lót
(*) B 1: không bón ( ối chứng); BL2: 100 g NPK/cây; BL3: 200 g
NPK/cây; BL4: 100 g NPK + 200 g phân vi sinh/cây; BL5: 100 g NPK + 400 g phân vi sinh/cây
Kết quả từ ở bảng 4.8 cho thấy, việc bón lót có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính, chiều cao rừng trồng Thanh thất tại Phú Thọ (P-value
Cả 4 nghiệm thức bón phân đều cho thấy sự sinh trưởng vượt trội về đường kính và chiều cao so với nghiệm thức đối chứng (BL1) Mặc dù không có sự khác biệt rõ ràng về mặt thống kê giữa các nghiệm thức bón phân, tỷ lệ sống của các nghiệm thức này vẫn đạt khoảng 90% sau 12 tháng tuổi.
4.3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ trồng
Bảng 4.9: Sinh trưởng Thanh thất ở tuối 6, 7 và 8 tuổi
(*) - M1: 833 cây/ha (4 x 3 m); M2: 1.111 cây/ha (3 x 3 m); M3: 1667 cây/ha (3 x 2 m)
Ở độ tuổi từ 6-8 năm, mật độ trồng có ảnh hưởng rõ rệt đến sinh trưởng đường kính và chiều cao cây (P-value < 0,001), với sự khác biệt ngày càng tăng theo thời gian Trong giai đoạn đầu (2-3 tuổi), cây còn nhỏ, nhu cầu dinh dưỡng chưa lớn, do đó mật độ không ảnh hưởng nhiều đến sinh trưởng Tuy nhiên, khi cây phát triển, đường kính tán và hệ rễ mở rộng, nhu cầu dinh dưỡng tăng lên, dẫn đến sự cạnh tranh dinh dưỡng mạnh mẽ hơn ở mật độ cao so với mật độ thấp.
Mặc dù nghiệm thức M3 có sinh trưởng đường kính và chiều cao nhỏ nhất, nhưng nhờ mật độ cây cao, trữ lượng gỗ lại đạt mức cao nhất, vượt trội so với nghiệm thức M1 Để phát triển rừng kinh doanh gỗ lớn, cần kết hợp hài hòa giữa kích thước đường kính và tổng trữ lượng gỗ Mật độ trồng ban đầu 1.111 cây/ha là phù hợp, với tốc độ tăng trưởng đường kính khoảng 2 cm/năm và trữ lượng đạt 14,75 m³/ha, tương đương với mật độ 1.667 cây/ha Nếu trồng với mật độ cao hơn nhằm cung cấp gỗ lớn, cần chú ý đến việc tỉa thưa sớm để tạo không gian dinh dưỡng cho cây sinh trưởng tốt.
Biểu đồ 4.2: Sinh trưởng đường kính D1.3 và Hvn cây Thanh thất