1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thực trạng tảo hôn của người dân tộc bru vân kiều tịa xã lâm thủy huyện lệ thủy tỉnh quảng bình

88 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 88
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu - Về mặt lý luận: Nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần vào việc hệ thống hóa cơ sở lý luận về tảo hôn như: Các khái niệm liên quan, ảnh hưởn

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH

-  -

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP

THỰC TRẠNG TẢO HÔN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC BRU – VÂN KIỀU TẠI XÃ LÂM THỦY, HUYỆN LỆ THỦY,

Hà Nội - 2020

Trang 2

i

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt quá trình học tập tại trường, nhờ sự giúp đỡ và hướng dẫn của quý thầy cô em đã tích luỹ được một số kiến thức nền tảng cho nghề nghiệp sau này Với tấm lòng tôn sư trọng đạo và tri ân sâu sắc, em xin bày tỏ lòng biết ơn đến quý Thầy, Cô giáo trong Nhà trường và thầy cô trong trung tâm công tác xã hội và phát triển cộng đồng - Khoa kinh tế và quản trị kinh doanh, trường Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình hướng dẫn, góp ý, động viên trong suốt quá trình học tập

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, em xin chân thành cảm ơn người

đã nhiệt tình hướng dẫn, chỉ bảo động viên em thầy giáo – giảng viên: Th.S Phạm Duy Lâm Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn đến các lãnh đạo, các đồng chí cán bộ, công chức UBND xã Lâm thủy và gia đình đã luôn quan tâm, ủng

hộ, giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực tập chuyên môn của mình Tuy đã có nhiều cố gắng nhưng do điều kiện cùng với khả năng nghiên cứu, kiến thức lý luận lẫn kinh nghiệm thực tế còn nhiều hạn chế nên bài khóa luận không tránh khỏi những khiếm khuyết nhất định Kính mong nhận được sự thông cảm cùng những góp ý, giúp đỡ chân thành của quý Thầy, Cô giáo và các bạn để em rút kinh nghiệm hoàn thiện đề tài hơn trong tương lai

Kính gửi đến quý Thầy, Cô giáo lời chúc sức khỏe và thành công

Em xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 03 tháng 06 năm 2020

Sinh viên thực hiện

Hồ Văn Suôn

Trang 3

ii

M C L C

LỜI CẢM ƠN i

M C L C ii

DANH M C TỪ VIẾT TẮT iv

DANH M C BẢNG v

DANH M C BIỂU ĐỒ vi

PHẦN MỞ ĐẦU 1

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH 5

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ TẢO HÔN 5

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề tảo hôn 5

1.1.1 Khái niệm kết hôn 5

1.1.2 Khái niệm tảo hôn 7

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn 9

1.1.4 Hậu quả tiêu cực của tảo hôn 12

1.1.5 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu 15

1.2 Cơ sở thực tiễn của tảo hôn 18

1.2.1 Các chính sách pháp luật của nhà nước ta có liên quan đến xử lý tình trạng tảo hôn 18

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài 22

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TẢO HÔN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU TẠI XÃ LÂM THỦY, HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH 27

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu 27

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 27

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu 30

Trang 4

iii

2.2 Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy,

huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 31

2.2.1 Tình trạng tảo hôn tại địa bàn nghiên cứu 32

2.2.2 Nhận thức của người dân và cán bộ quản lý về tảo hôn 36

2.2.3 Thái độ của người dân và cán bộ quản lý về tảo hôn 36

2.2.4 Hậu quả của việc tảo hôn 38

2.2.5 Những nguyên nhân dẫn đến nạn tảo hôn của người dân tộc Bru - Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 40

2.3 Một số biện pháp nhằm hạn chế và loại bỏ tình trạng tảo hôn của người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 50

2.3.1 Nâng cao nhận thức cho người dân tại địa phương để phòng ngừa, hạn chế tình trạng tảo hôn 52

2.3.2 Đẩy mạnh công tác xóa đói, giảm nghèo tại địa phương: 54

2.3.4 Phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín trong cộng đồng tham gia tuyên truyền, vận động phòng, chống tảo hôn 56

KẾT LUẬN VÀ KIỆN NGHỊ 59

DANH M C TÀI LIỆU THAM KHẢO 61

PH L C

PH L C HÌNH ẢNH

Trang 5

HN&GĐ Hôn nhân và gia đình

HNCHT Hôn nhân cận huyết thống NĐ-CP Nghị định – Chính phủ

TANDTC Tòa án nhân dân tối cao

TTLT Thông tƣ liên tịch

UNICEF United Nations Children's Fund VKSNDTC Viện kiểm soát nhân dân tối cao

Trang 6

v

DANH M C BẢNG

Bảng 2.1.1 Thống kê dân số chia theo thôn/bản tại xã Lâm Thủy năm 2019 27

Bảng 2.1.2 Thống kê dân số chia theo hộ nghèo, hộ cận nghèo tại xã Lâm Thủy 2019 29

Bảng 2.1.3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và 30

và giới tính 30

Bảng 2.1.4 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu theo trình độ học vấn 31

Bảng 2.1.5 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân 31

Bảng 2.2.6 Số cặp tảo hôn được thống kê trên địa bàn xã Lâm Thủy từ năm 2017 – 2019 ( cặp) của người dân tộc Bru – Vân Kiều 32

Bảng 2.2.7 Số cặp có đăng ký kết hôn và số cặp tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy năm 2019 34

Bảng 2.2.8 Độ tuổi tảo hôn trung bình của nam từ 17 – 19 tuổi và nữ từ 15 – 17 tuổi 35

Bảng 2.2.9 Kiến thức của đối tướng nghiên cứu về quan niệm tảo hôn 36

Bảng 2.2.10 Thái độ của đối tượng nghiên cứu về vấn đề tảo hôn 37

Bảng 2.2.11 Nhận định của quần chúng về hậu quả của vấn nạn tảo hôn trong địa bàn xã Lâm Thủy 38

Bảng 2.2.12 Những nguyên nhân chủ quan của thực trạng tảo hôn 41

Bảng 2.2.13 Những nguyên nhân khách quan của thực trạng tảo hôn 47

Bảng 2.3.14 Sự cần thiết của các biện pháp tới nhận thức của người dân về tảo hôn 50

Bảng 2.3.15 Thực trạng các biện pháp xử lý của chính quyền đối với các trường hợp tảo hôn 57

Trang 7

vi

DANH M C BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.1.1 Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc trên địa bàn xã Lâm Thủy từ năm

2017 – 2019 28 Biểu đồ 2.2.2 Số lƣợng và tỷ lệ các cặp tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy từ năm 2017 – 2019 (năm 2017 = 100%) 33

Trang 8

có vị trí chiến lược quan trọng về phát triển kinh tế, quốc phòng, an ninh; khai thác tài nguyên khoáng sản, thuỷ điện, giữ môi trường sinh thái, bảo vệ rừng,… Đảng, người dân các dân tộc thiểu số nói chung, dân tộc Bru – Vân Kiều nói riêng đều nhận thức được rằng vận mệnh và tương lai của họ luôn gắn liền với vận mệnh và tương lai của quốc gia và của cả cộng đồng các dân tộc Việt Nam Mỗi dân tộc đều có những phong tục tập quán, bản sắc văn hoá riêng Bản sắc văn hoá của các dân tộc anh em đã làm nên bản sắc văn hoá Việt Nam đa sắc màu Tuy nhiên, trong những phong tục tập quán ấy cũng có những vấn đề là hậu quả của chế độ cũ, còn nhiều hủ tục lạc hậu Nó đã ăn sâu vào tâm lý, tập quán và trở thành những hủ tục mang tính truyền thống của các dân tộc thiểu số như: Tảo hôn, phá rừng làm nương rẫy, du canh du cư, người ốm thì làm cúng

chứ không đưa đến các cơ sở y tế,…

Nhận thấy Tảo hôn làm một hủ tục lạc hậu nó đã ăn sâu vào tâm lý, tập

quán của người đồng bào Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình những hủ tục này hiện nay không những không phù hợp với tình hình mới mà nó ảnh hưởng rất lớn đến nòi giống, chất lượng cuộc sống và tương lai sau này của họ, ảnh hướng đến kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và tương lai đất nước Nạn tảo hôn hiện nay chính là một trong những hủ tục nguy hại, hủ tục này đã, đang đặt ra nhiều vấn đề cần có sự quan tâm đúng mức, đúng hướng của các cấp uỷ chính quyền cũng như sự nhận thức đúng đắn của người người Bru – Vân Kiều nơi đây Chính vì thế, nghiên cứu và tìm ra các giải pháp nhằm hạn chế, ngăn chặn hủ tục này đang là đòi hỏi cấp thiết Hơn nữa, bản thân là một người con của dân tộc Bru – Vân Kiều đang học chuyên ngành công tác xã hội tại Trường đại học Lâm Nghiệp em nhận thấy trách nhiệm không chỉ thuộc

Trang 9

2

về các cấp uỷ chính quyền địa phương mà còn thuộc về bản thân nhận thức của dân tộc mình, nhất là con em dân tộc Bru – Vân Kiều được đi học Em nhận thấy bản thân mình phải làm điều gì đó để góp phần vào việc giúp bà con mình nhận thức được hậu quả của nạn tảo hôn

Với các lý do trên đây, em chọn “Thực trạng tảo hôn của người dân tộc

Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” làm đề

tài khoá luận tốt nghiệp của mình

2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

- Về mặt lý luận: Nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần vào việc hệ thống

hóa cơ sở lý luận về tảo hôn như: Các khái niệm liên quan, ảnh hưởng của tảo hôn đối với cá nhân, gia đình và xã hội, những nguyên nhân dẫn đến nạn tảo

hôn, hậu quả của tảo hôn

- Về mặt thực tiễn: Kết quả của nghiên cứu nay, góp thêm cơ sở khoa học

giúp cho các cấp ủy, Đảng, chính quyền địa phương và các ban ngành chức năng triển khai các chủ trương, chính sách phù hợp để hạn chế và loại bỏ nạn tảo hôn Đồng thời, kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo, tài

liệu nghiên cứu cho sinh viên khối ngành công tác xã hội

3 Mục tiêu nghiên cứu

3.1 Mục tiêu tổng quát

Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tảo hôn ở địa phương xã Lâm Thủy, huyện

Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu tình trạng tảo hôn trên địa bàn xã trong thời gian tới

3.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về vấn đề tảo hôn

- Đánh giá thực trạng tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

4 Nội dung nghiên cứu

- Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tảo hôn

- Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Bru - Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hạn chế tình trạng tảo hôn của người dân tộc Bru - Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Trang 10

3

5.1 Đối tượng nghiện cứu

- Đối tượng nghiên cứu của đề tài là vấn đề tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

6 Phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp thu thập số liệu

- Đối với số liệu thứ cấp: Thu thập, kế thừa có chọn lọc các tài liệu có liên

quan đến nạn tảo hôn đã được nghiên cứu và xác định trước đó Dựa trên thông tin, tư liệu sẵn có để xây dựng phát triển cơ sở dữ liệu cần thiết cho việc nghiên cứu Cụ thể, phân tông quan nghiên cứu được viết dựa trên sự kế thừa các kết quả nghiên cứu trước đó Sử dụng phương pháp này giúp tiết kiệm được thời gian và kinh phí, thực hiện thông qua việc giảm thời gian nghiên cứu lại những

vấn đề trước đây, tránh được sự chồng chéo thông tin khi xây dựng báo cáo

- Đối với thông tin sơ cấp: Điều tra bằng bảng hỏi và thu thập thông tin thực

tiễn Sử dụng bộ câu hỏi để thu thập các thông tin thực tiễn về tình trạng tảo hôn Mục đích chính của điều tra khảo sát thực địa là thu thập thông tin sơ cấp cần thiết để phân tích, đánh giá thực trạng công tác hạn chế nản tảo hôn trên địa bàn xã Sử dụng với bảng hỏi được soạn sẵn với các tiêu chí được cụ thể hóa thành các câu hỏi để thu thập ý kiến của người trả lời làm sáng tỏ những nội dung nghiên cứu của đề tài Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra, khảo sát bằng bàng hỏi với cỡ mẫu 80 mẫu, ( 20 người cán bộ quản lý và 60 người dân) trong 6 bản trong địa bàn xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình để phát phiếu điều tra để khảo sát Nghiên cứu chọn đối tượng thực hiện phỏng vấn sâu trong 80 người được phát phiểu khảo sát Nhằm thăm dò những ý kiến của người dân về tình trạng cuộc sống sau khi tảo hôn Trò chuyện với một số cán

bộ quản lý như cán bộ dân số, cán bộ hội phụ nữ, cán bộ y tế, các già làng

Trang 11

4

trưởng bản và người dân để hiểu thêm thực tiễn của cộng đồng về chống tảo hôn

để hỗ trợ cho phương pháp điều tra phiếu hỏi

6.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp phỏng vấn sâu: Trò chuyện với một số cán bộ quản lý như cán

bộ dân số, cán bộ hội phụ nữ, cán bộ y tế, các già làng trưởng bản để hiểu thêm thực tiễn tình trạng tảo hôn diễn ra trong địa xã để hỗ trợ cho phương pháp điều tra bẳng bảng hỏi

- Phương pháp quan sát: Xem xét thực tế công tác quản lý của các cán bộ về

công tác phòng chống tảo hôn, trực tiếp quan sát tình hình tại cộng đồng dân cư nơi đang nghiên cứu Thực tế trong nghiên cứu đề tài, người nghiên cứu xem xét thực tế công tác quản lý của các cán bộ về công tác phòng chống tảo hôn, trực

tiếp quan sát tình hình tại cộng đồng dân cư nơi đang nghiên cứu

6.3 Phương pháp xử lý dữ liệu bằng thống kê toán học

Người nghiên cứu đã phân tích kết quả khảo sát bằng các phương pháp thống kê toán học để xử lý số liệu thu thập được từ các phiếu điều tra Người nghiên cứu sử dụng toán thống kê để xử lý và phân tích số liệu, thông tin thu được qua các phiếu điều tra và các mẫu biểu thống kê Giúp người nghiên cứu hiểu rõ những ảnh hưởng khách quan của các yếu tố liên quan đến hủ tục tảo hôn của người Bru – Vân Kiều

7 Kết cấu khóa luận

Khóa luận gồm 3 phần và 2 chương

A Phần mở đầu

B Phần nội dung chính

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về vấn đề tảo hôn

Chương 2: Thực trạng và giải pháp hạn chế tình trạng tảo hôn của người dân tộc Bru - Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

C Kết luận và kiện nghị

Trang 12

5

PHẦN NỘI DUNG CHÍNH

CHƯƠNG 1:

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ VẤN ĐỀ TẢO HÔN

1.1 Cơ sở lý luận về vấn đề tảo hôn

1.1.1 Khái niệm kết hôn

Kết hôn là cở sở của gia đình và gia đình là tế bào của xã hội Vì vậy, Nhà nước ta luôn quan tâm củng cố chế độ hôn nhân và đề ra những biện pháp nhằm làm ổn định quan hệ nay Gia đình ra đời, tồn tại và phát triển trước hết nhờ Nhà nước thừa nhận hôn nhân của một đôi nam nữ đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ pháp lý giữa họ Kết hôn là sự liên kết giữa một người nam và một người nữ, sự liên kết đó phải được Nhà nước thừa nhận bằng sự phê chuẩn dưới hình thức pháp lý là đăng ký kết hôn Vì vậy bản thân người kết hôn phải tuân thủ các quy định của pháp luật về kết hôn

Theo từ điển Tiếng Việt (2003) – Nhà Xuất bản Đà Nẵng: Kết hôn là Chính thức lấy nhau làm vợ chồng [20, tr 487]

Theo Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý – Bộ Tư pháp: Kết hôn là việc nam nữ xác lập quan hệ vợ chồng; khi thỏa mãn các điều kiện kết hôn và thực hiện đăng ký kết hôn tại cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật Kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Khi kết hôn, các bên nam nữ phải tuân thủ đầy đủ các điều kiện kết hôn được Luật Hôn nhân và gia đình quy định và phải đăng ký kết hôn tại cơ quan đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì việc kết hôn đó mới được công nhận là hợp pháp

và giữa các bên nam nữ mới phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật [21, tr 476]

Luật hôn nhân và gia đình có nhiệm vụ góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ hôn nhân và gia đình tiến bộ, xây dựng chuẩn mực pháp lý cho

Trang 13

6

cách ứng xử của các thành viên trong gia đình, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các thành viên trong gia đình, kế thừa và phát huy truyền thống đạo đức tốt đẹp của gia đình Việt Nam nhằm xây dựng gia đình ấm no, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững Kết hôn là việc hai bên nam, nữ xác lập mối quan hệ vợ chồng, là mốc khởi đầu của quan hệ hôn nhân Nhà nước quy định điều kiện kết hôn nhằm hướng đến xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, hôn nhân tự nguyện tiến bộ Điều kiện hôn nhân bao gồm những điều kiện về mặt nội dung và hình thức pháp luật chỉ bảo vệ quan hệ hôn nhân tuân thủ đầy đủ những điều kiện nay Điều kiện kết hôn về mặt nội dung bao gồm: điều kiện về độ tuổi, điều kiện

về sự tự nguyện của hai bên nam, nữ trong việc kết hôn, việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định Điều 9 Luật hôn

nhân và gia đình năm 2000 “ Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn; kết hôn là việc nam và nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn”( Theo khoản 6 và khoản 2 –

Điều 8 Luật nay) [15]

Theo khoản 1 - Điều 36 hiếp pháp Việt Nam quy định: “Hôn nhân là sự kết hợp đặc biệt dựa trên nguyên tắc bình đẳng, tiến bộ, một vợ một chồng nhằm xây dựng gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững” Theo nguyên tắc nay tại

hiến pháp, vợ chồng tại Việt Nam bình đẳng với nhau trước pháp luật Đồng thời, nguyên tắc một vợ - một chồng có nghĩa rằng các dạng hình thức hôn khác như đa thê ( nhiều vợ- một chồng ) hoặc hôn nhân đồng tính (không có vợ hoặc không có chồng ) là vi hiến và pháp luật Việt Nam không công nhận Hôn nhân được khởi đầu bằng một sự kiện pháp lý là kết hôn và kết thúc bằng một sự kiện

pháp lý là ly hôn ( hoặc một trong hai người chết/mất tích) “ Nhà nước bảo hộ hôn nhân và gia đình, bảo hộ quyền lợi của người mẹ và trẻ em” ( Khoản 2

Điều 36 Hiến pháp năm 2013) [7]

Luật hôn nhân và gia đình nước ta quy định việc kết hôn phải được đăng

ký của cơ quan nhà nước có thẩm quyền Muốn được kết hôn với nhau, nam nữ phải tuân thủ các điều kiện kết hôn được quy định tại Điều 8 luật Hôn Nhân và gia đình năm 2014

Trang 14

7

“Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây

1 Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;

2.Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;

3.Không bị mất năng lực hành vi dân sự;

4.Việc kết hôn không phụ thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn theo quy định tại Điều 5 của Luật nay”[16]

Điều kiện đăng ký kết hôn ở Luật Hôn nhân và gia đình cũng chính là một trong những điểm mới đáng chú ý Ở Luật hôn nhân và gia đình 2000, quy định

điều kiện kết hôn: “nam từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên”(khoản 1 -Điều

9 Luật nay) thì được đăng ký kết hôn Tức là nam bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 thì được kết hôn mà không vi phạm [15] Nhưng từ ngày 01 tháng

01 năm 2015, khi Luật Hôn nhân và gia đình 2014 có hiệu lực thi hành thì nam phải bước sang tuổi 20, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn với nhau là vi phạm

pháp luật, theo quy định của Luật mới : “nam từ đủ 20 tuổi trở lên và nữ từ đủ

18 tuổi trở lên” ( khoản 1 – Điều 8- Luật nay) [16]

Khi việc kết hôn đã được đăng ký tại cơ quan đăng ký kết hôn và ghi vào

sổ kết hôn thì giữa các bên nam nữ phát sinh quan hệ hôn nhân Như vậy đăng

ký kết hôn là sự kiện pháp lý làm phát sinh quan hệ hôn nhân Thông qua việc đăng ký kết hôn, Nhà nước đã công nhận hôn nhân của đôi nam nữ Sự kiện kết hôn là cơ sở pháp lý ghi nhận rằng, hai bên nam nữ đã phát sinh quyền và nghĩa

vụ vợ chồng

1.1.2 Khái niệm tảo hôn

Theo từ điển tiếng Việt ( 2003) – Nhà Xuấn bản Đà Nẵng: Tảo hôn là lấy

vợ, lấy chồng khi còn chưa đến tuổi thanh niên, chưa đến tuổi được pháp luật cho phép kết hôn.[20, tr 891]

Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Văn Dũng ( 2014) “Thực trạng và

nhận thức thái độ về tảo hôn, kết hôn cận huyết thống của người dân một số dân

Trang 15

8

tộc ít người tại 4 xã huyện Mai Sơn tỉnh Sơn La” đưa ra khái niệm: Tảo hôn là hiện tượng kết hôn của hai người nam và nữ khi họ chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật Tuy nhiên, luật pháp mỗi quốc gia lại quy định về điều kiện kết hôn cũng như tuổi kết hôn khác nhau Ở Pháp tuổi kết hôn được pháp luật quy định đối với nam là 18 và với nữ là 16 tuổi, đồng thời pháp luật cũng cấm những người có quan hệ họ hàng trong phạm vi 3 đời kết hôn với nhau Tại Châu Âu luật công giáo quy định tuổi kết hôn cho nữ là 14 tuổi, ở Bắc Mỹ các

cô gái có thể kết hôn ở tuổi 15, ở Canada và nhiều bang của Hoa Kỳ cho phép kết hôn với trẻ em dưới sự cho phép của tòa án Còn ở Anh độ tuổi kết hôn đối với cả nam lẫn nữ theo pháp luật là qua tuổi 16 và cam kết hôn giữa những người họ hàng phạm vi 4 đời Theo Luật Hồi giáo Sharia quy định, các giáo sĩ Hồi giáo ở mọi nơi đều được kết hôn với những bé gái dưới 15 tuổi Luật Hồi giáo còn khẳng định tính hoàn toàn hợp pháp của việc kết hôn với các bé gái dưới 12 tuổi [6, tr 4]

Ở Việt Nam pháp luật coi tảo hôn là việc nam, nữ lấy nhau khi một bên hoặc cả hai bên dưới tuổi định luật Căn cứ vào sự phát triển thể chất, tâm sinh

lý và các điều kiện liên quan đến chất lượng cuộc sống như điều kiện kinh tế -

xã hôi ở Nước Việt Nam , tại khoản 4 Điều 8 luật Hôn nhân và gia đình Việt

Nam năm 2000 quy định “ Tảo hôn là việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc

cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật” [15]

Trải qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung để phù hợp với tình hình phát triển của đất nước, sự hội nhập với quốc tế Luật hôn nhân và gia đình 2014 về cơ bản vẫn tiếp tục giữ các quy định về độ tuổi kết hôn, chỉ có sự thay đổi về cách diễn đạt “ từ… tuổi trở lên” thành “ từ…đủ tuổi trở lên” nhằm tránh sự nhầm lẫn

trong cách xác định về độ tuổi để đăng ký kết hôn: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên,

nữ từ đủ 18 tuổi trở lên”( điểm a - khoản 1 - Điều 8) Chiếu tại điểm b khoản 2 Điều 5 Luật hôn nhân và già đình năm 2014: “ Cấm các hành vi sau đây: Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối, cán trở kết hôn” [16], theo quan điểm nay thì

tảo hôn ở Việt Nam là hành vi pháp luật ngăn cấm và là phạm pháp

Từ một góc độ pháp luật tảo hôn là hiện tượng việc lấy vợ, lấy chồng khi một bên hoặc cả hai bên chưa đủ tuổi kết hôn, tảo hôn ở Việt Nam là việc vi

Trang 16

9

phạm quy định tuổi kết hôn, là một trong những hành vi, vi phạm luật hôn nhân gia đình: Chiếu theo điểm a khoản 1 Điều 8 và điểm b của khoản 2 Điều 5 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về điều kiện kết hôn [16] Như vậy tảo hôn được hiểu là việc lấy vợ hoặc lấy chồng khi nam hay nữ hoặc cả hai chưa

đủ tuổi kết hôn theo quy định của pháp luật ( Nam từ đủ 20 tuổi trở lên , nữ từ

đủ 18 tuổi trở lên )

1.1.3 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng tảo hôn

Vấn nạn tảo hôn trên địa bàn các dân tộc bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân, tập tục lạc hậu nay vẫn còn tôn tại và ngày càng có xu hướng tăng lên Ngày nay cũng với sự phát triển xã hội hóa hiện đại, cùng với sự phát triển của kinh tế, văn hóa xã hội, tình trạng nay đã phần nào được hạn chế tuy nhiên ở số vùng dân tộc miền núi, một số vùng dân cư vẫn còn tồn tại tình trạng tảo hôn với những nguyên nhân:

Các chuyên gia phân tích, có nhiều nguyên nhân khác nhau và khá phực tạp ở các cộng đồng, dẫn đến vấn nạn tảo hôn ngày càng tăng Tuy nhiên nguyên nhân chủ yếu là tập tục truyền thống và sự thiếu hiểu biết của người phụ nữ ở các nước đang phát triển [4]

1.1.3.1 Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, hầu hết các dân tộc thiểu số còn bị ảnh hưởng bởi phong tục, tập quán lạc hậu: Con trẻ vừa chào đời đã “đặt chỗ”- hứa hôn cho các con và quan niệm lấy vợ, lấy chồng cho các con khi tuổi vị thành niên để sớm có người nối dõi tông đường, có thêm nhân lực làm công việc ruộng nương,…; trong khi thể chế, pháp luật về Hôn nhân và Gia đình Việt Nam qua nhiều thời kỳ quy định chưa rõ ràng về khái niệm “tảo hôn”; chưa quy định cụ thể việc quản lý nhà nước về tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống, chưa quy định chế tài đủ mạnh để răn đe, trừng phạt các hành vi liên quan đến tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống[27]

Thứ hai, do quy định của pháp luật về xử lý đối với các hành vi tảo hôn còn chưa nghiêm khắc, chưa đảm bảo tính răn đe, phòng ngừa Như vậy, hành vi tảo hôn có thể bị xử phạt hành chính đến 3.000.000 đồng hoặc bị xử lý hình sự

Trang 17

Hiện nay nhà nước ta mới chỉ ban hành nghị định (Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) xử phạt hành chính đối với các hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn và đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn Theo Nghị định này thì đối tượng bị xử lý cũng chỉ dừng ở những người đã thành niên (người tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa thành niên; người cố ý duy trì quan hệ vợ chồng với người chưa thành niên) Trong khi thực tế hiện nay nhiều trường hợp tảo hôn là do chính bản thân các em (cả bên nam và nữ chưa đủ tuổi kết hôn) tự xác lập quan hệ vợ chồng từ khi còn đang học cấp 2, cấp 3 để đến khi có thai và đặt các bậc phụ huynh vào tình thế phải làm theo các em Trong những trường hợp này, nếu có xử lý hành chính đối với các bậc cha mẹ vì để các con tảo hôn và duy trì tảo hôn thì hậu quả đã xảy ra [4]

Ngoài những nguyên nhân trên, còn một số nguyên nhân khách quan khác tác động đến tảo hôn Sự khác biệt về vị trí địa lý, giữa vùng nông thôn và thành thị đã tạo ra những khác biệt lớn về điều kiện kinh tế, trình độ dân trí giữa người dân, phần nào tác động đến tảo hôn

1.1.3.2 Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, xuất phát từ những khó khăn về kinh tế dẫn đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống Không phải là điều khó hiểu khi mà tình trạng tảo hôn

và kết hôn cận huyết thống chủ yếu xảy ra tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, nơi có hoàn cảnh khó khăn Thống kê trên thế giới, hơn một nửa số trẻ em gái trong các gia đình có điều kiện kinh tế khó khăn ở các nước đang phát triển kết hôn từ dưới 18 tuổi Ở Việt Nam, khoảng 11% trẻ em gái kết hôn trước khi đủ 18 tuổi, trong đó vùng dân tộc thiểu số, những vùng đặc biệt khó khăn

Trang 18

11

chiếm tỷ lệ cao hơn cả Trong năm 2014, tổng số người kết hôn ở dân tộc La Hủ

là 182 cặp, tảo hôn có đến 83 cặp, chiếm 45,6%; ở dân tộc La Ha có 127 cặp kết hôn, tảo hôn chiếm 67 cặp, chiếm 52,8%; ở dân tộc Lự có 64 cặp kết hôn, tảo hôn chiếm 31 cặp, chiếm 48,4%15,16 Tỷ lệ kết hôn cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số trung bình khoảng 6,1%, trong đó có những dân tộc trên 20% như: dân tộc Mạ (44,1%), M’nông (40,2%); dân tộc Mảng (43,6%) Đây đều là những dân tộc thiểu số đặc biệt ít người, cư trú chủ yếu ở những vùng miền núi đặc biệt khó khăn như tỉnh Lai Châu, tỉnh Lâm Đồng, Đắk Lắk, Đồng Nai [25]

Thứ hai, trình độ dân trí chưa cao, ý thức pháp luật của người dân còn hạn chế, không chấp hành các quy định của pháp luật về điều kiện độ tuổi kết hôn,

cố tình vi phạm quy định về kết hôn Việc được học tập, giáo dục sẽ phần nào làm giảm tỷ lệ tảo hôn ở trẻ, ngược lại, trẻ em bỏ học sớm sẽ có nguy cơ tảo hôn cao hơn những trẻ em thông thường Thống kê cho thấy, trẻ em gái không được học tập có nguy cơ kết hôn trước tuổi 13 cao gấp 03 lần so với những trẻ em được học tập[13, tr.18]

Thứ ba, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật tại địa phương còn hạn chế do nhiều yếu tố: rào cản về ngôn ngữ như nhiều người dân không biết nói tiếng phổ thông (tiếng Kinh), trình độ dân trí thấp (mù chữ, học vấn thấp), thiếu kinh phí triển khai, đối tượng được tuyên truyền ít tham gia (thanh thiếu niên)… dẫn đến hiệu quả không cao Chính sách đầu tư cho miền núi, nông thôn và vùng khó khăn còn nhiều bất cập, thiếu đồng bộ; kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội của tỉnh còn nhiều yếu kém, dân số ít và sống phân tán Sự thiếu hiểu biết do trình độ học vấn thấp kết hợp với phong tục tập quán và nhiều yếu

tố khác đã làm gia tăng tình trạng tảo hôn [24]

Ở nước ta, do trình độ nhận thức chưa cao dẫn đến nhiều trường hợp vi phạm tảo hôn, nhiều trường hợp không có ý thức chấp hành pháp luật, cố tình vi phạm Do quan niệm truyền thống khiến mọi người ít cởi mở về giáo dục giới tính Trên ghế nhà trường, trẻ chỉ được biết sơ lược về giáo dục giới tính thông qua bài học ngắn trong chương trình lớp 5 và chương trình lớp 9 Một giáo viên

đã nhận xét “Nội dung giáo dục giới tính chưa được tách bạch thành môn học

Trang 19

12

hoặc chương trình chuyên biệt mà vẫn còn lồng ghép vào các bộ môn khác như

“sức khỏe” hay “sinh học” Thời điểm bắt đầu học khá trễ (đầu năm lớp 5) và không liên tục (lớp 5, lớp 8, lớp 11)… Số tiết/ bài quá ít, chỉ khoảng 8 tiết (lớp 5), 5 bài ở lớp 9, còn bậc THPT thì lồng ghép Nội dung mang tính giới thiệu, phân tích sơ bộ hơn là giáo dục cả về mặt tâm lý lẫn kỹ năng cho học sinh”[1]

Thứ tư: Pháp luật của Việt Nam chưa nghiêm và vấn đề thực thi pháp luật hôn nhân và gia đình chưa nghiêm túc Người Kdong và người B’râu ở xã Bờ Y luôn xem chuyện kết hôn của người dân nơi đây là do tổ tiên truyền con nối cháu, chứ không theo luật pháp Do vậy những người phụ nữ và nam giới ở đây

cứ đến tuổi dậy thì là kết hôn [26]

Thứ sáu, việc quản lý con em của phụ huynh chưa được quan tâm chú trọng, nhiều gia đình có sự buông lỏng con cái Bên cạnh đó, công tác quản lý học sinh tại các trường Trung học phổ thông, Phổ thông dân tộc nội trú giữa nhà trường và gia đình chưa chặt chẽ; sự phát triển của công nghệ thông tin, mạng xã hội, sự du nhập của văn hóa ngoại lai, lối sống thử, thiếu kinh nghiệm giới tính…đã ảnh hưởng trực tiếp đến học sinh, nên xảy ra những trường hợp mang thai ngoài ý muốn phải nghỉ học, dẫn đến tảo hôn Do nhận thức chưa đầy đủ, chưa đúng đắn của bậc cha mẹ và chính bản thân các chủ thể tảo hôn trong việc tạo điều kiện, tổ chức, xác lập quan hệ vợ chồng của đôi trẻ Ngoài những trường hợp do quan niệm, do phong tục, tập quán, nhiều bậc cha mẹ biết rõ là vi phạm pháp luật nhưng lại chưa nhìn nhận đến hệ lụy của tảo hôn nên vẫn tạo điều kiện để các em được làm vợ, làm chồng của nhau khi chưa đủ tuổi[27]

1.1.4 Hậu quả tiêu cực của tảo hôn

1.1.4.1 Hậu quả tiêu cực đối với cá nhân và gia đình

Thứ nhất ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cá nhân của mẹ và con trẻ

Tảo hôn được coi là vấn nạn gây ra hậu quả to lơn về sức khỏe của các cặp

vợ chồng, như ảnh hưởng đến thể chất, tâm, sinh lý, nhất là các em gái, khi chưa

đủ tuổi trưởng thành, cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, việc quan hệ tình dục

Trang 20

13

sớm, mang thai, sinh đẻ, nuôi con sớm làm chậm quá trình phát triển thể chất tự nhiên của con người, dẫn tới thoái hóa và các dị chứng bệnh tật, làm suy kiệt sức khỏe cả bố mẹ và con cái Theo nhà báo Trịnh Bá Đinh, người có nhiều năm

kinh nghiệm về điều tra tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống “ Khoa học quy định từ 18 đến 20 tuổi, nam nữ lúc đó mới tới tuổi trưởng thành, thể chất mới phát triển đầy đủ về hình thể, não bộ, tất cả tâm sinh lý mới ổn định được Đã có một thống kê rất chi tiết cho biết, các trương hợp sinh dưới 19 tuổi

so với những người trên 20 tuổi, tỷ lệ cận nặng của các em bé dưới 2,5kg cho thấy, con cái của các cặp tảo hôn bị suy dinh dưỡng, thể trạng coi cọc và có trường phụ nữ sau sinh ốm đau triền miên.cao hơn, hay sức khỏe của các ba mẹ dưới 19 tuổi bao giờ cũng thấp hơn 33% so với những người sinh trên 20 tuổi Chưa kể, con của người sinh ra dưới 19 tuổi bao giờ cũng rất còi cọc, và tỷ lệ tử vong của các bà mẹ tảo hôn trong quá trình thai sản bao giờ cũng cao gấp 4 lần những người phụ nữ trên 20 tuổi Khi xây dựng luật hôn nhân và gia đình, nước

ta cũng dựa trên cơ sở khoa học nay” Qua điều tra thực tế tại một số thôn/bản

vùng đồng bào các dân tộc tỉnh Thừa Thiên Huế cho thấy, con của các cặp tảo hôn bị suy dinh dưỡng, thể trạng còi cọc, và có trường hợp phụ nữ sau sinh ốm triền miền [12, tr 102]

Trẻ tảo hôn tiếp cận với tình dục khi cơ thể còn đang phát triển, trẻ chưa

có sự hiểu biết đầy đủ về giới tính và sức khỏe sinh sản, chưa thể đảm đương trách nhiệm làm vợ chồng, làm cha mẹ Bên cạnh đó, do cơ thể chưa phát triển đầy đủ nên trẻ em gái không đủ sức khỏe để nuôi dưỡng bào thai, con của trẻ em tảo hôn bị thường chết lưu hoặc chết non trong những tháng đầu đời, nhiều trường hợp tử vong ở cả mẹ và trẻ sơ sinh Trẻ mang thai ở tuổi vị thành niên gặp phải nhiều nguy cơ biến chứng trong thời kỳ thai sản, ảnh hưởng nặng nề về sức khỏe cũng như khả năng lao động trong tương lai, không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của cá nhân mà còn tác động tiêu cực đến chất lượng dân số Trẻ em gái là nạn nhân của tảo hôn mất đi cơ hội học tập, việc làm, có nguy cơ bị bạo hành, phụ thuộc hoàn toàn vào chồng và gia đình nhà chồng [13, tr.21]

Trang 21

Tảo hôn gây ra tỉ lệ nghèo đói cao, vừa là nguyên nhân vừa là hậu quả của nghèo đói,thất học và suy giảm chất lượng cuộc sống Khả năng kiếm sống hoặc đóng góp về kinh tế cho gia đình là rất thấp dẫn đến tỷ lệ đói nghèo ngày càng tăng cao Khi kết hôn sớm trẻ em sẽ không được nghỉ ngơi và thư giãn, không được tham gia vui chơi, tham gia những hoạt động giải trí và được tự do tham gia các sinh hoạt văn hóa và nghệ thuật phù hợp với lứa tuổi….khiến trẻ em mất

đi cơ hội được tiếp tục học tập, mất đi cơ hội có việc làm tạo thu nhập cho gia đình, ít có cơ hội độc lập về kinh tế, không có tiếng nói trong gia đình, thậm chí

là bị cô lập với xã hội bên ngoài[24]

1.1.4.2 Hậu quả tiêu cực đối với xã hội

Theo tác nghiên cứu của tác giả Cà Bình Minh ( 2018), Luận văn thạc sĩ,

“Thực trạng vấn đề tảo hôn và kết hôn cận huyết thống trên địa bàn huyện Mường La, tỉnh Sơn La” Tảo hôn và kết hôn cận huyết tác động đến các vấn đề kinh tế xã hội, gây nên một vòng luẩn quẩn khó giải quyết, đó là: Nghèo đói - Tảo hôn, kết hôn cận huyết - Bỏ học - Không có cơ hội tìm kiếm việc làm - Sinh con ra sức khỏe kém, dễ ốm đau bệnh tật - Nghèo đói Tảo hôn là rào cản đối với hoàn thành các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Việt Nam đã cam kết Những ảnh hưởng đến sức khỏe của bà mẹ và trẻ em đòi hỏi phải được sự chăm sóc sức khỏe phù hợp Tuy nhiên, những đối tượng này thường là những người yếu thế trong xã hội, có những ảnh hưởng nặng nề, cần đến sự giúp đỡ, hỗ trợ của các trung tâm y tế, tổ chức phúc lợi xã hội Xã hội sẽ phải chăm lo nhiều hơn về mặt y tế, điều kiện học hành đặc biệt là trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế đòi hỏi mỗi con người phải có trí tuệ

Trang 22

15

phát triển, sức khỏe tốt để đáp ứng được yêu cầu xây dựng xã hội trong thời đại mới[13, tr.24]

1.1.5 Một số lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu

Ngành công tác xã hội đã ứng dụng các nội dung cơ bản về các lý thuyết ứng dụng trong công tác xã hội, qua đó để biết cách áp dụng các lý thuyết công tác xã hội vào các trường hợp can thiệp cụ thể với thân chủ, tác động với nhóm- cộng đồng Đồng thời, qua việc xem xét đánh giá những lý thuyết khác nhau trong công tác xã hội , sẽ biết đưa ra cách thức lý luận khác nhau, áp dụng các

mô hình lý luận khác nhau về hoạt động thực hành của công tác xã hội Sau đầy

là những là một lý thuyết ứng dụng trong đề tài này

1.1.5.1 Lý thuyết hệ thống sinh thái

Lý thuyết hệ thống sinh thái ra đời từ những năm 70 của thế kỹ trước, lý thuyết nay giúp những người thực hành công tác xã hội phân tích thấu đấo sự tương tác giữa thân chủ và hệ thống sinh thái - môi trường xã hội mà thân chủ đang sinh sống và mức độ ảnh hưởng thế nào đến hành vì của con con người trong đời sống xã hội Mỗi cá nhân đều có một môi trường và một hoàn cảnh sống, họ chịu tác động của các yếu tố trong môi trường sống và họ cũng ảnh hưởng dến môi trường xung quanh của họ Như vậy, các cá nhân và các yếu tố liên quan trực thuộc lẫn nhau rất chặt chẽ Trong môi trường sinh thái, các hệ thống hoạt động vừa có tính chất riêng biệt vừa phức tạp, vừa có sự trào đổi, liên kết chặt chẽ giưa chúng Lý thuyết hệ thông sinh thái có ảnh hưởng rất nhiều đến các phương thức thực hiện trong công tác xã hội như tư vấn, xử lý ca, tư vấn nhóm, tổ chức và phát triển cộng đồng … “ Bất cứ một việc can thiệp hoặc giúp

đỡ một cá nhân của một tổ chức nào đó, đều có liên quan và ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống” Lý thuyết hệ thống sinh thái ra đời từ những năm 70 củ thế

kỷ trước ,lý thuyết nay giúp những người thực hành công tác xã hội phân tích thấu đáo sự tương tác giữa thân chủ và hệ thống sinh thái – môi trường , xã hội

mà thân chủ đang sinh sống, và mực độ ảnh hưởng như thế nào

Trang 23

Ứng dụng vào đề tài: Trong đề tài “Thực trạng nạn tảo hôn của người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” Tảo hôn là việc làm vi phạm pháp luật gây ra những hệ lụy xấu đối gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến sức khỏe người mẹ, khi sinh con khi chưa đến tuổi trưởng thành Lấy nhau ở tuổi ăn chưa no lo chưa tới thì việc tạo ra kinh tế nuôi con là một điều vô cùng khó khăn, kéo theo con sinh ra bị suy dinh dưỡng, không được đến trường và gia đình luôn trong tình trạng đói nghèo (ngèo bên vững) Lý thuyết sinh thái giúp người nghiên cứu đề tài đứng trên lập trường cảm xúc, tìm

ra cách xử lý phù hợp, không nhìn theo một chiều mà phán xét, tìm hiểu nhiều yếu tố, nguyên nhân mà tảo hôn đó gây nên, giúp người nghiên cứu vẽ ra biểu

đồ sinh thái đưa ra nhiều biện pháp, lập luận để giải quyết vấn đề

Trang 24

(S là tác nhân kích thích, C là nhận thức, R là phản ứng, B là kết quả hành vi)

Theo sơ đồ thì S không phải là nguyên nhân trực tiếp của hành vi mà thay vào đó chính nhận thức C về tác nhân kích thích và về kết quả hành vi mới dẫn đến phản ứng R Quan điểm về nhận thức - hành vi chỉ ra: Theo các nhà lý thuyết gia nhận thức - hành vi thì các vấn đề nhân cách hành vi của con người được tạo tác bởi những suy nghĩ sai lệch trong mối quan hệ tương tác với môi trường bên ngoài Con người nhận thức lầm và gán nhãn nhầm cả từ tâm trạng ở trong ra đến hành vi bên ngoài, do đó gây nên những quan niệm tiêu cực Nhận thức theo lối lạc hậu dẫn đến những hành vi sai trái đi ngược lại với xã hội hiện đại Hầu hết hành vi là do con người học tập (trừ những hành vi bẩm sinh), đều bắt nguồn từ những tương tác với thế giới bên ngoài, do đó con người có thể học tập các hành vi mới, học hỏi để tập trung nghĩ về việc nâng cao cái tôi, điều này

sẽ sản sinh các hành vi, thái độ thích nghi và củng cố nhận thức [10]

Ứng dụng vào đề tài: Người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy có những phong tục lạc hậu như tảo hôn, mà bắt nguồn là tục “đi sim”, tục nay trẻ

em gái bắt đầu từ 13 tuổi trở lên sẽ ngủ nhà riêng, các trẻ em trai đồng trang lứa hoặc lớn hơn sẽ được tự do thoải mái tìm hiểu nhau, dẫn đến những quan điểm tiêu cực và có những hành vi không phù hợp như; tình cảm lệch chuẩn, quan hệ tình dục sớm và dẫn đến hậu quả như mang thai, kết hôn dưới tuổi định luật Đề tài áp dụng lý thuyết nhận thức – hành vi nhằm nghiên cứu mức độ sự hiểu biết nhận thức của người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình về hậu quả những hủ tục lạc hậu như; đi sim, tảo hôn Từ đó đưa ra những giải pháp giúp người dân tộc Bru- Vân Kiều nơi đây nhận thức

được hậu quả của tảo hôn, hạn chế và bài trừ nạn tảo hôn

Trang 25

18

1.2 Cơ sở thực tiễn của tảo hôn

1.2.1 Các chính sách pháp luật của nhà nước ta có liên quan đến xử lý tình trạng tảo hôn

1.2.1.1 Xử lý về dân sự

Khoản 6 - Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 giải thích: “Kết hôn trái pháp luật là việc nam, nữ đã đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhưng một bên hoặc cả hai bên vi phạm điều kiện kết hôn theo quy định tại Điều

8 của Luật này” Theo quy định tại điểm a - khoản 1 - Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo điều kiện: “Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên” Như vậy, khi một trong hai bên nam, nữ hoặc cả nam và nữ chưa đủ độ tuổi này mà đã kết hôn, Tòa án có thể hủy việc kết hôn trái pháp luật.[16]

Các trường hợp tảo hôn không có đăng ký kết hôn

Về nguyên tắc, nhà nước không thừa nhận giá trị pháp lý của các trường

hợp kết hôn không được đăng ký theo quy định của pháp luật, “Việc kết hôn phải được đăng ký và do cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện theo quy định của Luật này và pháp luật về hộ tịch” (Khoản 1 - Điều 9 Luật HN&GĐ

năm 2014) Khi có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, căn cứ theo quy định của Luật HN&GĐ và các quy định khác của pháp luật về tố tụng dân sự, Tòa án thụ lý, giải quyết và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật HN&GĐ năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ[16]

Đây là trường hợp xảy ra phổ biến, tuy nhiên không bị xử lý nhiều do chỉ đến khi xảy ra mâu thuẫn, các bên muốn chấm dứt quan hệ “vợ chồng” và có đơn đến Tòa án thì những trường hợp tảo hôn này mới bị phát hiện Trong trường hợp cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật hoặc yêu cầu ly hôn thì theo hướng dẫn tại khoản 4 - Điều 3 Thông

tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC, Tòa án thụ lý, giải quyết

và áp dụng Điều 9 và Điều 14 của Luật HN&GĐ năm 2014 tuyên bố không công nhận quan hệ hôn nhân giữa họ Nếu có yêu cầu Tòa án giải quyết về quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con; quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng giữa

Trang 26

24/9/2013 quy định nhƣ sau: Điều 65 quy định, “công chức Tư pháp - Hộ tịch cấp xã, công chức Phòng Tư pháp cấp huyện, công chức TAND các cấp có thẩm quyền lập biên bản vi phạm hành chính đối với các hành vi quy định tại Điều 47 Nghị định này” Theo quy định tại Điều 66, “Chủ tịch UBND cấp xã có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 3.000.000 đồng; Chủ tịch UBND cấp huyện có thẩm quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 15.000.000 đồng và áp dụng các biện pháp khắc phục hậu quả theo quy định của pháp luật Theo quy định tại Điều 70 về thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của TAND, Chánh

án TAND cấp huyện có quyền phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền đến 7.500.000 đồng” [3]

Cụ thể, Điều 47 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 quy định

mức xử phạt đối với hành vi tảo hôn, tổ chức tảo hôn nhƣ sau: “Cảnh cáo hoặc phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với hành vi tổ chức lấy vợ, lấy chồng cho người chưa đủ tuổi kết hôn Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi cố ý duy trì quan hệ vợ chồng trái pháp luật với người chưa đủ tuổi kết hôn mặc dù đã có quyết định của Tòa án nhân dân buộc chấm dứt quan hệ đó.”[3]

Nhƣ vậy, công chức Tƣ pháp - Hộ tịch, Chủ tịch cấp xã, công chức Phòng

Tƣ pháp huyện, Chủ tịch cấp huyện, TAND, Chánh án cấp huyện có thẩm quyền

xử phạt hành chính đối với hai đối tƣợng:

Trang 27

1.2.1.3 Xử lý về hình sự

Nhằm kiên quyết đấu tranh chống những trường hợp kết hôn khi chưa đến tuổi theo luật định, xử lý các cá nhân, tổ chức có hành vi tổ chức tảo hôn, cố ý duy trì quan hệ hôn nhân trái pháp luật với người chưa đến tuổi kết hôn, Bộ luật Hình sự năm 2015 đã có những quy định cụ thể về xử lý hình sự với hai tội danh

cụ thể tại Điều 181 -Tội cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, cản trở ly hôn tự nguyện và Điều 183 - Tội tổ chức tảo hôn

Theo quy định tại Điều 181 BLHS, hành vi tảo hôn được coi là tội phạm khi người có hành vi đó cưỡng ép người khác kết hôn trái với sự tự nguyện của

họ, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm Hình phạt

áp dụng đối với hành vi này có thể lên tới 03 năm tù giam

Theo quy định tại Điều 183 BLHS, hành vi tổ chức tảo hôn được coi là tội phạm khi tổ chức việc lấy vợ, lấy chồng cho những người chưa đến tuổi kết hôn,

đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm Người tổ chức tảo hôn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm

Bên cạnh đó, đối với những trường hợp cố ý duy trì quan hệ vợ chồng với trẻ em có thể bị truy tố về tội hiếp dâm đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản 4 - Điều 141 LHS năm 2015); tội hiếp dâm người dứới 16 tuổi (Điều

142 LHS năm 2015); tội cưỡng dâm người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi (khoản

4 - Điều 143 LHS năm 2015); tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 LHS năm 2015); tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145 LHS năm 2015); tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146 LHS năm 2015) [17]

Trang 28

21

1.2.1.4 Các chính sách nhằm hạn chế và xóa bỏ nạn tảo hôn

Tảo hôn là một tập tục tồn tại lâu đời ở nhiều nhóm cộng đồng và các dân tộc trên thế giới Tảo hôn trong một số nhóm cộng đồng và dân tộc thiểu số ở Việt Nam cũng vẫn là vấn đề nan giải Tảo hôn không chỉ gây hại cho sức khỏe,

sự trưởng thành của trẻ em gái, mà còn tước đoạt nhiều quyền con người của các

em, ảnh hưởng đến sự tồn vong và phát triển của nhóm cộng đồng và dân tộc đó cũng như cả quốc gia… Xem xét vấn đề tảo hôn dưới góc độ pháp luật quốc gia

về quyền con người, nhằm hướng tới xây dựng quan hệ hôn nhân tiến bộ Thông qua việc phân tích thực trạng và nguyên nhân của vấn đề tảo hôn ở một số cộng đồng và dân tộc thiểu số ở Việt Nam Từ đó Nhà nước ban hành những bộ luật, những chính sách, những giải pháp nhằm giảm thiểu vấn đề tảo hôn, thúc đẩy việc tôn trọng và bảo đảm quyền của phụ nữ và trẻ em ở Việt Nam

Cụ thể: Quyết định số 498/QĐ-TTg, ngày 14/4/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và HNCHT vùng DTTS giai đoạn 2015-2025” nhằm nâng cao nhận thức , ý thức về pháp luật về hôn nhân và gia đình

Điều 1 Phê duyệt Đề án “Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận

huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số giai đoạn 2015 - 2025” (sau đây gọi tắt

là Đề án) với những nội dung chủ yếu sau:

(1) Mục tiêu chung

Phấn đấu đến năm 2025 cơ bản ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số, góp phần nâng cao chất lượng dân số và nguồn nhân lực vùng dân tộc thiểu số

(2) Mục tiêu cụ thể

Nâng cao nhận thức và ý thức pháp luật, chuyển đổi hành vi trong hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số góp phần giảm thiếu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số

Trên 90% cán bộ làm công tác dân tộc các cấp, cán bộ văn hóa - xã hội xã được tập huấn nâng cao năng lực, kỹ năng vận động, tư vấn, truyền thông thay

Trang 29

(3) Phạm vi thực hiện Đề án

Vùng dân tộc thiểu số, chú trọng khu vực miền núi phía Bắc, Bắc Trung

bộ - Duyên hải miền Trung, Tây Nguyên và Tây Nam bộ [5]

Quyết định số 439/QĐ – UBDT ngày 13 tháng 08 năm 2015 thực hiện Đề

án “ Giảm thiểu tình trạng tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiếu số giai đoạn 2015 – 2020” Tăng cường các hoạt động truyền thông, cung cấp thông tin, phổ biến pháp luật; tuyên truyền, vận động, tư vấn, can thiệp, hỗ trợ và xây dựng mô hình điểm, duy trì hoạt động của các mô hình điểm nhằm nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của cấp ủy Đảng, chính quyền, các tổ chức Đoàn thể và người dân trong thực hiện các quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình, góp phần ngăn ngừa, giảm thiểu tình trạng tảo hôn

và hôn nhân cận huyết thống trong vùng dân tộc thiểu số Phân công nhiệm vụ cụ thể, đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức, đơn vị có liên quan trong tổ chức triển khai thực hiện Đề án [23]

1.2.2 Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài

1.2.2.1 Các nghiên cứu chung về nạn tảo hôn của người dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Theo nghiên cứu của “Qũy Nhi Đồng Liên Hợp Quốc viết tắt là UNICEF” với bài viết “ Chấm dứt kết hôn trẻ em – Trào quyền cho trẻ em gái” đã phân tích dựa trên cơ sở quyền và nhân chủng học về kết hôn trẻ em và chung sống sớm như vợ chồng đã chỉ ra răng: Về bản chất , kết hôn trẻ em xuất phát từ tình trạng bất bình đẳng giới Sự phân biệt giới đối với phụ nữ và trẻ em gái trong xã hội Việt nam được duy trì và gia tăng do chế độ phụ hệ/làm dâu liên quan đến vài trò giới và sự phân chia quyền hạn bất bình đẳng giữa nam và nữ tạo ra

Trang 30

đề cập đến khá là bao quát, đáng tiếc là luật tục được trình bày ở dạng mô tả chung [11]

Nghiên cứu một số tài liệu liên quan đến tảo hôn và kết hôn cận huyết thống khác như các bài báo khoa học đăng tải trên các tạp chí chuyên ngành: Bài viết “Tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở các dân tộc thiểu số tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị” (2017) của PGS.TS Nguyễn Văn Mạnh - Trường Đại học Khoa học Huế đăng trên Tạp chí Nghiên cứu và phát triển, nghiên cứu về nguyên nhân và thực trạng của tảo hôn, kết hôn cận huyết thống trên thế giới Đã đưa ra những kết quả nghiên cứu cho thấy, cùng với vấn nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống ở đồng bào các dân tộc thiểu số tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm người Ta Ôi, Cơ Tu, Bru-Vân Kiều là vô số hiểm họa đang tiềm ẩn trong tương lai nòi giống của hàng chục nghìn gia đình tại các cộng đồng dân cư này Trong khi nguồn nhân lực luôn là nhân tố quan trọng hàng đầu của sự phát triển

xã hội thì thật đáng lo ngại khi một phần chủ nhân tương lai của các dân tộc thiểu số nơi đây lại mang trong người tình trạng suy dinh dưỡng, thể trạng còi cọc, thiểu năng trí tuệ, những mầm bệnh bẩm sinh do nguyên nhân tảo hôn Vì vậy, tập quán tảo hôn là một vấn nạn lớn của xã hội, một trở ngại lớn đối với sự phát triển bền vững ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số cả nước nói chung [12]

Trang 31

24

Tuy nhiên, các bài viết nghiên cứu trên mới chỉ ra những nét khái quát về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống ở một số nhóm người nhất định chủ yếu dưới dạng báo cáo, tham luận về tảo hôn và kết hôn cận huyết thống như một vấn nạn xã hội mà chưa đi vào nghiên cứu và chỉ ra những biện pháp cụ thể

Trong nghiên cứu “Kết hôn trẻ em ở một số cộng đồng dân tộc thiểu số/Một phân tích từ góc nhìn Nhân học” (2017) của tác giả Phạm Quỳnh Phương, Đỗ Quỳnh Anh, Hoàng Ngọc Anh, Phạm Thanh Trà, Mai Thanh Tú đã

đưa ra nhận định: Những tác nhân dẫn đến thực hành kết hôn trẻ em bao gồm sự duy trì các qui chuẩn và giá trị văn hóa phụ hệ và sự trông chờ của vai trò giới (trong đó trẻ em gái thường bị thiệt thòi và thiếu cơ hội hơn so với trẻ em trai), thiếu đất đai, hệ sinh thái nghèo, đời sống vật chất khó khăn, sự tăng trưởng dân

số, khó tiếp cận với giáo dục ở trình độ trung học (cấp 3), thiếu thông tin về sức khoẻ sinh sản, ít cơ hội việc làm, thiếu phương tiện giải trí lành mạnh… Bên cạnh đó, sự tiếp cận của trẻ em với các phương tiện liên lạc hiện đại gần đây như internet, Facebook, Zalo, các trò game…, cơ sở hạ tầng được đầu tư thuận lợi cho giao thông, cơ hội giáo dục học tập nội trú, sự gia tăng của các phương tiện

cá nhân (xe máy), sự phổ biến của tivi, cũng như sự giản đơn hóa các nghi thức kết hôn so với truyền thống khiến áp lực về tài chính khi kết hôn giảm xuống, lại khiến cho tình trạng kết hôn sớm quay lại và dường như phổ biến hơn giai đoạn trước Điều này dường như hoàn toàn đối lập khi đối chiếu với các diễn ngôn phổ biến cho rằng các “hủ tục”, “phong tục lạc hậu” của các nhóm dân tộc thiểu

số là một trong những nguyên nhân chính của hiện tượng kết hôn trẻ em ở các cộng đồng miền núi, bởi điều gây ngạc nhiên nhất có lẽ là bởi không phải các phong tục truyền thống mà chính sự du nhập các làn sóng văn hóa “hiện đại” mới là tác nhân thực sự ảnh hưởng đến hiện trạng kết hôn trẻ em của các nhóm dân tộc thiểu số thời gian gần đây Đây là những nghịch lý cho thấy vấn đề kết hôn sớm không thể được xem như là di sản của “truyền thống” và văn hóa phụ

hệ nghiệt ngã với phụ nữ, mà cần phải được nhìn nhận tổng thể, trong mối quan

hệ đa chiều giữa các thành tố, mà trong đó cộng đồng tộc người đang là chủ thể trải nghiệm tất cả những sự biến đổi nhanh chóng từ những tác động bên ngoài,

Trang 32

25

trong khi những gốc rễ nền tảng cho sự phát triển cân bằng và bền vững của tộc người (như đất sản xuất, sinh kế bền vững, đa dạng lựa chọn…) lại đang bị lung lay Kết hôn trẻ em trở thành một phương thức đối phó với các biến động xã hội này, trở thành “chiến lược” đem lại cảm thức về an toàn sinh kế, kiểm soát tình dục và đạo đức trẻ em Nói cách khác, trong bối cảnh vẫn còn nghèo đói và ít cơ hội lựa chọn, sự gia tăng kết hôn trẻ em những năm gần đây có thể xem như một

sự phản ứng có tính chiến lược của cộng đồng tộc người trước sự mất an toàn sinh kế và rủi ro trong đời sống xã hôi[14]

1.2.2.2 Một số nghiên cứu chung về nạn tảo hôn ở Nước ngoài

Tảo hôn trên thế giới đang tạo nên một cảnh báo về phát triển bền vững và

vi phạm nhân quyền của các bé gái Cuộc điều tra của Liên Hợp Quốc về quyền của bé gái nhân ngày Quốc tế bé gái ( ngày 11/10/2012) cho thấy hiện nay tình trạng bé gái bị lạm dụng tình dụng và tảo hôn đang diễn ra ở rất nhiều nước trên thế giới, chủ yếu là các nước Trung Đông và Nam Á [28] Tại Afghanistan, theo khảo sát của Liên Hợp Quốc có tới 57%nữ giới nước nay kết hôn trước 16 tuổi -

- là tuổi pháp luật nước nay cho phép[29]

Theo Qũy nhi đông Liên hợp Quốc, tảo hôn rất phổ biến ở các nước đang phát triển, có đến 1/3 phụ nữ lấy chồng trước tuổi 18 Thống kê của Qũy Dân số Liên Hợp Quốc khẳng định ít nhất 1/3 số “ em gái” ở Nigeria lấy chồng khi chưa được 15 tuổi ( phổ biến 13 tuổi , có trường hợp chỉ 9 hoặc 10 tuổi ) và 75% lấy chồng trước 18 tuổi Theo số liệu của Trung Tâm Nghiên cứu Quốc tế về Phụ nữ

ở Anh năm 2012 có hơn 50 triệu cô dâu trẻ trên toàn thế giới , và đạt dự kiến sẽ tăng lên 100 triệu trong thập kỷ tới Với sự phát triển hiện nay, Liên Hợp Quốc ước tính trong thập kỷ tới có khoảng 1 triệu bé gái sẽ kết hôn trước 18 tuổi Đây

là một vấn đề cảnh báo nghiêm trọng cho nạn tảo hôn trong cộng đồng các quốc gia đang phát triển[30]

Trang 33

26

Tiểu kết chương 1

Nạn tảo hôn xảy ra bắt nguồn từ những hủ tục lạc hậu và những quan niệm sai lầm về hôn nhân, gia đình đã ăn sâu, bám rễ trong xã hội dẫn đến nhiều hậu quả tiêu cực đối với cá nhân, gia đình, xã hội, kéo dài đến nhiều thế hệ Việc tìm ra những nguyên nhân, hệ quả và các giải pháp nhằm hạn chế vấn nạn tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống vì vậy là việc làm cần thiết, cấp bách vì tương lai nòi giống của chúng ta, vì sự phát triển bền vững của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

Pháp luật hôn nhân gia đình về tảo hôn đã được điều chỉnh qua nhiều thời

kỳ, bổ sung phù hợp với truyền thống cũng như đặc điểm kinh tế, văn hóa, xã hội của nước ta Cho đến nay, pháp luật Việt Nam trên cơ bản đã phù hợp với nội dung pháp luật quốc tế mà nước ta là thành viên, đồng thời giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa truyền thống của dân tộc

Mặc dù đã có nhiều chuyển biến tích cực, tình trạng tảo hôn vẫn đang diễn

ra và có nhiều nguy cơ gia tăng, đặc biệt tại các vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số, trong đó có địa xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

Trang 34

27

CHƯƠNG 2:

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP HẠN CHẾ TÌNH TRẠNG TẢO HÔN CỦA NGƯỜI DÂN TỘC BRU - VÂN KIỀU TẠI XÃ LÂM THỦY,

HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH

2.1 Đặc điểm địa bàn và khách thể nghiên cứu

2.1.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

Xã Lâm Thủy được tách ra từ xã Ngân Thủy năm 2001 Lâm Thủy là một

xã biên giới nằm về phía Tây Bắc của huyện Lệ Thủy Phía Bắc tiếp giáp xã Trường Sơn - Huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình; Phía Nam giáp xã Kim Thủy, huyện Lệ Thủy, ranh chủ yếu là núi đồi sông, suối( vì đặc điểm dân cư thưa thớt); Phía Đông giáp xã Ngân Thủy Huyện Lệ Thủy, ranh giới chủ yếu là con sông Long Đại Tây chảy qua chia ngang ranh giới hai xã; Phía Tây giáp với nước bạn Lào ( Nước Việt Nam nói chung ranh giới tiếp giáp với Lào chủ yếu là đồi núi, sông suối Với tổng diện tích tự nhiên là 24.120,7 ha gồm có 3 loại đất: Đất lâm nghiệp, đất nông nghiệp, và đất phi nông nghiệp Trong đó: Đất lâm nghiệp: 22.204 ha, đất rừng phòng hộ: 6.210 ha và đất rừng sản xuất: 15.994,53 ha), đất nông nghiệp: 371 ha và đất phi nông nghiệp là 748,4 ha Do xã Lâm Thủy địa hình chủ yếu có độ dốc lớn, chia cắt bởi nhiều ngọn núi và sông suối nên đại bộ phận đồng ruộng rất nhỏ hẹp, chủ yếu tự cung tự cấp Khí hậu và thổ nhưỡng của xã thích hợp trồng cây công nghiệp, cây ăn quả, khoanh nuôi và bảo

vệ rừng Theo thống kê năm 2019, diện tích đất sản xuất nông nghiệp là: 371 ha; đất lâm nghiệp: 22.204 ha (đất rừng phòng hộ: 6.210 ha và đất rừng sản xuất: 15.994,53 ha)

Bảng 2.1.1 Thống kê dân số chia theo thôn/bản tại xã Lâm Thủy năm 2019

hộ

Số khẩu

Trong đó

Hộ DTTS

Khẩu DTTS

Hộ Kinh

Khẩu kinh

Trang 35

28

Theo bảng 2.1.1: Toàn xã có 06 bản, trong đó có bốn bản chạy dọc theo đường Hồ Chí Minh Tây là Bản Mới, Bản Xà Khía, Bản Tăng Ký, Bản Tân Ly Còn hai bản nằm xa trung tâm là Bản Bạch Đàn, Bản Chút Mút ( của khẩu Chút Mút giáp với Lào) Với 394 hộ, 1613 nhân khẩu, phần lớn dân trong xã là người dân tộc Bru - Vân Kiều

Tỷ lệ dân số chia theo dân tộc

Kinh Bru - Vân Kiều

Trang 36

Số khẩu

Tỷ lệ (%)

Số cận nghèo

Số khẩu

Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Nguồn Ủy ban nhân dân xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình)

Từ bảng thống kê trên, có thể thấy, trong năm 2019, xã Lâm Thủy có số lượng hộ nghèo khá cao chiếm 52,28%,và hộ cận nghèo chiếm 26,65% Mặc dù

có nhiều điều kiện thuận lợi và định hướng phát triển kinh tế , những tiềm năng của xã vẫn chưa được phát triển đầy đủ, điều kiện kinh tế của người dân vẫn còn gặp nhiều khó khăn

Địa bàn xã Lâm Thủy ở xa trung tâm thị trấn nên mạng lưới điện thường xuyên bị mất, không có điện đài, việc giao lưu với đời sống văn hóa văn minh của xã hội còn ít nên đời sống văn hóa tinh thần của người dân nơi đây còn rất lạc hậu Những thông tin văn hóa - khoa học kỹ thuật, thông tin về dân số tới với

bà con nơi đây còn rất hạn chế, hơn thế nữa, phim ảnh, báo chí dường như không có Hoạt động của Đoàn thanh niên, của Hội phụ nữ, của Hội người cao tuổi còn rời rạc gần như lắng xuống

Những đặc điểm thực trạng về kinh tế, văn hóa, xã hội trên địa bàn xã Lâm Thủy đã tác động sâu sắc đến kinh tế và lối sống của người dân địa phương, trong đó có những hủ tục tồn tại trên địa bàn xã như tảo hôn

Trang 37

30

2.1.2 Đặc điểm khách thể nghiên cứu

Sau quá trình điều tra, chúng ta có được một cái nhìn tổng quát về khách thể nghiên cứu Đặc điểm của khách thể nghiên cứu được thể hiện qua bảng sau:

Bảng 2.1.3 Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu theo nhóm tuổi và

và giới tính Giới tính

Nhóm tuổi

SL (người)

Tỷ lệ (%)

SL (người)

Tỷ lệ (%)

SL (người0

Tỷ lệ (%)

Độ tuổi 15-20 số lượng giới tính Nam là 3, Nữ là 11; chiếm tỷ lệ là 10%

và 22,4% Tổng số lượng ở độ tuổi này là 14 và chiếm 17,5%

Độ tuổi 21-30 số lượng giới tính Nam là 19 và chiếm tỷ lệ là 61%, Nữ là 22 chiếm tỷ lệ 45% Số lượng Nam và Nữ ở độ tuổi này là 41 và tỷ lệ % là 51,25%

Độ tuổi 31-40 của Nam và Nữ là 17 và chiếm tỷ lệ là 21,25% Trong khi đó ở Nam giới số lượng là 7 chiếm 22,6%, Nữ giới là 6 chiếm 12,2%

Độ tuổi 41-50 số lượng Nam là 2 chiếm 6,4%; Nữ giới là 6 chiếm 12,2% Tổng

số lượng của Nam và Nữ trong độ tuổi này là 8 và chiếm tỷ lệ thấp nhất trong các độ tuổi 10%

Qua đó cho ta thấy rằng độ tuổi nghiên cứu của Nam giới từ 21-30 chiếm

tỷ lệ cao nhất là 16% còn ở Nữ giới cũng ở độ tuổi này tỷ lệ % chiếm cao nhất 45% Độ tuổi thấp nhất là 41-50, Nam giới số lượng là 2 và chiếm 6,4%; Nữ giới là 6 chiếm 12,2% Tổng số lượng Nam giới ở các độ tuổi là 31 chiếm 39%,

Nữ giới cao hơn Nam giới chiếm 61% và số lượng là 49

Trang 38

Tỷ lệ (%)

SL (người)

Tỷ lệ (%)

SL (người)

Tỷ lệ (%)

Nhìn chung dân trí của người dân tộc Bru – Vân Kiều là tương đối thấp,

đa số đối tượng nghiên cứu chỉ đang ở ngưỡng trung học phổ thông chiếm 28,3%, tỷ lệ người học xóa mù chữ , biết đọc, biết viết chiếm 26,7% nhưng trình độ dân trí còn hạn chế; cấp trung học cơ sở chiếm 26,7%; trình độ học Cao đẳng, đại học còn rất thấp chỉ chiếm 15% và người dân đã học tiểu học chỉ chiếm 3,3%

Bảng 2.1.5 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu theo tình trạng hôn nhân Tình

trạng hôn

nhân

Chưa kết hôn

Đã kết hôn

ly thân,ly hôn và góa

2.2 Thực trạng tảo hôn của người dân tộc Bru – Vân Kiều tại xã Lâm Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

Trang 39

32

2.2.1 Tình trạng tảo hôn tại địa bàn nghiên cứu

Theo thống kê Ủy ban nhân dân xã Lâm Thủy – Tư pháp & Hộ tịch trong

3 năm từ năm 2017 – 2019 toàn xã thống kê kết hôn là: 57 cặp vợ chồng đăng

ký kết hôn ; Tảo hôn là: 14 cặp vợ chồng Bảng dưới đây thống kê số cặp tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy từ năm 2017 – 2019

Bảng 2.2.6 Số cặp tảo hôn được thống kê trên địa bàn xã Lâm Thủy từ

năm 2017 – 2019 ( cặp) của người dân tộc Bru – Vân Kiều

Stt Thôn/bản

Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019

Tổng số cặp tảo hôn trong 3 năm

SL (Cặp tảo hôn)

Tỷ lệ (%)

SL (Cặp tảo hôn)

Tỷ lệ (%)

SL (Cặp tảo hôn)

Tỷ lệ (%)

SL (Cặp tảo hôn)

Tỷ lệ (%)

Cụ thể:

Bản Mới năm 2017 không có cặp tảo hôn nào tuy nhiên năm 2018 con số tăng lên 01 chiếm 12,5% tỉ lệ tảo hôn toàn xã ,năm 2018 không tăng thêm cặp tảo hôn nào nhưng đến 2019 tăng thêm 01 cặp tảo hôn năng tổng số cặp tảo hôn

Trang 40

Tăng Ký năm 2017 có 1 cặp tảo hôn chiếm 50% tỉ lệ tảo hôn toàn xã, đến năm 2018 con số tăng lên thêm 02 cặp tảo hôn và chiếm 40% tỉ lệ tảo hôn toàn

xã, đến năm 2019 có thêm 01 cặp tảo hôn chiếm 25% tỉ lệ tảo hôn toàn xã Từ năm 2017-2019 tổng có 04 cặp tảo hôn trăng trong toàn xã, chiếm 28,6% đây là con số đáng lưu ý

Bạch Đàn năm 2017 không có cặp nào tảo hôn nào, nhưng năm 2018 tăng lên 02 cặp chiếm 40% tỉ lệ tảo hôn toàn xã, năm 2019 không có cặp nào tảo hôn và đây là dấu hiệu đáng mừng cho toàn xã

Chút Mút từ năm 2017-2019 chỉ có duy nhất 01 cặp tảo hôn năm 2018, đây là bản chiếm tỷ lệ tảo hôn thấp nhất trong toàn xã chỉ 7,1%

Tân Ly từ năm 2017-2019 năm mỗi năm có 01 cặp tảo hôn, tổng 03 năm liên tiếp thì Tân Ly có 03 cặp tảo hôn và chiếm 21,4%

Biểu đồ 2.2.2 Số lượng và tỷ lệ các cặp tảo hôn trên địa bàn xã Lâm Thủy

Ngày đăng: 23/06/2021, 16:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w