LỜI NÓI ĐẦU Sau 4 năm học lí thuyết cũng như đi thực tế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, để vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, sau khi hoàn thà
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Sau 4 năm học lí thuyết cũng như đi thực tế và bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học, để vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn sản xuất, sau khi hoàn thành các môn học trong trương trình đào tạo kỹ sư lâm nghiệp khóa học 2014-2018, được sự đồng ý của khoa Lâm học, bộ môn Điều tra và quy hoạch – trường Đại học Lâm nghiệp, tôi đã tiến hành đề tài tốt nghiệp:
“Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh tế của một số mô hình rừng
trồng Luồng (Dendrocalamuss membranaceus Munro) tại Lang Chánh, Thanh
Hóa’’
Qua bài luận văn này cho phép tôi được bày tỏ long biết ơn sâu sắc với các thầy cô giáo trong trường, trong khoa Lâm học đã dạy bảo trong những năm qua , đặc biệt là cô giáo Vũ Thị Hường, người đã tận tình hướng dẫn, giúp
đỡ tôi hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp này Nhân đây cũng cho phép tôi được bày tỏ long biết ơn đén các cán bộ, công nhân viên của huyện Lang
Chánh, Thanh Hóa cùng bạn bè đồng nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong đợt thực tập tốt nghiệp vừa qua
Trong quá trình hoàn thành luận văn mặc dù bản thân đã có nhiều cố gắng nhừng do trình độ của bản thân còn hạn chế nên luận văn không thể tránh khỏi có những khiếm khuyết nhất định Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, ý kiến phê bình, đóng góp của bạn bè đông nghiệp để bài luận văn được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 05, 2018
Người Thực hiện
Hồ Bá Hiếu
Trang 2MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC BẢNG iv
DANH MỤC HÌNH v
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 2
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 2
1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt Nam 4
1.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 6
1.3.1 Đặc điểm sinh thái học 6
1.3.2 Đặc tính sinh vật học 7
1.3.3 Giá trị sử dụng 8
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 10 2.1 Mục tiêu nghiên cứu 10
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 10
2.1.2Mục tiêu cụ thể 10
2.2 Nội dung nghiên cứu 10
2.2.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng của rừng Luồng 10
2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trông luồng 10
2.2.3 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trong chọn loài cây trồng và chọn mô hình rừng trồng cho khu vực nghiên cứu 10
2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 10
2.4 Phương pháp nghiên cứu 11
2.4.1 Kế thừa tài liệu 11
2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 11
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 13
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 18
3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 18
Trang 33.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.2 Địa hình, địa thế 18
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng 19
3.1.4 Khí hậu thủy văn 19
3.1.5 Các nguồn tài nguyên 20
3.2 Kinh tế - xã hội 20
3.2.1 Dân số và nguồn lao động 20
Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 21
4.1 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu 21
4.1.1 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng đường kính D1.3 21
4.1.2 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng chiều cao vút ngọn Hvn 25
4.2 Kết quả nghiên cứu về phẩm chất cây 30
4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế 32
4.4 Đề xuất biện pháp thâm canh rừng Luồng 40
Chương 5 KẾT LUẬN - TỒN TẠI - KHUYẾN NGHỊ 42
5.1 Kết luận 42
5.2 Tồn tại 44
5.3 Kiến nghị 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 4DANH MỤC BẢNG
Biểu 01 Biểu điều tra rừng Luồng 13
Biểu 02 Biểu phân bố theo cự ly 14
Biểu 03 Các giá trị tính toán của trị số giữa fi và Xi 14
Biểu 4.3 Sinh trưởng chiều cao Hvn của Luồng tại 2 mô hình 26
Biểu 4.4: Kiểm tra sự sai khác về chiều cao vút ngọn bình quân (Hvn) 28
Biểu 4.5: Phẩm chất của Luồng tại 2 mô hình 31
Biểu 4.6: Tổng hợp chi phí cho 1 ha của các mô hình trồng rừng luồng từ năm thứ nhất đến năm thứ sáu 34
Biểu 4.7 :Tổng chi phí cho 1 ha rừng trồng luồng theo các mô hình từ năm 1 đến năm 6 với lãi suất 5% 36
Biểu 4.8: Tổng hợp thu nhập cho 1 ha rừng trồng của các mô hình 38
Biểu 4.9 :Biểu cân đối thu nhập và chi phí cho 1 ha rừng của các mô hình 39 Biểu 4.10 : Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh 1 ha rừng Keo lai và Keo tai tượng sau chu kỳ 6 năm 39
Trang 5DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh sinh trưởng đường kính (D1.3) giữa hai mô hình 25 Hình 4.2: Biểu đồ so sánh sinh trưởng chiều cao (Hvn) giữa hai mô hình 29 Hình 4.3: Biểu đồ so sánh tỷ lệ phẩm chất giữa hai mô hình 32
Trang 6ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một loại đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ, duy trì
hệ sinh thái toàn cầu, những chức năng sinh thái quan trọng nhất của rừng là điều hòa khí hậu, giữ và điều tiết nguồn nước, bảo vệ đất Rừng và tài nguyên rừng từ xa xưa đã gắn bó chặt chẽ với đời sống con người Nhân dân Việt Nam
ta từ các thế hệ trước đã bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng để đảm bảo cho nhu cầu mưu sinh của mình về lương thực, thực phẩm, thuốc men, gỗ làm nhà
và củi đốt…
Một trong những loài cây ưa sáng, mọc nhanh được gây trồng phổ biến ở
nước ta là cây luồng (Dendrocalamuss membranaceus Munro) thuộc họ hòa
thảo (Poaceae), họ phụ tre nứa (Bambusoideae) Đây là loài cây ưa ẩm, ưa sáng mọc nhanh, có nhiều công dụng đối với đời sống con người Mặt khác chu kỳ kinh doanh ngắn, có thể khai thác cho sản phẩm hàng năm, là loài cây đa tác dụng và hiện nay được gây trồng rộng rãi, có giá trị kinh tế cao
Luồng được phân bố khá rộng ở Việt Nam, trongđó rất phù hợp với điều kiện lập địa tại tỉnh Thanh Hóa, là nơi có diện tích rừng Luồng lớn nhất cả nước Việt Nam với trên 70.000 ha rừng Luồng các loại, có thể nói nơi đây là một “xứ Luồng” Người dân nơi đây gọi cây Luồng là “Cây xóa đói giảm nghèo”, Lang Chánh là một trong những huyện điển hình có diện tích lớn đất trồng Luồng của tỉnh, nơi đây được mệnh danh là “vua Luồng xứ Thanh” Mặc
dù có tiềm năng, lợi thế diện tích lớn rừng Luồng Tuy nhiên năng suất và chất lượng rừng Luồng còn rất thấp, hiện nay đang trên đà suy thoái, giảm cả về chất và lượng, do chưa chú trọng các biện pháp kỹ thuật canh tác, hiện tại vẫn chưa tìm ra phương thức canh tác nào là phù hợp và cho năng suất cao
Xuất phát từ thực trên đề tài: “Đánh giá sinh trưởng và hiệu quả kinh
tế của một số mô hình rừng trồng Luồng (Dendrocalamuss membranaceus
Munro) tại Lang Chánh, Thanh Hóa.” được thực hiện góp phần tìm ra
phương pháp phù hợp nhằm làm tăng năng suất, chất lượng rừng Luồng để hướng tớin mục đích kinh doanh lợi dụng rừng Luồng một cách lâu dài, bền
vững và ổn định
Trang 7Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Tre trúc là một nguồn lâm sản ngoài gỗ chiếm một vị trí quan trọng trong tài nguyên rừng ở nhiều nước trên thế giới, đặc biệt các nước vùng phía Nam
và Đông Nam Á Ở các nước này người dân đã biết sử dụng tre trúc từ lâu đời
để tạo ra hàng trăm sản phẩm cho đời sống hàng ngày Nhiều loài tre trúc là nguồn nguyên liệu quan trọng cho ngành thủ công mỹ nghệ, công nghiệp chế biến nông lâm sản, công nghiệp giấy sợi, công nghiệp chế biến ván nhân tạo Tre trúc cũng là vật liệu trong xây dựng kiến trúc, giao thông vận tải…Một số loài tre trúc cho măng ăn ngon đã trở thành đối tượng cung cấp thực phẩm có giá trị
Chính vì vị trí quan trọng của nguồn tài nguyên này nên tre trúc là đối tượng được các nhà khoa học nghiên cứu từ rất lâu về nhiều mặt như: Chọn giống, gây trồng, khai thác, sử dụng Gần đây có nhiều nghiên cứu nhằm phát triển gây trồng một số loài tre trúc theo mô hình rừng công nghiệp thâm canh với năng suất, chất lượng cao, hướng theo muc đích sử dụng nhất định
Từ đầu thế kỷ XX đã xuất hiện nhiều nghiên cứu tre trúc về các mặt như: lâm học, tái sinh, khai thác…Như công trình nghiên cứu của I.J.Haig, M.A.Huberman, U.Aung.Dig với tên “Rừng tre nứa” được FAO (Food and Agriculture Organization) xuất bản năm 1959, công trình đã cung cấp rất nhiều thông tin về tre nứa tuy nhiên công trình này chỉ công bố về các thuộc tính tự nhiên của chúng
Năm 1960 giáo sư Koichiro Ueda xuất bản cuốn “Sinh lý tre trúc” Theo giáo sư người Nhật Bản này thì trên thế giới có khoảng 1250 loài thuộc 47 giống họ Bambusaceae, trong đó Châu Á có 37 chi, Châu Mỹ có 10 chi, Châu phi có 10 chi Tác giả củng cho biết Đông Nam Á là vùng trung tâm phân bố của tre trúc
Trang 8Một trong những trung tâm nghiên cứu về tre trúc điển hình trên thế giới
là trường đại học Kyoto Nhật Bản các mẫu đưa vào nghiên cứa ở đây được thu thập từ khắp nơi trên lãnh thổ Nhật Bản Nội dung nghiên cứu chủ yếu là đặc điểm sinh thái, sinh lý và cách thức nhân giống của các loài tre trúc Ngoài ra trung tâm còn có những công trình nghiên cứu vượt qua lãnh thổ quốc gia, điển hình là tiến sĩ Koichiro, ông đã nghiên cứu các đặc điểm sinh lý, sinh thái các loài tre trúc ở Ấn Độ và các vùng lân cận, công trình nghiên cứu của tiến sĩ Kyamashta, Yinamori về mặt di truyền tế bào học của tre trúc
Những nghiên cứu đầu tiên về tre trúc là nghiên cứu về mặt phân loại, hình thái và sinh thái học Munro (1868) có công trình “Nghiên cứu về Bambusaceae” được coi là công trình nghiên cứu về tre trúc đầu tiên, trong đó
đã khái quát được một cách tổng quát về họ phụ tre trúc
Năm 1994, tổ chức PROSEA (Plant Resourcer of South - East Asia) đưa
ra công trình nghiên cứu “Tre nứa khu vực Đông Nam Á” tại Indonesia Trong công trình nghiên cứu tác giả đã đặt ra đặc điểm sinh thái học, phân bố, gây trồng, khai thác và sử dụng các loài tre nứa trong khu vực và một số loài của Việt Nam Tuy nhiên, công trình vẫn chưa nghiên cứu hết các loài có trong khu vực cũng như ở Việt Nam
Công trình “Các loài tre trúc” của Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Mianma, Malayxia và Indonexia
Công trình “Bamboo rediscovered” của Victor Cusack (1997) đề cập đến biện pháp bón phân làm cho nhiều loài tre trúc phát triển tốt, măng to, nhưng phải bón một cách hợp lý tùy thuộc vào loài nhất định
Tại Ấn Độ: Nghiên cứu của Dr.Dn.Tewari (1997) đã nghiên cứu về phân
bố và cách nhận biết của các loài tre trúc, tác giả đã chỉ ra được giá trị sử dụng hiện tại, chiến lược và dự kiến các chương trình nghiên cứu, đưa ra đánh giá tài nguyên tre trúc cho từng nước về số lượng loài và tiềm năng phát triển
Trang 9Một số tác giả trong nghiên cứu về tác động của chính sách và bài học kinh nghiệm trong phát triển kinh tế xã hội từ Tre và Mây
1.2 Tình hình nghiên cứu ở việt Nam
Tre trúc và những sản phẩm của nó đã gắn bó và gần gũi với người dân Việt Nam từ bao đời nay trên tất cả các mặt của đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần, trong cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, gậy tầm vông đã cùng nhân dân ta đuổi đánh quân xâm lược Hòa bình lập lại, tre trúc lại cùng chúng ta bước vào công cuộc xây dựng đất nước, phát triển kinh tế xã hội Giá trị của tre trúc thật phong phú và đa dạng, không chỉ trong phát triển kinh
tế, văn hóa, xã hội mà còn có ý nghĩa cao trong việc cải thiện bảo vệ môi trường sinh thái Vì vậy, hình ảnh tre trúc đã trở thành những ấn tượng tốt đẹp
và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân Việt Nam
Các vấn đề về quản lý và kinh doanh tre trúc cũng ngày càng thu hút được sự quan tâm hơn của các nhà nghiên cứu trong nước Tuy nhiên việc nghiên cứu tre trúc ở Việt Nam mới chỉ được bắt đầu từ những năm đầu của thập niên 60, một số công trình nghiên cứu và những kết quả có thể kể đến là: Năm 1964 Nguyễn Ngọc Bình mở đường cho nghiên cứu về đất trồng Luồng qua công trình “Bước đầu nghiên cứu đặc điểm đất trồng Luồng” Năm 1967, Nguyễn Thị Phi Anh đã thực hiện đề tài “Nghiên cứu trồng Diễn ở Cầu Hai - Phú Thọ”
Năm 1972, Lê Nguyễn và các cộng sự đưa ra công trình nghiên cứu
“Nhận biết, gây trồng, bảo vệ và khai thác tre trúc”
Phạm Bá Minh (1972) đã “nghiên cứu nhân giống cây Luồng bằng phương pháp ươm cành trong bầu dinh dưỡng” Công trình này đã nêu rất kỹ phương pháp, kỹ thuật gây trồng Luồng trong bầu dinh dưỡng và phương pháp để cây giống có chất lượng tốt
Trần Nguyễn Giảng (1961- 1967) đã nghiên cứu về kỹ thuật trồng và kinh doanh rừng trồng luồng Trịnh Đức Trình và Nguyễn Thị Hạnh (1986 – 1990) có công trình “Thâm canh rừng luồng lấy măng xuất khẩu” Ngoài ra
Trang 10còn có một số nghiên cứu về nhân giống luồng của các tác giả như Trịnh Đức Trình (1972); Pham Bá Minh (1972); Phạm Quang Liên (1999)…
Năm 1994 Ngô Quang Đê đã nghiên cứu và đưa ra cuốn “Gây trồng tre trúc”, tác giả đã giới thiệu tóm tắt về đặc điểm sinh vật học, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và sử dụng tre trúc nói chung Ngoài ra tác giả cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng của một số loài cụ thể đang được quan tâm hiện nay như: Luồng, Mây Sang, Vầu Đắng
Nghiên cứu về phân bố, trữ lượng, số loài và tình hình sinh trưởng của các loài tre trúc ở Việt Nam được thực hiện qua công tác điều tra quy hoạch rừng của Viện điều tra quy hoạch rừng (1995 – 1998), đã cho thấy sự phong phú và đa dạng về tổ thành các loài tre trúc, khả năng sinh trưởng nhanh và vùng phân bố rộng rãi tre trúc ở nước ta Các tác giả Nguyễn Đình Hưng, Nguyễn Tử Ưởng, Nguyễn Hoàng Nghĩa, Đỗ Đình Sâm, Nguyễn Tử Kim (2000) qua công trình “Tài nguyên tre trúc ở Việt Nam” đã nghiên cứu về sinh thái, trữ lượng, diện tích rừng tre trúc của Việt Nam, tác động của khai thác và đặc điểm cấu trúc rừng tre trúc, nguồn gen và thành phần loài, đặc điểm sinh trưởng, thực trạng của tre trúc, nguy cơ bị tàn phá Nghiên cứu cũng đã nêu ra được các phương pháp bảo tồn như, bảo tồn tại chỗ và bảo tồn ngoại vi, phát triển trồng rừng tre trúc
Công trình nghiên cứu về Luồng theo phương thức hỗn giao với các loài cây lá rộng tại Phú Thọ (Nguyễn Trường Thành, 2001) cho thấy: Việc trồng rừng Luồng thuần loài trên đất đồi đã xuống cấp dẫn đến sự kém bền vững về mặt sinh thái cũng như năng suất Luồng trồng hỗn giao với cây lá rộng như Lim, Sồi Phảng hoặc Keo lá to có sinh trưởng về đường kính, chiều cao và chất lượng cao hơn trồng thuần loài Các loài cây lá rộng có ý nghĩa tích cực trong cải thiện tính chất lý hóa của đất dưới tán rừng Luồng
Công trình nghiên cứu về trồng Luồng hỗn giao với keo tai tượng và trồng Luồng dưới tán rừng thứ sinh nghèo kiệt cho thấy Luồng trồng hỗn giao với Keo tai tượng và dưới tán rừng thứ sinh nghèo kiệt với độ tàn che của cây
Trang 11thân gỗ từ 0,3 – 0,5 cho chất lượng, sản lượng cao hơn so với rừng trồng thuần loài, đất được bảo vệ tốt hơn, tính đa dạng sinh học của rừng cao hơn (Lê Xuân Trường, 2002)
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Đạo (2003) trong đề tài tốt nghiệp về thực trạng quản lý rừng Luồng tại huyện Ngọc Lặc đã cho thấy những diện tích rừng Luồng được quản lý tốt, thực hiện các biên pháp thâm canh như bón phân, làm cỏ, xới đất, vệ sinh rừng tốt thì có năng suất và chất lượng sản phẩm cao hơn rõ rệt so với các lâm phần rừng quảng canh Tình trạng đất rừng, thảm thực vật rừng cũng được cải thiện hơn
Nghiên cứu của Phạm Thị Quyên (2003) trong đề tài tốt nghiệp, về ảnh hưởng của một số công thức bón phân đến sinh trưởng rừng Luồng tại trạm Lâm Nghiệp – Ngọc Lặc – Thanh Hóa làm cơ sở đề xuất biện pháp thâm canh rừng Luồng, đã cho thấy địa hình và công thức bón phân ảnh hưởng rất lớn đến sinh trưởng của rừng Luồng
Nguyễn Đức Hạnh (2005) trong đề tài tốt nghiệp, đã nghiên cứu ảnh hưởng của điều kiện hoàn cảnh đến sinh trưởng và phát triển của rừng Luồng thuần loài tại lâm trường Đoan Hùng, Phú Thọ Kết quả đã cho thấy ở vị trí chân đồi cây Luồng sinh trưởng tốt hơn sườn đồi và đỉnh đồi
Nhìn chung, các tác giả trên đã đi sâu nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật lâm sinh từ khâu gây trồng đến khâu chăm sóc, quản lý, cũng như các tác động kỹ thuật vào rừng sau khi khép tán Nghiên cứu sinh trưởng của Luồng
có nhiều tác giả nghiên cứu ảnh hưởng của các vị trí địa hình đến sự sinh trưởng và phát triển của nó nhưng chưa đi sâu vào nghiên cứu biện pháp canh tác nào thì cây Luồng sinh trưởng tốt và cho năng suất cao
1.3 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
1.3.1 Đặc điểm sinh thái học
Cây Luồng, tên khoa hoc là (Dendrocalamuss membranaceus Munro) là
cây ưa khí hậu nóng, ẩm, nhiệt độ bình quân là 22o
C – 24oC, bình quân tháng
oC, lượng mưa từ 1600 – 2000mm, có mùa khô rõ rệt
Trang 12nhưng không kéo dài Độ ẩm không khí lớn hơn 80% Yêu cầu về đất đai không quá khắt khe, Luồng sinh trưởng tốt trên đất sét pha, tầng đất sâu, đủ ẩm
và thoát nước Đất Feralit phát triển trên phiến thạch Poocfia, Phylit hoặc đất phù sa cổ, trên các đất nương rẫy cũ, có nhiều mùn, đất còn tính chất đất rừng thì Luồng mọc tốt hơn và cho sản lượng cao hơn Luồng có thể sinh trưởng từ vùng đồng bằng đến vùng núi thấp, nơi có độ cao dưới 400m, tuy nhiên nơi đất bằng hoặc đất thoải sinh trưởng tốt hơn nơi đất dốc, (Ngô Quang Đê, 2003)
1.3.2 Đặc tính sinh vật học
Cơ quan sinh dưỡng của Luồng gồm: thân ngầm, thân khí sinh, măng, cành, lá, rễ Thân ngầm và thân khí sinh hợp thành thể thống nhất Thân ngầm sinh ra măng, măng mọc thành cây (thân khí sinh) Thân khí sinh lại nuôi dưỡng thân ngầm hay sinh thân ngầm mới nên cả vùng Luồng là một thể thống nhất
Cơ quan sinh sản của Luồng là hoa, quả, hạt nhưng Luồng lại chủ yếu được nhân giống sinh dưỡng vì Luồng rất lâu ra hoa, có khi đến vài chục năm mới ra hoa kết quả một lần Hàng năm Luồng đều sinh ra măng mọc thành thân khí sinh vì vậy trong bụi Luồng, lâm phần Luồng luôn có nhiều thế hệ thân khí sinh khác nhau Trong kinh doanh người ta thường chặt cây già, cây sâu bệnh, cây đến tuổi thành thục công nghệ, nuôi dưỡng măng và cây non nên hình thành phương thức kinh doanh liên tục mà không cần trồng mới
Cây măng sau khi định hình, ra cành, lá đầy đủ thì những mầm ở gốc bắt đầu phát triển để cho thế hệ măng tiếp theo Sinh trưởng của măng có thể chia thành 3 thời kỳ chính:
- Thời kỳ 1: Măng phát triển ngầm trong đất, khoảng từ tháng 9 - 10 năm trước đến thánh 4 - 5 năm sau
- Thời kỳ 2: Măng nhú lên khỏi mặt đất và phát triển nhanh về chiều cao, khoảng tháng 4 - 5 đến tháng 7 - 8 gọi là mùa ra măng
- Thời kỳ 3: Cây măng phát triển hoàn chỉnh cành lá và rễ, khoảng từ tháng 7 – 8 đến tháng 10 – 11 Sau giai đoạn này cây măng có thể sống độc lập
Trang 13Luồng 1 – 2 năm tuổi có thân non màu xanh nhạt, bóng, có ít phấn trắng, các đốt có vòng lông trắng mịn, thịt trắng Luồng 3 – 4 năm tuổi là cây vừa, mầu xanh sẫm: Luồng 5 tuổi trở lên là cây già và là đối tượng khai thác, cây càng già màu mặt lá càng xám lại và xuất hiện nhiều vết địa y, thịt hồng đỏ,
bó mạch rõ, tuổi thọ của Luồng khoảng 8 - 10 năm Quan hệ giữa cây trong khóm vừa cung cấp chất dinh dưỡng vừa làm chỗ dựa cho nhau Sau khi trồng
5 - 6 năm rừng Luồng đã có thể đưa vào khai thác Một khóm Luồng trung bình có khoảng 20 - 40 cây, sau khai thác có khoảng 15 - 20 cây và 30 - 40 cây trong một khóm khi đến chu kỳ khai thác Tỷ lệ các cấp tuổi gần bằng nhau và có 5 - 8 măng mới được sinh ra hàng năm
Trong mùa sinh trưởng của măng thì tốc độ tăng trưởng lớn nhất măng
có thể đạt được trong một ngày đêm vào khoảng 70 - 80 cm, tốc độ sinh trưởng ban ngày của măng lớn hơn ban đêm (ban ngày khoảng 60%, ban đêm khoảng 40% so với lượng sinh trưởng cả ngày đêm), (Ngô Quang Đê, 1994) Luồng sinh trưởng nhanh, sau 3 tháng tuổi đã hoàn thành sinh trưởng về đường kính và chiều cao Sau thời gian này chỉ là quá trình hoàn thiện, tích lũy Cellulose giúp cây cứng hơn Cây Luồng thành thục nếu ở nơi đất tốt đạt chiều cao trung bình từ 10 - 17 m, đường kính đạt từ 10 - 12 cm, thân thẳng, vách dầy, cứng (Ngô Quang Đê, 1994)
Sinh trưởng của Luồng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện tự nhiên như khí hậu, nhiệt độ, độ ẩm, độ cao, lượng mưa, đất đai,… Cùng một điều kiện lập địa nhưng ở đâu đất tốt hơn thì sẽ cho cây Luồng cao hơn, đường kính lớn hơn, thể hiện ở số lóng của cây, chiều dài lóng, độ to và dầy của lóng…(Ngô Quang Đê, 1994)
1.3.3 Giá trị sử dụng
Thân Luồng chứa Cellulose (54%) cao nhất trong các loài tre đã được phân tích, Lignin (22,4%), Pentozan (18,8%), kích thước sợi có bề dầy 2,944mm, chiều rộng 17.84 mm Nếu dùng làm nguyên liệu sản xuất giấy sẽ
Trang 14kgf/cm2, mẫu lóng 2846 kgf/cm2 Đốt có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1531 kgf/cm2, ngoài vào 1431 kgf/cm2 và trong ra 1328 kgf/cm2; Lóng có độ bền khi uốn tĩnh tiếp tuyến 1603 kgf/cm2, ngoài vào 1578 kgf/cm2 và trong ra
1418 kgf/cm2 Độ bền khi trượt dọc thớ của đốt 70 kgf/cm2
và lóng 57 kgf/cm2 Vì vậy, dùng Luồng làm cột chống, xà đỡ trong xây dựng, giao thông vận tải, chèn hầm lò rất tốt Luồng dùng làm nguyên liệu sản xuất ván ghép thanh cho sản phẩm vừa đẹp vừa bền, được nhiều người ưa chuộng và là mặt hàng xuất khẩu rất có giá trị Măng Luồng ăn ngon, kích thước lớn nên ngoài ăn tươi còn được phơi khô Trọng lượng bình quân của măng luồng là 1,15 kg/1măng; tỷ lệ sử dụng khá cao (65 - 72%) Phân tích măng Luồng ta thu đươc các kết quả như sau: hàm lượng nước 92.01%, Protein 2,26%, Sugar 2,47%, Gluid 2.33%, Cellulose 0.58%, và Lipid 0.12% (Nguyễn Danh Minh, 2005) Trong thập kỷ 70, tỉnh Thanh Hóa đã có xí nghiệp đóng hộp măng Luồng để xuất khẩu
Ngoài ra Luồng còn được sử dụng làm nguyên liệu giấy: Do đặc điểm là
có sợi Xellulose dài mà tre trúc có vai tro quan trọng trong ngành công nghiệp sản xuất bột giấy Muốn sản xuất được giấy, nhất là giấy có chất lượng cao thì trong nguyên liệu để làm giấy, tre trúc phải chiếm một tỉ lệ đáng kể
Bên cạnh đó Luồng còn được sử dụng làm đồ thủ công mỹ nghệ: thân, gốc Luồng qua bàn tay khéo léo của các nghệ nhân sẽ trở trở thành những tác phẩm nghệ thuật độc đáo
Trang 15Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Nghiên cứu sinh trưởng và hiệu quả rừng trồng Luồng thuần loài theo các phương thức canh tác khác nhau tại huyện Lang Chánh, tỉnh Thanh Hóa nhằm đề xuất các biện pháp tác động thích hợp để nâng cao năng suất chất lượng rừng Luồng với mục đích kinh doanh lâu dài bền vững và hiệu quả
2.1.2Mục tiêu cụ thể
-Đánh giá khả năng sinh trưởng của rừng trồng Luồng
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của rừng trồng Luồng
- Đề xuất một số giải pháp tác động
2.2 Nội dung nghiên cứu
2.2.1 Nghiên cứu các đặc điểm sinh trưởng của rừng Luồng
- Đánh giá một số chỉ tiêu sinh trưởng và chất lượng của các mô hình rừng trồng
- Nghiên cứu một số nhân tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng, năng suất và chất lượng của rừng Luồng
- So sánh sự khác nhau về sinh trưởng của rừng trồng Luồng ở các phương thức canh tác khác nhau
2.2.2 Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình rừng trông luồng
2.2.3 Đề xuất một số giải pháp kỹ thuật trong chọn loài cây trồng và chọn
mô hình rừng trồng cho khu vực nghiên cứu
2.3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Rừng Luồngtrồng thuần loài cấp tuổi I, cấp tuổi
II,cấp tuổi III, tại Lang Chánh, Thanh Hóa
Phạm vi nghiên cứu: Các lâm phần Luồng trồng thuần loài cấp tuổi I,
cấp tuổi II,cấp tuổi III, tại Lang Chánh, Thanh Hóa về một số chỉ tiêu sinh trưởng: Đường kính D
Trang 162.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Kế thừa tài liệu
Các tài liệu kế thừa:
+ Bản đồ địa hình tại khu vực nhằm phục phụ cho việc phân chia ranh giới giữa các trạng thái rừng khác nhau
+ Tài liệu về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội tại khu vực…
Tài liệu được thu thập dựa trên các số liệu sẵn có ở địa phương, kết hợp với đi khảo sát ngoài thực địa và phỏng vấn người dân
2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp
- Thu thập tài liệu, bản đồ khu vực điều tra
- Sơ thám để nắm được tình hình tài nguyên khu vực nơi điều tra
- Phỏng vấn người dân trong khu vực để biết thêm các vấn đề liên quan như: hiện trạng rừng, vấn đề trồng bảo vệ và chăm sóc, các hình thức canh tác,…
2.4.2.1 Điều tra tình hình sinh trưởng của Luồng
- Lập 6 ô tiêu chuẩn ở các phương thức canh tác khác nhau Mỗi phương thức lập 3 ô tiêu chuẩn ở các vị trí địa hình khác nhau (1 ô ở chân đồi, 1 ô ở sườn đồi, 1 ô ở đỉnh đồi) Diện tích mỗi ô tiêu chuẩn là 1000 m2, kích thước 25x40m, Trong mỗi ô tiêu chuẩn tiến hành:
+ Đánh số thứ tự khóm, số cây trong khóm
+ Xác định tuổi của từng cây trong khóm
+ Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng:
Trang 17 Đo chu vi gốc khóm ở vị trí cách mặt đất 1.3 (m) bằng thước dây (Ck1.3)
Đo chu vi C1.3 (cm) thân cây bằng thước dây
Đo chiều cao vút ngọn bằng thước Blume-leiss
+ Đánh giá chất lượng cây qua tiêu chí sau:
Cây tốt: là cây không cụt ngọn, cong queo, sâu bệnh, đường kính D1.3 ≥ 9cm
Cây trung bình: là cây không cụt ngọn, cong queo,sâu bệnh, đường kính 7cm ≤ D1.3 ≤ 9cm
Cây xấu là cây cụt ngọn, cong queo, sâu bệnh, đường kính D1.3 ≤ 7cm
- Tiến hành phân chia cấp tuổi bằng kinh nghiệm của người điều tra dựa vào đặc điểm hình thái bên ngoài của thân khí sinh
+ Do rừng Luồng trồng được khai thác hàng năm vì vậy những cây Luồng đã thành thục công nghệ sẽ được khai thác bán, đó là những cây đã có năm tuổi từ 3 trở lên vì vậy những cây Luồng từ tuổi 4, tuổi 5… còn lại trong rừng là không đáng kể nên ta sẽ tiến hành phân cấp tuổi như sau
+ Cây cấp tuổi 1: Cây non (1 năm tuổi), thân có màu xanh bên ngoài phủ một lớp lông và phấn trắng
+ Cây cấp tuổi 2: Cây trung niên (2 năm tuổi), thân có màu xanh lục, phấn trắng không xuất hiện trên thân nữa
+ Cây cấp tuổi 3: Cây già (trên 3 năm tuổi), thân khí sinh màu hơi vàng, không còn phấn trắng nhưng thân xuất hiện những lớp địa y
- Kết quả điều tra được ghi vào mẫu biểu sau :
Trang 18Biểu 01 Biểu điều tra rừng Luồng
Nơi điều tra:
SST Cây
C1.3 cây (cm)
D1.3 cây (cm)
Hvn cây (m)
Cấp tuổi
Chất lượng
Ghi chú
2.4.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Các số liệu sẽ được sắp xếp, tổng hợp theo các nhóm nội dung, xử lý bằng bảng tính Excel
Chỉnh lý số liệu: đo đếm tầng cây cao trong mỗi ô
Số liệu thu được từ các ô tiêu chuẩn được chỉnh lý, tổng hợp theo phương pháp thống kê toán học trong lâm nghiệp, sử dụng phương pháp chia
tổ ghép nhóm của Brooks và Caruther
- Số tổ chia: m = 5.log (n) với n là dung lượng mẫu quan sát
- Cự ly tổ:
m
X X
Trong đó: Xmax: giá trị lớn nhất của chỉ tiêu X
Trang 19Xmin: giá trị nhỏ nhất của chỉ tiêu X
Tính các chỉ tiêu sinh trưởng:
2
fi ×Xi Fi ×Xi2
Trang 20X 1: Là trị số bình quân ô tiêu chuẩn 1
X 2: Là trị số bình quân ô tiêu chuẩn 2
n1: Dung lƣợng mẫu ô quan sát số 1
n2: Dung lƣợng mẫu ô quan sát số 2
S1: Sai tiêu chuẩn ô số 1
Nếu│U│≤ 1,96 giữa hai ô chƣa có sai dị rõ ràng
Nếu│U│> 1,96 giữa hai ô có sai dị rõ ràng
2 1
2 1
n
S n S
X X U
Trang 21n
i=1
Trong đó:
N% : Tỷ lệ tương ứng của số cây tốt, xấu, trung bình (%)
n: số cây tốt, sấu, trung bình (cây)
N: Tổng số cây (cây)
- Sử dụng tiêu chuẩn χ2 để kiểm tra sự thuần nhất về chất lượng:
(2.8) Trong đó:
fij: là tần số quan sát tương ứng với từng mẫu và từng cấp chất lượng Ts: là tổng số quan sát toàn thí nghiệm
Phương pháp để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình là dựa trên
cơ sở so sánh giữa thu nhập và chi phí Để so sánh được thì cần xác định được tổng chi phí và tổng thu nhập cho từng mô hình Từ chi phí và thu nhập của các mô hình rừng trồng tiến hành đánh giá hiệu quả kinh tế Quá trình đánh giá sử dụng các chỉ tiêu sau:
a Giá trị hiện tại thuần túy (NPV): được tính theo công thức sau:
t
0
t t
r 1
C - B
(2.9)
Trong đó: NPV: là giá trị hiện tại thuần túy
Bt: là tổng các khoản thu của năm thứ t
Ct: là tổng các khoản thu của năm thứ t
r: là lãi suất vay
t: là chỉ số năm ( 0 – n )
Nếu NPV > 0: thì kinh doanh có lãi, mô hình đó được chấp nhận
Trang 22Nếu NPV < 0: thì kinh doanh bị thua lỗ, mô hình đó không được chấp nhận
Nếu NPV = 0: thì kinh doanh hòa vốn
b Tỷ lệ thu nhập trên chi phí ( BCR ): tỷ lệ này được tính theo công thức:
0 t
t 0
r1C
r1
t
n
t
t t
B
(2.10)
Nếu BCR > 1: thì kinh doanh có lãi, mô hình được chấp nhận
Nếu BCR < 1: thì kinh doanh bị thua lỗ, mô hình không được chấp nhận Nếu BCR = 1: thì kinh doanh hòa vốn
c Tỷ lệ thu hồi nội bộ ( IRR )
IRR là chỉ tiêu đánh giá khả năng thu hồi vốn IRR chính là tỷ lệ chiết khấu, khi mà tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là tỷ lệ lãi suất vay vốn thực tế bằng tỷ lệ thu hồi nội bộ:
r 1
C
= 0 thì r = IRR (2.11) Nếu IRR > r: thì kinh doanh có lãi, mô hình được chấp nhận
Nếu IRR < r: thì kinh doanh bị thua lỗ, mô hình không được chấp nhận Nếu IRR = r: thì kinh doanh hòa vốn
d Thu nhập bình quân ( đồng/ha/năm)
Trang 23Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN - KINH TẾ - XÃ HỘI 3.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên
- Điểm cực Bắc có vĩ độ 20017’B thuộc địa phận bản tiên, xã Lâm Phú
- Điểm cực Nam có vĩ độ 20000’B tại đỉnh Pù Ran cao 689m thuộc địa phận làng Bí Ngưu, xã Giao Thiện
- Điểm cực tây có kinh độ 104057’Đ tại đỉnh PuSoLat, thuộc địa phận bản Hằng, xã Yên Khương
- Điểm cực Đông có kinh độ 105018’Đ thuộc địa phận làng Thung, xã Đồng Lương (Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa, 2009)
3.1.2 Địa hình, địa thế
Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400
- 500 mở phía đông lên 700 - 900m ở phía tây Đỉnh cao nhất là núi Pù Rinh 1.291 Độ dốc trung bình từ 20 -300, có nơi tới 40 - 500
Theo số liệu nghiên cứu, đo đạc thực tế trong nhiều năm qua của cơ quan chức năng huyện Lang Chánh có một số đặc điểm địa hình như sau:
- Địa hình đồi núi thấp, chia cắt khá phức tạp
- Do sự chia cắt phức tạp mà ở đây không có cao nguyên và sơn nguyên
- Các dãy núi đều nghiêng dốc và kéo dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam
- Nơi có độ cao tuyệt đối lớn nhất Lang Chánh là đỉnh Pù Rinh (1291m)
và nơi có độ cao tuyệt đối thấp nhất là đáy Sông Âm (41m)
Trang 24- Trên địa bàn Lang Chánh có các dãy núi chính sau: Dãy núi phía Bắc sông Âm, dãy núi trung tâm, dãy núi phía Nam
Nhìn chung địa hình bị chia cắt bởi sông suối, địa thế thấp dần từ Tây sang Đông Đặc điểm địa hình, địa thế tuy có khó khăn nhưng vẫn có nhiều điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh theo hướng tập trung lâu dài và liên tục (Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa, 2009)
3.1.3 Địa chất, thổ nhưỡng
Địa bàn Lang Chánh có 3 nhóm đá mẹ chính là cơ sở để hình thành lớp
vỏ phong hóa và cùng với các nhân tố tự nhiên khác (khí hậu, sinh vật, thủy văn, địa hình…) để hình thành các loại đất khác nhau
Nhóm đá Macma: Gồm đá Gabro, Granit, Foocphirit,…phân bố ở các xã Trí Nang, Tam Văn, Giao An, Giao Thiện, Yên Khương và Đồng Lương Nhóm đá trầm tích: đá vôi, Sa thạch, Phiến thạch, Sét,…phân bố ở khu vực các xã Giao Thiện, Giao An, Yên Khương, Yên Thắng, Tân Phúc, Đồng Lương Nhóm đá biến chất gồm: Gnai, Phiến thach mica, phân bố ở xã Lâm Phú Nhờ sự tác động tổng hợp của các nhân tố: đá mẹ, địa hình, khí hậu, sinh vật và cả sự tác động của con người mà Lang Chánh có nhiều loại đất khác nhau Theo nghiên cứu của Viện Nông Hóa Thổ Nhưỡng và Sở Tài Nguyên &
Và Môi Trường Thanh Hóa (2009) thì huyện Lang Chánh có 11 loại đất khác nhau và được phân thành ba nhóm: nhóm đất phù sa ven sông suốt, nhóm đất Feralit đồi núi và nhóm đất mùn trên núi
3.1.4 Khí hậu thủy văn
Lang Chánh nhìn chung không quá nóng, mưa nhiều, lắm sương mù (bình quân mỗi năm có tới 70-80 ngày sương mù), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn Thiên tai cần đề phòng là rét đậm, lũ, sương muối, sương giá Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây Phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500 -8.000oC, lượng mưa trung bình năm là 2.200mm (có nơi 2.500mm); mùa mưa kéo dài 6 - 7 tháng, bắt đầu từ
Trang 25giữa tháng 4 và kết thúc vào cuối tháng 10; hàng năm có 20 - 25 ngày có gió tây khô nóng
Nhiệt độ trung bình năm từ 220 – 240C Cao nhất vào tháng 5, 6 khoảng 38,40C, thấp nhất tháng 1 khoảng 120C (Cổng thông tin điện tử tỉnh Thanh Hóa, 2009)
3.1.5 Các nguồn tài nguyên
3.1.5.1 Tài nguyên nước
Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là: Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng phát triển thuỷ điện và du lịch sinh thái Đây là nguồn cung cấp nước ngọt cho đồng bào các dân tộc, là con đường vận chuyển lâm sản về đồng
3.1.5.2 Tài nguyên rừng
Huyện Lang Chánh hiện nay có 11.632 ha rừng tự nhiên và 9.732 ha rừng trồng Độ che phủ là 72% Rừng Lang Chánh có nhiều loại gỗ quý như Lim, Lát hoa, Pơ mu, Dỗi, Vàng Tâm, Luồng, Tre nứa và có nhiều dược liệu quí như Quế, Xa nhân, Nấm hương, Trầm hương… cùng một số loại động vật quí hiếm: Lợn rừng, Khỉ v.v
3.1.5.3 Tài nguyên khoáng sản
Về khoáng sản có mỏ đất sét dùng sản xuất gạch chịu lửa ở Làng En (xã Trí Nang); mỏ Đồng ở xã Trí Nang; mỏ đá Granit chất lượng cao, trữ lượng lớn ở dãy núi Bù Rinh Bước đầu, các nhà khoa học xác định mỏ có diện tích khoảng 0,5 Km2, trữ lượng khoảng 660.000m3 Đây là loại đá có độ bóng độ liên kết khá bền vững, có giá trị kinh tế cao Nếu khai thác với sản lượng 100.000m3 sản phẩm/năm, mỏ này có thể khai thác được trên 80 năm
3.2 Kinh tế - xã hội
3.2.1 Dân số và nguồn lao động
Dân số huyện năm 2008 là 48.794 người, mật độ dân số 83 người/km2, (theo tổng điều tra dân số 1/4/2009 thì dân số toàn huyện là 45.637 người, mật
độ dân số 78 người/km2, giảm 3.157 người so với năm 2008), tỉ lệ sinh là 17,39
Trang 26Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng của Luồng tại khu vực nghiên cứu
Sinh trưởng và phát triển là một trong những biểu hiện quan trọng của động thái rừng, có ảnh hưởng tới mục tiêu kinh doanh Rừng sinh trưởng và phát triển theo những quy luật nhất định, các quy luật đó được chi phối bởi đặc điểm di truyền và điều kiện hoàn cảnh sống Ngoài ra sinh trưởng và phát triển của rừng trồng Luồng còn phụ thuộc rất nhiều vào phương pháp quản lý,
và phương thức canh tác của người trồng rừng (phương pháp tác động)
4.1.1 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng đường kính D 1.3
Theo quy luật thông thường, đối với cây gỗ đường kính tăng dần theo cấp tuổi Song đối với cây Luồng thì không hẳn như vậy, sẽ ngừng tăng kích thước khi cây Luồng nhú lên khỏi mặt khoảng đất 100 ngày, vì đối với cây thuộc họ tre nứa chỉ cần trên 3 tháng (khoảng 100 ngày) đã hoàn thành sinh trưởng về chiều cao và đường kính (Ngô Quang Đê, 2003)
Như vậy đường kính của cây Luồng được xác định ngay ở tuổi còn non Việc nghiên cứu nắm bắt chính xác quy luật này đối với từng lâm phần là cơ
sở đầu tiên cho việc quyết định các biện pháp tác động lâm sinh trong quá trình nuôi dưỡng và kinh doanh rừng Luồng
Kết quả điều tra đặc điểm sinh trưởng đường kính (D1.3)rừng Luồng theo hai mô hình canh tác được mô tả trong biểu dưới đây:
Trang 27Biểu 4.1: Đặc điểm sinh trưởng đường kính D 1.3 của Luồng tại 2 mô hình
Sườn
1 89 8,062921 0,905586 11,23149
2 90 7,978889 0,992046 12,43339
3 41 7,980488 1,028402 12,88645 Tổng/TB 220 8,007433 0,975345 12,18378
Đỉnh
1 83 7,844578 0,975211 12,43166
2 103 7,834951 0,95432 12,1803
3 47 7,751064 0,94544 12,19756 Tổng/TB 233 7,810198 0,958324 12,26984
Sườn
1 109 8,418349 0,885497 10,51865
2 78 8,39359 0,861641 10,26547
3 57 8,380702 0,903651 10,78252 Tổng/TB 244 8,397547 0,883596 10,52221
Đỉnh
1 104 8,550962 0,912268 10,6686
2 118 8,489831 0,973529 11,467
3 64 8,415625 0,967933 11,50162 Tổng/TB 286 8,485472 0,951243 11,21241
Trang 28Đánh giá sinh trưởng về đường kính trung bình (D 1.3 ) giữa các vị trí địa hình trong cùng mô hình:
Nhìn vào biểu 4.1 ta nhận thấy đường kính trung bình của cây Luồng ở các
mô hình là khá lớn, đường kính trung bình ở các vị trí không chênh lệch nhau quá nhiều
- Mô hình thâm canh đường kính trung bình đạt giá trị cao nhất là 8.71 cm (chân), 8,48 cm (đỉnh) và nhỏ nhất là 8,4 cm (sườn)
- Mô hình quảng canh đường kính trung bình đạt giá trị cao nhất 8 cm (sườn), 7,9 cm (chân) và nhỏ nhất là 7,8 (đỉnh)
Hệ số biến động S% về đường kính trung bình của Luồng trồng trên 3 vị trí địa hình khác nhau là khác nhau Nhìn chung hệ số biến động ở tất cả các vị trí đều lớn chứng tỏ sự phân hóa về đường kính khá mạnh
Đánh giá sinh trưởng về đường kính trung bình (D 1.3 ) giữa hai mô hình canh tác:
Nhìn vào biểu 4.1 ta nhận thấy đường kính trung bình của cây Luồng ở mô hình thâm canh là lớn hơn mô hình quảng canh
- Tại vị trí chân, mô hình thâm canh có đường kính trung bình là 8.71 cm, trong khi đó tại mô hình quảng canh là 7,9 cm
- Tại vị trí sườn, mô hình thâm canh có đường kính trung bình là 8,4 cm,
mô hình quảng canh chỉ đạt 8 cm
- Tại vị trí đỉnh, mô hình thâm canh có đường kính trung bình là 8,48 cm,
mô hình quảng canh chỉ đạt 7,8 cm
- Hệ số biến động S% về đường kính trung bình của Luồng trồng trên 2 mô hình là khác nhau Nhìn chung hệ số biến động ở tất cả các vị trí địa hình trong hai mô hình đều lớn chứng tỏ sự phân hóa về đường kính khá mạnh, sinh trưởng của Luồng ở các vị trí là không đồng đều
Như vậy sinh trưởng về đường kính (D1.3) của cây Luồng ở mô hình thâm canh lớn hơn mô hình quảng canh
Trang 29Kiểm tra sự khác nhau về đường kính trung bình của rừng luồng trên hai
mô hình canh tác:
Để kiểm tra sự sai khác về đường kính trung bình giữa các vị trí địa hình ứng với với từng mô hình và giữa hai mô hình tôi sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn Sau khi xử lý tính toán kết quả được ghi ở biểu 4.2
Biểu 4.2: Kiểm tra sự sai khác về đường kính bình quân (D1.3)
- UVT: Kiểm tra sai khác về đường kính (D1.3) giữa các vị trí trong cùng mô hình
- UPT: Kiểm tra sai khác về đường kính (D1.3) giữa các phương thức trồng trên cùng một vị trí
Từ biểu 4.2 ta thấy, ở phương thức quảng canh có │U1-2│, │U3-1│đều
<1,96, chứng tỏ đường kính trung bình của Luồng trồng ở vị trí chân so với sườn và đỉnh so với chân không có sự sai khác Có │ U2-3│ >1,96 như vậy ở vị trí sườn và đỉnh có sự sai khác nhau về đường kính là rõ ràng
Theo phương thước thâm canh, có │U1-2│ và │U3-1│>1,96 chứng tỏ đường kính giữa chân với sườn và sườn với đỉnh đồi có sự sai khác Có │U2-3│
<1,96 cho thấy đường kính giữa sườn với đỉnh đồi không có sự sai khác rõ rệt
Ta có│U│đều >1,96 giữa các phương thức canh tác trên cùng một vị trí địa hình, như vậy ta có thể khẳng định đường kính giữa các phương thức canh tác khác nhau là khác nhau
Trang 30Như vậy đường kính (D1.3) của cây Luồng ở mô hình thâm canh lớn hơn
mô hình quảng canh là rõ ràng
Kết quả sinh trưởng đường kính (D1.3) của Luồng trên 2 mô hình, tại các
vị trí địa hình được thể hiện trong biểu đồ 4.1:
Hình 4.1: Biểu đồ so sánh sinh trưởng đường kính (D 1.3 ) giữa hai mô hình
Nhận xét: qua kết quả phân tích về đường kính rừng Luồng trong hai mô
hình (thâm canh, quảng canh) ta nhận thấy, đường kính của Luồng theo mô hình thâm canh lớn hơn khá nhiều so với mô hình quảng canh
4.1.2 Kết quả nghiên cứu sinh trưởng chiều cao vút ngọn Hvn
Chiều cao vút ngọn (Hvn) là một chỉ tiêu quan trọng có quan hệ chặt chẽ với trữ lượng của lâm phần Luồng vì đối với các cây họ tre nứa chiều cao dưới cành không ảnh hưởng đến trữ lượng của lâm phần
Kết quả điều tra đặc điểm sinh trưởng chiều cao vút ngọn (Hvn) rừng Luồng theo hai mô hình canh tác được mô tả trong Biểu dưới đây:
Trang 31Biểu 4.3 Sinh trưởng chiều cao Hvn của Luồng tại 2 mô hình
Mô hình Vị trí Cấp tuổi Số cây Hvn (m) S S%
Sườn
1 89 8,117978 0,922024 11,3578
2 90 8,056667 0,90306 11,20885
3 41 8,214634 0,920207 11,20204 Tổng/TB 220 8,129759 0,915097 11,25623
Đỉnh
1 83 7,973494 0,820036 10,28453
2 103 7,993204 0,942178 11,78723
3 47 8,104255 0,872766 10,76923 Tổng/TB 233 8,023651 0,878327 10,947
Sườn
1 109 8,721101 0,988833 11,3384
2 78 8,803846 0,846911 9,619781
3 57 8,884211 0,910218 10,24534 Tổng/TB 244 8,803053 0,915321 10,40117
Đỉnh
1 104 8,459615 1,000827 11,83064
2 118 8,39322 0,973822 11,60249
3 64 8,44375 1,035233 12,26034 Tổng/TB 286 8,432195 1,003294 11,89782
Trang 32Đánh giá sinh trưởng theo chiều cao vút ngọn (Hvn) giữa các vị trí (chân, sườn, đỉnh) trong cùng một mô hình:
Nhìn vào biểu 4.3 ta nhận thấy trong cùng một mô hình thì chiều cao vút ngọn trung bình của cây Luồng giảm dần từ vị trí chân đồi đến vị trí đỉnh đồi
- Mô hình thâm canh chiều cao vút ngọn trung bình giảm từ 9,12 m (chân), xuống 8,8 m (sườn) và nhỏ nhất là 8,43 m (đỉnh)
- Mô hình quảng canh chiều cao vút ngọn trung bình giảm từ 8,39 m (chân), xuống 8,13 (sườn) và nhỏ nhất là 8,02(đỉnh)
Hệ số biến động S% về chiều cao vút ngọn trung bình của Luồng trồng trên 3 vị trí địa hình khác nhau là khác nhau Nhìn chung hệ số biến động ở tất
cả các vị trí đều lớn, chứng tỏ sự phân hóa về chiều cao mạnh, sinh trưởng của Luồng ở các vị trí là không đồng đều Trong mô hình thâm canh, tại vị trí sườn
có hệ số biến động thấp nhất chứng tỏ tại vị trí sườn (thâm canh) cây Luồng sinh trưởng đồng đều nhất Trong mô hình quảng canh, tại vị trí chân có hệ số biến động thấp nhất chứng tỏ tại vị trí này cây Luồng sinh trưởng đồng đều nhất
Đánh giá sinh trưởng theo chiều cao vút ngọn (Hvn) giữa hai mô hình theo các vị trí địa hình:
Nhìn vào biểu 4.3 ta nhận thấy chiều cao vút ngọn trung bình của cây Luồng ở mô hình thâm canh là lớn hơn mô hình quảng canh
- Tại vị trí chân, mô hình thâm canh có chiều cao vút ngọn trung bình là 9,12m, mô hình quảng canh chỉ là 8,39 m
- Tại vị trí sườn, mô hình thâm canh có chiều cao vút ngọn trung bình là
8,8m, mô hình quảng canh là 8,13 m
- Tại vị trí đỉnh, mô hình thâm canh có chiều cao vút ngọn trung bình là 8,43m, mô hình quảng canh chỉ là 8,02 m
- Hệ số biến động S% về chiều cao vút ngọn trung bình của Luồng trồng trên 3 vị trí địa hình giữa các cấp tuổi khác nhau là khác nhau Nhìn chung tất cả
Trang 33hệ số biến động đều lớn, chứng tỏ sự phân hóa về chiều cao mạnh, sinh trưởng của Luồng ở các vị trí là không đồng đều
Như vậy sinh trưởng về chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây Luồng ở mô hình thâm canh lớn hơn mô hình quảng canh
Kiểm tra sự khác nhau về chiều cao vút ngon trung bình của rừng luồng theo hai mô hình canh tác:
Để kiểm tra sự khác nhau về chiều cao giữa các vị trí địa hình ứng với với từng mô hình tôi sử dụng tiêu chuẩn U của phân bố chuẩn Sau khi xử lý tính toán kết quả được ghi ở biểu 4.4
Biểu 4.4: Kiểm tra sự sai khác về chiều cao vút ngọn bình quân (Hvn)
- UVT: Kiểm tra sai khác về đường kính (D1.3) giữa các vị trí trong cùng mô hình
- UPT: Kiểm tra sai khác về đường kính (D1.3) giữa các phương thức trồng trên cùng một vị trí
Từ biểu 4.4 ta thấy |U2-3|tính toán theo phương thức quảng canh < 1,96, chứng
tỏ chiều cao vút ngọn trung bình của Luồng trồng vị trí sườn và đỉnh của mô hình quảng canh không có sự sai khác nhau về đường |U| còn lại theo mô hình quảng canh đều >1,96 chứng tỏ có sự khác biệt về chiều cao vút ngọn ở các vị trí còn lại
Trang 34Theo mô hình thâm canh, ta thấy tất cả |U| đều >1,96 chứng tỏ ở tất cả các
vị trí đều có sự sai khác về chiều cao vút ngọn rõ rệt
Ta có│U│đều >1,96 giữa các phương thức canh tác trên cùng một vị trí địa hình, như vậy ta có thể khẳng định chiều cao vút ngọn giữa các phương thức canh tác khác nhau là khác nhau
Như vậy chiều cao vút ngọn (Hvn) của cây Luồng ở mô hình thâm canh lớn hơn mô hình quảng canh là rõ ràng
Kết quả sinh trưởng về chiều cao (Hvn) của Luồng trên 2 mô hình, tại các
vị trí địa hình được thể hiện trong hình 4.2:
Hình 4.2: Biểu đồ so sánh sinh trưởng chiều cao (Hvn) giữa hai mô hình
Nhận xét: qua kết quả phân tích về chiều cao vút ngọn rừng Luồng trong
hai mô hình (thâm canh, quảng canh) ta nhận thấy, trong cùng mô hình thì chiều cao của Luồng ở vị trí chân đồi lớn hơn vị trí sườn đồi và nhỏ nhất là vị trí đỉnh đồi, giửa hai mô hình thì mô hình thâm canh lớn hơn mô hình quảng canh
Nhận xét chung: Luồng trồng trên các vị trí địa hình khác nhau, trong cùng
một mô hình thì sinh trưởng khác nhau, đường kính (D1.3) và chiều cao vút ngọn (Hvn) giảm dần khi độ cao địa hình tăng lên Nguyên nhân gây ra sự khác biệt này do sự thay đổi độ cao, dẫn đến lượng nước ngầm trong đất giảm dần khi độ
Trang 35cao tăng dần từ vị trí chân đồi đến đỉnh đồi (do trọng lực gây ra), mặt khác cây Luồng là cây ưa khí hậu nóng ẩm do đó càng lên cao thì Luồng sinh trưởng và phát triển càng kém so với vị trí địa hình có độ cao thấp
Trong cùng một mô hình ta thấy Luồng trồng ở vị trí chân đồi có đường kính bình quân lớn nhất ở từng tuổi và nhỏ nhất là đỉnh đồi Theo tôi nguyên nhân có thể do ở chân đồi có tầng đất sâu hơn, độ ẩm cao hơn, hàm lượng mùn nhiều hơn so với các vị trí khác nên thích hợp hơn cho sự sinh trưởng của Luồng.Bên cạnh đó chủ thể quản lý rừng cũng là một trong những nguyên nhân tác động trực tiếp đến sinh trưởng và phát triển của rừng Trong hai mô hình tiến hành điều tra ta thấy mô hình thâm canh, do hội cụ lão quản lý và chăm sóc tốt hơn, rừng Luồng tại đây hàng năm đến mùa sinh măng các cụ nghiêm cấm chăn thả gia súc vì vậy măng không bị gia súc phá hại, ngoài ra theo định kỳ hàng năm các cụ bón phân (NPK) cho mỗi bụi là 0.5kg và 10kg phân chuồng vì vậy Luồng tại đây sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với mô hình quảng canh bên xã Quang hiến do hộ gia đình quản lý, không được bảo vệ chặt chẽ và không được bón phân hàng năm, điểu đó đã chứng tỏ rừng Luồng được quản lý tốt và được bón phân đã có ảnh hưởng tích cực đến sinh trưởng về đường kính
và chiều cao vì vậy cho năng xuất cao
4.2 Kết quả nghiên cứu về phẩm chất cây
Phẩm chất cây là một chỉ tiêu quan trọng trong việc đánh giá kết quả của việc trồng rừng rừng, phẩm chất cây tôt hay xấu thể hiện trình độ canh tác của chủ rừng cũng như điều kiện của khu vực trồng rừng Việc đánh giá phẩm chất cây dựa vào sự sinh trưởng thực tế của Luồng trong từng mô hình nghiên cứu
Chỉ tiêu đánh giá phẩm chất cây cụ thể như sau:
- Cây tốt (A): là cây không cụt ngọn, cong queo, sâu bệnh, đường kính D1.3 > 9cm
- Cây trung bình (B): là cây không cụt ngọn, cong queo,sâu bệnh, đường kính 7cm ≤ D1.3 ≤ 9cm
Trang 36- Cây xấu (C): là cây cụt ngọn, cong queo, sâu bệnh, đường kính D1.3
Quảng
canh
Chân 216 25 173 18 11,57 80,09 8,33 Sườn 220 28 149 43 12,73 67,73 19,55 Đỉnh 233 16 161 56 6,87 69,10 24,03
Tổng 669 69 483 117 10,31 72,20 17,49
Từ số liệu thu thập được từ ngoại nghiệp qua phân cấp, tính toán, sử dụng tiêu chuẩn χ2 để kiểm tra sự thuần nhất về chất của Luồng trên 2 mô hình ta có kết quả sau
Trang 37Cho ta thấy χ2
tính toán > χ20.5 tra bảng, như vậy phẩm chất của cây Luồng là không thuần nhất ở các phương thức trồng khác nhau Hay nói cách khác ở các phương thức trồng khác nhau phẩm chất của cây Luồng là khác nhau
Hình 4.3: Biểu đồ so sánh tỷ lệ phẩm chất giữa hai mô hình
Nhận xét: Nhìn vào biểu 4.7 và biểu đồ 01 ta nhận thấy tỷ lệ cây tốt của
mô hình thâm canh là nhiều hơn mô hình quảng canh, cây tốt chiếm tới 40,95%, cây trung bình chiếm 54,88% và cây xấu chỉ chiếm 4,17% so với tổng số cây trong mô hình Trong khi đó mô hình quảng canh tỷ lệ cây tốt chỉ chiếm 10,31%, cây trung bình chiếm tới 72,20%, cây xấu chiếm 17.49% so với tổng số cây so với tổng số cây của cả mô hình Mặt khác giửa hai mô hình, ở cùng vị trí địa hình thì số lượng cây tốt của mô hình thâm canh là lớn hơn mô hình quảng canh, số lượng cây xấu mô hình quảng canh là nhiều hơn mô hình thâm canh
4.3 Đánh giá hiệu quả kinh tế
Hiệu quả kinh tế của một mô hình canh tác là tất cả các khoản thu nhập còn lại sau khi trang trải, bù đắp mọi khoản chi phí hay nói cách khác là khoản chênh lệch giữa các khoản thu nhập và chi phí bỏ ra trong quá trình sản xuất
kinh doanh