LỜI NÓI ĐẦU Để kết thúc khóa học và hoàn thành chương trình đào tạo một kỹ sư lâm nghiệp, được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Lâm Học tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá si
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA LOÀI SA NHÂN TÍM
(A longiligulare T.L.Wu) TRỒNG DƯỚI TÁN MỘT SỐ TRẠNG THÁI
RỪNG TỰ NHIÊN TẠI XÃ CHUNG CHẢI - HUYỆN MƯỜNG NHÉ -
Trang 2LỜI NÓI ĐẦU
Để kết thúc khóa học và hoàn thành chương trình đào tạo một kỹ sư lâm nghiệp, được sự đồng ý của trường Đại học Lâm nghiệp, khoa Lâm Học
tôi đã thực hiện đề tài: “Đánh giá sinh trưởng của loài Sa nhân tím (Amomun longiligulare T.L.Wu) trồng dưới tán một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã Chung Chải - huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên”
Trong thời gian nghiên cứu và thực hiện khóa luận tôi đã nhận được sự giúp đỡ và đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo, bạn bè… Cho đến nay, khi hoàn thành khóa luận tốt nghiệp, tôi xin gửi lời tri ân và cảm ơn chân thành đến:
Thạc s Nguy n Thị Thu H ng, và các thầy cô trong bộ môn Lâm sinh, trường đại học Lâm nghiệp đã trực tiếp hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong cả quá trình cho đến khi hoàn thành khóa luận
U N xã Chung Chải, Hạt kiểm lâm huyện Mường Nh và nhân dân
xã Chung Chải đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tôi rất nhiều trong quá trình thu thập thông tin, khảo sát thực địa
ạn bè đã giúp đỡ trong quá trình thực hiện cũng như hoàn thành khóa luận tốt nghiệp
Trong thời gian thực hiện khóa luận, mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng
do thời gian, trình độ và kiến thức thực tế còn hạn chế, lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót nhất định
Vì vậy, tôi rất mong nhận được những nhận x t, những ý kiến đóng góp của các thầy, cô và các bạn để bài khóa luận của tôi được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Sinh viên thực hiện Trần Thị Huyền Trang
Trang 3MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU 1
DANH MỤC CÁC BẢNG 5
DANH MỤC CÁC BIỂU 6
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Trên thế giới 3
1.1.1 Giá trị và công dụng 3
1.1.2 Những loài Sa nhân đã được vào gây trồng 3
1.1.3 Nơi trồng và điều kiện sinh thái 4
1.2 Ở Việt Nam 5
1.2.1 Về phân loại thực vật 5
1.2.2 Các loài Sa nhân đã được nghiên cứu trồng tại Việt Nam 8
1.2.3 Mô hình trồng 9
1.2.4 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và những yếu tố cấu thành năng suất 10
1.2.5 Về giá trị kinh tế 13
1.3 Nhận x t và đánh giá chung 14
Chương II MỤC TIÊU, PHẠM VI NỘI UNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 15
2.2 Phạm vi nghiên cứu 15
2.3 Nội dung nhiên cứu 15
2.3.1 Đặc điểm cấu trúc của tầng cây cao ở trạng thái rừng IIA và IIB tại khu vực trồng Sa nhân tím 15
2.3.2 Đánh giá sinh trưởng của cây Sa nhân tím trồng dưới tán trạng thái rừng IIA, IIB tại khu vực nghiên cứu 15
2.3.3 Đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng Sa nhân tím tại một số trạng thái rừng ở địa phương 15
Trang 42.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp kế thừa 15
2.4.2 Phương pháp ngoại nghiệp 16
2.4.3 Phương pháp điều tra nội nghiệp 19
Chương III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN CỨU 21
3.1 Điều kiện tự nhiên 21
3.1.1 Vị trí địa lý 21
3.1.2 Địa hình 21
3.1.3 Khí hậu 21
3.1.4 Thủy văn 22
3.1.5 Tài nguyên khoáng sản 22
3.1.6 Thổ nhưỡng và động thực vật 23
3.1.7 Hiện trạng sử dụng đất tại xã 23
3.2 Đặc điểm về kinh tế xã hội 24
3.2.1 Tình hình sản xuất 24
3.2.2 Tình hình dân số, dân tộc và lao động 25
3.2.3 Đường giao thông và thuỷ lợi 25
3.2.4 Điện, nước sinh hoạt 26
3.2.5 Y tế, Văn hoá, giáo dục 26
Chương IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Đặc điểm cấu trúc tầng cây cao ở trạng thái rừng IIA và IIB tại khu vực trồng Sa nhân tím 28
4.1.1 Cấu trúc tổ thành tầng cây cao 28
4.1.2 Đặc điểm cấu trúc mật độ và độ tàn che 30
4.1.3 Đặc điểm các chỉ tiêu sinh trưởng tầng cây cao ở trạng thái IIA, IIB tại khu vưc trồng Sa nhân tím 31
4.2 Đánh giá sinh trưởng của cây Sa nhân tím trồng dưới tán trạng thái rừng IIA và IIB tại khu vực nghiên cứu 32
Trang 54.2.1 Mật độ trồng loài Sa nhân tím 32
4.2.2 Sinh trưởng về đường kính bụi (Db)của loài Sa nhân tím 33
4.2.3 Sinh trưởng đường kính gốc D00 của Sa nhân tím 35
4.2.4 Sinh trưởng về chiều cao của loài Sa nhân tím 36
4.2.5 Đánh giá chất lượng sinh trưởng của loài Sa nhân tím trồng dưới tán trạng thái rừng IIA, IIB tại khu vực nghiên cứu 38
4.3 Đề xuất biện pháp kỹ thuật gây trồng Sa nhân tím tại một số trạng thái rừng tại khu vực nghiên cứu 40
Chương V KẾT LUẬN – TỒN TẠI – KHUYẾN NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Tồn tại 44
5.3 Khuyến nghị 45
TÀI LIỆU THAM KHẢO 46 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Đặc điểm tầng cây cao ở trạng thái rừng IIA và IIB 28
Bảng 4.2: Đặc điểm cấu trúc mật độ và độ tàn che 30
Bảng 4.3 Các chỉ tiêu sinh trưởng 31
Bảng 4.4: Mật độ của Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu 32
Bảng 4.5: Sinh trưởng b của cây Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu 33
Bảng 4.6: Bảng sinh trưởng của cây Sa nhân tím tại khu vực nhiên cứu 35
Bảng 4.7: Bảng sinh trưởng của cây Sa nhân tím tại khu vực nhiên cứu 37
ảng 4.8: Chất lượng sinh trưởng của Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu 39
Trang 7DANH MỤC CÁC BIỂU
iểu đồ 4.1: iểu đồ so sánh về đường kính bụi trung bình của cây Sa nhân tím 34 iểu đồ 4.2: iểu đồ so sánh về đường kính gốc trung bình của cây Sa nhân tím 35 iểu đồ 4.3: iểu đồ so sánh về chiều cao trung bình của cây Sa nhân tím 37
Trang 8ĐẶT VẤN ĐỀ
Chung Chải là xã n m ở phía bắc của huyện Mường Nh tỉnh Điện Biên, Việt Nam Từ sau khi được thành lập xã Chung Chải bắt tay vào công cuộc xây dựng và phát triển trên mọi l nh vực o địa hình chia cắt sâu nên hình thành nhiều tiểu vùng khí hậu, cho ph p phát triển một nền sản xuất nông – lâm nghiệp phong phú Tài nguyên rừng ở xã Chung Chải vào những năm trước rất phong phú, và đa dạng về sinh học và thành phần loài, thế nhưng hiện nay rừng bị tán phá rất nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do khai thác trái ph p, và tập quán canh tác du canh du cư của đồng bào dân tộc Đứng trước hiện trạng đó phòng Nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Mường Nh và tỉnh Điện iên đã có các chính sách phát triển ngành lâm nghiệp của xã cũng như toàn huyện, với tiêu chí rừng gắn với người dân, vừa giảm áp lực về khai thác rừng, vừa phải tăng thu nhập cho người dân, vì vậy việc phát triển và trồng các loài lâm sản ngoài gỗ là biện pháp tối ưu nhất đối với xã Chung Chải
Sa nhân tím A longiligulare T.L.Wu , thuộc chi Sa nhân Amomum Roxb , họ Gừng Zingiberaceae, là một loài lâm sản ngoài gỗ, cũng là một trong các loài thuốc quý, có giá trị kinh tế cao được người dân biết đến và sử dụng từ lâu đời Vỏ quả Sa nhân là dược liệu được sử dụng trong các bài thuốc y học cổ truyền ở trong nước và nước ngoài như Trung Quốc, Nhật
ản, Triều Tiên…, ngoài ra hạt của quả Sa nhân còn làm gia vị bởi vị cay của chúng, và để chế biến mùi rượu, ngoài ra thân, lá Sa nhân còn chứa tinh dầu được chiết suất để lấy tinh dầu Cùng với nhu cầu sử dụng Sa nhân ngày càng tăng, Sa nhân là loài cây d trồng, có biên độ sinh thái rộng, thích nghi với nhiều đạng lập địa, thu hoạch đơn giản, thích hợp với người dân, mà có giá trị kinh tế cao, và Sa nhân cũng mọc tự nhiên tại xã Chung Chải Vì vậy rất thích hợp trồng tại xã Chung Chải nh m tăng thu nhập cho người dân, và giảm áp lực khai thác gỗ, phát triển ngành Lâm nghiệp
Trang 9Trước thực tế đó, tôi chọn đề tài “Đánh giá sinh trưởng của loài Sa nhân tím (Amomun longiligulare T.L.Wu) trồng dưới tán một số trạng thái rừng tự nhiên tại xã Chung Chải - huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên” là
cần thiết nh m gây trồng cây Sa nhân tăng thu nhập cho người dân và phát triển ngành Lâm nghiệp của xã Chung Chải một cách bền vững
Trang 10Chương I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Trên thế giới
1.1.1 Giá trị và công dụng
Sa nhân là cây thuốc quý được sử dụng phổ biến trong Y học cổ truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Malaysia, Thái lan, Lào và Việt Nam Bên cạnh giá trị sử dụng làm thuốc, Sa nhân còn được dùng làm gia vị hoặc chiết suất lấy tinh dầu dùng trong kỹ nghệ mỹ phẩm
ược liệu Sa nhân của Việt Nam [2], [6] được khai thác chủ yếu từ cây mọc tự nhiên ở rừng Trên thị trường hiện nay giá Sa nhân quả loại 1 dao động từ 120.000- 150.000 đồng/kg khô Sa nhân hạt (quả khô bóc vỏ còn nguyên khối hạt) xuất khẩu có thể đạt 8.083 đô la Mỹ/tấn, tương đương 170 triệu đồng Việt Nam trên tấn Như vậy, có thể khẳng định r ng Sa nhân cũng
là loại lâm sản ngoài gỗ (LSNG) có giá trị kinh tế cao
Xuất phát từ giá trị kinh tế mang lại cùng nhiều lý do khác, Sa nhân được nghiên cứu đưa vào trồng thêm ở một vài nước trong khu vực cũng như Việt Nam
1.1.2 Những loài Sa nhân đã được vào gây trồng
Trung Quốc là nước sớm tiến hành nghiên cứu trồng cây Sa nhân Theo tài liệu của viện nghiên cứu Lâm Nghiệp nhiệt đới Trung Quốc, Zheng Haishui và He Kejun (1990) cho r ng Sa nhân đang được trồng ở phía Nam Trung Quốc hiện nay cho kết quả tốt nhất là Sa nhân Tím (Amomum longgiligulare)[30]
Trong một ấn phẩm về LSNG ở 15 quốc gia thuộc vùng nhiệt đới châu Á của
EC – FAO Partnership programme, tháng 9 năm 2002 ở Lào có 3 loài Sa nhân mọc tự nhiên đã được người dân đưa vào trồng ở cao nguyên Poloven; A.ovoideum và A.villosum trồng ở Champasac và Sa La Van [26]
Trang 11Theo Catherine Aubertin (2004) [25], trong một dự án về LSNG ở Phong Xa
Ly (Lào), người ta trồng giống Sa nhân A villosum var xanthioides nhập từ Trung Quốc Sau 2 năm thử nhiệm thì thấy cây mọc tốt, nhưng chưa có con số kết quả cuối cùng
Như vậy, hiện đã có 3 loài Sa nhân được đưa vào gây trồng thêm ở các nước Lào và Trung Quốc thì có loài Sa nhân tím (Amomum longiligilare) được quan tâm nghiên cứu nhiều nhất
1.1.3 Nơi trồng và điều kiện sinh thái
Tất cả các loài Sa nhân được trồng ở Lào và Trung Quốc trên đây đều có nguồn gốc từ cây mọc tự nhiên và đều trồng được ở vùng nhiệt đới Nơi trồng
là vùng núi có độ cao từ 350m đến 1000m [1] Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng tốt, đối với loài A.villsum trồng ở Trung Quốc từ 22-28 0
C
Mật độ trồng:
Theo Catherine Aubertin (2004) [25], giống Sa nhân (A.villosum var xanthioides) trồng ở Phong Sa Ly Lào ước tính có mật độ trên dưới 1000 cây/ha
Chăm sóc và sản lượng:
Trong tài liệu về trồng Sa nhân ở nước ngoài hiện có chỉ thấy có một tài liệu đề cập tương đối toàn diện về các khâu chăm sóc, bón phân, phòng ngừ sâu bệnh đới với loài Sa nhân A villosum trồng ở Trung Quốc
Về chăm sóc, đáng chú trọng nhất là làm có 2-3 lần/năm, nhưng trước mùa đông cỏ dại được giữ lại phủ đất đề phòng có sương, tuyết Bên cạnh đó, bón phân được coi là biện pháp thâm canh quyết dịnh đến năng suất Sa nhân trồng, có thể tăng thêm từ 20-50% Phân bón gồm: Phân chuồng mục, supe phốt phát và phâm đạm bón trước vụ hoa
Trang 12Ngoài ra, các tác giả công trình này còn khuyến cáo về việc điều tiết độ tàn che luôn đảm bảo khoảng 50% Loài Sa nhân A.villosum trồng ở Trung quốc chưa phát hiện sâu bệnh hại trên diện rộng Rải rác có sâu xám cắn cây con, động vật gặm nhấm quả già, cách phòng trừ b ng thuốc sâu o đây lá công trình từ năm 1960 của thế kỷ trước nên các loại thuốc trừ sâu được đề cập nay không còn được phép sử dụng nữa
Trong khi đó, theo Zheng haishui & HE Kejun 1993 [30], loài Sa nhân tím A.longilugulare trồng xen với cây Cao su 3-4 năm bắt đầu cho hoa quả Năng suất trung bình 80-12 kg quả khô/ha/năm Theo 1 tài liệu khác về trồng
Sa nhân A.xanthioides ở tỉnh U Đom Xay Lào cho thu hoạch 300-600 kg quả/ha/năm, ở đây không nói rõ quả khô hay quả tươi
1.2 Ở Việt Nam
1.2.1 Về phân loại thực vật
Tên gọi và vị trí phân loại
Các tác giả Võ Văn Chi 1997 [6], Đỗ Tất Lợi (1992) [12], Lê Mộng Chân (2000) [4], Nguy n Tập 2007 [22], đều thống nhất chung tên gọi Sa nhân tím (hay còn gọi là Sa nhân) có tên khoa học Amomum longiligulare T.L.Wu, thuộc chi Sa nhân (Amomum Roxb), họ Gừng Zingiberaceae
Ấn phẩm Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam 2007 [8], đã mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái, thông tin khác về thực vật, phân bố, đặc điểm sinh học của Sa nhân tím cụ thể
Hình thái:
Cây thảo, sống lâu năm, cao 1,5 – 2,5 m hoặc hơn Thân r có các lá mọc
so le thành 2 dãy, hình mác, dài 20-30 cm, rộng 5-6cm, gốc hình nêm, đầu thuôn nhọn, mép nguyên, hai mặt nhẵn, mặt trên sẫm bóng, mặt dưới nhạt, cuống lá dài 5-10mm, bẹ lá to dài, có khía, lưỡi bẹ mỏng, dài 1,5 – 3,0 cm, phần gốc ôm lấy thân
Trang 13Cụm hoa mọc từ thâm r thành bông ngắn Hoa 5-7, bao gồm lá bắc ngoài hình bầu dục, màu nâu, là bắc trong dạng ống, đài nhỏ dài 1,5 cm, có 3 răng nhọn, tràng hình ống dài 1,3-1,5 cm, màu trắng chia 3 thùy, mặt ngoài có lông thưa, thùy giữa hình trứng ngược, hai thùy bên hẹp, cánh, môi gần tròn, đường kính 2,0-2,6 cm, mép màu vàng, có sọc đỏ ở giữa, đầu cánh môi xẻ hai thùy nhỏ gập ra phia sau, chỉ nhị dài hơn bao phấn, bầu trụ hình tròn, hơi phình ở giữa, có lông trắng
Quả hình cầu hoặc hơi hình trứng, đường kính 1,3-2cm, dài 1,5-2,5 cm, mặt ngoài có gai ngắn, mếm màu tím, chia 3 ô, hạt đa dạng, có áo hạt nếm có
vị ngọt, đường kính 3-4 mm Toàn thân và vỏ quả vò nát có mùi thơm
Các thông tin khác về thực vật
Chi Amomum Roxb ở Việt Nam khoảng 30 loài, trong đó có một số loài
mà quả của nó có thể thu hái, sử dụng với tên gọi chung là “Sa nhân” đó là (i)- Amomumvillosum lour, (ii)- A ovoi deum pierre ex Gagnep, (iii0- A thyrsoideum Gahnep, (iv) Sa nhân tím (A longiligulare T.L.Wu) kể trên
Cả 4 loài này đều có đặc điểm hình thái bên ngoài của cây, cụm hoa và quả tương đối giống nhau Đặc điểm để nhận biết duy nhất là lá bẹ của Sa nhân tím A longiligulare T.L.Wu dài hơn nhiều (1,5 - 3,0 cm) so với là bẹ của 3 loài kia thường chỉ dài dưới 1 cm)
Phân bố
Ở Việt Nam:
Quảng Nam (các huyện Đông Giang, Tây Giang, Trà My ; Quảng Ngãi
a Tơ, Sơn Hà, Trà ồng, Sơn Tây, Đức Phổ; ình Định V nh Sơn, Vân Canh), Phú Yên (Sông Hinh, Sơn Trà ; Khánh Hòa Khánh sơn, Khánh
V nh ; Kom Tum Sa Thầy; Gia Lai K’ ang, An Khê ; Đắk Lắc; Phú Thọ (Yên Lập Ngoài ra còn được trồng ở một số địa phương khác [29]
Trang 14Ở thế giới: Trung Quốc, Lào
Đặc điểm sinh học
Sa nhân tím là cây ưa ẩm, hơi chịu bóng hoặc có thể trở lên ưa sáng khi đã phát triển thành các quần thể nhỏ, dày đặc trên các nương dãy cũ Cây thường mọc thành đám trên ở ven rừng kín thường xanh nguyên sinh hay đã thứ sinh, nhất là dọc hành lang các khe suối; Độ cao 450-700m Nhìn vào phân bố Sa nhân tím ở Việt Nam cho thấy, cây mọc chủ yếu ở các tỉnh phía Nam, từ Quảng Nam trở vào đến Bình Thuận Những tỉnh tập chung nhiều Sa Nhân phải kể đến: Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Gia Lai…
Sa nhân tím thuộc loại cây có biên độ sinh thái rộng, cây thích nhi cao với điều kiện khí hậu nhiệt đới điểm hình ở các tỉnh phía Nam, với 2 mùa mưa khô rõ rệt, nhiệt độ không khí trung bình năm khoảng 22-240c Khi đem Sa nhân tím trồng ở các tỉnh miền núi phía Bắc, nhiệt độ trung bình năm thấp hơn phía Nam, lại có mùa Đông k o dài, nhưng cây vẫn sinh trưởng phát triển tốt Mùa sinh trưởng mạnh của cây trùng với mưa ẩm Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe từ thân r Vụ chồi được ra nhiều vào mùa Xuân-Hè; vụ sau là Hè-Thu Nhánh cây chồi khi được 1 năm có thể ra hoa quả Mùa hoa tập chung vào tháng 4-5, quả già vào khoảng tháng 7 Ngoài ra, ngay kkhi chưa kết thúc vụ quả này từ tháng 6 đến tháng 7 cây lại ra thêm lứa hoa nữa Tuy nhiên quả của lứa hai ít hơn quả lứa đầu hiện tượng này có thể phù hợp với tập tính đẻ nhánh 2 lần trong năm đã nói trên, khả năng ra hoa kết quả nhiều
và đều đặn hàng năm của Sa nhân tím là một ưu thế hơn hẳn so với các loài
Sa nhân khác ở Việt Nam (Nguy n Tập, Nguy n Chiều và cộng sự, 19950 [20] Song cần chú ý r ng, quả chín của các loài Sa nhân thường bị các loài bò sát hay động vật gặm nhấm ăn
Bên cạnh khả năng tái sinh chồi nhánh, Sa nhân tím còn có khả năng tái sinh tự nhiên b ng hạt
Trang 151.2.2 Các loài Sa nhân đã được nghiên cứu trồng tại Việt Nam
Nghiên cứu trồng Sa nhân trên Việt Nam trên thực tế đã được nói đến
từ những năm thuộc thập kỷ 7 của thế kỷ trước Tuy nhiên, những kết quả đạt được ghi lại thành tài liệu chỉ thấy vào năm 1986, 1995, và vài năm trở lại đây
Tổng số đã có 4 loài Sa nhân được đưa vào trồng thử nhiệm ở các quy mô khác nhau:
Sa nhân tím (Amomum longilidulare)
Sa nhân đỏ (A villosum)
Sa nhân hoa thưa (A Thysoideum)
Sa nhân thân cao (A ovoideum)
Theo tác giả Trương Văn Châu 2007 [5], đã chọn lựa Sa nhân tím để nhiên cứu trồng trên địa bàn tỉnh Khánh Hòa và đã cho kết quả khả quan
Cẩm nang ngành lâm nghiệp chương Lâm sản ngoài gỗ [3], đã thống kê có
15 loài sa nhân được thấy ở Việt Nam, nhưng có 3 loại được trồng trên diện rộng đó là:
Sa nhân xanh Amomumxanthoides
Sa nhân Đỏ A villosum
Sa nhân tím (Amomum longilidulare)
Nguy n Tập, Phạm Thanh Huyền, Lê Thanh Sơn [21], [28] đã nghiên cứu trồng Sa nhân tím ở Quân Chu, Đại Từ - Thái Nguyên, nhóm nghiên cứu của Viện dược liệu đã phát hiện trong 2 quần thể trồng 2,09 ha ở đây, cùng 1 loài
A longiligulare có 2 dạng quả: quả tròn, và hơi dài Loại quả tròn to được người mua ưa chuộng hơn loại quả dài hoặc tròn nhỏ (Theo Trần Phi Hùng – công ty cổ phần dược liệu TW I Hà Nội Đây là một vấn đề chưa có điều kiện để nghiên cứu rõ hơn
Trang 16Điều kiện tự nhiên của vùng trồng: Theo Nguy n Tập (2007) [22] thì Sa nhân tím trông được ở vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa nóng và ẩm Nhiệt
độ trung bình trong năm 23-270C, lượng mưa trung bình 1500-2800 mm/năm,
và độ ẩm trung bình 80% Sa nhân tím có thể trồng được ở nhiều nơi vùng núi thấp độ cao <700m) đến vùng Trung du, và cả ở đồng b ng Đất trồng Sa nhân tím bao gồm các loại đất feralit đỏ-vàng, đỏ-nâu phát triển trên 1 số loại
đá mẹ, đát đỏ bazan, đất mùn trên núi và cả trên đất phù sa cổ, tương đối ẩm,
có hàm lường mùn trung bình trở lên, pH 4-6
Riêng về đất trồng rừng Sa nhân ở Phú Yên theo Nguy n Thanh Phương (2006 có hàm lượng mùn, NPK đều từ múc trung bình trở lên và pH: 4,2 – 4,5 Cây Sa nhân trồng ở đây cho kết quả tốt [14]
Đến năm 2004, Nguy n Ngọc Đạo (2006) [7] ở trung tâm giống cây trồng ình Định nghiên cứu nhắc lại Sa nhân tím trồng dưới tán rừng Keo lai (0,4 ha) ở xã V nh Sơn và duới tán rừng tư nhiên 0,6 ha ở xã V nh Hảo,
V nh Thạnh, tỉnh ình Định Kết quả sau 3 năm trồng cây Sa nhân tím mới ra quả lứa đầu Từ tháng 11 năm 2003 đến tháng 11 năm 2006, Chương Văn Châu (2007) ở hội Nông dân thị xã Cam Ranh tỉnh Khánh Hoà đã nghiên cứu trồng Sa nhân tím ở vườn trồng Điều (Đào lộn hột 3 năm tuổi (ở xã Cam An Bắc – Cam Ranh ; Điều 8 năm tuổi (ở xã Khánh Trung – Khánh V nh và ở dưới tán rừng tự nhiên nghèo (ở xã ình Sơn – Khánh Sơn Kết quả sau 24 tháng trồng mà Sa nhân tím chưa ra hoa, quả Phải chăng cả 3 mô hình trồng
Trang 17Sa nhân ở đây về môi trường có thể không đủ ẩm Trong quá khi đó, theo Nguy n Thanh Phương 2006 [14] ở viện khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Duyên Hải Nam Trung Bộ Qui Nhơn – ình Định) thì Sa nhân tím trồng ở 2
mô hình: rừng trồng Keo 3 năm tuổi và rừng tự nhiên nghèo kiệt tại huyện Sơn Hoà, tỉnh Phú Yên chỉ sau 18 tháng đã cho ra quả lứa đầu Trong khi đó ở
lô nghiên cứu bên cạnh xen với cà phê thì sau 30 tháng tuổi cây mới cho ra quả lứa đầu Mô hình trồng Sa nhân tím ở vườn gia đình sau 30 tháng tuổi chưa thấy ra hoa
Trong đó ùi Kiều Hưng 2011 [9], kết quả trồng thâm canh Sa nhân tím tại Ba Vì, sau 6 tháng tuổi, tỷ lệ sống đạt trên 90%, trung bình mỗi bụi có
từ 7 – 10 cây
Áp dụng kỹ thuật bón phân, chăm sóc, điều tiết độ tàn che… sau 12 tháng tuổi trung bình chiều cao đạt trên 100cm, số nhánh trung bình hơn 20 nhánh/ bụi, cây đã bắt đầu có hiện tượng ra hoa [9]
1.2.4 Kỹ thuật trồng, chăm sóc và những yếu tố cấu thành năng suất
* Về giống:
Theo Nguy n Tập, Nguy n Chiều và cộng sự 1995 [20] có đề cập tới cây con gieo hạt từ đem trồng sau 1 tháng tuổi có độ đẻ nhanh nhều hơn 50%
so với cây trồng b ng nhánh con sau cùng một thời gian trồng
Nguy n Thanh Phương 2010 [16] xử lý hạt giống b ng các ngâm vào nước ấm 50 – 55o
c (2 sôi 3 lạnh); ngâm từ 7 – 8 giờ sau đó vớt ra, hong cho giáo hạt rồi đem gieo vào đất sau 15 ngày hạt nhú mầm, sau 25 ngày hạt mọc đều Thời gian từ lúc nảy mầm đến khi kết thúc quá trình nảy mầm khoảng 20 ngày, sau từ 4 – 9 tháng tuổi cây có thể trồng được
Cũng theo Nguy n Thanh Phương 2009 [15], kết quả tuyển chọn xuất
xứ giống Sa nhân tím cho năng suất cao, chất lượng tốt tại huyện Kbang, tỉnh Gia Lai đã khẳng định sau 18 tháng tuổi cả 4 xuất xứ Phú Yên, Khánh Hoà,
Trang 18ình Định và Gia Lai đều cho quả bói và năng suất khô của năm đầu tiên từ 2,1 – 26,8kg/ha Một lần nữa Nguy n Thanh Phương 2011 [17] khẳng định sau 18 tháng Sa nhân tím của xuất xứ ình Định là 14,7 chồi/ bụi, cao hơn xuất xứ Khánh Hoà chỉ đạt 12,8 chồi/ bụi
Nhóm tác giả Đặng Ngọc Phúc, Nguy n Thanh Tùng, ương Thị Thuỳ Châu, Trương Thị ích Phượng 2011 [18] đã tiến hành nhân giống In vitro, vật liệu là đỉnh sinh trưởng và đoạn thân mang chồi nách lấy từ thân r của cây Sa nhân tím Kết quả sau 4 tuần cho thấy, thời gian khử trùng thấp (5 phút) tỷ lệ nhi m cao 42,22% đối với đỉnh sinh trưởng:46,67% đối với đoạn thân khi tăng thời gian khử trùng đến 18 phút, tỷ lệ chết cao 31,11% đối với đỉnh sinh trưởng: 44,44% đối với đoạn thân) Tỷ lệ mẫu sống không nhi m cao nhất đạt được ở thời gian khử trùng 12 phút 91.11% đối với đỉnh sinh trưởng: 86.67% đối với đoạn thân)
Thời vụ, kỹ thuật trồng và chăm sóc:
Theo Nguy n Tập 2007 [22] các khâu chăm sóc tiếp theo chủ yếu tập chung vào khâu làm cỏ 2 -3 tháng/ lần [11], [12], [19] Riêng trong nghiên cứu của viện ược Liệu ở Quân Chu, Đại Từ, Thái Nguyên gần đây có đề cập mỗi năm bón thúc 1 lần phân NPK – S.10:5.3.3, với khối lượng 1 tấn/ lần/ năm Cây trồng được 1,5 đến 2 năm tuổi, số nhánh đẻ ra rất nhiều, bò lan trên mặt đất, không thể phân biệt giữa các khóm Bởi vậy từ đó trở đi không cần phải làm cỏ nữa [21], [28] Có lẽ chính vì kết quả này nên Nguy n Tập và cộng sự (2007) [21] và Nguy n Thanh Phương 2006 [14] đều có nhận xét trồng xa nhân tím có tác dụng phủ đất, chống xói mòn Riêng Nguy n Thanh Phương 2006 [14] còn đưa ra kết quả phân tích đất trước và sau 2 năm trồng
Sa Nhân tím cho thấy, tự độ PH cho đến các chỉ số về mùn và NPK tổng số vẫn giữ nguyên hoặc được cải thiện theo hướng tốt lên Lưu ý r ng mô hình nghiên cứu trồng Sa nhân của Nguy n Thanh Phương trên đây không bón phân
Trang 19 Các yếu tố cấu thành năng suất:
Trong các nghiên cứu trồng Sa nhận tím ở Việt Nam, vấn đề này còn ít được đề cập
Về nhân tố ánh sáng, hầu hết các tác giả có công trình công bố đều cho
r ng Sa nhân tím là cây hơi ưa bóng Vì vậy, khi trồng cần có độ tàn che nhất định Nếu trồng xen ở rừng tự nhiên nghèo kiệt, độ tàn che cần thiết là 0,5 – 0,6 ( Nguy n Thanh Phương 2006 [14] và Nguy n Ngọc Đạo (2006) [7]) Trong những nghiên cứu của Nguy n Tập, Nguy n Chiều và cộng sự (1995) [20], và Nguy n Tập và cộng sự (2007) [21], [18], thì lại cho r ng độ tàn che thích hợp để Sa nhân tím sinh trưởng và phát triển tốt là 0,1 – 0,3, cho cả loại hình rừng trồng, rừng tự nhiên và đất sau nương rẫy còn chừa lại cây che bóng Ngoài ra, cũng trong báo cáo về trồng Sa nhân tím trên đất nương rẫy ở
xã quân chu huyên Đại Từ tỉnh Thái Nguyên, Nguy n Tập và cộng sự (2007 [21]ư [28] còn đưa ra nhận x t Khi Sa nhân tím đã được phát triển thánh đám dày đặc, trên diện tích gần 1000m2 mặc dù không có cây che bóng Tương tự như vậy, hầu hết các tác giả nghiên cứu trồng Sa nhân tím ở nước ta đều chưa đề cập tới chế độ phân bón, chế dộ chăm sóc, tỉa thưa…Khi trồng cây đã đạt độ ổn định- ngh a là từ năm tuổi thứ 3 trở đi Trong khi đó chỉ mới qua 2 năm nghiên cứu, Nguy n Thanh Phương 2006 [14] đã đưa ra những con số về năng suất ở năm thứ 2 là 45,1 kg quả khô/ha/năm ở mô hình trồng keo 1 và 16,4 kg quả khô/ha/năm ở mô hình rừng tự nhiên nghèo 2 Ngoài ra, tác giả cho biết từ năm thứ 3 trở đi sẽ tang lên từ 2,25- 3,69 lần so với mô hình thứ nhất và tương tự như vậy là 4,37- 8,46 lần so với mô hình thứ
2 Còn theo Nguy n Ngọc Đạo 2006 [7], Sa nhân tím trồng dưới tán rừng tự nhiên ở ình Định sau 3 năm năng suất đặt 200kg quả khô/ha/năm Ngoài ra, một số chuyên đề về Sa nhân tím, Nguy n Tập 2007 [22] cũng đưa ra dự đoán Sa nhân tím trồng thuần loài sau khi thành thục tái sinh 4 năm tuổi trở
đi có thể đặt từ 700- 850 kg quả khô/ha/năm, tương đương với 455-552,5 kg quả khô/ha/năm
Trang 20Tóm lại về vấn đề năng suất cũng như làm thế nào để tăng năng suất trồng
Sa nhân tím ở nước ta cần phải ngiên cứu cụ thể hơn, đặc biệt là cần phải gắn liền với từng vùng cụ thể
5 ề giá trị inh tế
Nguy n Tập 2013 , Sa nhân tím là loại dược liệu có giá trị sử dụng trong nước và xuất khẩu cao Hàng năm, từ nguồn Sa nhân mọc tự nhiên ở Việt Nam đã khai thác thu mua tới cả trăm tấn quả khô, trong đó tới trên 50% khối lượng thường xuyên được xuất khẩu Giá thu mua Sa nhân tại chỗ trung bình khoảng 80.000 đồng/kg quả khô cả vỏ, có giá trị xuất khẩu khoảng 120.000-150.000 đồng/kg quả khô cả vỏ tùy theo từng năm
Ấn phẩm Lâm sản ngoài gỗ Việt Nam 2007 Sa nhân của Việt Nam chủ yêu được sản xuất sang Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan… Giá Sa nhân trên thị trường thế giới từ 7 đến 10 đô la Mỹ/kg Nếu mỗi năm nước ta xuất khẩu khoảng 400 tấn Sa nhân, sẽ thu được 2,8 đến 4 triệu US
Đặng Ngọc Phúc, Nguy n Thanh Tùng, ương Thị Thúy Châu, Trương Thị ích Phượng 2011 [18] Sa nhân tím Amomum longiligulare TL.Wu thuộc chi sa nhân Amomum họ gừng zingiberaceae Đây là một cây thuốc quý, có trong danh mục thực vật quý hiếm ban hành kèm theo quyết định số 18- H T ngày 12/01/1992 Hội đồng bộ trưởng,1992
Theo dự đoán của tác giả Nguy n Tập 2007 [22], nếu trung bình 1 ha
Sa nhân trồng thuần loài, vào thời kỳ thành thục tái sinh sau 4 năm có thể cho năng suất đạt từ 455-552,5 kg quả khô/ha/năm, với giá bán tại chỗ 80.000 nghìn đồng/kg quả khô cả vỏ thì mỗi ha Sa nhân cho thu nhập từ 36-42 triệu/ha/năm và với giá xuất khẩu tính ra tiền việt nam bình quân khoảng 120.000 nghìn đồng/kg quả khô cả vỏ tương đương 54-63 triệu/ha/năm Đây
là con số không nhỏ đối với nông dân sống ở vùng núi, đặc biệt là những hộ gia đình nghèo, những hộ gia đình có diện tích đất chưa được canh tác một cách hiệu quả
Trang 211.3 Nhận xét và đánh giá chung
Điểm qua các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước cho thấy:
Sa nhân tím là loài LSNG đem lại giá trị kinh tế cao, có tác dụng dược lý, công dụng làm thuốc và đã được gây trồng ở nhiều nơi trên thế giới và một số tỉnh ở nước ta
Mặc dù Sa nhân tím đã được trồng thử nhiệm ở một số tỉnh nói trên và bước đầu đã có những kết quả khá khả quan, nhưng vẫn chưa có nhiều nghiên cứu về Sa nhân tím trồng tại Điện Biên
Đúc kết từ kết quả nghiên cứu của tác giả kể trên, bài khóa luận đã tập chung vào nghiên cứu, và bước đầu đánh giá về khả năng sinh trưởng phát triển của Sa nhân tím tại khu vực nghiên cứu xã Chung Chải, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên
Trang 22Chương II MỤC TIÊU, PHẠM VI NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá được sinh trưởng của loài Sa nhân tím trồng dưới tán một số trạng thái rừng tự nhiên ở xã Chung Chải - huyện Mường Nhé - tỉnh Điện Biên
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Địa điểm: Nghiên cứu ở xã Chung Chải - huyện Mường Nhé – tỉnh Điện Biên
Đối tượng: Loài Sa nhân tím được trồng dưới tán trạng thái rừng IIA,
IIB xã Chung Chải - huyện Mường Nhé – tỉnh Điện Biên
2.3 Nội dung nhiên cứu
3 Đặc điểm cấu trúc của tầng cây cao ở trạng thái rừng II A và II B tại khu vực trồng Sa nhân tím
Cấu trúc tổ thành tầng cây cao
Kế thừa các tài liệu về kỹ thuật gây trồng, một số đặc điểm sinh thái của loài Sa nhân tím
Trang 234 Phương pháp ngoại nghiệp
2.4.2.1 Điều tra cấu trúc rừng nơi trồng Sa nhân tím
- Điều tra sơ bộ
Sơ thám khu vực nghiên cứu để lập các ô tiêu chuẩn OTC đại diện cho khu vực nghiên cứu
- Điều tra tỉ mỉ
Lập 4 ô tiêu chuẩn tại khu vực có loài Sa nhân tím phân bố, lựa chọn
vị trí lập OTC 2 ở trạng thái rừng IIA và 2 OTC ở trạng thái rừng IIB, mỗi OTC có diện tích 1000m2 (25x40m), OTC có hình dạng là hình chữ nhật được lập theo phương pháp Pitago, có chiều dài song song với đường đồng mức Sai số kh p góc cho ph p ,1/200 L L là tổng chiều dài 4 cạnh trong OTC
Sau khi lập ô tiêu chuẩn tiến hành đo đếm điều tra đối với các đối tượng sau
Đối với tầng cây cao
Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng:
Trên OTC, tiến hành thu thập số liệu thành phần loài cây (cả tên địa phương
và tên khoa học), các chỉ tiêu sinh trưởng Hvn, D1.3, Hdc, Dt của tất cả các loài trong OTC có 1.3 ≥ 6cm
Tên loài xác định tên địa phương tại hiện trường, sau đó tra tên khoa học,
cây chưa biết tên lấy mẫu tiêu bản để giám định theo phương pháp chuyên gia
Xác định D1.3 theo 2 chiều Đông – Tây, Nam – Bắc b ng thước kẹp kính
Trang 24A: Cây có phẩm chất tốt, thân thẳng, tán cân đối không bị sâu bệnh, không cong queo, không cụt ngọn
B: Cây có phẩm chất trung bình, các chỉ tiêu về thân cây, tán cây
ở mức sinh trưởng trung bình
C: Cây cong queo, sâu bệnh, lệch tán, khả năng sinh trưởng kém
Biểu 01: Điều tra tầng cây cao nơi có loài Sa nhân tím phân bố
Địa điểm điều tra : Độ dốc:
Phẩm chất Ghi chú
Điều tra độ tàn che
Phương pháp đo điểm: Điều tra độ tàn che của tầng cây cao b ng phương pháp đo điểm 100 điểm Trong OTC 1000m2 mỗi OTC tiến hành điều tra
100 điểm theo tuyến Lập 5 tuyến điều tra, mỗi tuyến điều tra 20 điểm
Cách xác định điểm: xác định tổng chiều dài các tuyến, tính được khoảng cách giữa các tuyến ∑ Khi đó điểm đầu tiên của một tuyến lấy ở vị trí cách cạnh của OTC một khoảng
Trang 25Cách xác định độ tàn che: ùng giấy A4 cuộn tròn sao cho đường kính của
lỗ tạo thành khoảng 1cm Đi đến vị trí xác định ở trên nhìn qua đường kính của lỗ đó thấy được diện tích tán lá Căn cứ diện tích thấy được cho điểm theo thang điểm như sau:
Không thấy tán lá: 0 điểm
M p tán: 0,5 điểm
Tán giao nhau: 1 điểm
Số liệu thu thập được ghi theo biểu sau:
Biểu 02: Biểu điều tra độ tàn che
OTC Vị trí:
Độ dốc: Ngày điều tra:
Hướng dốc: Người điều tra:
Điều tra các chỉ tiêu sinh trưởng của Sa nhân tím
Trên các OTC ta tiến hành đo các chỉ tiêu sinh trưởng: Số thân trên 1 bụi, đường kính bụi (Db), phẩm chất bụi, đường kính gốc (Doo), chiều cao cây (H) của cây trung bình trong bụi
- Chất lượng sinh trưởng được chia theo các tiêu chí:
Bụi sinh trưởng tốt A là cây thân th ng, sinh trưởng tốt, lá phát triển tốt, cây không bị cụt ngọn hoặc khuyết tật, không bị nhi m sâu bệnh hại
Bụi sinh trưởng không tốt C là cây còi, cây cong queo, cụt ngọn, khuyết tật, sinh trưởng k m, bị sâu bệnh hại
Bụi sinh trưởng trung bình là những cây có tiêu chí ở mức độ trung gian giữa bụi tốt và bụi xấu
Trang 26 Kết quả đƣợc ghi vào biểu sau:
Biểu 03: Điều tra cây Sa nhân trên OTC
Địa điểm điều tra : Độ dốc:
D0.0 (cm)
Chiều cao cây (m)
Phẩm chất Ghi chú
4 3 Phương pháp điều tra nội nghiệp
Đối với tầng cây cao:
Xử lý số liệu b ng các phần mềm chuyên dụng nhƣ Excell
+ Mật độ loài: N/ha = ( ) (cây/ha)
Trong đó: N/ha: Tổng số cây/ha
No: Số cây trong OTC S: Diện tích OTC (m2) + Xác định công thức tổ thành:
Công thức tổ thành có dạng: K1A1+K2A2+….+KnAn
Trong đó: Ai: là tên loài hay nhóm loài
Ki: là hệ số tổ thành của từng loài cây
- Số cây trung bình của một loài : Xtb =
Trong đó: Xtb: là tổng số cây trung bình của loài
Trang 27N: Tổng số cây điều tra trong OTC m: Tổng số loài điều tra trong OTC
Trang 28Chương III ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN – KINH TẾ - XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Xã Chung Chải n m về phía tây Bắc của tỉnh Điên iên, có tọa độ địa lý:
- V độ Bắc: 21039- 22033
- Phía Bắc giáp với xã Leng Su Sìn
- Phía Nam giáp với xã Nậm Vì
- Phía Đông giáp với xã Tà Tổng Huyện Mường Tè
- Phía Tây giáp với Nước CHDCND Lào
3 Địa hình
Là một xã có địa hình chia cắt phức tạp, được hình thành bởi các dãy núi cao, sườn dốc, các đỉnh núi có độ cao từ 900 – 1.200 m do ảnh hưởng của hoạt động kiến tạo nên địa hình bị chia cắt mạnh, cấu trúc núi cao là phổ biến
và chiếm phần lớn diện tích tự nhiên toàn xã Núi ở đây bị bào mòn mạnh thành những thung lũng hẹp, tạo bãi bồi dọc các con sông suối Nậm Nhé, Nậm Ma, Nậm Pồ
Xã có tổng diện tích tự nhiên 21.781,95 ha, chiếm 8,71% diện tích tự nhiên của huyện Bao gồm 4 nhóm đất Trong đó đất chủ yếu là đất đồi núi thuận lợi phục vụ cho sản xuất lâm nghiệp, ngoài ra có một phần đất phù xa sông suối và đất thung lũng bồi tụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp, thủy sản
Trang 29- Mùa khô: từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau; mùa này khô, lạnh,
* Nhiệt độ: nhiệt độ trung bình 22,30c
3.1.4 Thủy văn
Thủy văn: Hệ thống các khe, suối tương đối rải đều, dòng chảy không lớn nhưng nước tương đối ổn định Tuy vậy ở khu Tá Kho Pá, Nậm Sin, Nậm Khum có biểu hiện thiếu nước phục vụ sản xuất Hiện tại đã xuất hiện hiện tượng suy kiệt các nguồn nước trên địa bàn toàn xã
Chế độ thủy văn: Các con suối chính đều bắt nguồn từ đỉnh núi cao, có
độ dốc lớn, lưu vực rộng; Do vậy về mùa mưa thường gây lũ đột ngột như bản Đoàn Kết, bản Nậm Khum thường xuyên bị lũ gây ngập lụt Lưu lượng giữa mùa mưa và mùa khô có độ chênh lệch lớn Về mùa khô nhiều nơi bị cạn kiệt nguồn nước
3.1.5 Tài nguyên khoáng sản
Theo tài liệu của cục địa chất Việt Nam khu vực có một số mỏ chủ yếu
là quặng thủy ngân và nguồn nước nóng, các điểm quặng mới chỉ rừng lại ở mức thăn dò sơ bộ, chưa có khảo sát đánh giá chất lượng
Tiềm năng về vật liệu xây dựng: Tại vùng có các mỏ đá vôi rải rác ở khu vực Đông ắc (bản Nậm Khum) Do phần lớn đất đai của vùng được phát triển trên nền đá dăm cuội kết và cát kết nên khả năng khai thác cát sỏi phục
vụ xây dựng khá lớn
Trang 303.1.6 Thổ nhưỡng và động thực vật
Tài nguyên đất của Chung Chải khá rộng về diện tích, phong phú và đa dạng về chủng loại Chính sự phong phú này cho phép hoạch định phát triển sản xuất nông lâm nghiệp theo hướng đa dạng tầng cây, đai rừng; đa dạng ngành nghề, đa dạng sản phẩm hàng hoá, kết hợp sản xuất nông lâm nghiệp với phát triển du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng Bên cạnh đó, sự phong phú
về chủng loại đất còn tạo điều kiện cho Chung Chải đa dạng về thảm thực vật
Rừng có nhiều loại gỗ quý (trai, nghiến, lim, lát, pơmu… , nhiều cây dược liệu (trầm hương, thiên niên kiện, sa nhân, đỗ trọng, hà thủ ô, tam thất… cây ăn quả, cây lấy nhựa và động vật qúi hiếm (hổ, báo, hươu, nai, gấu… Tỷ lệ che phủ rừng tính đến năm 2016 chiếm 46% diện tích tự nhiên, nhưng chủ yếu là rừng nghèo, rừng đang được bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh Tuy nhiên, rừng có cây che phủ khai thác không nhiều, nạn đốt phá rừng làm nương rẫy, hiện tượng cháy rừng vẫn xảy ra thường xuyên từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau
Diện tích sử dụng đất nông nghiệp ở xã rất ít, chủ yếu là trồng lúa
nương, trồng ngô, sắn trên đất dốc đất nhanh bị bạc màu trồng sau 3 năm phải bỏ hoang sau 5 năm lại quay lại trồng
Đối với rừng và đất rừng được phân ra làm 3 loại theo mục đích quản
lý và sử dụng khác nhau:
- Rừng bảo tồn (rừng đặc dụng) là loại được chọn ở những khu vực còn nguyên vẹn tổ thành rừng nguyên sinh và đa dạng về loài cả thực vật lẫn động
Trang 31vật, diện tích này chiếm 50,94 % của tổng diện tích tự nhiên Mục đích sử dụng của loại rừng này là bảo tồn nguyên vẹn, bảo tồn đa dạng sinh học Loại rừng này được cộng đồng người dân ưu tiên cấm tuyệt đối mọi tác động đến rừng
- Rừng phòng hộ chiếm tới 17,72 % tổng diện tích tự nhiên, rừng này phân bố rải rác khắp các vùng trong địa bàn từ nguồn nước đến các vùng đồi núi cao và vùng lân cận đất nông nghiệp và vị trí bản Mục đích quản lý và sử dụng là để phòng hộ bảo vệ nguồn nước, chống xói mòn và phòng hộ chắn gió…Rừng này được bản vệ nghiêm ngặt cấm các hoạt động có tác động đến rừng trừ trường hợp tác động để phục vụ lợi ích chung của cả bản và thu hái lâm sản
- Rừng sản xuất chiếm 18,38 % của tổng diện tích xã Chung Chải, được quy hoạch trồng các loại cây như: Kei tai Tượng, tre măng ngọt, trám trắng, tếch, sa nhân Rừng sản xuất để phục vụ lợi ích chung và lợi ích khác, thu hái lâm sản…
Đất trống chưa sử dụng gồm hai loại:
Đất chưa sử dụng hiện tại còn rất ít chiếm 0,046 % đất tự nhiên
Xã Chung Chải có diện tích ruộng nước 97,6 ha trong đó ruộng hai vụ
là 22 ha Lúa nương 940 ha Sản lượng thu được là 1.910,5 tấn thóc, bình quân đầu người được 310 kg/người/năm Toàn xã có 1.290 con trâu, 786 con bò, 80 con ngựa, 168 con Dê, 1.240 con lợn, 22.500 con gia cầm, 9 máy xát gạo cỡ nhỏ, 6 quầy bán hàng, 40 khung dệt thủ công, 64 xe đạp, 21 xe máy về thu nhập trong toàn xã là: 2.329.845.000 đồng, bình quân đầu người là 1.626.896
Trang 32đồng/người/ năm, thu nhập chủ yếu từ nông nghiệp, khai thác gỗ và lâm sản ngoài gỗ Ngoài ra, còn có thu nhập từ buôn bán nhỏ
3.2.2 Tình hình dân số, dân tộc và lao động
* Dân số và lao động: Theo số liệu thống kê và báo cáo (của các trưởng bản tính đến hết ngày 30/6/2013 xã Chung Chải có 1.303 hộ gia đình trong
đó hộ nghề nông nghiệp 1.300 hộ gồm có 900 hộ sản xuất lúa nước và làm nương, 300 hộ sản xuất lúa nương, và ba hộ phi nông nghiệp Toàn xã có 6.147 khẩu, trong đó nữ 3.092 khẩu và 3.072 lao động (bao gồm 27 cán bộ xã)
Số lao động trong xã tương đối lớn nhưng chủ yếu sản xuất nông lâm nghiệp trên diện tích của hộ gia đình thời gian nông nhàn chưa đi làm thêm để tăng thêm thu nhập 100% lao động chưa qua đào tạo Hiện tại năm 2013 xã thực hiện chương trình đào tạo nguồn nhân lực mới mở được 9 lớp tập huấn cho
540 học viên thôn bản về kiến thức nông – lâm nghiệp Thời gian thực hiện mỗi lớp 5 ngày nên chưa đem lại hiệu quả cao
3 3 Đường giao thông và thuỷ lợi
Đường giao thông: Đi lại trong khu vực hoàn toàn b ng đường bộ tuyến đường ô tô đường cấp 4) dài 4 km từ xã đi thẳng vào trung tâm huyện tạo điều kiện thuận lợi cho việc đi lại buôn bán, ngoài ra còn có 1 số đường
bộ (cấp 4, cấp 5 đi lại giao lưu với các bản lân cận
* Thuỷ lợi: Cả xã có 5 đập, trong đó có 1 đập bê tông cỡ nhỏ do dự án
135 đầu tư xây dựng và có 12 đập tạm thời do dân tự làm có khả năng tưới tiêu trong vụ hè thu gần 97,6 ha và vụ đông xuân 22 ha Nhưng so với yêu cầu thực tế và tiềm năng về diện tích nông nghiệp với nguồn nước phục vụ sản xuất vẫn còn hiện tượng thiếu nước sản xuất vào thời điểm ít mưa
Nhà nước cần chú ý đầu tư thêm các tuyến đường từ xã xuống bản các công trình thủy lợi để góp phần cho nền sản xuất hàng hoá nông nghiệp ngày càng phát triển
Trang 333 4 Điện, nước sinh hoạt
Điện: Điều hạn chế lớn nhất hiện nay là xã chưa có điện lưới quốc gia, nên mọi hoạt động và phương tiện thông tin khác như ti vi, video, đều phải dùng máy nổ, máy phát điện nhờ nước, dẫn tới kìm hãm sự phát triển kinh tế
xã hội
Nước sinh hoạt: Hiện tại nhân dân trong bản sử dung hệ thống nước sạch do dự án nước sạch nông thôn vào năm 2008 Nhưng chỉ đáp ứng được 1/3 đân số của xã 8/9 bản chưa có nước sạch chủ yếu dùng nước từ các khe suối chẩy qua bản
3.2.5 Y tế, ăn hoá, giáo dục
* Y tế: Sử dụng dịch vụ y tế chủ yếu là bệnh viện đa khoa của huyện ngoài ra bản còn có một số cộng tác viên dân số, kế hoạch hoá gia đình, sinh
đẻ để chăm lo sức khỏe của bà mẹ, trẻ sơ sinh phụ trách kế hoạch hoá gia đình trong bản
Văn hoá: Nhân dân xã Chung Chải mang đậm bản xắc dân tộc miền núi với l hội truyền thống: L cúng bản, l cúng cơm mới…
* Giáo dục: Chung Chải là xã mới được thành lập nên hệ thống giáo dục đào tạo còn nhiều khó khăn, trong xã chỉ có 1 trường phổ thông cấp một 6 phòng trong đó có 1 trường mẫu giáo, 5 phòng học dành cho tiểu học cấp một Có một trường phổ thông trung học cơ sở có 4 phòng học Tổng số học sinh trong xã có 350 em (nữ 150 em , trong đó: mẫu giáo 35 em (nữ 18 em), tiểu học 155 em (nữ 76 em ), cấp 2 (160 em), nữ 79 em Số giáo viên giảng dậy 20 giáo viên, có 3 cô mẫu giáo, cấp một 8 giáo viên trong đó có 3 nữ, dậy cấp 2 có 9 giáo viên trong đó có 3 nữ) Các bản mới chỉ có 1 lớp mẫu giáo và
1 lớp ghép 1+2 Về cơ sở vật chất giáo dục còn nhiều vấn đề tồn tại khó khăn thiếu dụng cụ giảng dậy cả cấp 1 lẫn cấp 2, thiếu phòng học, phòng học tại các điểm bản chủ yếu là nhà tạm Con em trong xã chủ yếu về huyện học trường nội trú và trừng bán chú dân nuôi