37 Biểu 4.14: Sinh trưởng đường kính Dt Keo lai hom trồng thuần loài 4 tuổi tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn.. Trong quá trình nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP VIỆT NAM
KHOA LÂM HỌC -o0o -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ SINH TRƯỞNG CỦA HAI MÔ HÌNH KEO LAI
ĐỘI LÂM NGHIỆP LƯƠNG SƠN, HUYỆN LƯƠNG SƠN,
Hà Nội, 2020
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian thực tập và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học, ngoài
sự cố gắng của bản thân, tôi còn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của các cá nhân trong và ngoài trường
Qua đây tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới toàn thể các thầy, cô giáo trong khoa Lâm học cùng các thầy, cô giáo trong trường Đại học Lâm nghiệp đã dìu dắt, dạy dỗ tôi trong quá trình học tập tại trường
Tôi bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc nhất tới cô giáo ThS Trần Thị Yến, người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực tập
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của ban giám đốc, phòng kỹ thuật cùng toàn thể cán bộ làm việc tại Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình và Đội Lâm nghiệp Lương Sơn đã tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành nội dung đề tài này
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản đề tài của tôi không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy tôi rất mong có được sự góp ý của các thầy cô và bạn bè
để khóa luận của tôi được hoàn thiện tốt hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày …… tháng …… Năm 2020
Sinh viên
Nghiêm Thế Trường
Trang 3MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
DANH MỤC ẢNH
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN I: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.Đặc điểm cây Keo lai 3
1.1.1 Đặc điểm hình thái 3
1.1.2 Đặc điểm sinh thái 3
1.1.3 Phân bố địa lý 3
1.1.4 Giá trị kinh tế 3
1.2 Những nghiên cứu về cây Keo lai 4
1.2.1 Những nghiên cứu về Keo lai trên thế giới 4
1.2.2 Nghiên cứu về Keo lai ở Việt Nam 5
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 13
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 13
2.2 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu 13
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu 13
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu 13
2.3 Nội dung nghiên cứu 13
2.3.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của hai mô hình rừng trồng 13
2.3.2 Xác định trữ lượng và tăng trưởng của hai mô hình rừng 13
2.3.3 Đánh giá chất lượng sinh trưởng hai mô hình nghiên cứu 13
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp Lâm Sinh 13
2.4 Phương pháp nghiên cứu 13
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu: 13
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp 14
2.4.3 Nội nghiệp 15
Trang 4PHẦN III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI KHU VỰC NGHIÊN
CỨU 18
3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu 18
3.1.1 Vị trí địa lý 18
3.1.2 Địa hình 18
3.1.3 Khí hậu 18
3.1.4 Thủy văn 18
3.1.5 Nguồn tài nguyên thiên nhiên 19
3.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội 19
3.2.1 Dân số và lao động 19
3.2.2 Đặc điểm kinh tế 20
3.2.3 Giáo dục và đào tạo 20
3.2.4 Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân 20
3.3 Lịch sử rừng trồng 20
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
4.1 Đặc điểm về sinh trưởng của Keo lai tại hai mô hình nghiên cứu 23
4.1.1 Sinh trưởng về đường kính ngang ngực(D1,3) 23
4.1.2 Sinh trưởng về chiều cao vút ngọn (Hvn) 28
4.1.3 Sinh trưởng về đường kính (Dt) 34
4.2 Trữ lượng và lượng tăng trưởng hằng năm 42
4.3 Chất lượng rừng trồng 45
4.3.1 Chất lượng rừng trồng Keo lai mô 45
4.3.2 Chất lượng rừng trồng Keo lai hom 47
4.3.3 So sánh chất lượng rừng trồng giữa hai Keo lai mô và Keo lai hom 49
4.4 Đề xuất một số giải pháp lâm sinh 50
4.4.1 Các giải pháp chung cho cả 2 mô hình 50
4.4.2 Các giải pháp cho loài Keo lai hom 51
4.4.3 Các giải pháp cho loài Keo lai mô 51
PHẦN V: KẾT LUẬN – TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ BIỂU 56
Trang 6DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Biểu 01: Biểu điều tra tầng cây cao 15
Biểu 3.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng Keo lai hom và Keo lai mô tại Công ty Lâm Nghiệp Hòa Bình 20
Biểu 4.1: Sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình 23
Biểu 4.2: Sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 24
Biểu 4.3: Sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình 25
Biểu 4.4: Sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai hom trồng thuần loài 4 tuổi tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 26
Biểu 4.5: So sánh sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai mô và Keo lai hom trên cùng một vị trí địa hình 27
Biểu 4.6: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn Hvn Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình 29
Biểu 4.7: Sinh trưởng chiều cao vút ngọn Hvn Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 29
Biểu 4.8: Sinh trưởng chiều cao Hvn Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình 31
Biểu 4.9: Sinh trưởng chiều cao Hvn Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 31
Biểu 4.10: Sinh trưởng Hvn Keo lai mô và Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình 33
Biểu 4.11: Sinh trưởng đường kính tán Dt Keo lai mô tại 35
2 vị trí địa hình 35
Biểu 4.12: Sinh trưởng đường kính tán Dt Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 35
Biểu 4.13: Sinh trưởng đường kính Dt Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình 37
Biểu 4.14: Sinh trưởng đường kính Dt Keo lai hom trồng thuần loài 4 tuổi tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 37
Biểu 4.15: Sinh trưởng đường kính tán Keo lai mô và Keo lai hom trên cùng một vị trí địa hình 38
Biểu 4.16: Trữ lượng loài Keo lai mô tuổi 4 và Keo lai hom tuổi 4 tại hai vị trí địa hình 42
Trang 7Biểu 4.17: Trữ lượng bình quân và lượng tăng trưởng bình quân của loài Keo lai
mô và Keo lai hom tại hai vị trí địa hình 43Biểu 4.18: Chất lượng sinh trưởng rừng Keo lai mô 4 trên 45
2 vị trí địa hình 45Biểu 4.19: Chất lượng sinh trưởng rừng Keo lai mô sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 46Biểu 4.20: Chất lượng sinh trưởng rừng Keo lai hom trên 47
2 vị trí địa hình 47Biểu 4.21: Chất lượng sinh trưởng rừng Keo lai hom sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn 48Biểu 4.22: Chất lượng sinh trưởng của Keo lai mô và Keo lai hom tại cùng một
vị trí địa hình 49
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 01: Sinh trưởng đường kính D1.3 Keo lai mô và Keo lai hom trên cùng
một vị trí địa hình 24
Biểu đồ 02: Sinh trưởng Hvn Keo lai mô và Keo lai hom tại 2 vị trí địa hình 30
Biểu đồ 03: Sinh trưởng đường kính tán loài Keo lai mô và Keo lai hom trên 2 vị trí địa hình 36
Biểu đồ 04: Trữ lượng hai loài Keo lai mô và Keo lai hom tại cùng 44
một vị trí địa hình 44
DANH MỤC ẢNH Ảnh 1: Keo lai hom thuần loài tuổi 4 tại vị trí sườn đỉnh 40
Ảnh 2: Keo lai hom thuần loài tuổi 4 tại vị trí chân sườn 41
Ảnh 3: Keo lai mô thuần loài tuổi 4 tại vị trí sườn chân 41
Ảnh 4: Keo lai mô thuần loài tuổi 4 tại vị trí Sườn đỉnh 42
Trang 91
ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là một tài sản vô cùng to lớn của nền kinh tế quốc dân, nó không những cung cấp gỗ, củi các loại lâm sản sử dụng thông thường, nó còn có tác dụng phòng hộ, bảo vệ môi trường, lá phổi xanh cho cuộc sống của con người, giá trị của rừng rất to lớn Nhưng do trình độ quản lý và nhận thức của nhiều người còn hạn chế nên diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp đến mức báo động, từ đó môi trường sống của nhiều loài sinh vật và của cả con người đang dần bị đe dọa Cùng với thời gian, con người nhận ra vai trò không thể thay thế được của rừng trong việc duy trì cân bằng sinh thái, bảo vệ nguồn nước, hạn chế lũ lụt, hạn hán, chống xói mòn, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế quốc dân về gỗ, củi, nguyên liệu cho các ngành công nghiệp đang ngày càng gia tăng
Trong hơn thập kỉ qua việc trồng rừng kinh tế đã được chú trọng Những loài cây trồng rừng kinh tế chủ yếu đó là những loài cây cho năng suất cao như Keo, bạch đàn,… cây Keo được trồng phổ biến nhất gồm các loài: Keo lai, Keo tai tượng, Keo lá tràm, đang được phát triển rộng rãi bởi tính ưu việt của nó Những năm gần đây, việc đưa cây Keo lai trồng ở nước ta mang lại hiệu quả kinh
tế cao đã mở ra hướng phát triển kinh tế cho người dân Cây Keo lai được đưa vào trồng vừa rút ngắn chu kỳ kinh doanh, vừa cho hiệu quả kinh tế cao, cải thiện môi trường tốt
Hiện nay cây Keo lai đã và đang được nhân giống theo nhiều phương pháp Các nhà khoa học Việt Nam đã nhân được nhiều dòng khác nhau bằng nhiều phương pháp nhân giống khác nhau Tuy nhiên khi đưa cá dòng giống vào sản xuất cần được khảo nghiệm trên từng địa phương hoặc các điều kiện lập địa khác nhau
Đội Lâm nghiệp Lương Sơn thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình nằm trên địa phận huyện Lương Sơn – tỉnh Hòa Bình Một trong số những loài cây trồng chủ yếu tại đây là Keo lai Trong đó có 2 phương pháp tạo cây con được áp dụng với loài Keo lai là giâm hom và nuôi cấy mô Để góp phần tìm hiểu, nghiên cứu thêm về loài Keo lai cũng như tìm hiểu khả năng sinh trưởng của 2 phương
Trang 102
pháp tạo giống khác nhau, từ đó làm cơ sở đề xuất các biện pháp kỹ thuật để gây
trồng loài Keo lai tại khu vực Tôi tiến hành thực hiện đề tài “Đánh giá sinh
trưởng của hai mô hình Keo lai ( acacia mangium x acacia auriculiformis ) tại Đội Lâm nghiệp Lương Sơn, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình”
Trang 11đường kính có thể đạt tới 60 – 80cm Thân tròn thẳng, tán rộng phân cành thấp,
vỏ màu xám nâu nứt dọc Cây con dưới một tuổi lá kép lông chim hai lần, cây trưởng thành lá đơn hình trái xoan dài hoặc hình ngọn giáo, đầu tù men thao cuống, phiến lá dày nhẵn, có 3 – 5 gân dọc gắn song song chụm lại ở đuôi lá, các gân nhỏ song song xen giữa các gân chính Hoa tự bông dài mọc lẻ hay mọc tập trung ở nách lá hay ở đầu cành Hoa đều lưỡng tính mẫu 4, tràng hoa màu vàng, nhị hoa thường vươn dài ra ngoài hoa Quả đậu xoắn, hạt hình trái xoan, hơi dẹt, màu đen Rễ cây mọc rộng có nhiều nốt sần cố định đạm
1.1.2 Đặc điểm sinh thái
Keo lai là cây mọc nhanh ở vùng Đông Nam Bộ sau 5 năm tuổi Keo lai có khả năng sinh trưởng nhanh cả về đường kính và chiều cao, đường kính trung bình
có thể đạt tới 16,9m Keo lai là loài cây ưa sáng, sống được ở nơi có nhiệt độ bình quân là 220C tối thích là 24 – 280C và giới hạn là 400C, lượng mưa 1500 – 2500mm/năm Đất đai chủ yếu trồng trên các loại đất Feralit tầng dày tối thiểu 75cm, đất phù sa cổ, đất xám bạc màu… Mùa ra hoa quả gần như quanh năm
1.1.3 Phân bố địa lý
Keo lai đã xuất hiện trong các rừng Keo tai tượng vào đầu những năm
1990 ở một số vùng ở nước ta, sau đó được gây trồng để lấy giống ở Ba Vì, Hà Tây Ở nước ta cây Keo lai được gây trồng rộng rãi trên toàn quốc những năm gần đây
1.1.4 Giá trị kinh tế
Keo lai thuộc họ đậu nên có tác dụng cải tạo đất tốt, chống xói mòn Gỗ thằng màu trắng có vân, có lõi giác phân biệt, gỗ có tác dụng nhiều mặt: Kích thước nhỏ làm nguyên liệu giấy, kích thước lớn sử dụng trong xây dựng, đóng đồ
Trang 124
mỹ nghệ, hàng xuất khẩu Gỗ cho nhiệt lượng cao có thể sử dụng làm củi hoặc than chạy máy Cây có hình dáng đẹp có thể trồng làm rừng phong cảnh Ngoài
ra lá có thể làm thức ăn gia súc như dê, hươu,…
1.2 Những nghiên cứu về cây Keo lai
1.2.1 Những nghiên cứu về Keo lai trên thế giới
Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) là tên gọi tắt để chỉ giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng (Acacia mangium) và Keo lá tràm (Acacia auriculiformis) Giống lai tự nhiên này được Messrs Herburn và Shim phát hiện đầu tiên vào năm 1972 trong số các cây Keo tai tượng trồng ven đường ở Sook Teluid thuộc bang Sabah của Malaysia Sau này Tham (1976) cũng coi đó là giống lai Đến tháng 7 năm 1978, sau khi xem xét các mẫu tiêu bản tại phòng tiêu bản thực vật ở Queensland (Australia) được gửi đến từ tháng 1 năm 1977 Pedgley đã xác nhận đó là giống lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm (Lê Đình Khả, 1999)[3]
Theo Lê Đình Khả và các cộng sự, các nghiên cứu về Keo lai và các biện pháp kĩ thuật lâm sinh áp dụng cho trồng rừng Keo lai còn hạn chế, chưa đồng bộ Mặc dù từ năm 1980 trở lại đây, Keo lai đã được phát hiện và đã có một số ít công trình nghiên cứu nhưng mới tập trung chủ yếu vào công tác khảo nghiệm, chọn dòng sinh trưởng nhanh và có năng suất cao như ở Malaysia, Australia, Papua New Guinea, Thailand, Taiwan, China, Indoaesia
Keo lai tự nhiên được phát hiện ở Papua New Guinea (Turnbull, 1986, Griffin, 1988) ở Malaysia và Thái Lan (Kijkar, 1992) Keo lai còn được tìm thấy
ở vườn ươm Keo tai tượng (lấy giống từ Malaysia) tại trạm nghiên cứu Jon-Pu của Viện nghiên cứu lâm nghiệp Quảng Châu – Trung Quốc (dẫn theo Lê Đình Khả, 1999)[3]
Keo lai tự nhiên có thể xuất hiện với tỉ lệ 3 – 4 cây/ha, hoặc với tỉ lệ 1 Keo lai: 500 Keo tai tượng Còn trong vườn ươm Keo lá tràm (trong trường hợp này Keo lá tràm làm mẹ), tỉ lệ Keo lai xuất hiện là 6,8 – 10,3% cá biệt có thể đến 22,5% (Gan và Sim Boon Liang, 1988)
Trang 135
Đánh giá Keo lai tại Sabah một cách tổng hợp Pinso và Nasi (1991), thấy cây lai có ưu thế lai và ưu thế lai này có thể chịu sự ảnh hưởng của các yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập địa Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F1 tốt hơn xuất xứ Sabah của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ tại ngoại lai như Oriomo (Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queensland, Australia), còn sinh trưởng của những cây đời F2 trở đi thì không đồng đều so với vị trí trung bình và còn kém hơn cả Keo tai tượng, mặc đầu một số cây xuất sắc có khá hơn
Khi đánh giá các chỉ tiêu chất lượng của cây Keo lai Pinso và Nasi (1991) thấy rằng độ thẳng thân, đoạn thân dưới cành, độ trong đều của thân, vv…
ở cây Keo lai đều tốt hơn hai loài Keo bố mẹ và cho rằng Keo lai rất phù hợp cho trồng rừng thương mại Cây Keo lai còn có ưu điểm là có đỉnh ngọn sinh trưởng tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tự nhiên tốt (Pinyopusarerk, 1990)
Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom (Griffin, 1988) hoặc nuôi cấy mô bằng môi trường cơ bản Murashige và Skooge (MS) có thêm BAP 0,5 mg/l và cho rễ trong phong hoặc nền cát sống 100% và khả năng ra rễ đến 70% (Darus, 1991) và sau một năm cây mô có thể cao 1,09m
Trong quá trình nghiên cứu đánh giá sinh trưởng của rừng trồng Keo lai, hầu hết các nghiên cứu đều dựa vào quá trình sinh trưởng của các nhân tố đường kính, chiều cao và thể tích thân cây Mối quan hệ giữa sinh trưởng đường kính với sinh trưởng chiều cao thường chỉ được quan tâm trong nghiên cứu quy luật sinh trưởng cây rừng Trong các nghiên cứu này hầu hết các tác giả đều khẳng định giữa chiều cao và đường kính có tương quan từ chặt đến rất chặt và được mô phỏng theo các hàm toán cụ thể
1.2.2 Nghiên cứu về Keo lai ở Việt Nam
Ở Việt Nam, giống lai tự nhiên giữa Keo lai lá tràm (Acacia auriculiformis) với Keo tai tượng (Acacia mangium) lần đầu tiên được phát hiện
là năm 1992 Những cây lai này được phát hiện tại các vùng như Tân Tạo, Sông Mây, Trị An, Trảng Bom ở Đông Nam Bộ và Ba Vì (Hà Tây), Phú Thọ, Hòa Bình,
Tuyên Quang… ở Bắc Bộ (Lê Đình Khả, 1999)[3]
Trang 14là các dòng, BV10, BV16, BV29, BV32
Nghiên cứu tiềm năng bột giấy từ gỗ Keo lai cho thấy, gỗ Keo lai có tỉ trọng trung gian giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm và có khối lượng gỗ gấp 3 – 4 lần hai loài Keo bố mẹ Các dòng Keo lai được chọn có tỉ trọng gỗ và có tính co rút của gỗ khác nhau Trong đó các dòng BV32, BV33 có tỉ trọng gỗ cao nhất, còn dòng BV16 có gỗ không bị nứt khi phơi khô (Lê Đình Khả, Lê Phúc Quang, 1997)[4] Một số dòng Keo lai được chọn có hàm lượng xenlulo cao hơn hai loài Keo bố mẹ và Bạch đàn caman Ở giai đoạn 5 tuổi dòng BV33 có hàm lượng xenlulo cao nhất, tiếp đó là các dòng BV10 và BV5 Đặc biệt dòng BV10 có hàm lượng xenlulo cao vừa có hàm lượng lignin thấp nhất, ở mức đúng kiểm 20% và 22% Đây là dòng có hiệu xuất bột giấy cao nhất, tiếp theo là các dòng BV5, BV16
và BV29
Nghiên cứu cũng cho thấy, giấy được sản xuất từ các dòng Keo lai có độ dài và độ chịu gấp cao hơn rõ rệt so với hai loài Keo bố mẹ và bạch đàn Độ trắng
và hiệu suất tẩy trắng của các dòng Keo lai cơ bản giống với hai loài Keo bố mẹ
và bạch đàn (E camaldulensis) Với các tính chất ưu việt trên, Keo lai là một giống cây mới có triển vọng gây trồng để sản xuất bột giấy và cong có tác dụng cải tạo đất (Lê Đình Khả, Lê Quang Phúc, 1997)[4]
Nghiên cứu của Lê Đình Khả và cộng sự (1997[5] còn cho thấy không nên dùng hạt của Keo lai để gây trồng rừng mới Keo lai đời F1 có hình thái trung gian giữa hai loài Keo bố mẹ và tương đối đồng nhất, đồng thời có ưu thế lai rõ rệt về
Trang 157
sinh trưởng và nhiều đặc trương ưu việt khác Đến đời F2 Keo lai có biểu hiện thoái hóa và phân ly khá rõ rệt thành các dạng cây khác nhau Cây lai F2 không những sinh trưởng kém hơn cây lai đời F1 mà còn có biến động lớn về sinh trưởng Như vậy, để phát triển giống Keo lai vào sản xuất phải dùng phương pháp nhân giống hoặc nuôi cấy mô cho những dòng Keo lai tốt nhất đã được chọn lọc và đánh giá qua khảo nghiệm
Nghiên cứu chọn lọc cây trội, nhân giống và bước đầu khảo nghiệm dòng
vô tính Keo lai ở Đông Nam Bộ do Phạm Văn Tuấn, Lưu Bá Thịnh, Phạm Văn Chiến tiến hành (1995, 1998, 1999)[12], cho thấy hom chồi của Keo lai hom tỉ lệ
ra rễ cao nhất nếu được giâm từ tháng 5 đến tháng 7 và được xử lý bằng IBA dạng bột, nồng độ 0,7% và 0,1% Trong đó các cá thể Keo lai khác nhau có tỉ lệ ra rễ của hom giâm là khác nhau Còn qua khảo nghiệm dòng vô tính thấy rằng chỉ có một số dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh hơn so với Keo lá tràm và Keo tai tượng
Từ kết quả nghiên cứu đã chọn được các dòng Keo lai số 3, số 5, số 6 và
số 12 có sinh trưởng nhanh có thể nhân giống đại trà cho rừng sản xuất ở Đông Nam Bộ và các địa phương có điều kiện lập địa tương tự Tuy vậy, từ số liệu thu được của các tác giả trên mới thấy dòng số 6 là thực sự có sinh trưởng nhanh trong các năm vì thế cần được khảo nghiệm lại mới thấy được giá trị thực sự của chúng (Lê Đình Khả, 1999)[3] Kết quả nghiên cứu sau này cũng cho thấy dòng số 6 là dòng có sinh trưởng nhanh nhất trong các dòng Keo lai được chọn lọc ở Đông Nam Bộ (Nguyễn Đình Hải, 2002)
Kết quả khảo nghiệm giống Keo lai tự nhiên giữa Keo tai tượng và Keo lá tràm của Lê Đình Khả, Nguyễn Đình Hải, Hồ Quang Vinh (1996, 1997[2] cho thấy ở gian đoạn năm 4 tuổi, cây hom ở đời lai F1 có thể tích gấp 1,6 – 2 lần Keo tai tượng và 3 – 4 lần Keo lá tràm Tốc độ sinh trưởng của cây hom Keo lai đời F1 nhanh hơn cây hạt và cây hom của những xuất xứ sinh trưởng nhanh nhất trong các loài Keo bố mẹ và chúng vẫn được duy trì ở giai đoạn 4 năm tuổi và tiếp tục sinh trưởng nhanh sau một năm
Trang 168
Nghiên cứu cho thấy, có sự khác biệt rõ rệt về tốc độ sinh trưởng, chất lượng thân cây và tỉ trọng của gỗ giữa các dòng Keo lai được khảo nghiệm Kết quả từ khảo nghiệm dòng vô tính đã chọn được một số dòng Keo lai có thể tích thân cây cao nhất, chất lượng thân cây tốt nhất và có tỉ trọng gỗ tương đối cao Ngoài ra, nghiên cứu về nhân giống hom Keo lai của Lê Đình Khả, Đoàn Thị Bích, Nguyễn Đình Hải (1999)[12], cho thấy những dòng Keo lai có sinh trưởng nhanh và chất lượng tốt đã được khảo nghiệm và đánh giá cho thấy Indo Butiric Axit (IBA) dạng bột (tức TTG1) nồng độ 0,75% là loại thuốc kích thích ra rễ thích hợp nhất cho Keo lai Dùng TTG1 0,75% có thể cho ra tỉ lệ rễ trung bình 86,6 – 93,3%
Nghiên cứu của Nguyễn Ngọc Tân, Trần Hồ Quang, Ngô Thị Minh Duyên, Đoàn Thị Mai (1995,1998)[4] về nuôi cấy mô cho Keo lai thấy rằng, có thể nhân nhanh Keo lai bằng phương pháp nuôi cấy mô trong môi trường MS với BAP 2mg/l thì số chồi nhân lên 20 – 21 lần và có thể cho các chồi ra rễ bằng biện pháp giâm hom thông thường trên các nền cát song được phun sương trong nhà kính Nghiên cứu của các tác giả trên đã xác định được môi trường thích hợp và
tỉ lệ thích hợp các nguyên tố đa lượng, tỉ lệ các chất kích thích sinh trưởng, cũng như điều kiện môi trường tốt nhất (chế độ nhiệt, cường độ chiếu sáng) cho nuôi cấy mô Keo lai Sau này Lê Đình Khả và cộng sự ở Malaysia thí nghiệm giâm trực tiếp mô trên nền cát song sau một tháng giâm cây mô tỉ lệ ra rễ 95 – 100%, sau hai tháng giâm cây ra rễ vẫn giữ được khoảng 80 – 100% (Lê Đình Khả và cộng sự, 2001)
Nghiên cứu giống Keo lai và vai trò của các biện pháp thâm canh khác trong tăng năng suất rừng trồng của Lê Đình Khả, Hồ Quang Vinh (1998)[6] thấy rằng cái thiện giống và các biện pháp kỹ thuật thâm canh khác đều có vai trò quan trọng trong tăng năng suất rừng trồng Muốn tăng năng suất rừng trồng cao nhất phải áp dụng tổng hợp các biện pháp cái thiện giống và các biện pháp thâm canh khác Kết hợp giữa giống được cải thiện với các biện pháp kĩ thuật trồng rừng thâm canh mới tạo được năng suất ca trong sản xuất lâm nghiệp Các giống Keo lai đã được chọn lọc qua khảo nghiệm có năng suất cao hơn rất nhiều so với bố
Trang 179
mẹ Ví dụ ở Cẩm Quỷ (Ba Vì – Hà Tây) khi được trồng ở điều kiện thâm canh (có cày đất và bón phân thích hợp) thì ở giai đoạn 2 năm tuổi Keo lai có thể tích thân cây 19,6 dm3/cây, ở công thức quảng danh có thể tích thân cây 4,7 dm3/cây Trong lúc các loài Keo bố mẹ trồng cùng điều kiện thâm canh như vậy thể tích thân cây chỉ đạt 2,7 – 6,1 dm3/cây, còn ở công thức quảng canh thì chỉ đạt thể tích thân cây 0,6 – 1,2 dm3/cây
Nghiên cứu nốt sần và khả năng cải tạo đất của Keo lai và hai loài Keo bố
mẹ của Lê Đình Khả, Ngô Đình Quế, Nguyễn Đình Hải (1999)[7] cho thấy Keo
lá tràm và Keo tai tượng là những loài có nốt sần chứa vi khuẩn cố định nito tự
do Nốt sần của cây Keo lá tràm chứa các loài vi khuẩn cố định nito tự do rất đa dạng, nốt sần của Keo tai tượng chứa vi khuẩn cố định nito tự do có tính chất chuyển hóa Sau khi được nhiễm khuẩn 1 năm ở vườn ươm những công thức được nhiễm khuẩn ở cây Keo tai tượng có tăng trưởng nhanh hơn so với cấy Keo lá tram, tăng trưởng của cây Keo lai được nhiễm khuẩn có tính chất trung gian giữa hai loài bố mẹ
Trong điều kiện tự nhiên ở giai đoạn vườn ươm 3 tháng tuổi số lượng và khối lượng nốt sần trên rễ của Keo lai nhiều gấp 3 – 10 lần hai loài Keo bố mẹ
Số lượng tế bào vi khuẩn cố định nitơ tự do trong bầu đất của Keo lá tràm nhiều hơn Keo tai tượng Một số dòng Keo lai có số lượng vi khuẩn cố định nitơ tự do hơn các loài Keo bố mẹ, một số loài khác có tính chất trung gian Đặc biệt dưới tán rừng Keo lai 5 tuổi, số lượng vi sinh vật và số lượng vi khuẩn cố định nito tự
do trong một gram đất cao hơn rõ rệt so với đất dưới tán rừng Keo tai tượng và Keo lá tràm Vì thế dưới tán rừng Keo lai được cải thiện hơn dưới tán rừng hai loài Keo bố mẹ và cả tính chất lý tính, hóa tính lẫn số lượng vi sinh vật đất
Kết quả điều tra rừng trồng sản xuất tại các tỉnh Thái Nguyên, Quảng Trị, Gia Lai và Bình Dương của Đoàn Hải Nam (2003)[1] cho thấy chất lượng sinh trưởng của rừng trồng Keo lai sau 5 năm và 15 tháng tuổi có tỉ lệ sống cao, bình quân đạt 89%, chất lượng về cây trồng thể hiện rõ nét và cao, tỉ lệ cây tốt đạt 88,5%, trong khi tỉ lệ cây xấu chỉ bình quân là 4,5%, tốc độ sinh trưởng nhanh và
có thể trồng rừng Keo lai được nhiều vùng trong cả nước
Trang 1810
Nghiên cứu về đặc điểm sinh trưởng của Keo lai và tuổi thành thục công nghệ của rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ của Nguyễn Huy Sơn và các cộng sự năm 2005[9], cho thấy sau 5 năm tuổi, Keo lai sinh trưởng nhanh, tăng trưởng bình quân về đường kính đạt từ 2,38 – 2,52 cm/năm và về chiều cao đạt từ 3,14 – 5,6/năm Năng suất bình quân đạt từ 27 – 36 m3/ha/năm Số lượng cây có hai thân ở một số dòng xuất hiện nhiều trên một đơn vị diện tích và có ý nghĩa lớn trong việc nâng cao năng suất rừng trồng công nghiệp
Nghiên cứu trồng rừng Keo lai trên hai loại đất khác nhau ở vùng Đông Nam Bộ, Phan Thế Dũng và cộng sự (2004) [10] đã chỉ ra rằng các loại đất khác nhau thì sinh trưởng cũng khác nhau, mặc dù được áp dụng các biện pháp kỹ thuật, nhưng trên đất nâu đỏ Keo lai sinh trưởng tốt hơn trên đất xám phù sa cổ
Quan hệ giữa năng suất trồng rừng công nghiệp với điều kiện lập địa trong vùng nhất định đã được Đỗ Đình Sâm (2001) [11] nghiên cứu và kết luận năng suất rừng trồng và lập địa gây trồng có mối quan hệ mất thiết với nhau
Trong báo cáo khoa học “Một số cây gỗ có năng suất cao cho vùng Đồng
Bằng Bắc Bộ và phương thức nhân giống thích hợp” cho thấy muốn có năng suất
cao phải có giống tốt, trồng đúng dạng lập địa và áp dụng đồng bộ các biện pháp thâm canh khác (Lê Đình Khả, Hà Huy Thịnh, Đoàn Thị Mai, 2003)[8]
Nghiên cứu khả năng sinh trưởng của rừng trồng Keo lai các dòng (BV10, BV15, BV16, TB5, TB12) và dòng đối chứng Keo tai tượng, Keo lá tràm, ở giai đoạn 5 – 7 tuổi được trồng khảo nghiệm tại Đồng Nai, Tuyên Quang, Hòa Bình,
Hà Tây và Vĩnh Phúc với mật độ trồng ban đầu là 1650 cây/ha của Lê Đình Khả
và Đoàn Ngọc Giao (2004)[13] cho thấy những lập địa tốt sau 6 – 7 năm, với mật
độ hiện còn là 800 – 1200 cây/ha Keo lai có thể đạt năng suất 40 – 45m3/ha/năm, trong khi đó Keo tai tượng đạt 20 m3/ha/năm và Keo lá tràm chỉ đạt 10 m3/ha/năm, Keo tai tượng và Keo lá tràm năng suất dưới 10 m3/ha/năm
Nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ, biện pháp tỉa cành và bón phân đến sinh trưởng của Keo lai trồng sau 1 năm tuổi ở Quảng Trị của Nguyễn Huy Sơn
và cộng sự (2004)[12] cho thấy ở các công thức mật độ khác nhau Keo lai có khả năng sinh trưởng khác nhau và ở mật độ trồng 1.330 cây/ha và 2.500 cây/ha
Trang 1911
Khi đánh giá năng suất rừng trồng Keo lai ở vùng Đông Nam Bộ, Phạm Thế Dũng và cộng sự (2004)[10], đã khảo sát trên 4 mô hình trồng khác nhau là 952; 1.111; 1.142 và 1.666 cây/ha Kết quả cho thấy sau 3 năm trồng năng suất đối với Keo lai ở khu vực Đông Nam Bộ nên trồng trong khoảng mật độ 1.111 – 1.666 cây/ha là thích hợp nhất
Khi nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến năng suất rừng trồng Keo lai tại tỉnh Thừa Thiên Huế, Hồ Thanh Hà (2013), đã chỉ ra 5 nhân tố điều kiện địa hình (loại đất, độ dày tầng đất, thành phần cơ giới đất, độ dốc và độ cao), 2 nhân
tố khí hậu (tổng lượng mưa, nhiệt độ trung bình năm) đều có ảnh hưởng rõ rệt đến năng suất rừng trồng Keo lai trên bản địa Thừa Thiên Huế
Trong chương trình đề tài cấp Bộ về điều tra tình hình sâu bệnh hại vườn ươm và rừng trồng do cục kiểm lâm thực hiện năm 2003 đã đánh giá Keo lai có khả năng chống chịu sâu bệnh hại tốt hơn loài Keo tai tượng và một số cây trồng rừng chính khác
Khi đánh giá phương thức luân canh bạch đàn – Keo nhằm cải tjao đất và nâng cao năng suất rừng trồng thuộc đề tài cấp Bộ của Hoàng Minh Giám (2000
- 2002) và Phạm Đức Chiến (2002 - 2004) và các cộng sự (2005)[14] đã kết luận các loại rừng Keo (đặc biệt Keo tai tượng và Keo lai) hằng năm trả lại cho đất một lượng cành khô, lá rụng lơn hơn 1,3 – 2 lần so với các loài bạch đàn khác
Kết quả nghiên cứu cho thấy về đặc điểm, tính chất gỗ Keo lai cho công nghiệp chế biến gỗ (ván nhân tạo và bột giấy) tại một số vùng sinh thái khác nhau của Nguyễn Văn Thiết (2002)[15] cho thấy gỗ Keo lai có thể áp dụng tốt các chỉ tiêu yêu cầu của nguyên liệu sản phẩm ván ghép thanh
Nghiên cứu sử dụng gỗ Keo lai làm nguyên liệu sản xuất ván dăm theo Nguyễn Trọng Nhân (2003)[15] các sản phẩm ván dăm từ nguyên liệu gỗ Keo lai ở các độ tuổi khác nhau đều đáp ứng được yêu cầu loại ván 1A trong tiêu chuẩn nghành 04TCN2 – 1999
Nghiên cứu hoàn thiện công nghệ sản xuất chế phẩm Rhizobium cho Keo lai, Keo tai tượng ở vườn ươm và rừng non nhằm nâng cao năng suất rừng trồng của Lê Quốc Huy, Nguyễn Minh Châu (2001)[12] cho thấy, khi bón chế phẩm vi
Trang 2012
khuẩn cố định đạm Rhizobium có thể tăng khả năng sinh trưởng về đường kính
và chiều cao của Keo lai (18 – 20%) và Keo tai tượng (18%) ở giai đoạn vườn ươm Rừng trồng từ cây con được bón chế phẩm vi khuẩn cố định đạm Rhizobium sau 10 và 24 tháng tuổi của Keo lai tăng hơn cây con không nhiễm là 13 – 20% , còn ở Keo tai tượng là 12 – 13% so với đối chứng không bón chế phẩm vi sinh
Tóm lại: Với những kết quả nghiên cứu về Keo lai cho thấy chúng là giống
có nhiều triển vọng gây trồng, sản xuất bột giấy và có tác dụng cải tạo đất Hầu hết công bố của các tác giả, đều từ rừng trồng của các trung tâm nghiên cứu Rất
ít số liệu từ rừng trồng của các đơn vị kinh doanh, của các vùng, của các vùng, tỉnh, huyện, chưa có số liệu nghiên cứu sinh trưởng của loài cây Keo lai mô và Keo lai hom trên địa bàn Đội Lâm nghiệp Lương Sơn Vì vậy việc đánh giá sinh trưởng của hai dòng Keo trên là cần thiết
Trang 2113
PHẦN II: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá được đặc điểm sinh trưởng và chất lượng rừng trồng loài Keo lai
- Đề xuất các biện pháp kỹ thuật lâm sinh tác động phù hợp nhằm nâng cao năng suất và chất lượng loài Keo lai
2.2 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu
Loài Keo lai được trồng thuần loài ở tuổi 4 bằng các phương pháp trồng rừng khác nhau
Keo lai trồng bằng cây con tạo từ mô
Keo lai trồng bằng cây con tạo từ giâm hom
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Đội Lâm nghiệp Lương Sơn thuộc công ty Lâm nghiệp Hòa Bình, huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.3 Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh trưởng của hai mô hình rừng trồng
Sinh trưởng về đường kính ngang ngực (D1.3)
Sinh trưởng chiều cao vút ngọn ( Hvn)
Sinh trưởng đường kính tán (DT)
2.3.2 Xác định trữ lượng và tăng trưởng của hai mô hình rừng
2.3.3 Đánh giá chất lượng sinh trưởng hai mô hình nghiên cứu
2.3.4 Đề xuất một số giải pháp Lâm Sinh
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp kế thừa số liệu:
Đề tài kế thừa số liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, các tài liệu kế thừa phải đảm bảo các yêu cầu: chính xác, cập nhật, đầy đủ, đảm bảo độ tin cậy
Trang 2214
Kế thừa các số liệu về điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội, tình hình sản xuất từ trước tới nay của đội Lâm nghiệp Lương Sơn thuộc công ty lâm nghiệp Hòa Bình
2.4.2 Phương pháp điều tra ngoại nghiệp
a Công tác chuẩn bị
Thu thập các số liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu
Chuẩn bị các dụng cụ điều tra: thước dây, thước kẹp kính, thước đo cao,…
Chuẩn bị các mẫu biểu điều tra, đo đếm
b Điều tra sơ thám
Tiến hành điều tra sơ thám toàn bộ khu vực nghiên cứu để biết được tình hình chung của khu vực nghiên cứu, từ đó chọn nơi đại diện nhất để lập ô tiêu
chuẩn, kết hợp các tuyến điều tra
c Điều tra tỉ mỉ
Điều tra tỉ mỉ nhằm bổ sung và hoàn chỉnh kết quả điều tra sơ thám đồng thời điều tra chi tiết các đặc điểm sinh trưởng của loài Ở mỗi mô hình tiến hành lập 6 OTC với diện tích 500m2 (20 x 25m) Hai cạnh dài của OTC được bố trí song song và hai cạnh còn lại được bố trí vuông góc với đường đồng mức Các OTC được bố trí tại các vị trí điển hình của mô hình (chân sườn và sườn đỉnh) Như vậy, tổng số OTC được bố trí nghiên cứu là 12 OTC
Trong OTC tiến hành điều tra:
Điều tra sinh trưởng
Đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng D1,3; Hvn; Hdc; Dt của tất cả các cây có D1,3 >6 cm trong OTC
Đường kính ngang ngực (cm): Sử dụng thước kẹp kính, đo 2 chiều ĐT-NB lấy giá trị TB
Đường kính tán (Dt): Đo bằng thước dây theo hình chiếu tán cây, đo 2 chiều
ĐT – NB lấy giá trị trung bình
Trang 2315
Chiều cao vút ngọn (Hvn) và chiều cao dưới cành (Hdc) (m): Sử dụng thước
đo cao Blumleiss
Điều tra chỉ tiêu chất lượng rừng
Sử dụng phương pháp mục trắc Để phân cấp chất lượng cây trong các mô hình dựa vào sinh trưởng về chiều cao, đường kính cùng với dạng thân, dạng tán
và tình hình sâu bệnh hại Chất lượng cây được phân ra làm 3 cấp: tốt, trung bình
Kết quả điều tra ngoại nghiệp được ghi và mẫu biểu 01
Biểu 01: Biểu điều tra tầng cây cao
STT
D1.3 (cm) Hvn
(m)
Hdc (m)
Trang 24 X1,X2 là giá trị trung bình của mẫu 1 và mẫu 2
S1,S2 là sai tiêu chuẩn của mẫu 1 và mẫu 2
Nếu |𝑈| ≤ thì giả thuyết H0 chấp nhận, nghĩa là 2 mẫu thuần nhất với nhau
Nếu |𝑈| > 1,96 thì giả thuyết H0 bị bác bỏ, nghĩa là hai mẫu không thuần nhất với nhau
Phương pháp này giúp chúng ta so sánh quyết định xem có thể gộp các giữ liệu thu thập ở những lần lặp khác nhau hay không
2.4.3.2 Tính trữ lượng
Bao gồm các bước sau:
- Tính thể tích cây rừng:
Vi = 𝜋4* 𝐷i1.32 *Hivn * f Trong đó: Di1.3 : là đường kính D1.3 của cây thứ i
Hivn : là chiều cao vút ngọn của cây thứ i
f : là hình số (f=0,5)
- Tính trữ lượng OTC (MOTC)
MOTC = ∑ 𝑉𝑖
- Tính trữ lượng lâm phần (M/ha):
M/ha = MOTC * 104/SOTC
Trong đó SOTC là diện tích OTC
- Tính lượng tăng trưởng bình quân năm của các nhân tố điều tra
Trang 2517
∆𝑡= 𝑡𝑎
𝐴
Trong đó: ∆𝑡 : Lượng tăng trưởng bình quân năm
ta : Tổng lượng tăng trưởng của các chỉ tiêu điều tra tại tuổi A
A : Tuổi lâm phần 2.4.3.3 Đánh giá chất lượng rừng trồng
Dùng tiêu chuẩn 𝜒2 để đánh giá chất lượng rừng trồng ở các khu vực nghiên cứu
TS : Tổng trị số quan sát toàn thí nghiệm
So sánh 𝜒𝑛2 với 𝜒052 tra bảng với bậc tự do k = (a – 1)(b – 1) trong đó a là
số cấp chất lượng, b là số mô hình nghiên cứu
𝜒𝑛2 > 𝜒052 ⟹ có sự sai khác rõ rệt về chất lượng rừng giữa các đối tượng nghiên cứu
𝜒𝑛2 < 𝜒052 ⟹ không có sự sai khác rõ rệt về chất lượng rừng giữa các đối tượng nghiên cứu
Đánh giá cấp chất lượng dựa vào biểu sau:
n : Số cây tốt, trung bình, xấu
N : Tổng số cây
Trang 2618
PHẦN III: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1.1 Vị trí địa lý
Lương Sơn là huyện miền núi cửa ngõ phí Đông Bắc của tình miền núi Hòa Bình và miền Tây Bắc Việt Nam; nằm ở tọa độ địa lí: từ 105025’14” -
1050041’25” Kinh độ Đông, 20036’30” - 20057’22” Vĩ độ Bắc; tiếp giáp với thủ
đô Hà Nội; biên giới liền kề với khu công nghiệp cao Hòa Lạc, khu đô thị Phú Cát, Miếu Môn, Đại học Quốc Gia, Làng văn hóa các dân tộc
Huyện Lương Sơn nằm ở phần phía Nam của dãy núi Ba Vì, nơi có một phần của vườn quốc gia Ba Vì Phía Đông giáp huyện Chương Mỹ và huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội Phía Tây giáp huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hòa Bình Phía Nam giáp huyện Kim Bôi và huyện Lạc Thủy, tỉnh Hòa Bình Phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và huyện Thạch Thất, thành phố Hà Nội
3.1.2 Địa hình
Lương Sơn là huyện thuộc vùng trung du – nơi chuyển tiếp giữa đồng bằng và miền núi, nên địa hình rất đa dạng Địa hình đồi núi thấp ó độ cao sàn sàn nhau khoảng 200 – 400m được hình thành bởi đá macma, đá vôi và các trầm tích lục nguyên, có địa thế nghiêng đề theo chiều từ Tây Bắc xuống Đông Nam, là nơi tiếp xúc giữa đồng bằng châu thổ sông Hồng và miền núi Tây Bắc Bộ Đặc điểm nổi bật của địa hình nơi đây là có những dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi
đá vôi với những hang động Có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo đan xen tạo nên cảnh sắc thơ mộng Tổng diện tích toàn huyện là 37.707,79ha, người dân chủ yến sản xuất nông nghiệp là chính, cây trồng phổ biến là cây lúa và cây chè…
3.1.3 Khí hậu
Khí hậu Lương Sơn thuộc khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh,
ít mưa; mùa hè nóng, mưa nhiều Nền nhiệt trung binh cả năm 22,9 – 23,30C Lượng mưa bình quân từ 1.520,7 – 2.255,6mm/năm, nhưng phân bố không đều trong năm và ngay cả trong mùa cũng rất thất thường
3.1.4 Thủy văn
Trang 2719
Lương Sơn có mạng lưới sông, suối phân bố tương đối đồng đều trong các
xã Con sông lớn nhất chảy qua huyện là sông Bùi, bắt nguồn từ xã Lâm Sơn dài 91km Sông Bùi mang tính chất một con sông già, thung lũng rộng, đáy bằng, độ dốc nhỏ, có khả năng tích nước Ngoài sông Bùi trong huyện còn một số sông, suối nhỏ “nội địa” có khả năng tiêu thoát nước tốt
3.1.5 Nguồn tài nguyên thiên nhiên
Tài nguyên nước: Nước ngầm ở Lương Sơn có trữ lượng khá lớn, chất lượng nước phần lớn chưa bị ô nhiễm, lại được phân bố khắp các vùng trên địa bàn huyện Tài nguyên nước mặt gồm nước sông, suối và nước mưa, phân bố không đều, chủ yếu tập trung ở vùng phía Bắc huyện và một số hồ đập nhỏ phân
bố rải rác toàn huyện
Tài nguyên rừng: Tổng diện tích đất lâm nghiệp là 18.733,19ha (2016) chiếm 49,68% diện tích tự nhiên Rừng tự nhiên của huyện khá đa dạng và phong phú với nhiều loài gỗ quý Nhưng do tác động của con người, rưng đã mất đi quá nhiều và thay thế chúng là rừng thứ sinh
Tài nguyên khoáng sản: Trên địa bàn huyện có các loại khoáng sản trữ lượng lớn đó là đá vôi, đá xây dựng, đất sét, đá bazan và quặng đa kim
Tài nguyên du lịch: Với vị trí thuận lợi gần thủ đô Hà Nội và địa hình xen
kẽ nhiều núi đồi, thung lũng rộng phẳng, kết hợp hệ thống sống, suối, hồ tự nhiên, nhân tạo cùng với hệ thống rừng đã tạo cảnh quan thiên nhiên và điều kiện phù hợp để huyện Lương Sơn phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, sân golf
Trên địa bàn huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên như: hang Trầm, hang Rồng, hang Tằm, hag Trổ…động Đá Bạc, động Long Tiên… đây là những tiềm năng để phát triển du lịch
3.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
3.2.1 Dân số và lao động
Dân số huyện Lương Sơn trên 100 nghìn người, có 3 dân tộc chính cùng sinh sống, trong đó dân tộc Mường chiếm trên 66,46%, dân tộc Kinh chiếm 32,07%, dân tộc Dao chiếm 1,14%, mỗi dân tộc có sắc thái văn hóa riêng Lực lượng lao động đông, số lao động phi nông nghiệp ngày càng gia tăng, tỉ lệ lao
Trang 283.2.3 Giáo dục và đào tạo
Chất lượng giáo dục toàn diện ở các cấp học được nâng lên, giáo dục vùng khó khăn, giáo dục dân tộc được quan tâm đầu tư và đi sâu vào chất lượng Nhiều trường đã đón nhận trường đạt chuẩn quốc gia, hiện nay trường đạt chuẩn quốc gia trong huyện đạt trên 40%
3.2.4 Công tác y tế, chăm sóc sức khỏe Nhân dân
Các hoạt động y tế được duy trì thường xuyên, cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện về an toàn thực phẩm cho các cơ sở Thường xuyên tuyên truyền, giáo dục, tư vấn vận động nhân dân thực hiện tốt chính sách Dân số - KHHGĐ
3.3 Lịch sử rừng trồng
Đội Lâm nghiệp Lương Sơn thuộc Công ty Lâm nghiệp Hòa Bình nằm tại huyện Lương Sơn tỉnh Hòa Bình Keo lai là một trong những loài cây được gây trồng chủ yếu trên diện tích mà đội quản lý
Biểu 3.1 Thiết kế kỹ thuật trồng rừng Keo lai hom và Keo lai mô tại
Công ty Lâm Nghiệp Hòa Bình
Trang 2921
1 Xử lý thực bì
- Phương pháp Dùng dao phát sát gốc, gốc phát còn lại không quá 15 cm,
dọn thực bì, gom đốt cục bộ có kiểm soát
- Kỹ thuật trồng Xé vỏ bầu trước khi trồng, không làm vỡ bầu, cuốc 1 hố
nhỏ sâu hơn chiều cao của bầu 5-7 cm đặt cây vào chính
Trang 3022
giữa hố, vun đất nhỏ xung quanh bầu, dùng tay nén nhẹ độ chặt vừa phải, lấp đất qua mặt bầu từ 2 - 4 cm để cây không bị nghiêng ngả và trơ rễ
- Trồng dặm Sau khi trồng 10 - 15 ngày, tiến hành trồng dặm lần 1 phải
thường xuyên kiểm tra phát hiện cây chết phải trồng dặm kịp thời để đảm bảo mật độ cây sống sinh trưởng tốt 95%
Phát toàn diện thực bì, phát bỏ cây tái sinh
- Dãy cỏ, xới vun gốc đường kính rộng 0.8-1m, sâu 20cm, thời gian thực hiện sau khi trồng 3 tháng tùy theo điều kiện thực bì
15 Lần 2 vào tháng 10-11 - Phát toàn diện thực bì
Sau khi chặt cây tái sinh, thân phụ và điều chỉnh mật độ phải vệ sinh rừng, gom thực bì để dọ theo đường đồng mức
5 Bảo vệ rừng
- Nội dung Tuần tra canh gác ngăn ngừa người và gia súc phá hoại,
theo dõi sâu bệnh hại,phòng chống cháy rừng
Trang 3123
PHẦN IV: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đặc điểm về sinh trưởng của Keo lai tại hai mô hình nghiên cứu
4.1.1 Sinh trưởng về đường kính ngang ngực(D1,3)
Đường kính của cây rừng là một trong những chỉ tiêu quan trọng hàng đầu trong kinh doanh rừng, phản ánh tình hình sinh trưởng của từng cá thể(thể tích)
và trữ lượng lâm phần (M) Do vậy các nhà kinh doanh rừng rất quan tâm đến sư tăng trưởng về đường kính, mà mục đích cuối cùng là đưa ra các biện pháp kỹ thuật lâm sinh hợp lý cho mỗi khu vực để đạt tăng trưởng cao nhất, sinh trưởng đường kính đồng đều nhất
4.1.1.1 Sinh trưởng đường kính Keo lai mô
Kết quả điều tra và tính toán được thể hiện tại biểu 4.1
Biểu 4.1: Sinh trưởng đường kính D 1.3 Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình
Vị trí Số hiệu
OTC
N/OTC (cây) D 1,3 (cm) S S% |U| D1,3 Sườn
số biến động tại các ô tiêu chuẩn đều nhỏ hơn 15% Để kiểm tra tính thuần nhất của các ô tiêu chuẩn tại cùng 1 vị trí, tôi tiến hành sử dụng tiêu chuẩn U để kiểm tra sai dị Kết quả kiểm tra sai dị tại vị trí sườn chân tất cả UD1.3 của các OTC đều nhỏ hơn 1,96 điều này cho phép chúng ta gộp số liệu tại cùng 1 vị trí vào thành mẫu lớn Tại vị trí sườn đỉnh chỉ có OTC số 4 và 6 là có sai dị UD1.3 nhỏ hơn 1,96 nên chỉ tiến hành gộp số liệu 2 OTC này Số liệu sau khi gộp được thể hiện tại biểu 4.2
Trang 3224
Biểu 4.2: Sinh trưởng đường kính D 1.3 Keo lai mô tại 2 vị trí địa hình
sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn
Qua biểu 4.2 và biểu đồi 01 cho thấy 𝐷̅̅̅̅̅ ở vị trí sườn chân đạt 9,45cm, 1.3
ở vị trí sườn đỉnh đạt 9,91cm Như vậy sinh trưởng 𝐷̅̅̅̅̅ của Keo lai mô thuần loài 1.3tuổi 4 tại vị trí sườn đỉnh lớn hơn vị trí sườn chân là 0,46cm Hay nói cách khác sinh trưởng đường kính D1.3 tại ví trí sườn chân chỉ bằng 95,31% sinh trưởng đường kính D1.3 tại vị trí sườn chân
Lượng tăng trưởng D1.3 bình quân chung hằng năm của loài Keo lai mô ở tuổi 4 tại vị trí sườn chân đạt 2,36cm/năm Còn ở vị trí sườn đỉnh lượng tăng trưởng bình quân chung hằng năm của loài này đạt 2,48cm/năm Như vậy tại tuổi
4 loài Keo lai mô trồng thuần loài tại vị trí sườn đỉnh cho lượng tăng trưởng bình
D1.3(cm)
Trang 33D1.3 đồng đều hơn vị trí sườn chân Qua kiểm tra sai dị bằng tiêu chuẩn U thì
UT=2,21>1,96, điều đó khằng định sinh trưởng D1.3 của loài Keo lai mô trồng thuần loài tuổi 4 trên 2 vị trí địa hình là có sự khác nhau rõ rệt
Qua những phân tích trên cho thấy trên cùng một loại đất, cùng biện pháp
kỹ thuật trồng, chăm sóc.… nhưng với vị trí địa hình khác nhau dẫn đến sinh trưởng D1.3 của loài Keo lai mô cũng khác nhau Tại vị trí sườn đỉnh sinh trưởng
về đường kính D1.3 loài Keo lai mô tốt hơn tại vị trí sườn chân
4.1.1.2 Sinh trưởng đường kính Keo lai hom
Để làm sáng tỏ thêm về kết quả nghiên cứu sinh trưởng D1.3 loài Keo lai trồng bằng cây con giâm hom, tôi tiến hành so sánh sinh trưởng loài Keo lai trồng bằng cây con giâm hom trên 2 vị trí địa hình Kết quả được thể hiện ở biểu 4.3
Biểu 4.3: Sinh trưởng đường kính D 1.3 Keo lai hom tại 2 vị trí địa
hình
Vị trí Số hiệu
OTC
N/OTC (cây)
Trang 3426
tra sai dị tất cả UD1.3 của các OTC tại 2 vị trí địa hình đều nhỏ hơn 1,96 Điều này cho phép chúng ta gộp số liệu tại cùng 1 vị trí vào thành mẫu lớn Số liệu sau khi gộp được thể hiện tại biểu 4.4
Biểu 4.4: Sinh trưởng đường kính D 1.3 Keo lai hom trồng thuần loài 4 tuổi
tại 2 vị trí địa hình sau khi gộp số liệu thành mẫu lớn
Vị trí loài cây N/OTC
Đỉnh Keo lai hom 69 8,89 1,16 13,04
Qua biểu 4.4 và biểu đồ 01 cho thấy sinh trưởng 𝐷̅̅̅̅̅ ở vị trí sườn chân 1.3đạt 8,44cm, ở vị trí sườn đỉnh đạt 8,89cm Như vậy sinh trưởng 𝐷̅̅̅̅̅ của Keo lai 1.3hom thuần loài 4 tuổi tại vị trí sườn đỉnh lớn hơn vị trí sườn chân là 0,46cm Hay nói cách khác sinh trưởng đường kính D1.3 tại ví trí sườn chân chỉ bằng 94,87% sinh trưởng đường kính D1.3 tại vị trí sườn chân
Lượng tăng trưởng D1.3 bình quân chung hằng năm của loài Keo lai hom
ở tuổi 4 tại vị trí sườn chân đạt 2,11cm/năm Còn ở vị trí sườn đỉnh lượng tăng trưởng bình quân chung hằng năm của loài này đạt 2,22cm/năm Như vậy tại tuổi
4 loài Keo lai hom trồng thuần loài tại vị trí sườn đỉnh cho lượng tăng trưởng bình quân lớn hơn lượng tăng trưởng bình quân của loài này tại vị trí sườn chân là 0,11cm
Hệ số biến động về sinh trưởng tại vị trí sườn chân là 14,03%, tại vị trí sườn đỉnh là 13,04% Cho thấy tại vị trí sườn đỉnh cây sinh trưởng đường kính
D1.3 đồng đều hơn vị trí sườn chân Qua kiểm tra sai dị bằng tiêu chuẩn U thì UT
=2,29>1,96, điều đó khằng định sinh trưởng D1.3 của loài Keo lai hom trồng thuần loài tuổi 4 trên 2 vị trí địa hình là có sự khác nhau rõ rệt
Qua những phân tích trên cho thấy trên cùng một loại đất, cùng biện pháp
kỹ thuật trồng, chăm sóc… nhưng với vị trí địa hình khác nhau dẫn đến sinh trưởng D1.3 của loài Keo lai trồng bằng cây con giâm hom cũng khác nhau Tại vị
Trang 3527
trí sườn đỉnh sinh trưởng về đường kính D1.3 loài Keo lai mô tốt hơn tại vị trí sườn chân
4.1.1.3 So sánh sinh trưởng đường kính Keo lai mô và Keo lai hom
Để làm sáng tỏ thêm kết quả nghiên cứu sinh trưởng đường kính D1.3 loài Keo lai trồng bằng cây con tạo từ mô và trồng bằng cây con tạo từ giâm hom, tôi tiến hành so sánh sinh trưởng D1.3 loài Keo trồng bằng cây con tạo từ mô và cây con tạo từ giâm hom trên cùng một vị trí địa hình Kết quả được thể hiện ở biểu 4.5
Biểu 4.5: So sánh sinh trưởng đường kính D 1.3 Keo lai mô và Keo lai
hom trên cùng một vị trí địa hình
Vị trí địa
hình Loài cây
N/OTC (cây)
D 1,3
Từ biểu 4.5 và biểu đồ 01 cho thấy: Sinh trưởng D1.3 loài Keo lai trồng bằng cây con tạo từ mô và cây con giâm hom trên cùng một vị trí địa hình là sườn chân có sự chênh lệch, cụ thể: Với loài Keo lai mô tại sinh trưởng đường kính D1.3
bình quân đạt 9,45 trong khi đó sinh trưởng đường kính D1.3 bình quân của loài Keo lai hom chỉ đạt 8,44, ta thấy sinh trưởng D1.3 của loài Keo lai hom nhỏ lơn loài Keo lai mô 1,01cm và chỉ bằng 89,31% sinh trưởng D1.3 loài Keo lai mô, hay sinh trưởng D1.3 loài Keo lai mô gấp 1,12lần sinh trưởng D1.3 loài Keo lai hom Lượng tăng trưởng D1.3 bình quân năm của loài Keo mô đạt 2,36cm/năm, lớn hơn loài Keo lai hom khi loài này chỉ đạt lượng tăng trưởng D1.3 bình quân năm là 2,11cm/năm
Hệ số biến động của loài Keo lai mô và Keo lai hom lần lượt là 13,76%
và 14,03% Nhìn vào hệ số biến động ta thấy hệ số biến động của loài Keo lai mô thấp hơn loài Keo lai hom chính tỏ sinh trưởng về mặt đường kính D1.3 của loài Keo lai mô đồng đều hơn loài Keo lai hom Kết quả kiểm tra sai dị cho thấy |U| =