Bảo hiểm y tế là một phạm trù tất yếu của một xã hội phát triển, được định nghĩa là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao độ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
- -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÁT XÁT,
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trong tời gian tìm hiểu, nghiên cứu và vận dụng các kiến thức đã học để hoàn
thành đề tài: “Nghiên cứu thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân trên địa
bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”
Tác giả xin được bày tỏ lòng biết ơn tới thầy Nguyễn Bá Huân, người đã hướng dẫn và góp ý cho tác giả rất nhiều trong quá trình thực hiện khóa luận
Tác giả cũng xin cảm ơn các cán bộ trong cơ quan Bảo hiểm xã hội huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai đã cung cấp số liệu và giúp đỡ tác giả vận dụng kiến thức vào thực
để để có thể hoàn thành khóa luận đúng thời hạn
Với kinh nghiệm còn hạn chế nên khóa luận tốt nghiệp không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong thầy cô và các bạn đóng góp để khóa luận được hoàn thiện hơn
Xin chân thành cảm ơn!
Sinh viên
Vũ Ngọc Khánh
Trang 3MỤC LỤC
PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của nghiên cứu 2
3 Mục tiêu nghiên cứu 2
3.1 Mục tiêu tổng quát 2
3.2 Mục tiêu cụ thể 2
4 Nội dung nghiên cứu 2
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2
5.1 Đối tượng nghiên cứu 2
5.2 Phạm vi nghiên cứu 2
6 Phương pháp nghiên cứu 3
6.1 Phương pháp thu thập số liệu 3
6.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu 4
7 Kết cấu của khóa luận 4
PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH 5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM Y TẾ 5
1.1 Cơ sở lý luận về BHYT toàn dân 5
1.1.1 Các khái niệm cơ bản 5
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm 5
1.1.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế 5
1.1.1.3 Khái niệm bảo hiểm y tế toàn dân 6
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm y tế 6
1.1.2.1 Vai trò đối với người lao động 6
1.1.2.2 Vai trò đối với xã hội 7
1.1.2.3 Vai trò đối với nền kinh tế 8
Trang 41.1.3 Nguyên tắc, tính chất cơ bản và mục tiêu của bảo hiểm y tế 8
1.1.3.1 Những nguyên tắc của bảo hiểm y tế 8
1.1.3.2 Những tính chất cơ bản của bảo hiểm y tế 9
1.1.3.3 Mục tiêu của bảo hiểm y tế 9
1.1.4 Các quy định cơ bản về nội dung tham gia bảo hiểm y tế 10
1.1.4.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế 10
1.1.4.2 Cơ sở, phương thức thực hiện 11
1.1.4.3 Các chủ thể liên quan đến tham gia đóng bảo hiểm y tế 13
1.1.4.4 Mức đóng bảo hiểm y tế 14
1.1.4.5 Quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm y tế 15
1.1.5 Các học thuyết áp dụng trong nghiên cứu 16
1.1.5.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý 16
1.1.5.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội 17
1.1.5.3 Lý thuyết về thứ bậc nhu cầu của Maslow 18
1.2 Cơ sở thực tiễn của địa bàn nghiên cứu 19
1.2.1 Khái quát chung về huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 19
1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bát Xát 19
1.2.1.2 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường của huyện 21
1.2.2 Khái quát chung về tổ chức bảo hiểm xã hội huyện Bát Xát 22
1.2.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển 22
1.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Bát Xát 23
1.2.2.3 Chức năng của BHXH huyện Bát Xát 23
1.2.2.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH huyện Bát Xát 24
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY THAM GIA BẢO HIỂM Y TẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN BÁT XÁT, TỈNH LÀO CAI 25
Trang 52.1.2 Thực trạng tham gia BHYT của người dân 27
2.1.2.1 Thực trạng số người tham gia BHYT theo địa phương 28
2.1.2.2 Thực trạng số người tham gia BHYT theo đối tượng 30
2.1.3 Thực trạng thu bảo hiểm y tế của người dân 31
2.1.3.1 Cơ sở pháp lý cho hoạt động thu BHYT 31
2.1.3.2 Mức thu BHYT 31
2.1.3.3 Kết quả thu BHYT 31
2.1.4 Thực trạng chi trả BHYT cho người dân ở huyện Bát Xát 33
2.1.5 Thực trạng công tác khám chữa bệnh BHYT của người dân 34
2.1.5.1 Về cơ sở mạng lưới y tế tại huyện Bát Xát 34
2.1.5.2 Về chất lượng KCB BHYT tại huyện Bát Xát 35
2.2 Thực trạng nhận thức và đánh giá của người dân khi tham gia bảo hiểm y tế từ kết quả khảo sát 36
2.2.1 Nhận thức của người dân về BHYT 36
2.2.1.1 Nhận thức của người dân về các loại hình BHYT 36
2.2.1.2 Nhận thức của người dân về lợi ích của BHYT 38
2.2.1.3 Nhận thức của người dân về quyền và trách nhiệm khi tham gia BHYT 39 2.2.2 Nguồn thông tin người dân nhận được về BHYT 40
2.2.3 Lý do tham gia và không tham gia BHYT của người dân 41
2.2.3.1 Lý do tham gia BHYT của người dân 41
2.2.3.2 Lý do không tham gia BHYT của người dân 42
2.2.4 Đánh giá của người dân khi tham gia BHYT 43
2.2.4.1 Mức độ hài lòng của người dân khi khám chữa bệnh bằng BHYT 43
2.2.4.2 Mức độ hài lòng của người dân về chính sách BHYT 44
2.3 Những thành công và hạn chế trong việc thực hiện bảo hiểm y cho người dân tại huyện Bát Xát 45
2.3.1 Thành công 45
Trang 62.3.2 Khó khăn, hạn chế 46
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế 47
2.4 Một số giải pháp tăng cường thu hút người dân tham gia BHYT tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 48
2.4.1 Tăng cường vai trò lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy Đảng, Chính quyền các cấp 48
2.4.2 Cải cách các thủ tục hành chính trong đăng ký khám, điều trị bệnh BHYT 49
2.4.3 Nâng cao nhận thức của người về việc tham gia BHYT 50
2.4.4 Xây dựng lại hệ thống mức phí BHYT, cần có giải pháp xây dựng hệ thống mức phí đa dạng, phù hợp với khả năng kinh tế của các hộ gia đình 51
2.4.5 Cần nâng cao chất lượng, cơ sở vật chất khám chữa bệnh bằng BHYT 51
2.4.6 Nâng cao điều kiện kinh tế cho người dân 52
PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 54
1 Kết luận 54
2 Khuyến nghị 55
2.1 Khuyến nghị với Bộ Y tế 55
2.2 Khuyến nghị với Bảo hiểm xã hội TP Lào Cai 55
2.3 Khuyến nghị với Chính quyền địa phương huyện Bát Xát 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO 57
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
Hình 1.1 Mô hình hóa bậc thang nhu cầu của A Maslow 18
Sơ đồ 1.1 Cơ cấu bộ máy quản lý BHXH huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai 23
Biểu đồ 2.1 Tỷ lệ số tiền thu BHYT của các đối tượng tại huyện Bát Xát 33
Bảng 1.1 Dung lượng mẫu điều tra 4
Bảng 1.2 Diện tích cơ cấu đất trên địa bàn huyện Bát Xát năm 2015-2020 20
Bảng 1.3 Thực trạng phát triển các ngành, các lĩnh vực kinh tế 20
Bảng 1.4 Đặc điểm dân số và lao động huyện Bát Xát từ 1/4/2019-18/4/2019 21
Bảng 2.1 Kết quả công tác tuyên truyền về BHYT trên địa bàn huyện Bát Xát giai đoạn 2017-2019 26
Bảng 2.2 Thực trạng tham gia BHYT chung toàn huyện 27
Bảng 2.3 Thực trạng số người dân tham gia BHYT theo địa phương 28
Bảng 2.4 Kết quả số người dân tham gia BHYT theo đối tượng 30
Bảng 2.5 Kết quả thu BHYT theo đối tượng 32
Bảng 2 6 T nh h nh chi trả BH T qu các n m 2017-2019……… ……33
Bảng 2.7 Các cơ sở KCB tại địa bàn huyện Bát Xát 35
Bảng 2.8 Tỷ lệ đối tượng đã từng nghe/biết về BHYT 37
Bảng 2.9 Nhận thức của người dân về các loại hình BHYT hiện hành 37
Bảng 2.10 Nhận thức của người dân về lợi ích của BHYT 38
Bảng 2.11 Nhận thức của người dân về quyền lợi khi tham gia BHYT 39
Bảng 2.12 Nhận thức của người dân về trách nhiệm khi tham gia BHYT 40
Bảng 2.13 Nguồn thông tin người dân nhận được về BHYT 40
Bảng 2.15 Lý do tham gia BHYT của người dân 41
Bảng 2.15 Lý do không tham gia BHYT của người dân 42
Bảng 2.16 Mức độ hài lòng của người dân khi KCB BHYT 43
Bảng 2.17 Mức độ hài lòng của người dân về chính sách BHYT 44
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
ASXH An sinh xã hội
BHYT Bảo hiểm y tế
Trang 9PHẦN 1: PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết củ đề tài
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm đến chính sách Bảo hiểm y tế (BHYT) và xác định đây là một trong những chính sách xã hội cơ bản và là trụ cột của an sinh xã hội (ASXH) BHYT đã tạo ra nguồn tài chính công quan trọng cho công tác khám chữa bệnh (KCB), cải thiện tiếp cận dịch vụ y tế, góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu công bằng trong chăm sóc sức khoẻ nhân dân và đảm bảo ASXH Bảo hiểm y tế là một phạm trù tất yếu của một xã hội phát triển, được định nghĩa là một chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức, cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho những người gặp rủi ro ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động y tế, thực hiện công bằng và nhân đạo trong lĩnh vực bảo
vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân Đặc biệt từ năm 2014, Đảng và Nhà nước đã xã định kế hoạch thực hiện BHYT toàn dân nhằm bảo vệ, hỗ trợ toàn dân Việt Nam được
khắc phục hậu quả rủi ro về sức khỏe
Bát Xát là một huyện biên giới phía Bắc của Việt Nam, thuộc tỉnh Lào Cai Huyện gồm 1 thị trấn Bát Xát và 20 xã vùng cao cũng đang thực hiện nhiều chính sách
để khuyến khích người dân tham gia BHYT Tuy nhiên, theo thống kê của BHXH huyện Bát Xát, từ đầu năm 2018 các xã gồm Quang Kim, Bản Qua, Bản Vược, Mường
Vi đã thoát khỏi vùng khó khăn không còn được cấp BHYT hỗ trợ 100% nên số lượng tham gia BHYT rất thấp và đang có dấu hiệu giảm liên tục, chỉ riêng thị trấn Bát Xát
từ trước đến nay không được hỗ trợ 100% chi phí Tuy nhìn vảo tổng số người tham gia BHYT của toàn huyện là khá cao (76,82%) nhưng đáng lưu ý là trong đó có đến 16
xã được hỗ trợ 100% chi phí BHYT, nếu như những xã này không còn được hỗ trợ nữa thì chắc chắn số người tham gia BHYT của huyện Bát Xát sẽ giảm cực kỳ nghiêm trọng Mặt khác, kinh tế của nhiều gia đình còn khó khăn, vẫn giữ thái độ “có bệnh mới cần mua bảo hiểm” nên việc “phủ sóng” BHYT toàn huyện là một bài toán khó
Vì vậy, việc thúc đẩy sự tham gia BHYT toàn dân trong địa bàn huyện nhằm đảm bảo
an sinh xã hội là một trong những vấn đề ưu tiên hiện nay của huyện
Xuất phát từ thực trạng trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Nghiên cứu thực trạng tham gia bảo hiểm y tế của người dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai”
làm đề tài nghiên cứu tốt nghiệp
Trang 102 Ý nghĩ lý luận và thực tiễn củ nghiên cứu
Về mặt lý luận: Nghiên cứu này sẽ đóng góp một phần vào việc hệ thống hóa cơ
sở lý luận về bảo hiểm y tế toàn dân, như: Bảo hiểm, BHYT, BHYT hộ gia đình Làm rõ nội dung của BHYT hộ gia đình như: Đối tượng tham gia; Hình thức tham gia;
Mức phí và chế độ được hưởng
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu nhằm cung cấp thông tin giúp các nhà lãnh đạo huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai tìm ra các biện pháp, chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tham gia BHYT toàn dân trong địa bàn huyện nhằm đảm bảo an sinh xã hội của huyện Kết quả nghiên cứu cũng là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên ngành CTXH
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng tham gia BHYT của người dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc tham gia BHYT toàn dân trong thời gian tới
3.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn tham gia BHYT của người dân
- Đánh giá thực trạng tham gia BHYT của người dân huyện Bát Xát, Lào Cai
- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc tham gia BHYT toàn dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
4 Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lý luận và thực tiễn tham gia BHYT của người dân
- Thực trạng tham gia BHYT của người dân huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Một số giải pháp nhằm thúc đẩy việc tham gia BHYT toàn dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng tham gia BHYT của người dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
5.2 Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tại huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 11- Phạm vi về thời gian: Số liệu thứ cấp: Trong quá trình thực hiện, các tài liệu,
số liệu được thu thập trong giai đoạn từ năm 2017 đến năm 2019 Số liệu sơ cấp: được thu thập trong giai đoạn từ tháng 02/2020-4/2020
- Phạm vi về nội dung: Do đặc thù của huyện Bát Xát và hạn chế về nguồn lực nghiên cứu nên đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng tham gia BHYT của người dân với đối tượng chủ yếu là các hộ nông dân (bảo hiểm hộ gia đình) trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Đối với số liệu thứ cấp: Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa để thu thập các
thông tin, tài liệu, số liệu thứ cấp đã được công bố ở các cơ quan lưu trữ, trên sách báo, tạp trí, các tài liệu có liên quan đến vấn đề nghiên cứu: Các văn bản pháp luật, Nghị định và Quyết định của Chính phủ và Bộ ngành liên quan; các nghiên cứu có liên quan đến đề tài; các báo cáo, bài báo liên quan đến BHYT Kế thừa các số liệu, tài liệu, cơ
sở dữ liệu, các báo cáo về thực trạng tham gia BHYT của người dân tại Trung tâm bảo hiểm xã hội huyện Bát Xát và các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
- Đối với thông tin sơ cấp: Thông tin sơ cấp là những thông tin được phỏng vấn
trực tiếp cán bộ Phòng lao động thương binh xã hội huyện Bát Xát và cán bộ, người dân các xã, thị trấn trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai về thực trạng tham gia BHYT của người dân trên địa bàn huyện
Để đi sâu nghiên cứu tác giả tiến hành điều tra người dân trên địa bàn huyện Bát Xát Do đặc thù là huyện miền núi khó khăn của tỉnh Lào Cai, hiện nay trên địa bàn huyện có 16 xã nằm trong vùng khó khăn được nhà nước hỗ trợ 100% phí BHYT
Từ đầu năm 2018, có 4 xã đã thoát khỏi vùng khó khăn nên cũng không được nhà nước hỗ trợ phí BHYT mà phải tự đóng Cụ thể như sau:
Xã Mường Vi: Trước đây được hỗ trợ 100% phí BHYT nhưng từ đầu năm
2018, những người là dân tộc thiểu số được hỗ trợ 100% phí BHYT, những người là dân tộc kinh không được miễn phí BHYT
- Thị trấn Bát Xát không được hỗ trợ BHYT từ trước đến nay
- Xã Bản Qua, xã Bản Vược, xã Quang Kim: Không được hỗ trợ phí BHYT từ đầu năm 2018
Trang 12Vì vậy, để thúc đẩy việc tham gia BHYT của người dân trên các địa bàn xã, thị trấn trên, tác giả tiến hành đi nghiên cứu khảo bằng bảng hỏi những người dân đang sống trên địa bàn với quy mô dung lượng mẫu như biểu 1.1 dưới đây:
Bảng 1 1 Dung lượng mẫu điều tra
TT Đị phương Số người th m gi Số người không
6.2 Phương pháp xử lý, phân tích số liệu
- Phương pháp xử lý số liệu: Dựa vào các số liệu đã được công bố, tổng hợp, đối chiếu để chọn ra những thông tin phù hợp với hướng nghiên cứu của đề tài Toàn
bộ số liệu điều tra được xử lý theo chương chình Microsoft Excel
- Phương pháp phân tích số liệu:
+ Phương pháp thống kê mô tả: sử dụng các chỉ tiêu như số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân và dãy số biến động theo thời gian Sử dụng phương pháp thống kê
mô tả để nêu lên mức độ của hiện tượng, phân tích biến động của các hiện tượng và mối quan hệ giữa các hiện tượng với nhau Phương pháp này được sử dụng để mô tả đặc điểm kinh tế, xã hội, địa lý của huyện; Mô tả thực trạng tham gia BHYT của người dân
+ Phương pháp thống kê so sánh: Dùng phương pháp này để so sánh thực trạng tham gia BHYT của người dân qua các năm 2017-2019
7 Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh sách bảng bảng, phụ lục, nội dung chính của khóa luận được thể hiện trong 2 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về BHYT toàn dân
- Chương 2: Thực trạng và giải pháp nhằm thúc đẩy việc tham gia BHYT của người dân trên địa bàn huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
Trang 13PHẦN 2: NỘI DUNG CHÍNH CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ BẢO HIỂM TẾ 1.1 Cơ sở lý luận về BHYT toàn dân
1.1.1 Các khái niệm cơ bản
1.1.1.1 Khái niệm bảo hiểm
Bảo hiểm từ lâu đã gắn liền với cuộc sống con người, có vai trò quan trọng trong việc khắc phục hậu quả của rủi ro Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về bảo hiểm Dưới đây là một số khái niệm phổ biến:
Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở: “Bảo hiểm là những quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình hình thành, phân phối và sử dụng các quỹ tập trung - quỹ bảo hiểm - nhằm
xử lý các rủi ro, các biến cố Bảo hiểm bảo đảm cho quá trình tái sản xuất và đời sống của xã hội được diễn ra bình thường Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại; bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và
từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại
do rủi ro đó gây ra”.[14]
Các chuyên gia bảo hiểm của công ty Bảo hiểm Manulife Việt Nam đưa ra định nghĩa “Bảo hiểm là một hoạt động qua đó một cá nhân có quyền được hưởng trợ cấp bảo hiểm nhờ vào một khoản đóng góp cho mình hoặc cho người thứ 3 trong trường hợp xảy ra rủi ro Khoản trợ cấp này do một tổ chức trả, tổ chức này có trách nhiệm đối với toàn bộ các rủi ro và đền bù các thiệt hại theo các phương pháp của thống kê”.[12]
Theo Luật kinh doanh bảo hiểm số 24/2000/QH10 của Việt Nam “Bảo hiểm là biện pháp chia sẻ rủi ro của một người hay của số một ít người cho cả cộng đồng những người có khả năng gặp rủi ro cùng loại, bằng cách mỗi người trong cộng đồng góp một số tiền nhất định vào một quỹ chung và từ quỹ chung đó bù đắp thiệt hại cho thành viên trong cộng đồng không may bị thiệt hại do rủi ro đó gây ra” Đây là khái niệm được dùng trong nghiên cứu này.[8]
1.1.1.2 Khái niệm bảo hiểm y tế
Cũng như khái niệm về bảo hiểm, hiện nay cũng có khá nhiều khái niệm về bảo hiểm y tế (BHYT) Dưới đây là một số khái niệm phổ biến:
Trang 14Theo từ điển Bách khoa toàn thư mở: “Bảo hiểm y tế là các quan hệ kinh tế gắn liền với việc huy động các nguồn tài lực từ sự đóng góp của những người tham gia bảo hiểm để hình thành quỹ bảo hiểm, và sử dụng quỹ để thanh toán các chi phí khám chữa bệnh cho người được bảo hiểm khi ốm đau”.[16]
Trong Điều lệ BHYT Việt Nam có định nghĩa: “Bảo hiểm y tế là một loại chính sách xã hội do Nhà nước tổ chức thực hiện, nhằm huy động sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động, các tổ chức và cá nhân để thanh toán chi phí khám chữa bệnh cho người có thẻ BHYT khi ốm đau”.[5]
Theo Luật BHYT số 46/2014/QH13 của Quốc hội ngày 13/6/2014 (Luật sửa đổi,
bổ sung một số điều của Luật BHYT số 25/2008/QH12): “Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện” Đây
là một khái niệm bao hàm đầy đủ về mặt nội dung và mang tính pháp lý cao nhất hiện nay Vì vậy, khái BHYT trong nghiên cứu này được sử dụng theo quan điểm trên.[6]
1.1.1.3 Khái niệm bảo hiểm y tế toàn dân
BHYT toàn dân là chính sách xã hội quan trọng hàng đầu, mang ý nghĩa nhân đạo và có tính chia sẻ cộng đồng sâu sắc được Đảng và Nhà nước ta hết sức coi trọng, luôn đề cao trong hệ thống chính sách An sinh xã hội Đây là một trong những chính sách an sinh xã hội quan trọng thể hiện tính nhân đạo, nhân văn và tinh thần tương thân tương ái, chia sẻ rủi ro giữa người khỏe với người ốm, giữa người trẻ với người già, giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước nhằm hướng tới công bằng trong chăm sóc sức khỏe, góp phần đảm bảo an sinh xã hội cho mọi người dân
Theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 của Quốc hội ngày 14/11/2008: “Bảo hiểm y
tế toàn dân là việc các đối tượng quy định trong Luật bảo hiểm y tế (bao gồm tổ chức,
cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam có liên quan đến bảo hiểm y tế) đều tham gia bảo hiểm y tế”.[7]
1.1.2 Vai trò của bảo hiểm y tế
1.1.2.1 Vai trò đối với người lao động
Thứ nhất, BHYT có vai trò ổn định về tài chính trong trường hợp rủi ro bị ốm
đau, bệnh tật người tham gia BHYT không phải chịu gánh nặng tài chính của chi phí
Trang 15KCB và do đó duy trì mức sống ổn định cho bản thân và gia đình Trong chăm sóc sức khỏe được bình đẳng, công bằng và được tiếp cận với các dịch vụ kỹ thuật cao
Thứ hai, thông qua việc đóng phí BHYT, người tham gia BHYT đã chuyển giao
những hậu quả rủi ro về tài chính sang cơ quan bảo hiểm
Thứ ba, trong quá trình hoạt động, bên cạnh việc bảo đảm tài chính cho người
tham gia bảo hiểm khi rủi ro các tổ chức bảo hiểm cũng luôn chú ý đến việc tăng cường áp dụng các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tham gia BHYT, góp phần nâng cao sức khỏe con người, làm giảm bớt rủi ro có thể xảy ra
Thứ tư, người tham gia BHYT an tâm về mặt tinh thần, giải tỏa được nỗi sợ hãi,
lo lắng về những tổn thất xảy ra đối với mình
Thứ năm, BHYT tác động đến nếp suy nghĩ của các cá nhân, gia đình, chủ sử
dụng lao động, góp phần hình thành ý thức, thói quen về việc dành một phần thu nhập
để cho cuộc sống tương lai an toàn hơn
1.1.2.2 Vai trò đối với xã hội
Thứ nhất, tăng cường mối quan hệ giữa Nhà nước, người sử dụng lao động và
người lao động là mối quan hệ ràng buộc, chặt chẽ, chia sẻ trách nhiệm, chia sẻ rủi ro chỉ có được trong quan hệ của BHXH, BHYT Tuy nhiên, mối quan hệ này thể hiện trên góc độ khác nhau Người lao động tham gia BHYT với vai trò bảo vệ quyền lợi cho chính mình đồng thời phải có trách nhiệm đối với cộng đồng và xã hội Người sử dụng lao động tham gia BHYT là trách nhiệm và cùng chia sẻ rủi ro cho người lao động nhưng đồng thời cũng bảo vệ, ổn định cuộc sống cho các thành viên trong xã hội Mối quan hệ này thể hiện tính nhân văn, nhân đạo sâu sắc của BHYT
Thứ hai, BHYT thể hiện chủ nghĩa nhân đạo cao đẹp, BHYT tạo cho những
người không may gặp rủi ro có thêm những điều kiện, những lực đẩy cần thiết để khắc phục những biến cố xã hội, hoà nhập vào cộng đồng, kích thích tính tích cực của xã hội trong mỗi con người giúp họ hướng tới những chuẩn mực của chân - thiện - mỹ nhờ đó có thể chống lại tư tưởng “Đèn nhà ai nhà ấy rạng” BHYT là yếu tố tạo nên sự hoà đồng mọi người, không phân biệt giàu nghèo, trẻ già, tôn giáo, chủng tộc, đồng thời giúp mọi người hướng tới một xã hội nhân ái, cuộc sống công bằng, bình yên
Thứ ba, BHYT thể hiện truyền thống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau tương thân
tương ái của cộng đồng, đây là nhân tố quan trọng của cộng đồng, giúp đỡ những
Trang 16người rủi ro ốm đau, bệnh tật, tạo điều kiện cho một xã hội phát triển lành mạnh và bền vững
Thứ tư, BHYT góp phần thực hiện bình đẳng xã hội: trên giác độ xã hội, BHYT
là một chuẩn mực đánh giá điều kiện sống cho mọi thành viên trong xã hội; trên giác
độ kinh tế, BHYT là một công cụ phân phối lại thu nhập giữa các thành viên trong cộng đồng Nhờ sự điều tiết này người tham gia BHYT được thực hiện bình đẳng, công bằng trong chăm sóc sức khỏe
1.1.2.3 Vai trò đối với nền kinh tế
Thứ nhất, Quỹ BHYT góp phần củng cố chính sách an sinh xã hội của mỗi quốc
gia Đối với mỗi cá nhân, khi tham gia BHYT là thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi công dân trong thực hiện chính sách pháp luật về BHYT, xem việc tham gia BHYT là một cách thức dự phòng rủi ro về tài chính khi ốm đau bệnh tật có tính ổn định và đảm bảo, giảm gánh nặng chi tiêu từ tiền túi cá nhân, tránh rơi vào bẫy nghèo đói do chi phí y tế Hình thành một nếp suy nghĩ mới, một thói quen mới và một cách ứng xử văn minh, có văn hóa, có trách nhiệm với bản thân, gia đình và cộng đồng về khía cạnh chăm sóc sức khỏe
Thứ hai, Đối với các tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp (DN) khi buộc phải nghiêm
túc thực hiện việc tham gia BHYT cho người lao động theo quy định sẽ góp phần đảm bảo quyền lợi của người lao động, khắc phục được một trong những nguyên nhân phát sinh đình công, lãn công, ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất, thiệt hại về vật chất và tác động bất lợi đến môi trường đầu tư Khi chuyển sang cơ chế thị trường, thì sự ràng buộc về chính sách đối với các quốc gia là bất khả kháng
Thứ ba, quỹ BHYT do các bên tham gia đóng góp được tích tụ tập trung rất lớn,
phần quỹ nhàn rỗi được đem đầu tư cho nền kinh tế tạo ra sự tăng trưởng, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước thông qua nhiều hình thức khác nhau Thứ tư, BHYT vừa tạo động lực cho các thành phần kinh tế phát triển nhưng mặt khác tạo ra sự bình đẳng, công bằng trong chăm sóc sức khỏe giữa các tầng lớp dân cư hướng tới một xã hội tốt đẹp
1.1.3 Nguyên tắc, tính chất cơ bản và mục tiêu của bảo hiểm y tế
1.1.3.1 Những nguyên tắc của bảo hiểm y tế
Theo Luật BHYT số 25/2008/QH12 của Quốc hội ngày 14/11/2008, nguyên tắc của bảo hiểm y tế như sau:
Trang 17- Bảo đảm chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia bảo hiểm y tế
- Mức đóng bảo hiểm y tế được xác định theo tỷ lệ phần trăm của tiền lương, tiền công, tiền lương hưu, tiền trợ cấp hoặc mức lương tối thiểu của khu vực hành chính (sau đây gọi chung là mức lương tối thiểu)
- Mức hưởng bảo hiểm y tế theo mức độ bệnh tật, nhóm đối tượng trong phạm vi quyền lợi của người tham gia bảo hiểm y tế
- Chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế do quỹ bảo hiểm y tế và người tham gia bảo hiểm y tế cùng chi trả
- Quỹ bảo hiểm y tế được quản lý tập trung, thống nhất, công khai, minh bạch, bảo đảm cân đối thu, chi và được Nhà nước bảo hộ.[7]
1.1.3.2 Những tính chất cơ bản của bảo hiểm y tế
- BHYT có tính tất yếu khách quan trong đời sống xã hội do nhu cầu của con người mà hoạt động bảo hiểm ra đời, kinh tế càng phát triển, đời sống càng cao thì nhu cầu bảo hiểm càng lớn ngày nay hoạt động bảo hiểm đã xâm nhập vào mọi lĩnh vực
đời sống, kinh tế, xã hội đặc biệt ở các quốc gia phát triển;
- BHYT vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội và tính dịch vụ Các tính chất này đan xen, bổ trợ và thúc đẩy lẫn nhau
1.1.3.3 Mục tiêu của bảo hiểm y tế
- Huy động nguồn tài chính từ sự đóng góp của người lao động, chủ sử dụng lao động, của nhân dân, cùng với nguồn hỗ trợ của Nhà nước để hình thành quỹ BHYT tập trung Quỹ BHYT thực hiện việc thanh toán chi phí KCB theo quy định của nhà nước cho những người tham gia BHYT;
- Giảm bớt gánh nặng về tài chính cho người tham gia BHYT khi ốm đau, đặc biệt trong trường hợp bệnh nặng, phải sử dụng các dịch vụ kỹ thuật cao, các loại thuốc đặc trị có chi phí lớn và đắt tiền;
- Góp phần thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe và tái phân phối thu nhập Với số lượng nhiều người đóng góp, mỗi người tham gia BHYT sẽ được hưởng lợi tối đa nếu không may rủi ro, cho dù mức đóng góp của mỗi cá nhân rất nhỏ bé Việc thu phí của các đối tượng thuộc các thành phần khác nhau trong xã hội theo các mức khác nhau, dựa vào thu nhập và khả năng có thể đóng góp, tạo nên sự hỗ trợ bù trừ giữa người giầu và người nghèo, người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp, người có rủi ro cao và người ít nguy cơ rủi ro
Trang 181.1.4 Các quy định cơ bản về nội dung tham gia bảo hiểm y tế
1.1.4.1 Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế
Theo Văn bản hợp nhấp 46/VBHN-VPQH Luật bảo hiểm y tế Căn cứ Điều 12
đang quy định Đối tượng tham gia bảo hiểm y tế gồm:
1/ Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng, bao gồm:
a) Người lao động làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn, hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên; người lao động là người quản lý doanh nghiệp hưởng tiền lương; cán bộ, công chức, viên chức (sau đây gọi chung là người lao động);
b) Người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật
2/ Nhóm do tổ chức bảo hiểm xã hội đóng, bao gồm:
a) Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng;
b) Người đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp hoặc mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày; người từ đủ 80 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp tuất hằng tháng;
c) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp bảo hiểm xã hội hằng tháng;
d) Người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
3/ Nhóm do ngân sách nhà nước đóng, bao gồm:
a) Sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sỹ quan, binh sỹ quân đội đang tại ngũ; sỹ quan, hạ sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng công an nhân dân, học viên công an nhân dân, hạ sỹ quan, chiến sỹ phục vụ có thời hạn trong công an nhân dân; người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân; học viên cơ yếu được hưởng chế độ, chính sách theo chế độ, chính sách đối với học viên ở các trường quân đội, công an;
b) Cán bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
c) Người đã thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước;
d) Người có công với cách mạng, cựu chiến binh;
đ) Đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp đương nhiệm;
Trang 19e) Trẻ em dưới 6 tuổi;
g) Người thuộc diện hưởng trợ cấp bảo trợ xã hội hằng tháng;
h) Người thuộc hộ gia đình nghèo; người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; người đang sinh sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; người đang sinh sống tại xã đảo, huyện đảo;
i) Thân nhân của người có công với cách mạng là cha đẻ, mẹ đẻ, vợ hoặc chồng, con của liệt sỹ; người có công nuôi dưỡng liệt sỹ;
k) Thân nhân của người có công với cách mạng, trừ các đối tượng quy định tại điểm i khoản này;
l) Thân nhân của các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này;
m) Người đã hiến bộ phận cơ thể người theo quy định của pháp luật;
n) Người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam được cấp học bổng từ ngân sách của Nhà nước Việt Nam
4/ Nhóm được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng, bao gồm:
a) Người thuộc hộ gia đình cận nghèo;
b) Học sinh, sinh viên
5/ Nhóm tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình gồm những người thuộc hộ gia đình, trừ đối tượng quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này
6/ Chính phủ quy định các đối tượng khác ngoài các đối tượng quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này; quy định việc cấp thẻ bảo hiểm y tế đối với đối tượng do Bộ Quốc phòng, Bộ Công an quản lý và đối tượng quy định tại điểm l khoản 3 Điều này; quy định lộ trình thực hiện bảo hiểm y tế, phạm vi quyền lợi, mức hưởng bảo hiểm y
tế, khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, quản lý, sử dụng phần kinh phí dành cho khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế, giám định bảo hiểm y tế, thanh toán, quyết toán bảo hiểm y tế đối với các đối tượng quy định tại điểm a khoản 3 Điều này.[6]
1.1.4.2 Cơ sở, phương thức thực hiện
a) Cơ sở thực hiện:
1/ Đối với người lao động thuộc đối tượng thực hiện chế độ tiền lương do Nhà nước quy định thì căn cứ để đóng bảo hiểm y tế là tiền lương tháng theo ngạch bậc, cấp quân hàm và các khoản phụ cấp chức vụ, phụ cấp thâm niên vượt khung, phụ cấp thâm niên nghề (nếu có)
Trang 202/ Đối với người lao động hưởng tiền lương, tiền công theo quy định của người
sử dụng lao động thì căn cứ để đóng bảo hiểm y tế là tiền lương, tiền công tháng được ghi trong hợp đồng lao động
3/ Đối với người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp thất nghiệp hằng tháng thì căn cứ để đóng bảo hiểm y tế là tiền lương hưu, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp thất nghiệp hằng tháng
4/ Đối với các đối tượng khác thì căn cứ để đóng bảo hiểm y tế là mức lương cơ
2/ Đối với các doanh nghiệp nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp không trả lương theo tháng thì 3 hoặc 6 tháng một lần, người sử dụng lao động đóng BHYT cho người lao động và trích tiền đóng BHYT từ tiền lương, tiền công của người lao động để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT
3/ Hằng tháng, tổ chức BHXH đóng BHYT vào quỹ BHYT cho các đối tượng: Người hưởng lương hưu, trợ cấp mất sức lao động hằng tháng; người hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng do bị tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp; người thôi hưởng trợ cấp mất sức lao động đang hưởng trợ cấp hằng tháng từ ngân sách nhà nước (NSNN); cán
bộ xã, phường, thị trấn đã nghỉ việc đang hưởng trợ cấp BHXH hằng tháng và người đang hưởng trợ cấp thất nghiệp
4/ Hằng năm, cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng đóng BHYT vào quỹ BHYT cho các đối tượng (cụ thể theo nghị định 146/2018/NĐ-CP)
5/ Hàng năm, cơ quan, tổ chức quản lý đối tượng đóng BHYT vào quỹ BHYT cho thân nhân của các đối tượng: Người có công với cách mạng theo quy định của pháp lệnh ưu đãi người có công cách mạng; các đối tượng theo quy định của pháp luật
về sỹ quan quân đội nhân dân, nghĩa vụ quân sự, Công an nhân dân và cơ yếu (Sỹ
Trang 21quan, quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân đang tại ngũ; hạ sỹ quan, binh sỹ đang phục vụ trong Quân đội nhân dân; sỹ quan nghiệp vụ và sỹ quan, hạ sỹ quan chuyên môn, kỹ thuật đang công tác trong lực lượng Công an nhân dân; hạ sỹ quan, chiến sỹ Công an nhân dân phục vụ có thời hạn; sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp đang làm công tác cơ yếu tại Ban cơ yếu Chính phủ và người đang làm công tác cơ yếu hưởng lương theo bảng lương cấp bậc quân hàm sỹ quan Quân đội nhân dân
và bảng lương quân nhân chuyên nghiệp thuộc Quân đội nhân dân nhưng không phải
là quân nhân, Công an nhân dân)
6/ Hằng tháng, cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp học bổng cho đối tượng người nước ngoài đang học tập tại Việt Nam đóng BHYT vào quỹ BHYT
7/ Định kỳ 6 tháng một lần, hoặc một lần cho cả năm đối tượng đóng BHYT vào quỹ BHYT bao gồm: Người thuộc hộ gia đình cận nghèo; người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, ngư nghiệp và diêm nghiệp; xã viên hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể 8/ Định kỳ 6 tháng một lần hoặc một lần cho cả năm, tổ chức quản lý học sinh, sinh viên, thu tiền đóng BHYT của đối tượng để nộp vào quỹ BHYT
9/ Hằng tháng, người lao động đóng BHYT cho thân nhân của người lao động mà người lao động có trách nhiệm nuôi dưỡng và sống cùng hộ gia đình thông qua người
sử dụng lao động để nộp vào quỹ BHYT
10/ Hằng tháng, tổ chức BHXH đóng BHYT cho công nhân cao su đang hưởng trợ cấp hằng tháng theo Quyết định số 206/CP ngày 30/5/1979 của Hội đồng chính phủ (nay là Chính phủ); người lao động được hưởng chế độ ốm đau theo quy định của pháp luật về BHXH do mắc bệnh thuộc danh mục bệnh cần chữa trị dài ngày do Bộ Y
tế ban hành, vào quỹ BHYT
11/ Hằng tháng, UBND xã, phường, thị trấn đóng BHYT cho người hoạt động không chuyên trách ở xã, phường, thị trấn theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức và trích từ tiền phụ cấp hằng tháng của họ để nộp cùng một lúc vào quỹ BHYT 12/ Định kỳ 6 tháng một lần, căn cứ danh sách đối tượng, tổng số tiền đóng BHYT của đối tượng được NSNN hỗ trợ mức đóng do tổ chức BHXH báo cáo và mức NSNN hỗ trợ theo quy định, cơ quan tài chính chuyển kinh phí vào quỹ BHYT theo phân cấp của luật NSNN.[5]
1.1.4.3 Các chủ thể liên quan đến tham gia đóng bảo hiểm y tế
a) Cơ quan quản lý nhà nước về BHYT:
Trang 22(Theo điều 5 Luật BHYT) cơ quan quản lý nhà nước về BHYT được quy định như sau:
b) Đối tượng tham gia BHYT:
Là những người tham gia BHXH bắt buộc; những người thuộc lực lượng vũ trang; người tham gia BHXH tự nguyện; người hưởng trợ cấp BHXH, trợ cấp BHXH hằng tháng; trẻ em dưới 6 tuổi; HSSV và các đối tượng khác theo quy định của Chính
phủ
c) Người sử dụng lao động:
Bao gồm cơ quan quản lý nhà nước, đơn vị sự nghiệp công lập, đơn vị vũ trang nhân dân, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh cá thể và tổ chức khác; tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam có trách nhiệm đóng BHYT.[7]
Trang 23d) Bằng 4,5% tiền trợ cấp thất nghiệp đối với đối tượng quy định tại khoản 6 Điều 2 Nghị định này;
đ) Bằng 4,5% mức lương cơ sở đối với các đối tượng khác;
e) Mức đóng bảo hiểm y tế của đối tượng quy định tại Điều 5 Nghị định này như sau: Người thứ nhất đóng bằng 4,5% mức lương cơ sở; người thứ hai, thứ ba, thứ
tư đóng lần lượt bằng 70%, 60%, 50% mức đóng của người thứ nhất; từ người thứ năm trở đi đóng bằng 40% mức đóng của người thứ nhất
Việc giảm trừ mức đóng bảo hiểm y tế theo quy định tại điểm này được thực hiện khi các thành viên tham gia bảo hiểm y tế theo hộ gia đình cùng tham gia trong năm tài chính
Đối với đối tượng được ngân sách nhà nước hỗ trợ mức đóng thì không áp dụng giảm trừ mức đóng theo quy định tại điểm e khoản 1 Điều này
Trường hợp đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 1 Nghị định này có thêm một hoặc nhiều hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc hợp đồng lao động có thời hạn từ đủ 3 tháng trở lên thì đóng bảo hiểm y tế theo hợp đồng lao động có mức tiền lương cao nhất
Trường hợp đối tượng tham gia bảo hiểm y tế theo quy định tại Điều 6 Nghị định này đồng thời thuộc nhiều đối tượng tham gia bảo hiểm y tế khác nhau quy định tại các Điều 1, 2, 3 và 4 Nghị định này thì đóng bảo hiểm y tế theo thứ tự như sau: Do người lao động và người sử dụng lao động đóng; do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng; do ngân sách nhà nước đóng; do người sử dụng lao động đóng
Bộ Y tế chủ trì, phối hợp với Bộ Tài chính trình Chính phủ điều chỉnh mức đóng bảo hiểm y tế để đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm y tế, phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước và đóng góp của các đối tượng có trách nhiệm đóng bảo hiểm y tế theo quy định của Luật bảo hiểm y tế.[5]
1.1.4.5 Quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia bảo hiểm y tế
a) Quyền lợi:
1/ Được cấp thẻ bảo hiểm y tế khi đóng bảo hiểm y tế
2/ Được đóng bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tại đại lý bảo hiểm y tế trong phạm vi cả nước; được lựa chọn cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế ban đầu theo quy định tại khoản 1 Điều 26 của Luật này
3/ Được khám bệnh, chữa bệnh
Trang 244/ Được tổ chức bảo hiểm y tế thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo chế độ bảo hiểm y tế
5/ Yêu cầu tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế và
cơ quan liên quan giải thích, cung cấp thông tin về chế độ bảo hiểm y tế
6/ Khiếu nại, tố cáo hành vi vi phạm pháp luật về bảo hiểm y tế
b) Nghĩa vụ:
1/ Đóng bảo hiểm y tế đầy đủ, đúng thời hạn
2/ Sử dụng thẻ bảo hiểm y tế đúng mục đích, không cho người khác mượn thẻ bảo hiểm y tế
3/ Thực hiện các quy định tại Điều 28 của Luật này khi đến khám bệnh, chữa bệnh
4/ Chấp hành các quy định và hướng dẫn của tổ chức bảo hiểm y tế, cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khi đến khám bệnh, chữa bệnh
5/ Thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh cho cơ sở khám bệnh, chữa bệnh ngoài phần chi phí do quỹ bảo hiểm y tế chi trả.[5]
1.1.5 Các học thuyết áp dụng trong nghiên cứu
1.1.5.1 Lý thuyết lựa chọn hợp lý:
Lý thuyết lựa chọn hợp lý, còn được gọi là lý thuyết lựa chọn hay lý thuyết hành động hợp lý, là một khuôn khổ cho sự hiểu biết và thường chính thức mô hình hóa hành vi kinh tế và xã hội Những tiền đề cơ bản của lý thuyết lựa chọn hợp lý là kết quả hành vi xã hội tổng hợp từ các hành vi của các diễn viên cá nhân , mỗi người được quyết định cá nhân của họ Do đó, lý thuyết tập trung vào yếu tố quyết định sự lựa chọn cá nhân (cá nhân luận) Lý thuyết lựa chọn hợp lý sau đó giả định rằng một cá nhân có sở thích trong số các lựa chọn thay thế lựa chọn có sẵn cho phép họ để nêu một phương án mà họ thích Những sở thích được giả định là đủ (người luôn có thể nói
đó của hai lựa chọn thay thế họ xem xét thích hợp hơn hoặc không được ưa thích đến khác) và bắc cầu (nếu tùy chọn A được ưa thích hơn tùy chọn B và tùy chọn B được
ưa thích hơn tùy chọn C, sau đó A được ưa thích hơn C) Các đại lý hợp lý được giả định để lấy tài khoản của các thông tin có sẵn, xác suất của các sự kiện, và các chi phí
và lợi ích trong việc xác định sở thích, và hành động phù hợp trong việc lựa chọn các lựa chọn tốt nhất tự xác định các hành động
Trang 25Áp dụng vào vấn đề nghiên cứu, ngày nay, BHYT có ý nghĩa quan trọng hơn khi chi phí y tế và nhu cầu khám chữa bệnh ngày càng tăng Không ai có thể phủ nhận những thành tựu của ngành y học mở ra cho con người những hy vọng mới, nhiều bệnh hiểm nghèo đã tìm được thuốc phòng và chữa bệnh Nhiều trang thiết bị y tế hiện đại được đưa vào để chuẩn đoán và điều trị Nhiều công trình nghiên cứu về các loại thuốc đặc trị đã thành công Tuy nhiên không phải ai cũng có thể tiếp cận với những thành tựu đó đặc biệt là những người nghèo Đại đa số người dân bình thường không
có đủ khả năng tài chính để khám chữa bệnh, còn những người khá giả hơn cũng có thể gặp - bẫy - đói nghèo bất cứ khi nào Chính vì vậy, mỗi cá nhân, đặc biệt là nguời nghèo, khi nhận thức được các thông tin đầy đủ về BHYT sẽ lựa chọn việc có tham gia vào BHYT hay không để có thể được tiếp cận với các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ
1.1.5.2 Lý thuyết mạng lưới xã hội:
Khái niệm mạng lưới xã hội dùng để chỉ phức thể các mối quan hệ xã hội do con người xây dựng, duy trì và phát triển trong cuộc sống thực của họ với tư cách là thành viên xã hội
Khi nghiên cứu các kiểu mạng lưới xã hội, Mark Granovetter cho biết, mật độ và cường độ của các mối liên hệ xã hội có tác dụng khác nhau đối với giao tiếp và sự hội nhập xã hội Trái với quan niệm thông thường, ông cho rằng những người có mạng lưới xã hội dày đặc khép kín trong đó mọi người đều quen biết và thân thiết nhau có thể sẽ tạo ra sự hạn chế trong việc trao đổi thông tin và cản trở sự liên hệ với thế giới bên ngoài Ngược lại, một mạng lưới xã hội gồm các mối quan hệ yếu ớt, lỏng lẻo, thưa thớt, luôn luôn mở lại tỏ ra có lợi cho sự trao đổi thông tin và tạo ra sự hội nhập với xã hội cũng như tạo cơ hội cho cá nhân theo đuổi mục đích của họ Granovetter gọi đó là “hiệu ứng mạnh của các mối liên hệ yếu ớt”
Trong nghiên cứu này, mối quan hệ của các thành viên tham gia vào hệ thống BHYT là các quan hệ xã hội yếu ớt, lỏng lẻo nhưng cũng chính từ đây mở ra những cơ hội cho các thành viên được tiếp cận với dịch vụ chăm sóc sức khoẻ, đặc biệt là những người nghèo không có khả năng chi trả cho chi phí khám chữa bệnh hiểm nghèo BHYT là sự san sẻ rủi ro của mọi người trong cộng đồng, là giải pháp hữu hiệu để mọi người vượt qua bệnh tật Theo đó người khoẻ mạnh giúp đỡ người bị bệnh về mặt tài chính để họ được sử dụng thuốc men, trang thiết bị y tế sớm bình phục sức khoẻ Đó chính là sức mạnh của các mối liên hệ yếu ớt trong mạng lưới tham gia BHYT
Trang 261.1.5.3 Lý thuyết về thứ bậc nhu cầu của Maslow:
Theo Abraham Maslow, về căn bản, nhu cầu của con người được chia làm hai
nhóm chính: nhu cầu cơ bản (basic needs) và nhu cầu bậc cao (meta needs)
Nhu cầu cơ bản liên quan đến các yếu tố thể lý của con người như mong muốn
có đủ thức ăn, nước uống, được nghỉ ngơi Những nhu cầu cơ bản này đều là các nhu cầu không thể thiếu hụt vì nếu con người không được đáp ứng đủ những nhu cầu này,
họ sẽ không tồn tại được nên họ sẽ đấu tranh để có được và tồn tại trong cuộc sống hàng ngày
Các nhu cầu cao hơn nhu cầu cơ bản trên được gọi là nhu cầu bậc cao Những nhu cầu này bao gồm nhiều nhân tố tinh thần như sự đòi hỏi công bằng, an tâm, an toàn, vui vẻ, địa vị xã hội, sự tôn trọng, vinh danh với một cá nhân
Các nhu cầu cơ bản thường được ưu tiên chú ý trước so với những nhu cầu bậc cao này Với một người bất kỳ, nếu thiếu ăn, thiếu uống họ sẽ không quan tâm đến các nhu cầu về vẻ đẹp, sự tôn trọng Tuy nhiên, tuỳ theo nhận thức, kiến thức, hoàn cảnh, thứ bậc các nhu cầu cơ bản có thể đảo lộn Ví dụ như: người ta có thể hạn chế
ăn, uống, ngủ nghỉ để phục vụ cho các sự nghiệp cao cả hơn
Cấu trúc của Tháp nhu cầu có 5 tầng, trong đó, những nhu cầu con người được liệt kê theo một trật tự thứ bậc hình tháp kiểu kim tự tháp
H nh 1 1 Mô h nh hó bậc th ng nhu cầu củ A M slow
(Nguồn: Bùi Thị Xuân Mai; Nguyễn Thị Thái Lan; Lim Shaw Hui, Giáo trình Tham
vấn, Đại học Lao động xã hội (2008))
Trang 27Áp dụng học thuyết này trong vấn đề nghiên cứu, vấn đề sức khoẻ đối với mỗi cá nhân con người là rất quan trọng bởi không chỉ nó có liên quan đến khả năng sống như
đi lại, làm việc… mà còn liên quan đến thu nhập, tâm lý, khả năng phát triển,… Do vậy, một trong những nhu cầu thiết yếu của mỗi con người là được chăm sóc sức khoẻ
- y tế Tuy nhiên, không phải ai, bất cứ lúc nào cũng đủ điều kiện để được chăm sóc y
tế một cách tốt nhất Trong xã hội còn không ít những người không có khả năng chi trả cho các dịch vụ chăm sóc sức khoẻ mà họ cần đến sự giúp được của cộng đồng, Nhà nước và các tổ chức xã hội Bảo hiểm là một trong những hình thức hiệu quả giúp đỡ các thành viên của cộng đồng tránh được những rủi ro về sức khoẻ và tài chính, không chỉ vậy, đối với những người được khám chữa bệnh bằng BHYT thì họ được chi trả một phần hoặc toàn bộ, những chi phí đáng lẽ ra phải trả cho lần khám chữa bệnh đó được dành cho các hoạt động quan trọng khác như giáo dục, đào tạo nghề,…
1 2 Cơ sở thực tiễn củ đị bàn nghiên cứu
1.2.1 Khái quát chung về huyện Bát Xát, tỉnh Lào Cai
1.2.1.1 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Bát Xát
(1) Đặc điểm tự nhiên của huyện
* Vị trí địa lý, địa hình, địa mạo:
Huyện Bát Xát nằm ở phía tây bắc tỉnh Lào Cai, huyện lỵ là thị trấn Bát Xát cách thành phố Lào Cai 12 km về hướng tây bắc, có vị trí địa lý: Phía tây bắc và đông bắc giáp tỉnh Vân Nam, Trung Quốc; Phía tây giáp huyện Phong Thổ, tỉnh Lai Châu; Phía nam giáp thị xã Sa Pa và thành phố Lào Cai
Bát Xát là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía tây bắc tỉnh Lào Cai, có địa bàn rất quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng - an ninh của tỉnh, có diện tích tự nhiên 1.035,51 km², trên 70% là đồi núi, gồm Huyện có 20 xã, 1 thị trấn; trong đó có 10 xã, 31 thôn bản biên Toàn bộ địa hình Bát Xát được kiến tạo bởi nhiều dải núi cao, nổi bật là hai dải núi chính tạo nên các hợp thuỷ: Ngòi Phát, suối Lũng Pô, Suối Quang Kim Địa hình cao dần, điểm cao nhất có độ cao 2,945m, điểm thấp nhất
có độ cao 88m
* Điều kiện đất đai:
Cơ cấu sử dụng đất của huyện Bát Xát năm 2015-2020: Đất nông nghiệp chiếm 86,01%; Đất phi nông nghiệp chiếm 7,6%; Đất chưa sử dụng chiếm 6,39%.[15]
Trang 28Bảng 1 2 Diện tích cơ cấu đất trên đị bàn huyện Bát Xát n m 2015-2020
(Báo cáo sử dụng và phân bố đất của huyện Bát Xát năm 2019)
(2) Đặc điểm kinh tế xã hội của huyện
Trang 29* Dân số, dân cư, lao dộng và việc làm:
Bảng 1 4 Đặc điểm dân số và l o động huyện Bát Xát từ 1/4/2019-18/4/2019
1.1 Nhân khẩu nông nghiệp 70.126 84,762
1.2 Nhân khẩu phi nông nghiệp 12.607 15,238
2.1 Lao động nông nghiệp 39.4 82,6
2.1 Lao động phi nông nghiệp 8.3 17,4
3.1 Hộ nông nghiệp 14.359 76,6
3.2 Hộ phi nông nghiệp 4.495 23,84
6 Thu nhập BQĐN (triệu
(Báo cáo về dân số của huyện Bát Xát năm 2019)
Theo số liệu thu thập từ 1/4/2018-18/4/2019 cho thấy có 18,854 hộ dân cư; 82,733 nhân khẩu; trong đó 42.215 nam; 40.517 nữ; 5,607 người cư trú ở khu vực thành thị; 77,126 nhân khẩu nông thôn; Gồm 25 dân tộc Trên địa bàn huyện Bát Xát hiện có trên 47,7 nghìn người lao động, tỷ lệ lao động có việc làm thường xuyên là 92,3% Theo
số liệu báo cáo, trong 3 năm (2017- 2019), huyện Bát Xát đã tổ chức được 72 phiên giao dịch việc làm; đối thoại thanh niên khởi nghiệp và giải quyết việc làm cho 6,8 nghìn lao động; đào tạo nghề cho trên 23 nghìn người Huyện Bát Xát có khoảng 82.6% nhân khẩu sống bằng nghề nông nghiệp và khoảng 17.4% nhân khẩu không sống bằng nghề nông nghiệp.[13]
1.2.1.2 Đánh giá về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường của huyện (1) Những lợi thế:
Bát Xát là huyện vùng cao biên giới nằm ở phía tây bắc tỉnh Lào Cai, có địa bàn rất quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội và quốc phòng - an ninh của tỉnh Bát Xát là điểm đầu đường cao tốc Lào Cai Hà Nội, tuyến đường xuyên á, vị trí liền kề với cửa khẩu quốc tế Lào Cai với vai trò là bàn đạp cho hai hành lang, một vành đai kinh tế quan trọng của Việt Nam với Châu Hồng Hà tỉnh Vân Nam Trung Quốc, Bát Xát dễ dàng nhận được sự phát triển lan toả của khu kinh tế cửa khẩu Lào Cai
Trang 30Với nông nghiệp là thế mạnh, huyện tập trung phát triển lúa chất lượng cao, trồng rau an toàn, rau trái vụ, chè, cây dược liệu, chuối mô, mở rộng diện tích vùng trồng đao riềng
Nhiều khu vực có khí hậu mát mẻ, phong cảnh hoang sơ đẹp, nét văn hóa đa dạng, Bát Xát được đánh giá là nơi hội tụ các yếu tố để trở thành vùng du lịch nổi
tiếng thu hút du khách phát triển nghành du lịch
Bát Xát được đánh giá là huyện giàu tiềm năng về tài nguyên khoáng sản Mỏ đồng Sinh quyền với trữ lượng địa chất trên 100 triệu tấn, là mỏ đa kim ngoài đồng còn có sắt, vàng, bạc, lưu huỳnh; 16 điểm mỏ sắt kéo dài dọc sông Hồng; 2 phân vùng của mỏ Apatit Ngoài ra trên địa bàn huyện còn có các mỏ khoáng sản khác như Cao
lanh, grafit, đất hiếm, sét xi măng, sét gạch ngói
Bên cạnh đó, do địa bàn chia cắt mạnh, mạng lưới sông suối tương đối dày đặc,
có lợi thế phát triển thuỷ điện
(2) Những khó khăn, thách thức:
Tỷ lệ giảm nghèo của Bát Xát không đều do có độ vênh khá lớn giữa các xã vùng thấp và vùng cao Hiện Bát Xát vẫn còn nhiều xã vùng cao thuộc diện đặc biệt khó khăn, đây được xem là thách thức lớn đối với tác công giảm nghèo ở Bát Xát trong giai đoạn tới bởi đặc thù địa hình và tỷ lệ đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã này chiếm
trên từ 90% trở lên, nhận thức của nhiều bà con về phát triển kinh tế còn chưa cao
Do địa hình bị chưa cắt mạnh nên giao thông đi lại giữa các xã trong huyện rất
khó khăn Bát Xát có khí hậu nhiệt đới gió mùa, song do nằm sâu trong lục địa bị chi
phối bởi yếu tố địa hình phức tạp nên diễn biến thời tiết có phần thay đổi, khác biệt theo thời gian và không gian Đây là một trong những tỉnh phải đối mặt với các thiên tai như hạn hán, cháy rừng, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất, băng giá, sương muối, Những tác động này đã gây ảnh hưởng nặng nề tới sinh kế người dân địa phương nói chung và
đồng bào các dân tộc thiểu số nói riêng
1.2.2 Khái quát chung về tổ chức bảo hiểm xã hội huyện Bát Xát
1.2.2.1 Khái quát sự hình thành và phát triển
Bảo hiểm huyện Bát Xát chính thức được cấp giấy phép và đi vào hoạt động ngày 24/05/2010, được xây dựng trên Đường 35m – thị trấn Bát Xát – Bát Xát Đến nay đã mở rộng 7 đại lý thu chính, 25 điểm thu nhỏ tại thị trấn và các xã
Trang 311.2.2.2 Cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Bát Xát
Bảo hiểm xã hội huyện Bát Xát do Giám đốc quản lý và điều hành theo chế độ thủ trưởng Giám đốc chịu trách hiện điều hành toàn diện và quản lý mọi hoạt động của BHXH uyện Bát Xát Giúp việc cho Giám đốc BHXH huyện Bát Xát có 01 Phó giám đốc Các bộ phận trực thuộc BHXH huyện Bát Xát có chức năng giúp Giám đốc BHXH huyện Bát Xát tổ chức quản lý quỹ BHXH, quỹ BHYT và thực hiện các chế
độ, chính sách BHXH, BHYT theo từng lĩnh vực chuyên môn, nghiệp vụ của bộ phận
Cơ cấu tổ chức của BHXH huyện Bát Xát được thể hiện trong sơ đồ 2.1
Sơ đồ 1 1 Cơ cấu bộ máy quản lý BHXH huyện Bát Xát, tỉnh Lào C i
(Nguồn: BHXH huyện Bát Xát, 2020) 1.2.2.3 Chức năng của BHXH huyện Bát Xát
- Bảo hiểm xã hội huyện là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm xã hội tỉnh đặt tại huyện, có chức năng giúp Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn huyện theo quy định
- Bảo hiểm xã hội huyện chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh và chịu sự quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn của Ủy ban nhân dân huyện
- Bảo hiểm xã hội huyện có tư cách pháp nhân, có con dấu, tài khoản và trụ sở riêng
- Không tổ chức đơn vị Bảo hiểm xã hội thành phố, thị xã tại các đơn vị hành chính cấp thành phố, thị xã nơi có trụ sở Bảo hiểm xã hội cấp tỉnh đóng trên địa bàn (có phụ lục kèm theo); việc tổ chức thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế; quản lý thu, chi bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn các đơn vị hành chính trên do Bảo hiểm xã hội tỉnh trực tiếp thực hiện
& CNTT
Bộ phận
Kế hoạch tài chính
Bộ phận Chế độ BHXH
Bộ phận Giám định BHYT
Giám đốc
Bộ phận TNHS &
trả KQ
Trang 321.2.2.4 Nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH huyện Bát Xát
- Xây dựng trình Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh kế hoạch phát triển Bảo hiểm
xã hội huyện dài hạn, ngắn hạn và chương trình công tác hàng năm; tổ chức thực hiện
kế hoạch, chương trình sau khi được phê duyệt
- Thực hiện công tác thông tin, tuyên truyền, phổ biến các chế độ, chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế
- Tổ chức thực hiện các nhiệm vụ theo phân cấp của Bảo hiểm xã hội Việt Nam
và Bảo hiểm xã hội tỉnh, cụ thể:
- Giải quyết các kiến nghị, khiếu nại về việc thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế đối với các tổ chức, cá nhân tham gia
và các cơ sở khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế theo quy định
- Thực hiện chương trình, kế hoạch cải cách hành chính theo chỉ đạo, hướng dẫn của Bảo hiểm xã hội tỉnh Tổ chức triển khai hệ thống quản lý chất lượng theo Tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO vào hoạt động của Bảo hiểm xã hội huyện
- Tổ chức thực hiện giao dịch điện tử trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định
- Quản lý, lưu trữ hồ sơ nghiệp vụ, tài liệu hành chính và hồ sơ hưởng các chế
độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế
- Hướng dẫn nghiệp vụ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế cho các tổ chức, cá nhân tham gia
- Chủ trì, phối hợp với các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị - xã hội trên địa bàn, với các tổ chức, cá nhân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế để giải quyết các vấn đề có liên quan đến việc thực hiện các chế độ bảo hiểm
xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế theo quy định
- Đề xuất, kiến nghị, phối hợp với cơ quan nhà nước có thẩm quyền thanh tra, kiểm tra các tổ chức, cá nhân trong việc thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế
- Có quyền khởi kiện vụ án dân sự để yêu cầu tòa án bảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích nhà nước trong lĩnh vực bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế trên địa bàn
- Thực hiện các nhiệm vụ khác do Giám đốc Bảo hiểm xã hội tỉnh giao.[12]
Trang 33CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM THÚC ĐẨY THAM GIA BẢO HIỂM TẾ CỦA NGƯỜI DÂN TRÊN ĐỊA BÀN HU ỆN BÁT XÁT,
TỈNH LÀO CAI 2.1 Thực trạng tham gia BH T củ người dân trên đị bàn huyên Bát Xát
2.1.1 Thực trạng công tác tuyên truyền về BHYT nhằm thu hút người dân tham gia
Việc tuyên truyền, nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, chủ sử dụng lao động, người lao động và nhân dân về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đối với chính sách BHYT để thuyết phục, động viên mọi người nêu cao ý thức, trách nhiệm tự nguyện, tự giác tham gia BHYT có ý nghĩa hết sức quan trọng góp phần làm tăng nhận thức của xã hội về chính sách BHYT Nhận thức rõ tầm quan trọng của công tác tuyên truyền các chế độ của Đảng và Nhà nước về chính sách BHYTTN và đặc biệt là tiếp tục tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 và Đề án thực hiện lộ trình tiến tới thực hiện
BHYT toàn dân giai đoạn 2012 – 2020 Những năm qua, công tác tuyên truyền luôn
được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của ngành BHXH, ngoài những chương trình truyền thông của BHXH Việt Nam, của BHXH tỉnh thì BHXH huyện Bát
Xát đã thực hiện công tác này bằng các hình thức:
- Ban hành các văn bản chỉ đạo, tổ chức tập huấn hướng dẫn cho tất cả đại lý thu về công tác thu nộp BHYT hộ gia đình Ngoài ra còn phân công cán bộ trực tiếp làm công tác thu, dự họp và trực tiếp hướng dẫn tại đơn vị, thông qua các hội nghị hoặc trực tiếp xuống cơ sở như họp hội phụ huynh học sinh, họp thôn, họp hội nông
dân, phụ nữ,
- Đẩy mạnh công tác truyền thông, thông tin, tuyên truyền, phổ biến sâu rộng đến cán bộ, đảng viên, người lao động, người sử dụng lao động và nhân dân hiểu rõ vai trò, ý nghĩa của chính sách BHYT trong hệ thống an sinh xã hội; quyền và lợi ích
của người tham gia BHYT
- Hàng năm BHXH huyện đều ký hợp đồng với Đài truyền thanh huyện, thực hiện tuyên truyền trên sóng phát thanh, truyền hình về các chính sách BHYT giải thích
các chế độ, quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHYT
- Thông qua các phương tiện thông tin đại chúng: Phối hợp với đài truyền thanh huyện, và các xã và thị trấn tuyên truyền về chế độ, chính sách BHYT, phát sóng và
Trang 34đưa tin 1h/ngày vào buổi sáng và buổi tối, in Áp phích “Những điều cần biết khi đi KCB BHYT” và tờ gấp “Những điều cần biết về BHYT hộ gia đình”….Đồng thời, thông qua các hội nghị tuyên truyền tại các xã, thị trấn và các cụm dân cư, tuyên truyền làm rõ trách nhiệm của các cấp, các ngành, các tổ chức xã hội, đoàn thể trong việc chỉ đạo, tổ chức thực hiện và phối hợp thực hiện chính sách BHYT hộ gia đình Đồng thời giải đáp, hướng dẫn các thắc mắc về thực hiện và quyền lợi khi tham gia
BHYT
- Tổ chức treo các băng zôn, khẩu hiệu tại trụ sở cơ quan BHXH huyện, các đơn
vị, UBND các xã, phường, thị trấn, các cơ sở KCB và trên các trục đường phố chính
của thị trấn và xã để tuyên truyền về ngày BHYT Việt Nam
Kết quả tổng kết công tác tuyên truyền về BHYT trên địa bàn huyện Bát Xát giai đoạn 2017 – 2019 được thể hiện trong bảng 2.1
Bảng 2.1 Kết quả công tác tuyên truyền về BH T trên đị bàn huyện Bát Xát
qua đài truyền
thanh huyện Buổi
(Nguồn:Cơ quan BHXH huyện Bát Xát 2017-2019)
Tóm lại công tác tuyên truyền phổ biến và vận động thực hiện chính sách BHYT được cơ quan BHXH huyện thực hiện thường xuyên trong thời gian qua ở tại địa bàn Qua đó góp phần nâng cao nhận thức của các cấp ủy, chính quyền và các tầng lớp nhân dân về chính sách BHXH, BHYT Nội dung tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT ngày càng đa dạng, khẳng định vị trí, vai trò, ý nghĩa nhân văn của chính sách
Trang 35BHXH, BHYT Những nội dung căn bản, cốt lõi, những điểm mới của Luật BHXH (sửa đổi) và Luật BHYT (sửa đổi, bổ sung) đã được tuyên truyền phù hợp với từng nhóm đối tượng tại cơ sở Các hình thức thông tin, tuyên truyền chính sách BHXH, BHYT ngày càng phong phú, sáng tạo, nhiều hình thức tuyên truyền mới được triển khai, qua đó đã mang lại nhiều kết quả tích cực Với mỗi nhóm đối tượng là học sinh, sinh viên, nông dân, phụ nữ, người lao động, chủ sử dụng lao động…đã được tăng cường bằng nhiều hình thức nhưng mới chỉ tập trung được vào các nhóm đối tượng có tính chất bắt buộc, nhóm có tổ chức đông người chưa có nhiều cách thức đột phá trong đối tượng hộ gia đình là phần lớn các hộ nông dân, hộ kinh doanh cá thể và những người làm nghề lao động tự do Tuy nhiên công tác này chưa toàn diện, hiệu quả chưa cao, việc phát triển đối tượng tham gia BHYT hộ gia đình chưa cao Một bộ phận người dân, nhất là vùng sâu, vùng xa, còn thiếu thông tin về chính sách BHYT của Đảng và nhà nước
2.1.2 Thực trạng tham gia BHYT của người dân
Bảng 2 2 Thực trạng th m gi BH T chung toàn huyện
(Nguồn:Cơ quan BHXH huyện Bát Xát 2017-2019)
Qua bảng số liệu trên cho thấy từ năm 2017 đến năm 2019 số người tham gia BHYT có sự giảm sút đáng kể Năm 2018 so với năm 2017 là 98,98%%, năm 2019 so với năm 2018 là 98,91% Vì vậy TĐPTBQ là 94,86%, giảm bình quân 5,14% Cụ thể xét theo giá trị tuyệt đối nếu năm 2017 số người tham gia BHYT là 70.622 người thì đến năm 2019 số người tham gia chỉ là 63.552 người Tương tự nếu năm 2017 số tiền thu BHYT là 66.710 triệu đồng, đến năm 2019 số tiền thu BHYT là 68.173 triệu đồng, TĐPTBQ là 105,81%
Như vậy, qua bảng trên cho thấy việc người dân tham gia BHYT tại huyện Bát Xát có hiện tượng giảm qua các năm, tuy nhiên số tiền thu từ BHYT không giảm mà còn tăng thêm Nguyên nhân là do 4 xã: Quang Kim, Bản Vược, Bản Qua, Mường Vi
đã thoát khỏi vùng khó khăn nên không được nhà nước hỗ trợ 100% phí BHYT, vì vậy
Trang 36người dân phải tự bỏ tiền ra đăng ký sử dụng BHYT nên dù cho số người sử dụng BHYT giảm nhưng số tiền thu từ BHYT không giảm mà lại còn tăng lên
Tiếp theo sẽ đi sâu phân tích việc tham gia BHYT của người dân của toàn huyện, nghiên cứu thực trạng số người tham gia BHYT theo địa phương và theo đối tượng
2.1.2.1 Thực trạng số người tham gia BHYT theo địa phương
Qua bảng 2.3 cho thấy số người tham gia BHYT của người dân trên địa bàn huyện Bát Xát có xu hướng giảm qua các năm Năm 2017 tỷ lệ bao phủ của BHYT là 85,41%, năm 2018 giảm xuống còn 77,66%, năm 2019 tiếp tục giảm còn là 76,82%
Bảng 2 3 Thực trạng số người dân th m gi BH T theo đị phương
Số người tham gia 70.662 64.252 63.550 94,84
Tỷ lệ tham gia (tỷ lệ bao phủ) 85,41 77,66 76,82
(Nguồn:Cơ quan BHXH huyện Bát Xát, 2017-2019)
Trang 37Vì từ đầu năm 2018, 4 xã trên đã thoát khỏi vùng khó khăn nên có thể thấy số lượng tham gia BHYT của người dân huyện Bát Xát tại các xã này đang giảm đi trông thấy, cụ thể: xã Quang Kim năm 2017 khi toàn bộ người dân được hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì số người tham gia là 5.104 người nhưng đến năm 2019 khi không còn được
hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì chỉ còn 2.568 người, TĐPTBQ từ năm 2017-2019 là 70,93%; xã Bản Qua năm 2017 khi toàn bộ người dân được hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì số người tham gia là 5.721 người nhưng đến năm 2019 khi không còn được
hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì chỉ còn 2.432 người, TĐPTBQ từ năm 2017-2019 là 65,20%; xã Bản Vược năm 2017 khi toàn bộ người dân được hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì số người tham gia là 3.142 người nhưng đến năm 2019 khi không còn được
hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì chỉ còn 1.562 người, TĐPTBQ từ năm 2017-2019 là 70,51%; xã Mường Vi năm 2017 khi toàn bộ người dân được hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì số người tham gia là 2.165 người nhưng đến năm 2019 khi không còn được
hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì chỉ còn 1.736 người, TĐPTBQ từ năm 2017-2019 là 89,55%; thị trấn Bát Xát năm 2017 số người tham gia là 2.781 đến năm 2019 là 2.240, TĐPTBQ từ năm 2017-2019 là 89,75%
Trong đó, tại xã Mường Vi số lượng người dân tham gia BHYT không giảm nhiều là do những người dân tộc thiểu số tại xã này được miễn 100% chi phí BHYT, dân tốc kinh vẫn phải đóng phí như bình thường song số dân tộc kinh tại xã này cũng khá ít Còn lại 3 xã và thị trấn Bát Xát từ khi 3 xã trên không còn được hỗ trợ 100% chi phí BHYT thì có tình trạng số người tham gia BHYT giảm sút nghiêm trọng Đang lưu ý nhất là thị trấn Bát Xát, mặc dù nơi đây là trung tâm huyện Bát Xát và thu nhập cũng tốt hơn các xã khá nhiều nhưng tình trạng người dân tham gia BHYT rất thấp và đang cho dấu hiệu giảm qua các năm Ngoài ra, từ bảng số liệu có thể thấy rằng số người tham gia BHYT trên toàn huyện là khá cao (76,82%) tuy nhiên số người tham gia cao như vậy là do trong đó đã có 16 xã tham gia 100% vì được cấp BHYT miễn phí, nếu như đến thời điểm những xã này không con được cấp BHYT miễn phí nữa thì
số người tham gia BHYT tại huyện Bát Xát sẽ giảm suống cực kỳ thấp Vậy nên việc tìm ra giải pháp giúp người dân huyện Bát Xát nhận ra lợi ích và tham gia BHYT là điều rất cần thiết trong thời gian tới
Trang 382.1.2.2 Thực trạng số người tham gia BHYT theo đối tượng
Qua bảng số liệu 2.4 cho thấy như sau:
- Nhóm 1, BHYT bắt buộc có TĐPTBQ là 94,81% Bao gồm: NLĐ và SDLĐ có trách nhiệm đóng BHYT có sự tăng lên, TĐPTBQ từ 2017-2019 là 100,75% mỗi năm Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật về BHYT của NLĐ và các chủ SDLĐ đã tốt hơn BHYT do cơ quan BHXH đóng gồm: Các đối tượng hưu trí và hưởng trợ cấp BHXH, nhóm đối tượng này có tăng, cụ thể TĐPTBQ từ 2017-2019 là 100,68% mỗi năm BHYT được NSNN hỗ trợ 100%: Nhóm này gồm những đối tượng cán bộ xã hưởng trợ cấp NSNN; người có công với cách mạng; cựu chiến binh; người tham gia kháng chiến; đại biểu quốc hội, hội đồng nhân dân; bảo trợ xã hội, người cao tuổi; người nghèo, thân nhân sỹ quan Quân đội, Công an, Cơ yếu; trẻ em dưới 6 tuổi, đặc biệt là người dân tộc thiểu số, người dân sinh sống tại vùng khó khăn và đặc biệt khó khăn Nhóm này thì phụ thuộc vào điều kiện kinh tế của huyện trong từng giai đoạn, kết quả trên cho thấy số người được hưởng NSNN hỗ trợ 100% giảm, cụ thể TĐPTBQ
là 94,07% mỗi năm Lý do là vì có 4 xã và thị trấn Bát Xát đã được xếp vào thoát khỏi vùng khó khăn nên không còn được hỗ trợ 100% NSNN nữa BHYT được NSNN hỗ trợ một phần: Đây là nhóm trong những năm qua có biến động không đều, từ năm 2017-2018 giảm sau đó lại tăng vào năm 2019 TĐPTBQ là 101,62% mỗi năm
BHYT tự nguyện do người dân tự nguyện tham gia và tự đóng BHYT: Đây là nhóm còn lại ngoài các nhóm trên, nhóm này chủ yếu là hộ kinh doanh cá thể, nông dân và những NLĐ tự do Thực tế số liệu cho thấy trong các năm vừa qua số người tự nguyện tham gia khá thấp, TĐPTBQ 2017-2019 là 97,64% mỗi năm Điều này nói lên
người dân trong địa bàn huyện đang dần nhận thức được lợi ích của BHYT
Bảng 2 4 Kết quả số người dân th m gi BH T theo đối tượng
NLĐ và SDLĐ có trách nhiệm đóng BHYT 3.644 3.431 3.699 100,75
Cơ quan BHXH đóng BHYT toàn bộ 742 700 909 110,68 Ngân sách Nhà nước đóng BHYT toàn bộ 62.451 56.619 55.265 94,07 Ngân sách Nhà nước hỗ trợ một phần mức đóng 1.532 1.426 1.582 101,62
2 BH T tự nguyện (Người dân tự nguyện
(Nguồn: BHXH huyện Bát Xát, 2017-2019)