1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ nợ xấu và giải pháp xử lý nợ xấu tại công ty cho thuê tài chính TNHH MTV ngân hàng TMCP đầu tư

107 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,34 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1

  • 2

  • 3

Nội dung

Mục đích nghiên cứu

- Thực trạng hoạt động kinh doanh của các Công ty CTTC tại VN (nói chung) và tại BLC (nói riêng)

- Phân tích, đánh giá thực trạng nợ xấu và các biện pháp xử lý nợ xấu đang triển khai thực hiện tại BLC

- Xây dựng giải pháp giải quyết nợ xấu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt kinh doanh tại BLC giai đoạn 2017-2020.

Phương pháp nghiên cứu

Luận văn này áp dụng phương pháp nghiên cứu định tính, sử dụng nghiên cứu tại bàn để thu thập và phân tích dữ liệu thứ cấp Mục tiêu là đánh giá thực trạng nợ xấu và đề xuất các giải pháp khoa học, hợp lý và khả thi.

Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định nguyên nhân và đánh giá các vấn đề tồn tại cũng như lợi thế từ hoạt động của Công ty Tài chính tiêu dùng (CTTC) Đề tài sẽ tập trung vào thực trạng của các công ty CTTC, đặc biệt là Công ty CTTC TNHH MTV - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam, với vấn đề nổi cộm là “nợ xấu” Từ đó, nghiên cứu sẽ đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm giải quyết và ngăn ngừa nợ xấu ngay từ giai đoạn đầu, góp phần xây dựng kế hoạch kinh doanh hiệu quả cho những năm tiếp theo, dựa trên khuôn khổ pháp lý của Việt Nam và thông lệ quốc tế.

Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, bố cục đề tài như sau:

Chương 1: Tổng quan về hoạt động cho thuê tài chính

Chương 2: Thực trạng nợ xấu và xử lý nợ xấu tại Công ty CTTCTNHH MTV

- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2014-2016

Chương 3: Giải pháp xử lý nợ xấu của Công ty CTTCTNHH MTV - Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam giai đoạn 2017-2020.

TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG CHO THUÊ TÀI CHÍNH

Cho thuê tài chính

1.1.1 Sự hình thành và phát triển của hoạt động cho thuê tài chính

Thế kỷ XX chứng kiến sự bùng nổ của khoa học kỹ thuật và nền kinh tế hàng hóa, dẫn đến sự ra đời của nhiều sản phẩm đa dạng Trong bối cảnh này, hình thức cho thuê tài sản truyền thống không còn đáp ứng đủ các yêu cầu mới của các bên tham gia giao dịch, từ đó, CTTC (cho thuê tài chính) đã xuất hiện như một giải pháp thay thế.

Công ty CTTC Hoa Kỳ, do Henry Shoeld sáng lập vào tháng 05/1952, đã khởi xướng và phát triển hình thức cho thuê tài sản mới gọi là CTTC (finance leases) nhằm phục vụ ngành công nghiệp vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt Hình thức cho thuê này đã chuyển đổi từ giao dịch cho thuê tài sản thông thường sang một hoạt động tín dụng, góp phần làm cho ngành cho thuê tài sản có sự phát triển và thay đổi đáng kể.

Sau đó, hình thức CTTC lan sang Châu Âu, được ghi vào luật thuê mua của Pháp năm 1960 với tên gọi “Credit Bail”

Nhật Bản là quốc gia đầu tiên ở Châu Á phát triển ngành kinh doanh cho thuê, với công ty cho thuê Orient (Orient Leasing Corporation) được thành lập vào năm 1963 Đến đầu những năm 70, hoạt động cho thuê cũng đã xuất hiện tại Hàn Quốc, Ấn Độ và Indonesia, đánh dấu sự mở rộng của ngành này trong khu vực.

70 đầu 80, hoạt động CTTC đã phát triển hầu hết ở các nước Châu Á và Châu Phi

Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) đã thâm nhập vào Việt Nam muộn hơn so với các nước Châu Á khác Hình thức tín dụng này lần đầu tiên được pháp luật Việt Nam ghi nhận trong Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính năm 1990.

Vào ngày 27/05/1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước đã ban hành Quyết định số 149/QĐ-NH5, quy định thể lệ tín dụng thuê mua Quyết định này cho phép các tổ chức tín dụng thành lập Công ty trực thuộc hoặc văn phòng tín dụng thuê mua nhằm quản lý và giám sát hoạt động tín dụng thuê mua.

Vào ngày 09/10/1995, Chính phủ đã ban hành Nghị định 64/CP, quy định tạm thời về tổ chức và hoạt động của Công ty CTTC tại Việt Nam, tạo cơ sở cho sự hình thành nhiều Công ty CTTC Sau đó, Luật các tổ chức tín dụng năm 1997, cùng với các sửa đổi và bổ sung, tiếp tục củng cố khung pháp lý cho lĩnh vực này.

Luật các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12, được ban hành ngày 16/06/2010 và có hiệu lực từ 01/01/2011, đã tạo ra một hệ thống quy định chi tiết và chặt chẽ cho hoạt động của các tổ chức tín dụng, tiếp nối các quy định trước đó từ năm 2004.

Hoạt động cho thuê tài chính (CTTC) tại Việt Nam bắt đầu xuất hiện từ những năm 1996 với sự ra đời của Công ty CTTC Quốc Tế VILC, một liên doanh giữa nhiều tổ chức tài chính quốc tế Tuy nhiên, cho đến khi Nghị định số 16/2001/NĐ-CP và Nghị định 65/2005 được ban hành, hoạt động CTTC mới thực sự được quy định rõ ràng và phát triển theo Luật các Tổ chức tín dụng.

Vào ngày 07/05/2014, chính phủ đã ban hành Nghị định số 39/2014/NĐ-CP quy định về hoạt động của Công ty tài chính và Công ty Cho thuê tài chính, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các công ty tài chính tại Việt Nam.

Hiện nay, Việt Nam chỉ còn 8 Công ty CTTC hoạt động, giảm từ 12 công ty ban đầu, cùng với 1 Hiệp hội CTTC Việt Nam được thành lập vào năm 2007 với 8 thành viên Hiệp hội này đã hợp tác với các Công ty CTTC để đánh giá hoạt động thực tiễn và đề xuất các kiến nghị với Chính phủ và NHNN nhằm hoàn thiện cơ chế, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các công ty CTTC.

Lượng vốn cấp theo hình thức CTTC tại Việt Nam chỉ chiếm 3-4% tổng dư nợ ngân hàng, cho thấy tỷ lệ khá nhỏ so với các hình thức cấp vốn khác Tuy nhiên, với lợi thế của mình, CTTC đáng lẽ phải được phát triển mạnh mẽ hơn, đặc biệt ở Việt Nam, nơi mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp và đang cần một lượng vốn lớn để đầu tư và mở rộng.

Hoạt động CTTC đã góp phần giảm bớt áp lực và gánh nặng cho hệ thống ngân hàng thương mại trong việc cung cấp vốn, đặc biệt là nguồn vốn trung và dài hạn.

1.1.2 Định nghĩa cho thuê tài chính

Tại Việt Nam, định nghĩa chi tiết và đầy đủ về CTTC tại Nghị định số 39/2014/NĐ-CP ngày 07/05/2014 như sau:

Cho thuê tài chính là hoạt động cấp tín dụng trung và dài hạn thông qua hợp đồng giữa bên cho thuê và bên thuê Bên cho thuê cam kết mua tài sản theo yêu cầu của bên thuê và giữ quyền sở hữu tài sản trong suốt thời gian cho thuê Trong khi đó, bên thuê sử dụng tài sản và thực hiện thanh toán tiền thuê theo hợp đồng đã ký.

1.1.3 Đặc trưng của cho thuê tài chính

CTTC là phương thức cấp tín dụng mà đối tượng là tài sản cụ thể, khác với các hình thức cấp tín dụng khác, nơi TCTD chuyển giao tiền Trong CTTC, bên cho thuê cung cấp tài sản cho bên thuê sử dụng trong thời gian xác định, với nghĩa vụ trả tiền thuê theo thỏa thuận Tính chất thanh toán toàn bộ của giao dịch CTTC phản ánh bản chất tín dụng của hoạt động này Tương tự như nhiều quốc gia khác, pháp luật Việt Nam công nhận CTTC là hình thức cấp tín dụng trung và dài hạn, phù hợp với đặc điểm của tài sản cho thuê có giá trị và thời gian khấu hao từ một năm trở lên.

CTTC là hình thức cho thuê trong đó hầu hết quyền lực của chủ sở hữu được chuyển giao cho bên thuê, khác với các hình thức thuê tài sản thông thường Trong CTTC, bên cho thuê chỉ giữ quyền sở hữu "danh nghĩa" và có quyền thu hồi tài sản nếu bên thuê vi phạm hợp đồng, trong khi quyền sử dụng tài sản được chuyển giao gần như hoàn toàn cho bên thuê Điều này phản ánh bản chất tín dụng của hoạt động CTTC, nơi bên cho thuê chủ yếu quan tâm đến khả năng thu hồi gốc và lãi Theo quy định pháp luật Việt Nam, CTTC phải đáp ứng một trong các điều kiện cụ thể.

Phân loại nợ thuê tài chính

Theo điều 8, thông tư 02/2013/TT-NHNN, các tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải thực hiện phân loại nợ ít nhất một lần mỗi quý, trong 15 ngày đầu tiên của tháng đầu tiên Việc phân loại này dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng và được chia thành 05 nhóm theo quy định.

1.2.1 Phân loại nợ theo phương pháp định lượng

(a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm:

- Nợ trong hạn và được đánh giá là có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi đúng hạn;

Nợ quá hạn dưới 10 ngày có khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi, đồng thời đảm bảo thu hồi đúng hạn các khoản nợ gốc và lãi còn lại.

(b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm:

- Nợ quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày;

- Nợ điều chỉnh kỳ hạn trả nợ lần đầu;

(c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm:

- Nợ quá hạn từ 91 ngày đến 180 ngày;

- Nợ gia hạn nợ lần đầu;

- Nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng;

- Nợ đang thu hồi theo kết luận thanh tra;

(d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm:

- Nợ quá hạn từ 181 ngày đến 360 ngày;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai;

- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi đến 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

(e) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm:

- Nợ quá hạn trên 360 ngày;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần đầu;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ hai quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần thứ hai;

- Nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần thứ ba trở lên, kể cả chưa bị quá hạn hoặc đã quá hạn;

- Nợ phải thu hồi theo kết luận thanh tra nhưng đã quá thời hạn thu hồi trên 60 ngày mà vẫn chưa thu hồi được;

Nợ của khách hàng là các tổ chức tín dụng mà Ngân hàng Nhà nước đã công bố đưa vào tình trạng kiểm soát đặc biệt, trong khi đó, chi nhánh ngân hàng nước ngoài bị phong tỏa vốn và tài sản.

1.2.2 Phân loại nợ theo phương pháp định tính

Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ mà tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá có khả năng thu hồi toàn bộ cả nợ gốc lẫn lãi đúng hạn Ngoài ra, các cam kết ngoại bảng cũng được đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.

Nhóm 2 (Nợ cần chú ý) bao gồm các khoản nợ mà tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá có khả năng thu hồi đầy đủ cả nợ gốc và lãi, nhưng khách hàng có dấu hiệu suy giảm khả năng trả nợ Ngoài ra, các cam kết ngoại bảng cũng được đánh giá là khách hàng có khả năng thực hiện nghĩa vụ, nhưng có dấu hiệu suy giảm khả năng thực hiện cam kết.

Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn) bao gồm các khoản nợ mà tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn Những khoản nợ này được xem là có khả năng tổn thất, và các cam kết ngoại bảng cũng được đánh giá là khách hàng không có khả năng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo cam kết.

Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) bao gồm các khoản nợ mà tổ chức tín dụng và chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá có khả năng tổn thất cao Ngoài ra, nhóm này cũng bao gồm các cam kết ngoại bảng với khả năng khách hàng không thực hiện nghĩa vụ rất cao.

Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn) bao gồm các khoản nợ mà tổ chức tín dụng hoặc chi nhánh ngân hàng nước ngoài đánh giá là không còn khả năng thu hồi, dẫn đến mất vốn Ngoài ra, nhóm này cũng bao gồm các cam kết ngoại bảng mà khách hàng không còn khả năng thực hiện nghĩa vụ.

Theo điều 3, mục 8 của thông tư 02/2013/TT-NHNN, nợ xấu được xác định là những khoản nợ thuộc nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn), được phân loại dựa trên phương pháp định lượng hoặc định tính.

1.2.3 Nguyên nhân phát sinh nợ xấu

Nợ xấu có thể phát sinh từ nhiều nguyên nhân khác nhau, bao gồm cả nguyên nhân bên trong và bên ngoài, hoặc sự kết hợp của cả hai Những phát sinh thực tế tại đơn vị cùng với nhận định của các chuyên gia tài chính Ngân hàng cho thấy tầm quan trọng của việc phân tích nguyên nhân để quản lý hiệu quả nợ xấu.

Trong quan hệ cho thuê tài chính (CTTC), các yếu tố nội bộ từ bên cho thuê, bên thuê và bên cung cấp tài sản đều có thể tác động đến chất lượng của khoản CTTC Sự đa chiều trong các mối quan hệ này làm cho việc quản lý và đánh giá các yếu tố ảnh hưởng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết.

- Về phía bên cho thuê, các nguyên nhân bên trong thường xuất phát từ bốn yếu tố cơ bản bao gồm: triết lý cho thuê, chính sách cho thuê, quy trình cho thuê và con người Một Công ty CTTC với một triết lý và chính sách cho thuê nóng vội, quy trình cho thuê lỏng lẻo và đội ngũ nhân sự kém cỏi, thiếu trung thực thì có thể tìm thấy câu trả lời cho các khoản nợ xấu ngay trong chính công ty CTTC đó Hơn nữa, ngay cả khi công ty CTTC có một hệ thống phòng ngừa rủi ro tốt thì vẫn có thể phát sinh các sự cố liên quan đến rủi ro liên quan đến yếu tố con người

Nguyên nhân quyết định hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên thuê liên quan chặt chẽ đến hệ thống quản lý của doanh nghiệp Sự yếu kém trong quản lý có thể dẫn đến rủi ro mất khả năng thanh toán các khoản nợ thuê tài chính, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh Bên cạnh đó, các yếu tố khác như rủi ro móc ngoặc và lừa đảo cũng không thể bị loại trừ trong quá trình thuê tài chính.

Yếu kém trong năng lực sản xuất hoặc chất lượng dịch vụ của nhà cung cấp tài sản có thể ảnh hưởng đến chất lượng tài sản thuê, làm giảm hiệu suất khai thác và khả năng thanh toán của khách hàng thuê tài chính Hơn nữa, rủi ro từ việc nhà cung cấp cố tình nâng giá tài sản hoặc giả mạo hồ sơ để lừa đảo có thể gây tổn thất lớn cho bên cho thuê.

Ngoài các yếu tố nội tại của từng bên tham gia giao dịch cho thuê, các nguyên nhân bên ngoài cũng đóng vai trò quan trọng trong việc ảnh hưởng đến chất lượng các khoản cho thuê.

TRẠNG NỢ XẤU VÀ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ XẤUTẠI CÔNG TY CTTC TNHH MTV-NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

PHÁP XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA CÔNG TY CTTC TNHH MTV-NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAMGIAI ĐOẠN 2017-2020

Ngày đăng: 23/06/2021, 15:59

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. CIEM & Friedrich Ebert Tiftung, 2013. Bad Debt Settlement – Crictical Issues in Bank Restructuring in Vietnam. Central Institute For Economic Managerment Vietnam Economic Portal Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bad Debt Settlement – Crictical Issues in Bank Restructuring in Vietnam
2. Deva Dutta Dubey & A. S. Binilkumar, 2015. A look at Business Environment and Non-Performing Loans Factors in BRICS Economies. International Review of Research in Emerging Markets and the Global Economy (IRREM) An Online International Research Journal (ISSN: 2311-3200) 2015 Vol: 1 Issue 1 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A look at Business Environment and Non-Performing Loans Factors in BRICS Economies
3. Jane-Raung Lin, Chia-Jane Wang , De-Wei Chou, Fei-Chun Chueh, 2013.Financial constraint and the choice between leasing and debt.International Review of Economics and Finance 27, 2013-171-182 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Financial constraint and the choice between leasing and debt
4. Nguyen Anh Dung, 2014. Non-Preforming Loan – Case Study in Vietnam: Causes, Consequences, and effects. Arcada University of Applied Sciences Sách, tạp chí
Tiêu đề: Non-Preforming Loan – Case Study in Vietnam: "Causes, Consequences, and effects
5. To Minh Thong, 2013. Credit Risk Management and Bad Debt Controlling: Case ANZ. Lahti University of Applied Sciences Sách, tạp chí
Tiêu đề: Credit Risk Management and Bad Debt Controlling: "Case ANZ
6. Yoonhee Tina Chang , 2006. Role of Non-Performing Loans (NPLs) and Capital Adequacy in Banking Structure and Competition. University of Bath School of Managerment Working Paper Series 2006.16 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Role of Non-Performing Loans (NPLs) and Capital Adequacy in Banking Structure and Competition
4. Tạp chí Nghiên cứu khoa học kiểm toán số 71, T9/2013 http://www.sav.gov.vn/2813-1-ndt/nhung-diem-nghen-can-giai-quyet-de-xu-ly-no-xau-mot-cach-triet-de-va-co-hieu-qua-.sav.[ngày truy cập 20/07/2016].Danh mục tài liệu nước ngoài Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w