1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu đánh giá tác động của một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số tại hai huyện đà bắc và kỳ sơn tỉnh hòa bình

92 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 92
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỜI CẢM ƠN Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện tại trương Đại học Lâm nghiệp, được sự nhất trí của nhà trường và khoa Quản trị kinh doanh, tôi thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề

Trang 1

MỤC LỤC Trang Lời cảm ơn

1.2.Cơ sở thực tiễn của việc cần phải có chính sách hỗ trợ sản xuất nông

lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số

9

2.1 Điều kiện tự nhên, kinh tế xã hội huyện Kỳ Sơn 14 2.2 Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã huyện Đà Bắc 15 2.3 Lược sử các xóm được lựa chọn khảo sát chi tiết 17

3.4 Phương pháp phân xử lí và phân tích số liệu 22 Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI

THỰC HIỆN VÀ NHỮNG TÁC ĐỘNG CỦA HAI CHÍNH SÁCH

Trang 2

HIỆU QUẢ TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH

5.2 Đối với chính sách hỗ trợ sản xuất ổn định dân cư tỉnh Hoà Bình 59

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để đánh giá kết quả học tập và rèn luyện tại trương Đại học Lâm nghiệp, được sự nhất trí của nhà trường và khoa Quản trị kinh doanh, tôi thực hiện khoá luận tốt nghiệp với đề tài: “Nghiên cứu đánh giá tác động của một

số chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu

số tại hai huyện Đà Bắc và Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình"

Trong quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của nhà trường, khoa Quản trị kinh doanh, cán bộ UBND hai xã Hiền Lương

và Phú Minh, gia đình, bạn bè, các anh chị trong tổ conh tác của Viện sinh thái, đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo Nguyễn Quang Hà, đến nay bản khoá luận đã hoàn thành

Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng học hỏi, đi sâu vào tìm hiểu nhưng

do kinh nghiệm và thời gian thực tập có hạn nên bản khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót Tôi rất mong được ý kiến đóng góp của thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để bản khoá luận hoàn chỉnh hơn

Nhân dịp này tôi xin gửi lời cảm ơn tới thầy giáo hướng dẫn – TS Nguyễn Quang Hà, các thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh, các anh chị trong đoàn công tác của Viện sinh thái, cán bộ UBND xã, các trưởng Xóm của các xã Hiền Lương và Phú Minh, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành bản khoá luận này

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Xuân Mai, ngày 9 tháng 5 năm 2008

Sinh viên thực hiện

Nguyễn Ngọc Phương

Trang 4

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

Trang 5

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là để thực hiện mục tiêu đem lại độc lập tự do, cuộc sống ấm no hạnh phúc cho nhân dân Thực tế sau hơn 20 năm đổi mới nước ta đã đạt được những thành công trên nhiều lĩnh vực khác nhau, trong đó phải kể đến thành công từ việc cải thiện và nâng cao mức sống cho người dân Chẳng thế mà Việt Nam đã được WB đánh giá là nước đi đầu trong công cuộc xóa đói giảm nghèo Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà chất lượng công tác xóa đói giảm nghèo còn chưa cao, nhiều hộ đã thoát nghèo nhưng cũng rất dễ tái nghèo Theo thông báo mới đây của bộ lao động thương binh và xã hội nếu chiếu theo chuẫn nghèo mới của WB thì số hộ nghèo của Việt Nam sẽ tăng từ 1,2 triệu

hộ như hiện nay lên 4 triệu hộ, tức là đã tăng đến 2,77 lần Phần đông trong số này là các hộ người dân tộc thiểu số

Do tập quán canh tác từ ngàn đời nay nên hầu như tất cả các dân tộc thiểu

số đều cư trú ở những nơi có địa hình phức tạp, đồng thời đây cũng là những địa bàn nhạy cảm về an ninh quốc phòng Vì vậy để ổn định đời sống người dân tạo

ra động lực để người dân khai thác có hiệu quả được nguồn tài nguyên đồng thời đảm bảo các mục tiêu quốc gia thì rất cần những hỗ trợ của Nhà nước cho đồng bào vùng cao Trên thực tế thì đã có nhiều chính sách hỗ trợ của Nhà nước cho người dân vùng cao thông qua các chương trình, dự án và đã thu được những kết quả ban đầu song vẫn còn những hạn chế cần phải sửa đổi Vậy nguyên nhân của hạn chế đó là từ đâu và cần có những điều chỉnh bổ sung gì Được sự phân công của khoa Quản trị kinh doanh và được sự hướng dẫn của thầy giáo – TS Nguyễn Quang Hà tôi xin thực hiện khóa luận

“Nghiên cứu đánh giá tác động của một số chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp đối với đồng bào dân tộc thiểu số tại hai huyện Đà Bắc và

Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình.”

Trang 6

* Mục tiêu nghiên cứu

- Mục tiêu tổng quát

+ Mục tiêu tổng quát của khóa luận là góp phần chuyển tiếng nói, tâm

tư, nguyện vọng của người nông dân vùng cao đến với Chính phủ, từ đó Chính phủ có những hỗ trợ, điều chỉnh, bổ sung nhằm cải thiện điều kiện sống người dân

+ Góp phần nâng cao tính hiệu quả trong việc đưa ra các chính sách cũng như triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp của nhà nước cho cộng đồng dân tộc vùng cao

- Mục tiêu cụ thể

+ Đánh giá thực trạng chính sách giao đất giao rừng theo NĐ 02/NĐ-

CP ngày 15/01/1994 của chính phủ và chính sách ổn định dân cư, hỗ trợ sản xuất di dân vùng lòng hồ Hòa Bình

+ Đề xuất một số kiến nghị để bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện hai chính sách trên

* Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

+ Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là thực tiễn quá trình triển khai thực hiện và tác động của chính sách giao đất giao rừng và chính sách ổn định dân cư, hỗ trợ sản xuất di dân vùng lòng hồ Hòa Bình

+ Phạm vi nghiên cứu của khóa luận là hai xã Hiền Lương huyện Đà Bắc và xã Phú Minh huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình

* Nội dung nghiên cứu

+ Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chính sách và phân tích chính sách

+ Nghiên cứu và đánh giá thực tiễn quá trình triển khai thực hiện và tác động của chính sách giao đất giao rừng và chính sách ổn định dân cư, hỗ trợ sản xuất di dân vùng lòng hồ Hòa Bình

+ Đề xuất một số kiến nghị để bổ sung, điều chỉnh và hoàn thiện hai chính sách trên

Trang 7

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHÍNH SÁCH

Một quan điểm khác về chính sách khác thường được sử dụng

“Chính sách là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể sử dụng để tác động vào đối tượng quản lý nhằm đạt được các mục tiêu định sẵn trong những giai đoạn nhất định”.( Nguyễn Văn Tuấn–Phân tích chính sách nông lâm nghiệp-2007 )

Chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp

Là tổng thể các quan điểm, giải pháp và công cụ mà chủ thể sử dụng để tác động vào lĩnh vực sản xuất nông lâm nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu định sẵn trong những giai đoạn nhất định

Trang 8

+ Chính sách kinh tế: Bao gồm những chính sách tác động đến các mối quan hệ kinh tế như chính sách tài chính, chính sách tiền tệ, chính sách tín dụng

+ Chính sách xã hội: Gồm những chính sách tác động vào các mối quan

hệ xã hội như chính sách lao động và việc làm, chính sách xóa đói giảm nghèo

+ Chính sách văn hóa: Bao gồm các chính sách tác động đến vấn đề văn hóa như chính sách giáo dục đào tạo, chính sách văn hóa nghệ thuật

+ Chính sách an ninh quốc phòng

c Các chức năng cơ bản của chính sách

Một chính sách bất kỳ phải thực hiện những chức năng cơ bản sau đây:

- Chức năng định hướng: Là việc hướng dẫn hành vi, hoạt động của xã hội theo một mục đích nào đó

- Chức năng điều tiết ngăn chặn: Tức là việc điều chỉnh một số hoạt động nhằm đạt được mục tiêu, đồng thời ngăn chặn, hạn chế một số hoạt động

vì lợi ích chung của một quốc gia

- Chức năng kích thích

d.Yêu cầu đối với chính sách

Chính sách cần đảm bảo các yêu cầu cơ bản sau đây: tính khách quan, tính chính trị, tính hệ thống, tính thực tiễn, tính hiệu quả kinh tế xã hội

e Cấu trúc của một chính sách

Mỗi một chính sách thường bao gồm các yếu tố cấu thành như sau

- Mục tiêu của chính sách: là trạng thái mà những người làm chính sách mong muốn đạt được sau khi áp dụng chính sách Mục tiêu của chính sách được chia thành mục tiêu dài hạn và mục tiêu trước mắt

Trang 9

+ Đối tượng chính sách là cá nhân, tổ chức và các hoạt động mà các công cụ chính sách tác động vào

+ Phạm vi của chính sách bao gồm có phạm vi về mặt không gian và phạm vi về mặt thời gian

- Các giải pháp của chính sách: giải pháp thông tin tuyên truyền, giải pháp điều chỉnh ngăn chặn, giải pháp khuyến khích, giải pháp cưỡng chế 1.1.2 Phân tích chính sách

a Khái niệm và nhiệm vụ phân tích chính sách

- Phân tích chính sách là hoạt động xem xét, đối chiếu, đáng giá, so sánh tình hình thực tiễn với mục tiêu, nội dung của chính sách để cho ra những khuyến nghị phục vụ công tác quản lý

- Phân tích chính sách có nhiệm vụ sau đây

+ Xem xét, đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, các hoạt động, các công cụ và giải pháp của chính sách trong thực tiễn

+ Nghiên cứu đánh giá tác động của chính sách đến các đối tượng chính sách và đến đời sống xã hội

+ Đưa ra các khuyến nghị giúp các chủ thể các chính sách phát huy tốt hơn kết quả chính sách

+ Xây dựng cơ sở lý luận cho công tác xây dựng và quản lý chính sách

b Thông tin cho phân tích chính sách

Phân tích chính sách về thực chất là quá trình thu thập, xử lý và phân tích thông tin Người phân tích chính sách phải biết khai thác các nguồn thông tin, hiểu biết được tính chất, công dụng của các nguồn thông tin Thông tin cho phân tích chính sách bao gồm:

- Thông tin kinh tế xã hội

Đó là các số liệu phản ánh những diễn biến và thực trạng diễn ra trong đời sống kinh tế - xã hội có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến hoạch định chính sách

- Thông tin chính trị

Trang 10

Chính sách là sản phẩm của đường lối chính trị nên những sự kiện về chính trị có thể dẫn đến những thay đổi của chính sách

- Thông tin quy phạm

Là hệ thống những văn bản pháp luật có hiệu lực đang điều chỉnh các mối quan hệ kinh tế - xã hội Những văn bản đó là công cụ để thực hiện các chính sách và là cơ sở cho quá trình phân tích chính sách

- Thông tin phản hồi

Là những thông tin rất cần thiết cho quá trình phân tích ở giai đoạn thực thi và kiểm tra chính sách Trên cơ sở thông tin phản hồi, các nhà phân tích chính sách đưa ra ý kiến, đề nghị để các nhà quản lý, lãnh đạo và các nhà chính trị điều chỉnh, đổi mới chính sách cho phù hợp với điều kiện kinh tế

c Phương pháp phân tích chính sách

Phương pháp phân tích chính sách là cách thức tiến hành các công cụ

để phân tích, đánh giá một hoặc một số chính sách nào đó đối với sự phát triển của sản xuất tại lĩnh vực mà chính sách tác động vào

Có hai yếu tố mà người phân tích chính sách dựa vào để quyết định lựa chọn phương pháp phân tích chính sách này hay phương pháp phân tích chính sách khác

Yếu tố thứ nhất là mục tiêu cần đạt được của chính sách có thể lượng hóa hoặc tiền tệ hóa được hay không Yếu tố thứ hai là ảnh hưởng của lựa chọn chính sách đến mục tiêu có thể lượng hóa và tiền tệ hóa Tùy theo sự kết hợp của hai yếu tố này người phân tích lựa chọn một trong các phương pháp phân tích chính sách sau đây:

* Phương pháp thứ nhất: Phân tích lợi ích và chi phí truyền thống

Là phương pháp lựa chọn giải pháp chính sách nếu lợi ích kinh tế là mục tiêu lựa chọn duy nhất và mọi ảnh hưởng lên lợi ích kinh tế đều có thể tiền tệ hóa Trong trường hợp này, tất cả các ảnh hưởng của chính sách đều được chuyển đổi thành một ảnh hưởng duy nhất – tiền Những ảnh hưởng tích cực của chính sách được gọi là lợi ích; còn những ảnh hưởng gây tổn hại

Trang 11

nguồn lực của chính sách được gọi là chi phí Và một khi tất cả các ảnh hưởng được chuyển đổi thành tiền, quy tắc lựa chọn phương án chính sách tối

ưu là: lựa chọn phương án nào đem lại lợi ích ròng cao nhất

* Phương pháp thứ hai: Phân tích “điều chỉnh” lợi ích và chi phí

Phương pháp này được lựa chọn khi:

- Ngoài mục tiêu kinh tế chính sách còn mục tiêu xã hội

- Các chính sách đều có thể lượng hóa

- Các ảnh hưởng của chính sách đều tiền tệ hóa được

Nếu người phân tích chính sách kết luận rằng hiệu quả và mục tiêu khác có mối quan hệ và người phân tích chính sách có thể lượng hóa cả hai mục tiêu, người phân tích chính sách có thể sử dụng phân tích điều chỉnh lợi ích và chi phí Với phương pháp này, những mức độ thực hiện mục tiêu xã hội khác nhau được quy tương ứng với mức độ tiền tệ khác nhau Nhược điểm của phương pháp này thể hiện ở chỗ sẽ là nguy hiểm nếu lúc nào cũng cố gắng chuyển đổi lợi ích kinh tế và công bằng vào một hệ đo lường chung

* Phương pháp thứ ba: Phân tích định tính lợi ích và chi phí

Phân tích định tính lợi ích và chi phí là phương pháp phân tích chính sách khi chính sách chỉ có mục tiêu kinh tế nhưng những ảnh hưởng của nó không tiền tệ hóa được Cũng giống như phương pháp phân tích lợi ích – chi phí truyền thống, việc phân tích được bắt đầu bằng dự báo các ảnh hưởng của chính sách Một số ảnh hưởng có thể được thể hiện thông qua các chỉ tiêu định lượng, trong khi những ảnh hưởng khác lại thể hiện một cách định tính Nếu mức độ ảnh hưởng của chính sách không thể lượng hóa được lợi ích ròng của chính sách, khi đó sự tranh luận mang tính định tính cần được tiến hành

để xác định thứ tự quan trọng của các ảnh hưởng chính sách

d Quá trình và nội dung phân tích chính sách phát triển nông lâm nghiệp

- Phân tích vấn đề chính sách

- Phân tích việc xác định mục tiêu chính sách

- Phân tích việc lựa chọn phương án, công cụ chính sách

Trang 12

- Phân tích việc tổ chức bộ máy thực hiện chính sách

- Phân tích tình hình tổ chức thực thi chính sách

1.1.3 Hệ thống văn bản pháp luật và chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất nông lâm nghiệp ở Việt Nam

a Chính sách đất đai gồm có

- Luật đất đai sửa đổi năm 2003 và các căn bản hướng dẫn

- Nghị định số 64/ NĐ- CP ngày 27/09/1993 về giao đất nông nghiệp cho

hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất nông nghiệp

- Nghị định số 02/NĐ-CP ngày 15/01/ 1994 về giao đất lâm nghiệp cho

tổ chức, hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp

- Nghị định số 01/ NĐ- CP ngày 04/01/1995 về việc giao khoán đất sử dụng vào mục sản xuất nông lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản trong các doanh nghiệp Nhà nước

- Quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của thủ tướng chính phủ

về mục tiêu, nhiệm vụ, chính sách và tổ chức thực hiện dự án 5 triệu ha rừng

b Chính sách đầu tư vốn cho nông nghiệp

- Quyết định số 556/ QĐ-TTg ngày 12/9/1996 của thủ tướng chính phủ về bảo vệ diện tích rừng hiện có, trồng mới diện tích rừng phòng hộ và rừng đặc dụng

- Quyết định số 67/QĐ-TTg ngày 30/3/1999 của thủ tướng chính phủ

về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ cho nông nghiệp nông thôn

- Nghị định số 43/ NĐ-CP ngày 29/6/1999 của thủ tướng chính phủ về tín dụng ưu đãi đầu tư phát triển của Nhà nước quy định: Nhà nước thực hiện

3 hình thức hỗ trợ đầu tư và cho vay đầu tư, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư và bảo lãnh tín dụng đầu tư

- Quy định số 175/ QĐ-TTg ngày 2/3/2000 của thủ tướng chính phủ về lãi suất cho vay tín dụng ưu đãi

Trang 13

c Chính sách khoa học công nghệ và khuyến nông khuyến lâm

- Nghị định số 13/NĐ-CP ngày 2/3/1993 về công tác khuyến nông khuyến lâm và thông tư số 02/ LB-TT ngày 2/8/1993 về hướng dẫn thi hành nghị định trên

- Nghị định số 56/ NĐ-CP ngày 24/6/2004 của chính phủ về công tác khuyến nông khuyến ngư

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc cần thiết phải có chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp cho đồng bào dân tộc thiểu số

- Trên thế giới hầu hết các quốc gia đang phát triển đều có nền kinh tế dựa nhiều vào sản xuất nông nghiệp.Theo kinh nghiệm của nhiều nước đi trước thì trên con đường trở thành một nước phát triển nước đó phải tìm cách giảm dần tỷ trọng của ngành nông nghiệp, tăng dần tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ Nhưng một bài học đã chỉ rõ muốn làm được điều trên thì trước hết quốc gia đó phải đảm bảo được vấn đề an ninh lương thực

- Ngành nông nghiệp ở những nước đang phát triển đã và đang được xem là kế sinh nhai của một lực lượng dân số đông đảo, như hiện nay nước ta

có hơn 70% dân số làm nông nghiệp Vì vậy muốn ổn định an ninh trật tự và phát triển được đất nước thì phải quan tâm đúng đắn đến đời sống người nông dân nói chung và nông dân nông thôn miền núi nói riêng

- Sản xuất nông nghiệp, đặc biệt là nông nghiệp hàng hoá cần một lượng vốn đầu tư lớn, tập trung song hiệu quả lại không cao Sản phẩm sản xuất ra phụ thuộc vào nhiều yếu tố nên mức độ rủi ro cao, vì vậy để hạn chế thiệt hại có thể xảy ra thì người nông dân rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước

- Trong bối cảnh quốc tế hoá như hiện nay, hợp tác và phân công lao động là một xu thế tất yếu, điều này đã tạo điều kiện thuận lợi để Việt Nam phát huy tối ưu lợi thế so sánh về sản xuất nông nghiệp

Trang 14

1.2.1 Thực tiễn về chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp trên thế giới

* Nhóm chính sách về giải phóng toàn diện cho nền sản xuất nông lâm nghiệp, cởi trói cho nông dân về quyền sử dụng đất và phát triển hàng hoá, sau đó phát triển toàn diện kinh tế đất nước

Nhóm chính sách này được thực hiện thành công trước hết tại một số nước ở Đông Á như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan

Sau chiến tranh thế giới thứ 2, những nước ở Đông Á đã thực hiện cuộc cải cách ruộng đất, giới hạn tối đa là 3 ha được đặt ra và thuê đất bị cấm Việc

áp dụng biện pháp cải thiện quản lý đất đai đã đạt được kết quả lớn: năng suất của sản xuất nông nghiệp tăng nhanh, những nước này nhanh chóng chuyển

từ nước nhập khẩu thành nước xuất khẩu lương thực trong vòng ít năm

Sản xuất nông nghiệp đạt được thành quả lớn đã hỗ trợ và tạo điều kiện cho công nghiệp phát triển Rất nhiều nông dân đã kiếm công việc phi nông nghiệp để làm Do thu nhập từ lĩnh vực công nghiệp cao hơn nên ngày càng

có nhiều người đặc biệt là thế hệ trẻ tham gia

Diện tích đất nông nghiệp bị bỏ hoang trong khi những người còn ý muốn gắn bó với sản xuất nông nghiệp thì không được sử dụng phần đất đó Những bất hợp lý này đã được nhà nước và nhân dân không ngừng tìm chính sách để cải tiến mối quan hệ ruộng đất Như ở Nhật Bản chính sách đất đai phân chia làm 3 hình thức sở hữu; sở hữu nhà nước, sở hữu cộng đồng và sở hữu tư nhân Hiện nay các tổ chức chính quyền địa phương sở hữu trên 2,7 triệu ha chiếm 10,74%, các công ty tư nhân và hộ gia đình sở hữu 10.6 triệu

ha chiếm 58,1% Có 89% là các hộ tư nhân, trong đó 89% là những người có

từ 0,1- 5ha, 10,7% là các hộ tư nhân có từ 5- 10ha, số còn lại là những hộ có trên 10ha Do phần lớn các chủ rừng là những người sở hữu dưới 5ha đất lâm nghiệp nên các chủ rừng này đã liên kết với nhau thành các Hội Ngày nay Nhật bản có 1430 Hội các chủ rừng với 1.718.000 thành viên Chính phủ có chương trình trợ cấp nhằm hỗ trợ cho các hoạt động lâm sinh, xây dựng đường lâm nghiệp thông qua các Hội chủ rừng Ngoài ra các chủ rừng còn

Trang 15

được ưu tiên vay vốn để sản xuất kinh doanh với lãi suất thấp, đồng thời được giảm thuế lâm nghiệp Những chính sách này đã góp phần đưa nền kinh tế nước này phát triển tự lực, toàn diện và bền vững

(Nguyễn Đình Hải – Trường Đại học Lâm nghiệp, 2008)

* Chính sách phát triển nền nông nghiệp nhân dân ở Trung Quốc

Ở Trung Quốc tại các huyện nghèo miền núi thu nhập bình quân chỉ đạt dưới 200 nhân dân tệ/ người/ tháng là đối tượng quan trọng, thích hợp để hỗ trợ phát triển lâm nghiệp Do vậy bắt đầu từ năm 1987 Nhà nước đã thực hiện chương trình giúp đỡ nhân dân thoát khỏi nghèo nàn Cụ thể sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, chính phủ đã áp dụng nhiều chính sách thúc đẩy phát triển trang trại rừng nhân đân, kinh doanh đa dạng Lâm nghiệp được coi như công nghiệp chu kỳ dài Chính quyền các cấp áp dụng chính sách hỗ trợ tài chính cho phát triển lâm nghiệp nhân dân gồm

- Tăng đầu tư cho phát triển lâm nghiệp từ nguồn ngân sách Trên 10 năm qua chính phủ tăng vốn xây dựng rừng mọc nhanh, sản lượng cao (20 triệu ha), đầu tư vốn cho 4 hệ thống rừng phòng hộ và dự án chống cát bay

- Tăng thêm vốn vay cho nông lâm nghiệp

- Xây dựng quy định nguồn vốn cho nông lâm nghiệp, trong đó tiền bán sản phẩm phải dành 20% làm vốn phát triển lâm nghiệp và sử dụng đúng mục đích

- Chính phủ mỗi năm trích 10% vốn khai khẩn đất để phát triển kinh tế nông lâm nghiệp (Nguyễn Đình Hải – Trường Đại học Lâm nghiệp, 2008) 1.2.2 Thực tiễn chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp ở Việt Nam

Việt Nam với tổng diện tích tự nhiên là 32.924.061km2, trong đó hơn 3/4 diện tích là đồi núi, cao nguyên Đây là địa bàn cư trú và sản xuất của hầu hết các đồng bào dân tộc thiểu số Với địa bàn cư trú như vậy nên nông nghiệp quảng canh là phương thức sản xuất chủ yếu để nuôi sống người dân nơi đây Nhìn chung các hộ miền núi có quy mô dân số tương đối cao so với mức bình quân của cả nước Số nhân khẩu bình quân của các hộ miền núi qua một số kết

Trang 16

quả điều tra là 5,9 người (so với mức bình quân của vùng nông thôn là 4,47 người/hộ) Những đặc trưng cơ bản trên đây nên cái đói, cái nghèo vẫn còn bám lấy cuộc sống người dân vùng cao Theo kết quả điều tra trong đề tài của tác giả Hoàng Thái Sơn- trường trung học lâm nghiệp Trung ương I thì công tác xóa đói giảm nghèo của Việt Nam trong những năm qua dù đã đạt được những thành công nhưng chưa đồng đều Tỷ lệ đói nghèo ở miền núi phía Bắc còn rất cao với 44% (năm 2002) Trong số mười tỉnh nghèo nhất Việt Nam (tỷ lệ đói nghèo từ 55% đến 78%) có các tỉnh vùng núi phía Bắc Thu nhập bình quân của hộ nông dân miền núi phía Bắc còn rất thấp (dù đã có sự tăng trưởng trong thời gian qua), chỉ đạt 2,32 triệu đồng/người/năm, bằng 65% so với mức bình quân cả nước Bên cạnh đó, Miền núi phía Bắc còn nhiều vấn đề khó khăn khác như hạ tầng cơ

sở yếu kém, dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn, mức độ đô thị hóa thấp và kinh tế dựa chủ yếu vào sản xuất nông nghiệp

Bên cạnh sự hạn chế về mặt kinh tế như trên thì những tác động tiêu cực

về mặt môi trường sinh thái, văn hóa xã hội cũng rất hiện hữu Trước chiến tranh thế giới hai, diện tích rừng nguyên sinh của nước ta là 19 triệu mẫu, chiếm 58% diện tích tự nhiên toàn quốc Cho đến năm 1943 rừng chỉ còn 14,1 triệu mẫu (43%) và đến năm 1990 chỉ còn 9,1 triệu mẫu (27,7%) Hiện nay tuy diện tích rừng đã được phục hồi một phần thông qua hoạt động trồng rừng nhưng chất lượng rừng không cao và nguy cơ mất rừng vẫn rất hiện hữu

Như vậy vấn đề đặt ra ở đây là phải có những giải pháp hỗ trợ sản xuất cho người dân vùng cao để họ có thể ổn định được chỗ ở, ổn định được đời sống bằng chính hoạt động sản xuất nông lâm nghiệp

Trên thực tế thì vấn đề này đã được Đảng và Nhà nước ta quán triệt và

có nhiều tác động hỗ trợ cụ thể: Đó là các chính sách về giao đất giao rừng, các chương trình, dự án hỗ trợ tư liệu sản xuất, hỗ trợ nhà ở, xây dựng cơ sở

hạ tầng như chương trình 134, 135…Một cách khách quan thì những hỗ trợ trên đã mang lại những kết quả rất khả quan Theo thông tin từ cục phó cục hợp tác xã và phát triển nông thôn ông Tăng Minh Lộc thì thu nhập bình quân

Trang 17

hộ nông dân tăng từ 11 lên 16 triệu đồng/hộ, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 14,5% xuống còn 8,3 % năm 2007(theo tiêu chuẩn cũ)

1.3 Tổng quan về vấn đề nghiên cứu

Trước khi tôi thực hiện đề tài này, cũng đã có nhiều tác giả, nhóm tác giả thực hiện các chuyên đề nghiên cứu có nội dung về đánh giá tác động của chính sách như:

- Nghiên cứu của nhóm tác giả: Đặng Kim Vui, Lý Văn Trọng, Lê Sỹ Trung vào năm 2000 “Tìm hiểu công tác giao đất giao rừng đến phát triển kinh tế,

xã hội, môi trường tại xã Văn Lang huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên”

- Nhóm tác giả Vương Văn Quỳnh, Trịnh Duy Giang (2005) “Nghiên cứu một số giải pháp quản lý rừng trên cơ sở cộng đồng tại xã Yên Nhân thuộc vùng đệm khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên tỉnh Thanh Hóa.”

- Nhóm tác giả Trần Hữu Dào, Nguyễn Huy Nhuận (1997) “Nghiên cứu tình hình giao đất khoán rừng và sản xuất kinh doanh của hộ nhận đất, nhận rừng của xã Hương Nhượng huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình”

- Nhóm tác giả Nguyễn Đình Hải, Nguyễn Bá Ngãi (1995) “Đánh giá ảnh hưởng của một số chính sách chủ yếu đối với phát triển lâm nghiệp xã hội

ở Cầu Hai – Đoan Hùng – Vĩnh Phú làm cơ sở cho hoàn thiện nội dung chính sách để phát triển lâm nghiệp xã hội tại địa phương”

- Tác giả Phạm Bá Hưng (2005) “Nghiên cứu ảnh hưởng của chính sách di dân tái định cư đến đời sống người dân tại xã Thung Nai huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình

- Tác giả Hà Thị Tâm (1997) “Nghiên cứu tình hình giao đất khoán rừng và sản xuất kinh doanh của các hộ nhận đất nhận rừng tại xã Dân Hạ huyện Kỳ Sơn tỉnh Hòa Bình.”

Trang 18

Chương 2 TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

2.1 Thông tin chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của huyện Kỳ Sơn

a Điều kiện tự nhiên

Kỳ Sơn là huyện vùng giữa của tỉnh Hoà Bình, phía Bắc giáp với tỉnh

Hà Tây, huyện Lương Sơn và Kim Bôi, phía Nam giáp thành phố Hòa Bình, phía Tây giáp huyện Đà Bắc và tỉnh Phú Thọ

Kỳ Sơn là huyện có địa hình thấp, độ cao trung bình từ 250m, toàn vùng không có núi cao, nhưng độ dốc núi lớn từ 30 – 450, hướng thấp dần từ Đông Nam xuống Tây Bắc theo hướng hạ lưu sông Đà Ngoài ra huyện còn

có đất ruộng trũng và bãi

Kỳ Sơn có khí hậu nhiệt đới gió mùa với mùa đông lạnh, ít mưa và mùa

hè nóng mưa nhiều, nhiệt độ trung bình là 230, lượng mưa trung bình đo được trong năm là 1800mm, mưa chủ yếu vào mùa hè, mạnh nhất là các tháng 6, 7,

8, 9 và chiếm đến 80 % lượng mưa cả năm

b Tài nguyên thiên nhiên

- Tài nguyên đất: Tổng diện tích đất tự nhiên của huyện là 20204,36 ha, trong đó đất lâm nghiệp là 15086,62 ha chiếm 74,6% diện tích tự nhiên toàn huyện, đất nông nghiệp là 2906,48 ha chiếm 14,4% diện tích tự nhiên

- Tài nguyên rừng: Trong tổng số 15086,62 ha đất lâm nghiệp của Kỳ Sơn thì có 5675,57 ha đất lâm nghiệp có rừng, trong đó rừng tự nhiên có 2397,62 ha, rừng trồng có diện tích 3276,75 ha Nhìn chung tài nguyên rừng của Kỳ Sơn khá phong phú, góp phần bảo vệ môi trường chung của huyện, tỉnh và khu vực Tây Bắc

c Điều kiện kinh tế - xã hội

Kỳ Sơn hiện có 9 xã và 1 thị trấn, dân số toàn huyện là 35307 người, trong đó số người trong độ tuổi lao động là 18020 người Thành phần dân tộc bao gồm: Mường, Dao,Tày, Kinh, trong đó người Mường chiếm hơn 70% dân

số toàn huyện Thu nhập bình quân đầu người là 2,85 triệu đồng/ năm Cơ cấu

Trang 19

thu nhập của huyện có sự chuyển biến từ nông nghiệp sang công nghiệp, tuy nhiên tỷ trọng thu nhập từ nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng lớn nhất (78,96%), công nghiệp là 8,7% và dịch vụ là 12,4% Các sản phẩm từ sản xuất nông lâm nghiệp khá đa dạng Hiện nay trên địa bàn huyện chưa có cơ sở chế biến nông sản quy mô lớn, sản phẩm nông nghiệp làm ra vẫn được trao đổi tự do trên thị trường nên giá cả rất bấp bênh Đối với sản phẩm lâm nghiệp hiện đã có một nhà máy bột giấy

2.2 Thông tin chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội huyện Đà Bắc

a Điều kiện tự nhiên

Đà Bắc là huyện vùng cao của tỉnh Hoà Bình có điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội tương đối đặc thù, diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh nhưng diện tích đất nông nghiệp chỉ đứng thứ 9 trong tỉnh

Phía Bắc huyện giáp tỉnh Phú Thọ, phía Nam giáp huyện Kỳ Sơn và Tân Lạc, phía Đông giáp thành phố Hoà Bình, phía Tây giáp tỉnh Sơn La

Đà Bắc nằm trong vùng khí hậu á nhiệt đới gió mùa với 2 mùa rõ rệt Nhiệt độ trung bình là 23,50C Lượng mưa trung bình năm là 1570mm Hầu hết các xã vùng cao của huyện đều chịu ảnh hưởng của gió Tây khô nóng thường xuất hiện từ tháng 6 đến tháng 9, hàng năm vào mùa mưa thường xảy

ra những đợt lũ quét phá hoại đường xá, hoa màu và diện tích lúa nước

Độ cao trung bình của huyện Đà Bắc là 560m, huyện cũng có nhiều đỉnh núi cao như núi Phu Canh (1373m), Đức Nhân (1320m), Phu Xúc (1373m).Các núi đồi, sông suối xen kẽ nhau tạo thành nhiều giải hẹp, đất đai

bị chia cắt, độ dốc lớn, bình quân khoảng 350

b Tài nguyên đất, tài nguyên rừng và tài nguyên nước

Đà Bắc có tổng diện tích đất tự nhiên là 82.016ha, đất lâm nghiệp có rừng

là 30.522,67 ha (chiếm 37,21%), trong đó rừng tự nhiên là 25.715ha còn nhiều

gỗ quý với trữ lượng lớn, rừng trồng là 4.807ha, tài nguyên rừng Đà Bắc vừa có

ý nghĩa phát triển kinh tế vừa có ý nghĩa bảo vệ môi trường và có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ lòng hồ Hoà Bình ( Nguyễn thị Nhàn- Viện sinh thái 2007)

Trang 20

Đất đai của huyện phù hợp cho phát triển nhiều loại cây công nghiệp, cây ăn quả, cây lâm nghiệp Đà Bắc có cao nguyên Tu Lý, Yên Hoá khá bằng phẳng, diện tích rộng lớn, đất đai tươi tốt, nhiều loài cây trồng có thể sinh trưởng phát triển tốt như Luồng, Quế, Hồng, Chè tuyết

Huyện Đà Bắc chịu ảnh hưởng của chế độ thuỷ văn sông Đà, chiều dài sông Đà chảy qua huyện là 70km với lưu lượng nước bình quân năm là 1602m3/s Với lợi thế mặt nước rộng và dài lại nằm trong khu vực giao thông đường thủy giữa Tây Bắc và Hà Nội, Đà Bắc có thể tận dụng lợi thế của mình về mặt hồ để đầu tư phát triển ngành nuôi trồng thuỷ sản, phát triển giao thông

c Đặc điểm về dân sinh kinh tế xã hội

Đà Bắc có 20 xã và một thị trấn với số dân là 49.022 người (chiếm 6,36% dân số toàn tỉnh), 10.039 hộ Đà Bắc bao gồm các dân tộc Tày, Mường, Dao, Kinh và một số dân tộc khác cùng sinh sống, trong đó dân tộc Tày là chiếm số lượng đông nhất 19.805 người, dân tộc Mường là 16.597 người, dân tộc Dao 6293 người, dân tộc Kinh là 5808 người Dân số trong độ tuổi lao động là 26013 người, chiếm 53,33% dân số toàn huyện, trong đó lao động trong ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng gần 90%

Thu nhập bình quân đầu người là 2,9 triệu đồng/năm Cơ cấu phát triển kinh tế chủ yếu vẫn là nông nghiệp, dịch vụ và công nghiệp, trong đó nông, lâm nghiệp chiếm 86,8%

Trên địa bàn huyện cũng có một số cơ sở sản xuất chế biến nông sản thực phẩm nhưng chủ yếu chỉ qua sơ chế rồi bán ra ngoài thị trường Đối với sản phẩm của ngành lâm nghiệp chỉ có gỗ xẻ, cánh cửa (chủ yếu bán ra thị trường ngoài huyện, chưa xuất khẩu), làm tăm mành xuất khẩu Đối với sản phẩm của ngành nông nghiệp chủ yếu chỉ qua sấy khô rồi bán cho các cơ sở sản xuất thức ăn gia súc, hiện tại chưa có thị trường ổn định Cây hàng hoá có giá trị kinh tế cao như Hồng Liên Thôn, Chè Tuyết, Luồng, Trúc Đài Loan

…chưa thành vùng sản xuất lớn, vùng Mía nguyên liệu cho nhà máy đường cũng mới được hình thành, các trang trại lớn chưa phát triển

Trang 21

2.3 Lược sử của các xóm được chọn làm điểm khảo sát chi tiết

- Tổng diện tích toàn xóm là 251ha, với 1,2ha đất lúa nước, 45ha cây hoa màu, 176,6ha đất lâm nghiệp, số còn lại là đất sử dụng cho mục đích khác

- Thu nhập trong toàn xóm trong năm 2007 đạt 2.010.000.000đ, trong

đó thu nhập từ nông nghiệp là 1.150.000.000đ, từ lâm nghiệp là 150.000.000đ, còn lại là thu nhập từ các hoạt động khác như buôn bán tạp hóa, hoạt động thủ công nghiệp quy mô gia đình Như vậy nông nghiệp vẫn là ngành sản xuất đem lại thu nhập chủ yếu cho người dân trong xóm

- Cơ sở hạ tầng Tất cả các hộ trong xóm đã có điện lưới thắp sáng, số

hộ có điện thoại là 11 hộ chiếm 14,3% Hệ thống đường giao thông trong xóm

là đường đất, một số đoạn đã được bê tông hóa, đường từ trung tâm xã vào đến xóm dài 8km, trong đó có 4km là đường dãi nhựa 4 km còn lại là đường cấp phối Trong xóm có một công trình thủy lợi dài 6,3 km Hệ thống đường giao thông và công trình thuỷ lợi được đầu tư bằng vốn của dự án 747

Trang 22

- Thu nhập trong xóm năm 2007 là 1.404.000.000đ Trong đó thu nhập từ nông lâm nghiệp chiếm 75%, còn lại 25% là các khoản thu từ các hoạt động như

xe ôm, làm thuê, buôn bán nhỏ, thập bình quân đầu người là 4 triệu đồng/năm

- Hệ thống cơ sở hạ tầng 100% số hộ trong xóm đều có điện thắp sáng, số máy điện thoại trong xóm là 44 máy Hệ thống giao thông gồm 1,5km đường dãi nhựa liên xã, hơn 2km đường bê tông liên xóm, trong xóm có đầy đủ hệ thống trường lớp từ mầm non đến trường cấp II Hệ thống cơ sở hạ tầng của xóm chủ yếu là do dự án 747 đầu tư hỗ trợ, người dân tham gia đóng góp sức lao động

- Trong toàn xóm có 135 hộ với 584 khẩu, số người trong độ tuổi lao động là 317 người Đa số các hộ trong xóm là người Mường

- Tổng thu nhập trong toàn xóm trong năm 2007 là 3.407.000.000đ Trong đó thu nhập từ nông nghiệp là 2.687.000.000đ, từ lâm nghiệp là 310.000.000đ, từ các hoạt động khác là 400.000.000đ, như vậy sản xuất nông nghiệp là ngành chủ yếu và có vai trò rất quan trọng đối với người dân xóm Quốc Toàn xóm hiện có 190 con trâu bò, 435 con lợn, 4300 con gia cầm các loại Hiện tại trong xóm đã có 4 xưởng chế biến bột sắn quy

mô gia đình, 5 máy xay xát, 100 cái xe máy, 20 cái tủ lạnh

- Văn hóa, an ninh quốc phòng Tỷ lệ mù chữ trong toàn xóm là 7%, tỷ

lệ học hết cấp I là 93%, tỷ lệ học hết cấp II là 90%, học hết cấp III là 50%, ĐH/CĐ/THCN là 10% Trong xóm đã có hệ thống trường lớp đầy đủ, có nơi sinh hoạt văn hóa chung cho toàn xóm

Trang 23

Chương 3 TỔNG QUAN VỀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Phương pháp lựa chọn chính sách nghiên cứu

Chính sách giao đất lâm nghiệp theo nghị định 02/NĐ-CP và chính sách ổn định dân cư, hỗ trợ sản xuất di dân vùng lòng hồ Hòa Bình được lựa chọn nghiên cứu chi tiết vì những lí do sau:

Đất đai là yếu tố sản xuất quan trọng nhất và không thể thay thế trong sản xuất nông lâm nghiệp

Trên mỗi thửa đất luôn chứa đựng nhiều mối quan hệ xã hội, bản thân đất đai luôn là vấn đề phức tạp và nhạy cảm Vì vậy những chính sách liên quan đến đất đai bao giờ cũng thu hút được sự quan tâm của nhiều đối tượng xã hội khác nhau

So với các chính sách hỗ trợ sản xuất khác đang được thực hiện trên địa bàn như: Dự án trồng rừng 661, chương trình 134, 135 …thì hai chính sách giao đất lâm nghiệp và chính sách 747 đã được triển khai thực hiện một thời gian dài (14 năm), trên phạm vi không gian rộng, với đối tượng tham gia đông đảo Vì vậy mà những tác động của 2 chính sách có thể nhận dạng và đánh giá chính xác

Bản thân vấn đề di dân và đất đai có mối liên hệ với nhau, để thực hiện

di dân thành công một điều kiện là chính sách phải giải quyết được vấn đề đất đai cho người dân di cư đến, bao gồm đất ở và đất cho sản xuất

Hòa Bình là một tỉnh miền núi, tốc độ phát triển kinh tế chỉ đạt mức trung bình của cả nước Nông lâm nghiệp là ngành sản xuất có vai trò quan trọng khi đóng góp trên 70% trong tổng thu nhập của cả tỉnh Tuy nhiên quá trình thực hiện các chính sách hỗ trợ sản xuất nông lâm nghiệp nói chung, hai chính sách giao đất lâm nghiệp và 747 nói riêng vẫn còn những bất cập, vướng mắc cần được nghiên cứu chi tiết để có những điều chỉnh, bổ sung nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của chính sách

Trang 24

3.2 Phương pháp lựa chọn địa điểm nghiên cứu

Do giới hạn về mặt thời gian, trình độ và điều kiện cho phép của một khóa luận tốt nghiệp; căn cứ vào kết quả khảo sát sơ bộ và dựa vào ý kiến tư vấn của cán bộ địa phương, tôi lựa chọn 4 xóm ở hai xã thuộc hai huyện Đà Bắc, xóm Ngù và xóm Doi thuộc xã Hiền Lương huyện Đà Bắc

* Xã Phú Minh được chọn làm địa điểm khảo sát vì những lí do sau đây

- Xã thuộc vùng hạ lưu, hàng năm vẫn chịu sự xã lũ trực tiếp từ hồ Hòa Bình nhưng cho đến nay chưa có chính sách hỗ trợ gì của Nhà nước

- Là xã có nhiều khúc mắc trong việc xét giao đất, cấp đất cho các đối tượng và hệ quả là làm ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống người dân địa phương

- Các hoạt động sản xuất lâm nghiệp chưa thực sự phát triển do cơ chế của Nhà nước và địa phương còn nhiều bất cập

- Hiện tại ở xã đang có nhiều vấn đề nổi cộm cần có sự tác động phù hợp về mặt chính sách cũng như cơ chế quản lý để địa phương có thể phát triển kinh tế, cải thiện đời sống của người dân

+ Tại xã đang xảy ra tranh chấp đất đai giữa các bên liên quan dẫn đến người dân không chủ động trong sản xuất

+ Các thủ tục xin khai thác gỗ của hộ gia đình từ rừng trồng 327 phải qua rất nhiều công đoạn, thủ tục và phân chia quyền lợi giữa các bên không thống nhất điều này ảnh hưởng đến tâm lý người dân khi tham gia vào các chương trình của chính sách

* Xã Hiền Lương được chọn làm địa điểm nghiên cứu vì các lí do sau

- Là xã vùng cao miền núi thuộc khu vực lòng hồ Hòa Bình, điều kiện kinh tế khó khăn, tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân hàng năm chỉ đạt 86 %

so với mức tăng trưởng bình quân của tỉnh và toàn quốc

- Sản xuất nông lâm nghiệp vẫn ở quy mô sản xuất nhỏ, mang tính tự cung tự cấp, chưa phát huy được tiềm năng đất đai cũng như mặt nước để phát triển kinh tế

Trang 25

- Một số chương trình, dự án của nhà nước đầu tư cho hoạt động sản xuất còn kém hiệu quả, chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân và có nhiều điểm khúc mắc cần làm rõ

3.3 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra, chọn mẫu để thu thập số liệu về quá trình triển khai, áp dụng cũng như tác dụng của chính sách giao đất giao rừng và chính sách hỗ trợ sản xuất, ổn định dân cư vùng di dân lòng hồ Hòa Bình Cụ thể tôi đã sử dụng các công cụ sau:

- Phỏng vấn bằng phiếu điều tra

+ Lựa chọn hộ phỏng vấn đảm bảo tính khách quan, số hộ được lựa chọn đảm bảo có hộ giàu, có hộ nghèo

+ Phiếu điều tra được thiết kế gồm cả câu hỏi định tính và định lượng Nội dung thu thập gồm: thông tin chung về hộ và thông tin về ảnh hưởng của chính sách hỗ trợ sản xuất

- Phỏng vấn bán định hướng

+ Phỏng vấn bán định hướng được sử dụng để phỏng vấn một số đối tượng như cán bộ xã, cán bộ xóm, hộ gia đình để thu thập thông tin chung về tình hình triển khai áp dụng và tác động của các chính sách đến cộng đồng, hộ gia đình, những khó khăn và thuận lợi trong quá trình áp dụng chính sách

Trang 26

+ Để thông tin có độ chính xác hơn tôi sử dụng phương pháp kinh nghiệm, tức là phỏng vấn những người có kinh nghiệm và hiểu biết chi tiết về thực trạng quá trình áp dụng chính sách

Ngoài ra tôi còn sử dụng phương pháp quan sát thực tế tại địa điểm nghiên cứu để có số liệu và cách nhìn tổng hợp hơn về ảnh hưởng của chính sách trên thực tế

3.4 Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

Kết quả phỏng vấn hộ gia đình sẽ được tập hợp và sử dụng phần mền Stata để đánh giá mức độ tác động của chính sách, cũng như mức độ thành công của chính sách trên cơ sở lượng hóa đánh giá của người dân

Khóa luận sử dụng hai mô hình kinh tế định lượng để tính toán mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đầu vào cũng như tác động của chính sách đến thu nhập của hộ gia đình

* Mô hình 1: Xác định ảnh hưởng của chính sách và các nhân tố khác đến thu nhập của hộ gia đình

+ +

=

n k

m k

k k j

Y Ln LnY

in n l

il l j

ij j

hộ gia đình Lao động L người Tổng số lao động của hộ gia

đình

Trang 27

chi phí sản xuất

Điều kiện tưới tiêu D 0, 1 0= không tốt, =1 tốt

Văn hóa VH cấp học Trình độ văn hóa của chủ hộ

Chính sách 1 CS1 0, 1 0= nếu không thuộc đối tượng,

1= là đối tượng của chính sách

1 Chính sách 2 CS2 0, 1 0= nếu không thuộc đối tượng,

1= là đối tượng của chính sách

2 Khoảng cách đến

ruộng

R1 km Độ dài đoạn đường từ hộ gia

đình đến ruộng Khoảng cách đến

rừng

R2 km Độ dài đoạn đường từ hộ vào

đến rừng Khoảng cách đến

đường ô tô

KO km Độ dài đoạn đường từ hộ ra

đến đường ô tô

Biến phụ thuộc của mô hình 2(Si) Kết quả đánh giá Si 0,1,2,3 Mức độ đánh giá của người dân

về chính sách Biến độc lập( cơ sở của sự đánh giá) Loại hộ LH 0, 1, 2 Phân loại hộ dựa vào thu nhập

của hộ Văn hóa VH Cấp học Trình độ văn hóa của chủ hộ

Lao động L người Tổng số lao động của hộ gia

đình Diện tích đất đai D ha Tổng diện tích đất canh tác của

hộ gia đình Diện tích đất lâm

Trang 28

Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ QUÁ TRÌNH TRIỂN KHAI THỰC HIỆN VÀ TÁC ĐỘNG CỦA HAI CHÍNH SÁCH

4.1 Kết quả phương pháp nghiên cứu điểm

4.1.1 Chính sách giao đất lâm nghiệp theo nghị định 02/NĐ-CP ngày 15-1-1994

Điểm được lựa chọn để nghiên cứu là xã Phú Minh cụ thể cho hai xóm Quốc

và xóm Vật Lại

* Giới thiệu chung về chính sách

- Chính sách giao đất lâm nghiệp theo NĐ 02/NĐ- CP có hiệu lực vào ngày 15/01/1994 Nội dung của chính sách là tiến hành giao đất lâm nghiệp cho tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng ổn định và lâu dài vào mục đích sản xuất lâm nghiệp

- Đối tượng của chính sách

Đối tượng của chính sách là các tổ chức, hộ gia đình, cá nhân là người Việt Nam có nhu cầu và mong muốn được giao đất để sử dụng vào mục đích sản xuất lâm nghiệp theo quy hoạch của Nhà nước

Chính sách giao đất lâm nghiệp theo nghị định 02 của chính phủ đến với người nông dân Hoà Bình nói chung và người dân xã Phú Minh vào năm 1994

* Những đặc trưng cơ bản của diện tích đất được giao tại các xã

- Phần đất được giao cho hộ và cho cộng đồng thuộc địa giới hành chính của xã theo sự phân chia từ trước và được ghi rõ trong các văn bản hành chính của chính quyền địa phương

Trang 29

- Một phần diện tích trong tổng số diện tích được giao là đất đang được canh tác thông qua khai hoang, mở hoá từ trước đó của các hộ trong xã, vì vậy quá trình giao đất phải rất lưu ý đến vấn đề này để đảm bảo quyền lợi chính đáng của người dân, không để tình trạng tranh chấp khiếu kiện xảy ra

* Những thuận lợi và khó khăn ảnh hưởng đến việc thực hiện chính sách

Phú Minh là địa điểm thuộc khu vực phòng hộ cho hồ Hòa Bình nên có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ cho hoạt động trồng rừng ( Dự án chilfunl của

Úc, dự án 661, chương trình 327…) Điều này góp phần tạo động lực để người dân tham gia nhận đất trồng rừng

Chính quyền và người dân trong xã đã có những kinh nghiệm về giao đất thông qua việc thực hiện nghị định số 64/NĐ-CP năn 1993

Địa hình Phú Minh có độ cao thấp ( 250m2 ) tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình giao đất và hoạt động trồng rừng về sau

- Những khó khăn:

Đời sống người dân còn nghèo, thiếu ăn là tình trạng phổ biến trong khi sản xuất lâm nghiệp chu kỳ khai thác dài, vốn đầu tư lớn là những trở ngại mà người nông dân khó có thể tham gia trồng rừng

Nhận thức của người dân còn nhiều hạn chế, rất dễ vi pham các quy định của chính sách nếu như công tác tuyên truyền vận động không được thực hiện sâu rộng

Là một xã vùng ba nên nguồn kinh phí thực hiện chính sách là rất hạn hẹp

Trang 30

a Quá trình thực hiện chính sách

* Tại cấp xã

Trên cơ sở các văn bản hướng dẫn của UBND huyện, HĐND và UBND xã Phú Minh đã tổ chức cuộc họp để thông báo nội dung chính sách cho các ban ngành, tổ chức xã hội, trưởng các xóm Trên cơ sở đó cuộc họp

đã bàn và thống nhất bản kế hoạch triển khai thực hiện chính sách cho toàn địa bàn xã Nội dung bản kế hoạch:

- Căn cứ vào diện tích đất lâm nghiệp hiện có để xác định diện tích cần giao

- Tiêu chí lựa chọn đối tượng hưởng lợi: là các hộ gia đình đang thực hiện hoạt động sản xuất nông nghiệp và cư trú ổn định trên địa bàn.( Thực tế tại thời điểm năm 1994 các hộ trong xã đều thực hiện sản xuất nông nghiệp nên đối tượng hưởng lợi của chính sách là toàn bộ số hộ hiện có.)

- Dự kiến định mức giao cho mỗi hộ gia đình là 2ha/hộ

- Phạm vi thực hiện chính sách sẽ được thực hiện đồng loạt trên phạm

vi toàn xã Trong đó xóm Quốc gần UBND xã được chọn là điểm bắt đầu, quá trình thực hiện sẽ tổng kết kinh nghiệm và bài học để thực hiện nhanh và hiệu quả hơn ở các xóm sau

- Thời gian thực hiện kéo dài trong vòng 25 ngày bắt đầu từ ngày 5/5/1994

- Cuộc họp đã thành lập được một đơn vị chịu tránh nhiệm tổ chức thực thi chính sách, thành phần bao gồm: ban địa chính xã và hợp tác xã nông nghiệp, đơn vị này sẽ thực hiện phối hợp với chính quyền từng xóm để triển khai thực hiện chính sách trên từng địa bàn cụ thể

- Nguồn kinh phí thực hiện triển khai chính sách được lấy từ ngân sách của xã và một phần hỗ trợ của huyện

- Cơ chế giám sát Nội dung của cơ chế giám sát được lập dựa trên quy định của chính sách,bao gồm: hạn mức tối đa được giao cho một hộ gia đình

là 30ha; hời hạn giao là 50 năm; bị thu hồi khi sử dụng sai mục đích hoặc sau

12 tháng nhận đất nếu không có hoạt động lâm nghiệp nào được thực hiện Cơ

Trang 31

quan chịu trách nhiệm kiểm tra giám sát, đánh giá là UBND xã, đứng đầu là chủ tịch UBND xã

- Ban văn hóa xã chịu trách nhiệm tuyên truyền vận động nhân dân thông qua hệ thống lao phóng thanh di động, trưởng các xóm chịu trách nhiệm vận động người dân trong xóm tham gia thực hiện nội dung chính sách

* Tại cấp xóm

Theo lời kể của cán bộ xóm và các tài liệu do uỷ ban nhân dân xã cung cấp thì quá trình thực hiện nghị định 02 của chính phủ tại hai Quốc và xóm Vật Lại diễn ra theo trình tự sau

- Trên cở sở các văn bản hướng dẫn thực hiện nội dung văn bản chính sách của cấp xã, chính quyền xóm tổ chức họp dân để thông báo rộng rãi nội dung chính sách, nêu rõ quyền và trách nhiệm của người dân khi tham gia giao đất, các thủ tục cần làm để được giao đất

- Sau khi thông báo chính quyền để người dân tự bàn bạc để thống nhất

về địa điểm và diện tích đất nhận Những hộ đang canh tác trên đất đó trước thì sẽ được ưu tiên nhận trước

- Căn cứ vào nhu cầu của hộ dân thông qua đơn xin nhận đất, chính quyền xóm và chủ nhiệm hợp tác xã sẽ trực tiếp chia ruộng cho hộ gia đình bằng khoanh vẽ trên bản đồ dưới sự chứng kiến của cán bộ xã

b Kết quả quá trình vận động triển khai thực hiện nội dung chính sách Các chỉ

tiêu

Yêu cầu

Thực hiện

Trang 32

hộ gia đình Thực tế các xóm chỉ tổ chức được 1 cuộc họp và thời gian cũng chỉ từ 2-

và ông Nguyễn Quang Dìn thì vào năm 1994

cả hai xóm có 110 hộ gia đình thì có khoảng

100 hộ tham gia nghe phổ biến chính sách, chiếm gần 90.9% số hộ

Để hiểu rõ nội dung chính sách, nắm được những quyền lợi và nghĩa vụ của mình khi nhận đất yêu cầu người dân phải tham gia tích cực: thẳng thắn đặt vấn đề với cán bộ thực thi dự án khi có những vướng mắc khó hiểu, mạnh dạn thảo luận phương án thực thi chính sách Tuy nhiên do tâm lí e ngại,

tư tưởng bình quân nên các hộ chỉ đến và ngồi nghe cán bộ đọc nội dung chính sách

do chính sách mới được thực thi trong cả

Trang 33

thi nước chưa có nhiều địa phương thực hiện,

phần do kinh phí hạn hẹp nên đợt tập huấn đã không được thực hiện

50 hộ gia đình của hai xóm Quốc và Vật Lại thì có 30 hộ nắm được những quyền và nghĩa vụ cơ bản của mình khi tham gia nhận đất Số còn lại trả lời rất mập mờ

Để đảm bảo độ chính xác về vị trí và diện tích của phần đất được chia ở trên bản đồ và ngoài thực địa, yêu cầu mà kế hoạch đặt ra

là đắp sa bàn, từ đó kết hợp việc chia trên bản đồ và sa bàn để có độ chính xác cao hơn Thực tế quá trình chia đất chỉ thực hiện bằng việc khoanh vẽ trên bản đồ, trên nền đất

đồ, trên nền sân không đòi hỏi nhiều thời gian nên kế hoạch thực hiện tại hai xóm hoàn thành trước 3 ngày

Trang 34

hộ trồng rừng theo hợp đồng khoán với lâm trường huyện Kỳ Sơn, 30% còn lại tự bỏ vốn ra để mua cây giống về trồng

Trang 35

Biểu 4.1 Thu nhập từ lâm nghiệp của xóm Quốc và Vật lại trong 3 năm

Thu nhập của xóm từ sản xuất lâm nghiệp

Xóm Diện

tích

(ha)

Số tiền (1000đ)

Dyln (%)

Số tiền (1000đ)

Dyln (%)

Số tiền (1000đ)

Dyln (%) Quốc 197 330.000 13 280.000 10 310.000 8,9

Qua bảng tổng hợp trên đây có thể thấy khoản thu nhập từ sản xuất lâm nghiệp của các xóm có sự biến động không quá lớn qua các năm Tỷ trọng trong tổng thu nhập có xu hướng giảm xuống nhưng số lượng lại có xu hướng tăng Điều này phù hợp với xu thế phát triển của cả nước và địa phương: giảm dần tỷ trọng của các ngành nông lâm nghiệp, tăng tỷ trọng của các ngành công nghiệp dịch vụ

Qua kết quả phỏng vấn được thực hiện tại 50 hộ gia đình của 2 xóm cho thấy

Trang 36

Có 48 hộ đã tham gia nhận đất trồng rừng và cả 48 hộ đều khẳng định gia đình họ có nguồn thu từ trồng rừng Điều này là hoàn toàn có cơ sở thực tiễn vì với rừng trồng là cây keo thì chu kỳ khai thác chỉ là 7 năm trong khi chính sách đã thực hiện được hơn 14 năm Tuy nhiên số thu của các hộ là không thống nhất, nó phụ thuộc vào diện tích đất lâm nghiệp của hộ, chất lượng rừng, thời điểm khai thác và cở chế hưởng lợi khi tham gia trồng rừng (trồng rừng theo chương trình 327 hay trồng rừng theo hợp đồng khoán với lâm trường…) Mức thu bình quân cho 1ha/năm là 1.600.000đ Có 70% số hộ được hỏi trả lời rằng: kinh tế gia đình họ đã có bước phát triển hơn so với trước khi thực hiện chính sách, có 60% số hộ cho rằng họ hài lòng với cuộc sống hiện tại của gia đình, số việc làm từ nông nghiệp, vườn rừng và làm nghề phụ đủ cung cấp cho các lao động trong gia đình Số hộ giàu lên nhờ những hỗ trợ ban đầu của chính sách là 12%, tiêu biểu như hộ gia đình các ông: Nguyễn Văn Liệu, Nguyễn Văn Tự… ở xóm Quốc, thu nhập hàng năm của các hộ gia đình này biến động từ 60- 95 triệu đồng Lý do được các hộ đưa ra là nhờ số tiền thu được từ bán keo mà các hộ có thể chủ động đầu tư mua sắm các tư liệu sản xuất quan trọng như trâu kéo, phân bón, giống cây con hoặc đầu tư để phát triển các nghề phụ như: chế biến bột sắn, nấu rượu nhờ vậy mà các nguồn thu cũng đa dạng, cuộc sống sớm ổn định hơn Một ví

dụ điển hình về việc thực hiện thành công chính sách giao đất lâm nghiệp là

hộ gia đình ông Nguyễn Bình Dương ở xóm quốc

Ông Dương cho biết Trước đây gia đình ông có 3600m2 đất lúa 1 vụ, 500m2 đất hoa màu Do diện tích lúa chỉ làm một vụ, giống sử dụng đã bị thoái hoá nhiều, thêm vào đó không có tiền mua phân bón nên thu nhập hàng năm chỉ được 8-10 tạ thóc, vì vậy cảnh cơm độn sắn là rất phổ biến Đến năm

1994 cùng với phong trào nhận đất lâm nghiệp để trồng cây keo, gia đình ông cũng nhận 3ha Nhờ được tiếp cận với thông tin nên ông đã sử dụng diện tích

để trồng cây theo chương trình 327, trong giai đoạn cây keo từ 0-2 năm tuổi,

Trang 37

ông tận dụng không gian để trồng xen cây ngô, nhờ vậy mà gia đình vẫn có thêm sản lượng lương thực để đề phòng lúc giáp hạt Đến năm 2000 rừng cây keo đến tuổi cho khai thác, ông đã chặt bán tất cả ông thu được 40 triệu đồng,

số tiền này được ông trích ra một phần để đầu tư vào nuôi lợn với quy mô lớn, nhờ biết tính toán làm ăn nên hàng năm trừ chi phí và công chăm sóc gia đình cũng thu lãi 6.000.000đ Mới đây nhất vào năm 2006 ông đã được thu lứa keo thứ hai với số tiền gần 60.000.000đ Số tiền trên cộng với số tiền được tích lũy trước đó ông đã xây được ngôi nhà 2 tầng khang trang như ngày hôm nay

và mua sắm được nhiều tư liệu sản xuất có giá trị như một chiếc công nông trị giá 17.000.000đ, một máy xay xát Hiện nay hai vợ chồng ông và người con trai đầu ở nhà sản xuất nông nghiệp, công việc đủ cho cả ba lao động chính

Như vậy, chỉ bằng cách làm đơn giản nhưng mang lại hiệu quả cao mà một gia đình đã thoát được nghèo vươn lên trở thành hộ có kinh tế khá giả chỉ trong vòng gần 10 năm

Kết quả khảo sát cho thấy hầu hết những hộ có thu nhập cao từ nông nghiệp thì tỷ trọng thu nhập từ chăn nuôi là rất lớn ( 50-70%), đây chính là đặc trưng của một nền nông nghiệp hiện đại, mang tính hàng hoá Tuy nhiên

để có một cơ sở chăn nuôi quy mô vừa thì cũng đòi hỏi một lượng vốn không dưới 20 triệu đồng, số tiền này đối với một hộ gia đình thuộc xã vùng 3 là không dễ dàng, vì nếu có được vay vốn thì cũng chỉ được khoảng 5-10 triệu Theo như lời của ông Dương để có được cơ sở chăn nuôi lợn như nhà ông thì cũng cần đến 25 triệu đồng để xây dựng chuồng trại và mua con giống tất cả đều lấy từ tiền bán keo

Rõ ràng chính sánh giao đất lâm nghiệp đã gián tiếp tạo ra động lực để

hỗ trợ cho các hoạt động sản xuất khác phát triển, tạo thêm việc làm cho người dân nơi đây

Bên cạnh những hộ cho rằng chính sách giao đất có tác động tích cực đến sự phát triển kinh tế của gia đình mình thì vẫn tồn tại những ý kiến ngược

Trang 38

lại Có 15% số hộ được hỏi nói rằng chính sách giao đất có tác động rất ít hoặc không có tác động gì đến sự phát triển kinh tế gia đình họ, ở một khía cạnh khác

nó còn làm giảm nguồn thu của các hộ này Tìm hiểu rõ hơn thì được biết trong 15% số nói trên thì đa phần là những hộ đã không tham gia các cuộc họp phổ biến nội dung chính sách và cũng không tham gia nhận đất trong đợt 1( năm 1994), số còn lại dù có nhận đất nhưng chỉ là nhận cho xong chuyện Sau hơn 1 năm được giao đất các hộ này vẫn chưa có hoạt động lâm nghiệp nào lên phần đất đã nhận Cụ thể như hộ gia đình ông Nguyễn Văn Chín ở xóm Vật Lại

Gia đình ông Nguyễn Văn Chín có 4 khẩu với 2 lao động, diện tích đất nông nghiệp là 1500m2, diện tích đất lâm nghiệp là 1,2ha Ngoài nông nghiệp

ra gia đình ông không còn hoạt động sản xuất nào đáng kể để tạo thêm thu nhập Với diện tích canh tác như vậy, kết hợp chăn nuôi nhỏ lẻ hàng năm gia đình ông thu được trên dưới 10 triệu đồng, trong đó 1,2 ha đất lâm nghiệp chỉ thu được 1 triệu đồng/năm Gia đình ông chỉ có hai người con thôi nhưng do làm không đủ ăn nên người con gái đầu của ông đã phải nghỉ học từ ngày lớp

8 Ông Chín cho biết thêm đất lâm nghiệp mà ông nhận là nhận theo phong trào cho xong chuyện thôi, thấy bà con nhận mà mình không nhận thì cũng ngại Với tư tưởng đó nên sau khi nhận được 2 năm mà gia đình vẫn chưa trồng được cây gì trên đất đó, vậy mà cũng chẳng có ai đến đòi thu hồi đất nhà ông Mãi đến năm 1997 ông mới cùng với một số hộ được chia đất lần sau đi mua cây để trồng, nhưng do thiếu vốn, lại không có kỹ thuật trồng cộng với việc rừng ở xa nhà nên không quản lí được, trâu bò thường xuyên vào phá vì vậy mà mãi đến năm 2006 ông mới được thu hoạch Hiện nay ông mong muốn được vay vốn với lãi suất ưu đãi để mua một con trâu phục vụ cho ruộng đồng, nếu có dư thì ông sẽ mua thêm giống keo về trồng cho hết diện tích được giao

Đối với hoạt động hỗ trợ trồng rừng sau khi giao đất

Có 55% số hộ trả lời rằng sau khi được giao đất lâm nghiệp gia đình họ

đã được cán bộ của chương trình 327, hoặc cán bộ của lâm trường đến vận

Trang 39

động tham gia trồng rừng, theo đó các hộ gia đình sẽ được tạm ứng về giống, phân bón và được hỗ trợ tham gia các lớp khuyến lâm Các hộ chịu trách nhiệm chính trong việc trồng, chăm sóc và bảo vệ phần diện tích rừng trên đất lâm nghiệp nhà mình Khi rừng đến tuổi khai thác, lâm trường sẽ bao tiêu sản phẩm cho hộ gia đình theo giá đã thỏa thuận từ trước Số tiền thu được trừ phần vốn

đã tạm ứng từ trước phần dư ra là thu nhập của các hộ

Cơ chế hỗ trợ là như thế nhưng kết quả vận động thì chỉ có 40% số hộ có đất tham gia vào trồng rừng theo chương trình 327, sau này là 661 Nguyên nhân là do cơ chế hưởng lợi và thủ tục xin khai thác khi rừng thành thục rất phức tạp Cụ thể trình tự thủ tục xin khai thác đối với rừng trồng 661 thực hiện như sau:

- Chủ hộ làm đơn xin khai thác có xác nhận của xã gửi BQLDA 661

- BQLDA 661 báo cáo UBND huyện

- UBND huyện giao phòng kinh tế phối hợp với xã, BQLDA 661, Hạt kiểm lâm, chủ hộ, Công ty lâm nghiệp (nếu có) tiến hành kiểm tra hiện trường

và có biên bản kiểm tra

- UBND huyện làm tờ trình gửi sở NN&PTNT

- Sở NN&PTNT gửi công văn cho đơn vị tư vấn (Đoàn ĐTQH rừng), UBND huyện, BQLDA 661 về việc thiết kế khai thác cho chủ hộ

- BQLDA 661 ký hợp đồng thiết kế, lập dự toán khai thác gửi Sở NN&PTNT thẩm định

- Sở NN&PTNT ra văn bản đồng ý cho khai thác và xác định cơ chế hưởng lợi và nghĩa vụ nộp theo quy định

- UBND huyện tổ chức cuộc họp gồm đại diện phòng kinh tế, BQLDA

661, Hạt kiểm lâm, xã, chủ hộ để giao nhiệm vụ và thông báo mở cửa rừng

- BQLDA 661, Hạt kiểm lâm xã tiến hành giám sát việc khai thác và làm thủ tục vận chuyển cho chủ hộ

Trang 40

- Kết thúc khai thác, BQLDA phối hợp kiểm lâm, xã, chủ hộ kiểm tra

và báo cáo kết quả khai thác, tổ chức trồng lại rừng theo hồ sơ mà Sở NN&PTNT phê duyệt

Hiện nay trong tổng số 649.66 ha đất có rừng của xã Phú Minh thì diện tích rừng trồng theo chương trình 327 và sau này là dự án 661 là 476.34 ha (chiếm 73%), trong đó diện tích rừng đã đến tuổi khai thác là 220ha nhưng trong 3 tháng đầu năm cơ quan chức năng mới giải quyết cho 20 hộ gia đình với diện tích là 35ha

Thực tế trên đã tạo ra rào cản khiến người dân không muốn tham gia vào các chương trình dự án của chính phủ mặc dù họ mới là những người có quyền sử dụng phần đất lâm nghiệp Xu hướng hiện nay là nếu các hộ có điều kiện thì sẽ tự bỏ tiền ra mua giống về trồng, hộ thiếu vốn thì vay ngân hàng hoặc chuyển 1 phần diện tích sang trồng sắn mặc dù biết như thế là vi phạm quy định chính sách

Hoạt động cấp sổ đỏ cho các hộ gia đình có đất lâm nghiệp được thực hiện vào năm 1998 Tuy nhiên chỉ thực hiện cấp cho những hộ nhận đất vào năm 1994, đối với 10 hộ của hai xóm nhận đất bổ sung vào năm 1997 thì không được cấp sổ đỏ Chính vì lí do này mà hiện tại 8 hộ gia đình ở xóm Quốc đang làm đơn khứu kiện đòi chính quyền xã bảo vệ quyền lợi của họ, đơn cử như gia đình bà Đinh Thị Diệu

Gia đình bà Diệu thuộc diện khá đặc biệt của xóm, chồng mất sớm, cả nhà chỉ có bà là lao động chính, ba người con đều đang tuổi ăn tuổi học Năm

1994 phong trào nhận đất trồng rừng diễn ra rộng khắp toàn xã, bản thân bà Diệu cũng rất muốn nhận nhưng do gia đình neo lao động nên nhận về mà không trồng kịp thì cũng bị thu hồi, vì lẽ đó mà bà đã không nhận đất đợt 1 mặc dù có đi họp Đến năm 1997 bà Diệu cùng 7 hộ khác trong thôn làm đơn xin được cấp đất và được chính quyền chia cho mỗi hộ 0.5ha, với diện tích này bà sử dụng để trồng keo, đến năm 2004 chặt bán gia đình cũng thu được

15 triệu đồng Trong năm 1998 khi UBND huyện thực hiện việc cấp sổ đỏ cho các hộ gia đình nhận đất nhưng gia đình bà không được cấp với lí do

Ngày đăng: 23/06/2021, 15:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w