2 Để nghiên cứu được vấn đề này tôi thực hiện những nội dung sau: *Nội dung nghiên cứu của đề tài - Đánh giá khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm 2005 ÷ 2007 - Đ
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LỢI NHUẬN
Doanh nghiệp và các mục tiêu của doanh nghiệp
Theo luật doanh nghiệp của nước ta hiện nay thì doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản riêng, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh
1.1.2 Mục tiêu của doanh nghiệp a Mục tiêu thu lợi nhuận
Là đơn vị kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp là phải thu được lợi nhuận sau khi đã trừ đi các khoản chi phí sản xuất, nộp ngân sách cho Nhà nước và trang trải các khoản công nợ khác
Do đó mục tiêu lợi nhuận là mục tiêu rất quan trọng, nó là cơ sở để đề ra và thực hiện các mục tiêu khác b Mục tiêu phát triển Để có thể tồn tại và đứng vững trong nền kinh tế thị trường, liên tục phát triển là mục tiêu rất quan trọng được đặt ra một cách thường xuyên đối với mọi doanh nghiệp Để thực hiện mục tiêu phát triển, doanh nghiệp phải có đủ vốn để đầu tư cho sản xuất, tăng cường cơ sở vật chất, xây dựng và thực hiện chiến lược kinh doanh khoa học, các chính sách, biện pháp kinh doanh linh hoạt, có hiệu quả c Mục tiêu cung ứng
Cung cấp những sản phẩm và dịch vụ cần thiết cho nhu cầu của thị trường là mục tiêu rất quan trọng, là lý do tồn tại của doanh nghiệp trong nền kinh tế Trong tiến trình đất nước đang trong thời kỳ hội nhập nền kinh tế thì mọi doanh nghiệp đều phải tạo cho mình một chỗ đứng trên thị trường và để làm được điều đó thì doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, mẫu mã… để đáp ứng nhu cầu cho người tiêu dùng
Lợi nhuận và sự cần thiết phải tăng lợi nhuận
d Mục tiêu trách nhiệm xã hội
Doanh nghiệp là một đơn vị sản xuất kinh doanh của nền kinh tế, là một tế bào của xã hội, chính vì vậy mà doanh nghiệp cũng phải có trách nhiệm xã hội của mình như: không ngừng nâng cao chất lượng sản phẩm, đóng góp các nghĩa vụ với nhà nước, bảo vệ môi trường sinh thái…
1.2 Lợi nhuận và sự cần thiết phải tăng lợi nhuận
1.2.1 Lợi nhuận của doanh nghiệp
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện bằng tiền của toàn bộ sản phẩm thặng dư do kết quả lao động của người lao động mang lại, được xác định bằng chênh lệch giữa khoản thu nhập và chi phí mà doanh nghiệp đã bỏ ra để đạt được khoản thu nhập đó
(Giáo trình PTHĐKD Th.s Nguyễn Văn Đệ - 2002)
1.2.2 Sự cần thiết phải tăng lợi nhuận
Lợi nhuận là mục tiêu sống còn quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mọi hình thức xã hội Do đó, lợi nhuận có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ đối với doanh nghiệp mà đối với toàn bộ nền kinh tế xã hội Vai trò của lợi nhuận được thể hiện như sau:
- Đối với xã hội: Lợi nhuận là nguồn tài chính để phân phối lại cho phát triển kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân và tích luỹ cho xây dựng đất nước Việc tham gia đóng góp của doanh nghiệp vào ngân sách Nhà nước được thể hiện thông qua số thuế lợi tức mà doanh nghiệp đã nộp.Vì vậy việc tăng lợi nhuận sẽ tạo điều kiện cho nền sản xuất xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn, tăng nguồn thu nhập cho ngân sách Nhà nước Từ đó Nhà nước có thể đầu tư nhiều hơn cho phát triển kinh tế, văn hoá, y tế, an ninh quốc phòng…
- Đối với doanh nghiệp: Lợi nhuận đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với doanh nghiệp Lợi nhuận là mục tiêu, là động lực và là điều kiện tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bởi vì có lợi nhuận doanh nghiệp mới có nguồn tài chính để thực hiện tái sản xuất mở rộng, bổ sung nguồn vốn kinh doanh và trích lập các quỹ của doanh nghiệp Lợi nhuận là thước đo trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và là nguồn tài chính để nâng cao đời sống công nhân viên trong doanh nghiệp.
Các chỉ tiêu đánh giá lợi nhuận
1.3.1 Chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối
Lợi nhuận tuyệt đối: Là chỉ tiêu biểu hiện bằng tiền (giá trị tuyệt đối) phản ánh quy mô của doanh nghiệp
Như chúng ta đều biết, đặc điểm của sản xuất kinh doanh rất đa dạng và phong phú nên lợi nhuận cũng được hình thành từ nhiều bộ phận khác nhau
* Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
- Doanh thu là kết quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian nhất định
+ Chiết khấu bán hàng: Là số tiền thưởng cho người mua trong trường hợp người mua thanh toán tiền cho người bán trước thời hạn quy định
+ Giảm giá hàng bán: bớt giá, giảm giá thực sự
+ Hàng bán bị trả lại
- Giá vốn hàng bán: trị giá vốn của hàng hoá dịch vụ đã tiêu thụ trong kỳ
- Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp là chỉ tiêu chất lượng quan trọng, phản ánh trình độ tổ chức quản lý kinh doanh Quy mô của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp lớn hay nhỏ đều ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận của doanh nghiệp
+ Chi phí bán hàng: gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến việc tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ trong kỳ
+ Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh liên quan đến quản trị kinh doanh và quản lý hành chính trong phạm vi
Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh
BH và chi phí QLDN
6 toàn doanh nghiệp mà không tách được cho bất kỳ hoạt động hay phân xưởng nào
- Thu nhập hoạt động tài chính là những khoản thu từ hoạt động góp vốn liên doanh, các khoản đầu tư mua bán chứng khoán, khoản thu được cho thuê tài sản, lãi tiền gửi tiền vay ngân hàng…
- Chi phí hoạt động tài chính: là những khoản chi phí có liên quan đến các hoạt động đầu tư tài chính như: chi phí đi vay và chi phí cho vay; chi phí cho hoạt động liên doanh, lỗ liên doanh, giảm giá đầu tư chứng khoán và các chi phí khác theo chế độ kế toán hiện hành…
* Lợi nhuận từ hoạt động khác
Lợi nhuận từ hoạt động khác Thu nhập thuần khác -
Lợi nhuận từ hoạt động khác là số chênh lệch giữa các khoản thu nhập khác và các khoản chi phí khác, trong đó:
- Thu nhập khác là những khoản thu mà đơn vị không dự tính trước hoặc có dự tính nhưng ít có khả năng thực hiện những khoản thu không thường xuyên: thu về nhượng bán, thanh lý tài sản cố định, thu về phạt vi phạm hợp đồng, thu khoản nợ khó đòi đã xử lý, xoá sổ, thu các khoản nợ không xác định được chủ và các khoản thu nhập kinh doanh từ kỳ trước bị bỏ sót quên ghi sổ kỳ này mới phát hiện được…
- Chi phí khác là khoản lỗ do các sự việc, các nghiệp vụ riêng biệt với các hoạt động thông thường của đơn vị, cũng có thể là khoản chi phí bỏ sót của những kỳ trước…
Tổng lợi nhuận trước thuế của doanh nghiệp
Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế = Lợi nhuận thuần từ hoạt động kinh doanh + Lợi nhuận từ hoạt động khác
1.3.2 Chỉ tiêu lợi nhuận tương đối Để đánh giá, so sánh chất lượng hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đặc biệt là các doanh nghiệp có quy mô và đặc điểm sản xuất kinh doanh khác nhau, ngoài các chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối cần phải sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối Có nhiều cách xác định lợi nhuận tương đối thông thường ta sử dụng các chỉ tiêu sau: a Tỷ suất lợi nhuận doanh thu (tỷ lệ lợi nhuận) phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận với doanh thu của doanh nghiệp hoặc các mặt hàng của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
T LN/DT : Tỷ suất lợi nhuận doanh thu
LN: Lợi nhuận tiêu thụ sản phẩm trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết hàm lượng lợi nhuận trong mỗi đồng doanh thu hay trong mỗi đồng doanh thu thu được thì có bao nhiêu đồng lợi nhuận b Tỷ suất lợi nhuận giá thành: phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận với giá thành toàn bộ của sản phẩm hàng hoá trong một thời kỳ nhất định
T LN/Z : Tỷ suất lợi nhuận giá thành
Z tb : Giá thành toàn bộ
Chỉ tiêu này dùng để đánh giá hiệu quả sử dụng chi phí sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Nó cho biết mỗi đồng chi phí bỏ ra thì thu được bao
8 nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận giá thành cao thể hiện doanh nghiệp đã sử dụng hợp lý, tiết kiệm và có hiệu quả chi phí sản xuất của doanh nghiệp c Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất (Tỷ suất doanh lợi) là chỉ tiêu phản ánh quan hệ giữa lợi nhuận với vốn sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định
T LN/VSX : Tỷ suất lợi nhuận vốn sản xuất
VSX bq : Vốn sản xuất bình quân
Chỉ tiêu này cho biết mỗi đồng vốn sản xuất bỏ ra bình quân trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận.
Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế nó chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố
1.4.1 Ảnh hưởng của số lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ trong kỳ đến lợi nhuận
Trong điều kiện các nhân tố khác không đổi thì khối lượng sản phẩm sản xuất và tiêu thụ thay đổi sẽ trực tiếp làm lợi nhuận thay đổi Đây là nhân tố phụ thuộc chủ yếu vào bản thân doanh nghiệp và là nhân tố có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận
∆LN Q = (θ TT – 1).LN o Trong đó:
∆LN Q : Mức độ tăng giảm lợi nhuận theo khối lượng sản phẩm
LN o : Lợi nhuận kỳ gốc θ TT : Hệ số tiêu thụ sản phẩm thực tế trong năm của doanh nghiệp θ TT ∑
Q TT oi , Q TT li : Khối lượng sản phẩm tiêu thụ kỳ gốc và kỳ phân tích của sản phẩm i
P oi : Giá bán kỳ gốc của sản phẩm i
1.4.2 Ảnh hưởng của kết cấu mặt hàng sản xuất và tiêu thụ đến lợi nhuận Đây cũng là nhân tố có ảnh hưởng đến tổng lợi nhuận của doanh nghiệp Trong điều kiện các nhân tố khác không thay đổi, nếu tăng tỷ trọng sản phẩm có tỷ lệ lợi nhuận cao thì sẽ làm tăng lợi nhuận và ngược lại Việc lựa chọn kết cấu sản phẩm sản xuất và tiêu thụ, về khách quan phụ thuộc vào thị trường tiêu thụ nhưng doanh nghiệp hoàn toàn có thể chủ động bố trí kế hoạch theo khả năng của mình và phù hợp với nhu cầu thị trường để làm tăng lợi nhuận của doanh nghiệp
∆LN K/C = ∑Q li (P oi – Z oi – E oi ) – LN oi θ TT
∆LN K/C : Mức tăng giảm lợi nhuận theo kết cấu sản phẩm
Q li : Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ kỳ phân tích
P oi : Giá bán kỳ gốc của sản phẩm i
Z oi : Giá thành đơn vị kỳ gốc của sản phẩm i
E oi : Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp kỳ gốc của sản phẩm i
LN oi : Lợi nhuận kỳ gốc của sản phẩm i
1.4.3 Ảnh hưởng của giá bán đơn vị sản phẩm đến lợi nhuận
Giá bán là biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa Giá cả vừa là nhân tố khách quan bởi nó phụ thuộc vào thị trường nhưng cũng là nhân tố chủ quan bởi giá cả có liên hệ mật thiết với chất lượng và mẫu mã sản phẩm tiêu thụ của
10 doanh nghiệp Giá bán đơn vị có quan hệ tỷ lệ thuận với lợi nhuận vì khi giá bán tăng thì lợi nhuận tăng và ngược lại
∆LN P : Mức tăng giảm lợi nhuận theo giá bán đơn vị sản phẩm
Q li : Khối lượng sản phẩm i tiêu thụ kỳ phân tích
P li , P oi : Giá bán sản phẩm i kỳ phân tích và kỳ gốc
1.4.4 Ảnh hưởng của giá thành đơn vị sản phẩm đến lợi nhuận
Giá thành đơn vị sản phẩm là nhân tố có quan hệ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận, nếu giá thành đơn vị sản phẩm càng hạ thì lợi nhuận càng tăng và ngược lại Chính vì vậy hạ giá thành sản phẩm để tăng lợi nhuận luôn là mục tiêu phấn đấu của doanh nghiệp, đây là nhân tố mang tính chủ quan vì nó phản ánh trình độ tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay không
∆LN Z : Mức tăng giảm lợi nhuận theo giá thành sản phẩm
Z oi , Z li : Giá thành đơn vị sản phẩm kỳ gốc và kỳ phân tích của sảnphẩmi 1.4.5 Ảnh hưởng của chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp đơn vị sản phẩm hàng hoá tiêu thụ đến lợi nhuận
Trong điều kiện kinh tế thị trường hiện nay, chi phí bán hàng và chi phí quản lý của doanh nghiệp chiếm tỷ trọng không nhỏ trong tổng chi phí của doanh nghiệp.Vì vậy, việc hạ thấp các khoản chi phí này cũng góp phần làm tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
∆LN E : Mức tăng giảm lợi nhuận theo chi phí bán hàng và chi phí QLDN
E oi , E li : Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh nghiệp kỳ gốc và kỳ phân tích của đơn vị sản phẩm i
1.4.6 Ảnh hưởng của thuế suất đến lợi nhuận
Thuế phải nộp ngân sách thể hiện nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp Thuế suất là nhân tố mang tính khách quan bởi thuế do Nhà nước quy định và doanh nghiệp phải chấp hành vô điều kiện Đây là nhân tố có quan hệ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận, thuế suất càng cao thì lợi nhuận càng giảm Chính vì vậy để đảm bảo lợi nhuận kinh doanh thì doanh nghiệp phải cố gắng nỗ lực tăng số lượng, nâng cao chất lượng sản phẩm tiêu thụ đồng thời tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh
∆LN T : Mức tăng giảm lợi nhuận theo thuế suất
T oi , T li : Thuế VAT phải nộp kỳ gốc và kỳ phân tích của đơn vị sản phẩm i
ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THAN MẠO KHÊ
Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Công ty TNHH một thành viên than Mạo Khê trực thuộc Tập đoàn công nghiệp Than khoáng sản Việt Nam, nằm ở huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh Trước cách mạng tháng 8 năm 1945 được gọi là Mỏ Mạo Khê và sau ngày hoà bình lập lại được gọi là Mỏ Than Mạo Khê
Ngày 16-11-2001 Mỏ được đổi tên thành Công ty Than Mạo Khê Căn cứ quyết định số 331/2005/QĐ – TTg ngày 18 tháng 12 năm 2005 của thủ tướng chính phủ quyết định chuyển Công ty than Mạo Khê – Công ty thành viên hạch toán độc lập thuộc Tập Đoàn than Việt Nam chính thức chuyển thành Công ty TNHH một thành viên Than Mạo Khê
- Tên đầy đủ: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Than Mạo Khê
- Tên rút gọn là: Công ty Than Mạo Khê
- Tên giao dịch quốc tế đầy đủ: Vinacoal Mao Khe coal company limited
- Tên giao dịch quốc tế rút gọn: Vinacoal Mao Khe coal co, Ltd
- Tên giao dịch quốc tế viết tắt: VMKC
- Trụ sở chính: Thị trấn Mạo Khê - Huyện Đông Triều - Tỉnh Quảng Ninh Lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty là khai thác, chế biến và tiêu thụ than, xây dựng công trình mỏ Sản xuất vật liệu xây dựng, vận tải đường bộ, đường sắt Quản lý và khai thác bến cảng, bến cân Sửa chữa thiết bị mỏ và phương tiện vận tải, chế tạo xích vòng và sản phẩm cơ khí Thiết kế, đóng mới, sửa chữa và cải hoán các thùng xe ô tô công cộng Tổ chức hoạt động vui chơi, giải trí, văn hoá thể thao Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật
Công ty than Mạo Khê có lịch sử khai thác trên 165 năm So với các mỏ than hầm lò hiện nay, mỏ Than Mạo Khê có trữ lượng và quy mô khai thác lớn
Toàn công ty là một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh từ khâu vận tải sàng tuyển và tiêu thụ sản phẩm Mỏ Mạo Khê nằm sâu trong nội địa, phía bắc là đồi núi, còn lại là mặt bằng rộng rãi Mạo Khê nằm ở vị trí tương đối thuận lợi
Phía đông giáp với xã Hoàng Quế
Phía tây giáp xã Kim Sen
Phía Nam giáp xã Yên Thọ và thị trấn Mạo Khê
Phía bắc là đồi núi cao giáp xã Tràng Lương
Ranh giới của công ty theo tài liệu địa chất được phân định bởi: phía đông từ tuyến XV đến phía tây từ tuyến IE với chiều dài 8 km, phía bắc từ phay Trung Lương (FTL) đến phía nam từ phay (FBB) với chiều rộng từ 2 đến 5km
Ba mặt bao quanh (trừ phía bắc) tương đối bằng có hệ thống giao thông liên vùng Về đường quốc bộ, quốc lộ 18A đi Hạ Long (trung tâm kinh tế chính trị của tỉnh Quảng Ninh) và ngược lại phía Phả Lại - Bắc Ninh – Hà Nội Đồng thời quốc lộ 18A lại có nhánh đường 200 đi Hải Phòng, tuyến đường sắt quốc gia Yên Viên, Kép, Uông Bí, Hạ Long có nhiều nhánh vào tận nhà sàng Về đường thuỷ gần duy nhất chỉ có con sông Bạch Đằng là nơi trung chuyển than bằng đường thuỷ đi khắp nơi Các tuyến đường bộ và đường thuỷ đã hợp thành hệ thống giao thông thuận tiện cho mỏ trong việc vận chuyển nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm và trong sinh hoạt Căn cứ vào thăm dò địa chất, xác định than ở Mạo Khê có 54 vỉa, chiều dày toàn bộ là 271,74m, trong đó có 37 vỉa có giá trị khai thác Hầu hết các vỉa ở cánh bắc và nam đều chạy theo hướng đông – tây với chiều dài từ 6 đến 8km Cánh bắc vỉa mỏng, than cục ít, chỉ có 3/10 vỉa than cám 4 Chiếm tỷ lệ 30% còn lại là cám 4 và cám 5 Độ dốc vỉa từ 30 o đến 50 o cánh nam vỉa dày hơn, tỷ lệ than cục cao hơn độ dốc vỉa trung bình cao từ 30 o đến 63 o không có than cám 4, chỉ có than cám 5 và than cám 6 Phần trữ lượng than ở +30 (so với mực nước biển) thuận lợi cho khai thác lò bằng Phần nằm dưới +30 phù hợp với phương thức khai thác lò giếng
Khu vực khai thác chính hiện nay có độ sâu -80m, chạy dọc theo hướng bắc thuộc vùng núi của vòng cung Đông Triều Công ty đã quyết định mở rộng
14 diện tích sản xuất xuống sâu hơn qua hệ thống lò giếng nghiêng – 150, với tổng mức đầu tư 480 tỷ đồng và dự kiến năm 2008 sẽ chính thức đưa vào khai thác Như vậy là cùng lúc dưới tầng sâu này, mọi lực lượng tinh nhuệ đều được huy động Vừa phá phay, đào lò cơ bản xuyên suốt hai chiều nam - bắc địa tầng, đồng thời lắp đặt các thiết bị: băng tải, đường goòng, thiết bị cung cấp điện, hệ thống bơm nước cùng hàng loạt các công trình phụ trợ
Từ năm 2005, sản lượng khai thác than của Công ty ổn định ở mức 1,2 triệu tấn/năm, Công ty tiếp tục đẩy mạnh công tác đổi mới công nghệ khai thác, đào lò để tăng năng suất lao động, giảm cường độ lao động cho công nhân, áp dụng công nghệ chống lò bằng cột thuỷ lực đơn, giàn chống di động, máy cắt than liên hợp trong lò chợ Mở rộng thị trường tiêu thụ than, tiếp tục mở rộng sản xuất phụ để tăng doanh thu và giải quyết việc làm cho con em công nhân Đặc biệt, Công ty rất chú trọng công tác an toàn và bảo hộ lao động, cải thiện tốt hơn môi trường làm việc cho người lao động.
Tình hình tổ chức quản lý và tổ chức sản xuất kinh doanh của Công ty
Công ty than Mạo Khê trực thuộc Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam nhưng là đơn vị hạch toán độc lập Do đặc thù sản xuất kinh doanh cũng như quy mô hoạt động của Công ty nên mô hình tổ chức quản lý và điều hành sản xuất kinh doanh của Công ty được thiết kế theo mô hình vừa tập trung vừa phân tán
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức gọn nhẹ, linh hoạt và hợp lý, đảm bảo tính thống nhất và hiệu quả cao trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh Cơ cấu bộ máy của Công ty được thể hiện qua sơ đồ 01
Giám đốc công ty chịu trách nhiệm trước Chủ tịch Công ty và hội đồng quản trị Tổng công ty
Các phó giám đốc là người giúp giám đốc điều hành một số lĩnh vực hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty theo sự phân công của giám đốc về nhiệm vụ được phân công và thực hiện
Các phòng ban chức năng được tổ chức theo yêu cầu quản lý sản xuất kinh doanh, chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc, đồng thời trợ giúp cho ban lãnh đạo công ty chỉ đạo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Quản đốc là người chỉ đạo sản xuất trực tiếp tại phân xưởng, chịu trách nhiệm trước ban giám đốc Công ty về tình hình sản xuất kinh doanh tại phân xưởng đó
Công ty bao gồm 22 phân xưởng:
16 SƠ ĐỒ 01: TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG SXKD CỦA CÔNG TY
PHÒNG TIN HỌC QUẢN LÝ
PHÒNG TỔ CHỨC LAO ĐỘNG
- Công ty có 12 phân xưởng khai thác than
- Phân xưởng sàng tuyển than
Quan hệ chức năng, tham mưu Quan hệ trực tuyến
Quan hệ kiểm tra giám sát
2.2.2 Nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của công ty
* Quy trình công nghệ sản xuất than
Công ty than Mạo Khê là một doanh nghiệp sản xuất, sản phẩm là than sạch bao gồm: Than cục, than cám và than bùn, trong đó than cám là sản phẩm chủ yếu Với điều kiện của địa chất nên công nghệ khai thác chủ yếu là hầm lò Than hầm lò được khai thác và vận chuyển ra ngoài bằng hệ thống máng cào, xe goòng, tời, hệ thống băng tải và hệ thống quang lật tới nhà sang Tại nhà sàng than nguyên khai được sàng lọc, tuyển chọn, loại bỏ đất đá, sau đó qua hệ thống băng tải chuyển đến kho bãi
Công ty có đội ngũ gần 6000 công nhân viên và công nhân lao động được hưởng mức thu nhập bình quân đầu người là 3,7 triệu đồng/tháng (năm
2007) Tất cả những người thợ mỏ Mạo Khê đều được đào tạo kỹ lưỡng qua hệ thống các trường nghề mỏ và với sức vóc tuổi trẻ và có tri thức nghề nghiệp, trong đó 2/3 bình quân 30 tuổi, được đào tạo khá bài bản, gần một nửa có trình độ chuyên môn từ trung cấp đến đại học là vốn quý, đảm bảo khả năng tiếp thu và ứng dụng khoa học kỹ thuật, sử dụng các thiết bị hiện đại Đây là điểm tựa để Công ty đổi mới quyết liệt, toàn diện về công nghệ sản xuất và khai thác
Sơ đồ 02: Quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm than
Khai thác than hầm lò
Khai thác Than lộ thiên
Vận chuyển than ra ngoài qua hệ thống máng cào, goòng tời, băng tải
Hệ thống băng tải Than thành phẩm Để phát triển mạnh mẽ hơn trong giai đoạn sắp tới, biến tiềm năng thành hiện thực, Công ty than Mạo Khê đã và đang thực hiện đầu tư công nghệ, đổi mới quản lý với mục tiêu tiên phong đi đầu sản xuất nhiều than, đảm bảo an toàn, hiệu quả và tăng trưởng.
Những thuận lợi và khó khăn của Công ty
- Mạo Khê nằm ở vị trí tương đối thuận lợi Nằm trên địa bàn huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Ninh có đường quốc lộ chạy qua nên việc vận chuyển than rất thuận tiện, nhất là đến các nhà máy nhiệt điện Các tuyến đường bộ và đường thuỷ đã hợp thành hệ thống giao thông thuận tiện cho mỏ trong việc vận chuyển nguyên vật liệu, tiêu thụ sản phẩm và trong sinh hoạt Đàolò kiến thiết CBSX
Vận chuyển than bằng ôtô
- So với các mỏ than hầm lò hiện nay, mỏ Mạo Khê có trữ lượng và quy mô khai thác lớn Toàn Công ty là một dây chuyền sản xuất hoàn chỉnh, đồng bộ từ khâu khai thác vận tải đến sàng tuyển và tiêu thụ sản phẩm
- Mạng lưới tiêu thụ ngày càng được mở rộng, do vậy tạo điều kiện để Công ty tăng khối lượng sản phẩm tiêu thụ, tăng doanh thu nhằm tăng lợi nhuận Mặt khác uy tín của Công ty ngày càng được khẳng định trên thị trường
- Công ty có đội ngũ cán bộ kỹ thuật có trình độ chuyên môn, đội ngũ thợ lành nghề và kinh nghiệm nhiều năm công tác
- Trong những năm qua giá bán than vẫn còn ở mức thấp so với vùng Hòn Gai – Cẩm Phả vì than Mạo Khê có độ tro cao, nhiệt lượng thấp hơn
- Hiện nay lao động trong công ty dôi dư nhiều, nhất là lao động thủ công Vì vậy việc giải quyết công ăn việc làm đảm bảo cho người lao động gặp không ít khó khăn
- Khó khăn lớn nhất đối với Công ty Mạo Khê là phải giải quyết bài toán giá thành Bởi vì ở đây toàn bộ khu vực khai thác đều đã xuống âm Với một địa tầng vô cùng phức tạp, hòn than phải chịu đủ sức ép về chi phí sản xuất là điều không tránh khỏi Một ảnh hưởng quan trọng là với đặc thù khí nổ loại siêu hạng nên Công ty luôn phải đầu tư thích đáng cho công tác an toàn do vậy giá thành than sạch tăng lên bởi các chi phí này so với các đơn vị hầm lò trong Tập đoàn than, ảnh hưởng đến việc thực hiện kế hoạch lợi nhuận Đồng thời trong thời gian qua giá điện, giá xăng dầu tăng nên làm cho chi phí tăng cũng dẫn đến giá thành sản phẩm tăng
PHÂN TÍCH ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG SẢN XUẤT KINH DOANH, SỰ HÌNH THÀNH VÀ BIẾN ĐỘNG LỢI NHUẬN CỦA CÔNG
Đánh giá khái quát tình hình sản xuất kinh doanh của Công ty qua 3 năm (2005 ÷ 2007)
3.1.1 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh bằng chỉ tiêu hiện vật Để đánh giá kết quả sản xuất kinh doanh của Công ty ta tiến hành đánh giá thông qua chỉ tiêu hiện vật Căn cứ vào báo cáo quyết toán và báo cáo thống kê định kỳ của Công ty tôi tiến hành tổng hợp số liệu, đi sâu phân tích, kết quả được phản ánh qua biểu 01
Qua biểu 01 ta nhận thấy sản phẩm than có khối lượng tiêu thụ mạnh nhất vì đây là lĩnh vực sản xuất kinh doanh chính của Công ty Trong 3 năm qua khối lượng sản phẩm than tiêu thụ luôn biến động và có xu hướng giảm với tốc độ phát triển bình quân đạt 98,58% Để thấy rõ được nguyên nhân của sự biến động này ta sẽ đi sâu tìm hiểu tình hình tiêu thụ các sản phẩm của Công ty
Công ty sản xuất và kinh doanh sản phẩm Than sạch bao gồm: Than cục, than cám và than bùn Trong đó than cám là sản phẩm chủ yếu có khối lượng tiêu thụ lớn nhất Năm 2006 khối lượng tiêu thụ sản phẩm than cám chỉ đạt 91,27% giảm 8,73% so với năm 2005 Nhưng đến năm 2007 khối lượng sản phẩm than cám tiêu thụ đã tăng 7,8% so với năm 2006 Nguyên nhân là do năm
2006 chất lượng than khai thác xấu vì độ tro cao, nhiệt lượng kém nên Công ty Cảng và kinh doanh Than, Công ty kho vận Đá bạc đã đặt hàng với khối lượng ít hơn vì thế mà khối lượng than tiêu thụ trong năm 2006 giảm mạnh đồng thời lượng than cám tồn kho cũng khá lớn Để thấy rõ tốc độ phát triển và khả năng chiếm lĩnh thị trường của các sản phẩm than cám, tôi tiến hành đánh giá các sản phẩm sau:
BIỂU 01: KẾT QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH BẰNG CHỈ TIÊU HIỆN VẬT
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 ±∆ θlh(%) ±∆ θlh(%) θbq
Gạch Viên 2.534.456 2.699.814 746.059 165.358 106,50 -1.953.755 27,63 54,25 Đá hộc m 3 1.206,70 1.999 1.206,70 792,30 165,70 Đá đen m 3 22.412,90 6.394,35 -16.018,55 28,53 -6.394,35 0
Nước lọc tinh khiết lít 618.700 618.700
Trong các sản phẩm than cám mà Công ty sản xuất và tiêu thụ thì than cám 5 và than cám 6 là hai loại than cám có khối lượng tiêu thụ lớn hơn cả Nguyên nhân chính là do khối lượng than này sản xuất được khá lớn vì qua thăm dò địa chất dưới lòng đất Mạo Khê có trữ lượng than khoảng trên 300 triệu tấn, mà chủ yếu là than cám 5, than cám 6 thích hợp cho sản xuất điện và xi măng
Về than cám 5: Năm 2006 so với năm 2005 khối lượng tiêu thụ tăng 8,3% nhưng đến năm 2007 khối lượng tiêu thụ giảm 12,38% do đó tốc độ phát triển bình quân chỉ đạt 97,41% Nguyên nhân của sự tăng giảm này là do khối lượng đặt hàng của nội bộ Tập Đoàn than, đồng thời địa hình của mỏ than ở độ cao từ 30 o – 63 o của vỉa cánh nam chủ yếu khai thác được than cám 5, vì vậy đây là nguồn than cung ứng dồi dào cho khách hàng trong và ngoài tỉnh Nhìn chung than cám 5 có khối lượng tiêu thụ biến động không nhiều và khá ổn định là do năm 2005 Công ty đã đầu tư 2 modul tuyển mới với năng lực 380.000 tấn/năm để nâng cao chất lượng than loại bớt than xấu (cám 6, 6a) sang than tốt hơn (cám 5) do đó khối lượng than cám 5 tiêu thụ được khá lớn và luôn giữ được vai trò chủ đạo của mình
Về than cám 6 cũng là sản phẩm có khối lượng tiêu thụ lớn nhưng trong
3 năm qua khối lượng tiêu thụ sản phẩm này có chiều hướng giảm Cụ thể như sau: Về than cám 6a với tốc độ phát triển bình quân đạt 84,9% giảm 15,1%, than cám 6b với tốc độ phát triển bình quân đạt 77,77% giảm 22,23% Năm
2005 là năm có khối lượng than cám 6 tiêu thụ lớn nhất và có xu hướng giảm trong năm 2006 và năm 2007 Nguyên nhân là do trong năm 2005 Công ty đã xuất khẩu được một lượng than cám 6a, 6b khá lớn cho Công ty cảng và kinh doanh than, vì vậy đã làm tăng khối lượng tiêu thụ trong năm Nhưng do toàn vùng Mạo Khê than cám 6 có đủ tiêu chuẩn để xuất khẩu là rất ít do đó trong năm 2006 và năm 2007 Công ty đã không xuất khẩu được loại than này mà chủ yếu tiêu thụ trong nước, đồng thời do than cám 6 chất lượng không tốt bằng một số loại than khác như cám 5 nên loại than này trên thị trường khó tiêu thụ hơn vì thế mà Công ty đã đầu tư trang thiết bị hiện đại nhằm chuyển một lượng than cám 6 sang cám 5 nên trong mấy năm qua lượng than cám 6 tiêu thụ đã giảm
Loại than cám có khối lượng tiêu thụ lớn sau than cám 5, than cám 6 phải kể đến là than cám 11c và than cám 12a Đây là hai loại than cám có giá trị cho xuất khẩu Trong những năm gần đây Công ty mới bắt đầu cho khai thác và sản xuất được loại than này, khách hàng tiêu thụ sản phẩm than này là Công ty cảng và kinh doanh than, Công ty kho vận Đá bạc – TKV Xuất khẩu hai loại than này cũng góp phần làm tăng tổng khối lượng than tiêu thụ trong năm và đem lại doanh thu khá cao cho Công ty
Loại than có khối lượng tiêu thụ ít và không ổn định là than cám 7, còn than cám 3 và than cám 4 thì hầu như Công ty không sản xuất và tiêu thụ do thăm dò địa chất không thấy có loại than cám này
Một trong những sản phẩm than chính của Công ty có khối lượng tiêu thụ lớn thứ hai sau than cám đó chính là than cục Đây là loại than có chất lượng tốt nhất trong số các loại than mà Công ty sản xuất và tiêu thụ vì than cục có nhiệt lượng cao, đồng thời độ tro ít, do những đặc tính vượt trội của nó nên khách hàng rất ưa chuộng sản phẩm này vì thế lượng than cục tồn kho hàng năm của Công ty không đáng kể Nhìn chung trong 3 năm qua khối lượng than cục tiêu thụ có xu hướng giảm với tốc độ phát triển bình quân chỉ đạt 69,91% Nguyên nhân chính là do địa chất mỏ Mạo Khê lượng than cục không nhiều vì chủ yếu than khai thác được là than cám do đó trong mấy năm qua Công ty khai thác được ít than cục nên lượng than cục tiêu thụ cũng có chiều hướng giảm
Than bùn là sản phẩm có khối lượng tiêu thụ ít nhất và có xu hướng giảm Nguyên nhân là do địa hình của mỏ than Mạo Khê có rất ít than bùn, mặc dù trên thị trường giá than bùn rất thấp nhưng vẫn không kích thích được người tiêu dùng sử dụng rộng rãi sản phẩm này vì chất lượng than bùn kém, độ tro
24 cao, do đó mức lợi nhuận thu được từ sản phẩm này cũng nhỏ nên Công ty cũng không chú trọng khai thác sản phẩm này
Lĩnh vực kinh doanh của Công ty là ngoài sản xuất chính là sản phẩm than, Công ty còn xây lắp tự làm, sản xuất vật liệu xây dựng và các sản phẩm khác Các sản phẩm khác nhìn chung cũng giảm qua 3 năm, nguyên nhân chính là do các sản phẩm này sản xuất ra chủ yếu để phục vụ cho xây dựng hầm lò và nhu cầu nội bộ của Công ty, đồng thời tận dụng được một số vật liệu khi khai thác sản phẩm than
Tóm lại: Qua kết quả phân tích ở trên chúng ta cũng đã phần nào thấy được khối lượng tiêu thụ của từng sản phẩm than trong các năm Công ty đã chủ trương đẩy mạnh công tác tiêu thụ sản phẩm, tăng cường tiếp thị để chiếm lĩnh thị trường các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ Ta nhận thấy trong suốt 3 năm qua thì sản phẩm than cám của Công ty luôn có khối lượng tiêu thụ lớn nhất và giữ vai trò chủ đạo Nhưng để đánh giá xem thực sự sản phẩm này có đem lại mức doanh thu và lợi nhuận cao nhất cho Công ty hay không thì bên cạnh chỉ tiêu hiện vật chúng ta cần xem xét chỉ tiêu giá trị
3.1.2 Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh bằng chỉ tiêu giá trị
Quy mô sản xuất kinh doanh của Công ty, ngoài việc phản ánh bằng chỉ tiêu hiện vật còn được phản ánh thông qua chỉ tiêu giá trị Căn cứ vào báo cáo tổng kết cuối năm tôi tiến hành lập biểu 02
Phân tích yếu tố cấu thành và biến động lợi nhuận của Công ty
3.2.1 Phân tích sự cấu thành và biến động tổng lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả hoạt động kinh doanh của Công ty Tổng lợi nhuận của Công ty được hình thành từ nhiều nguồn khác nhau như lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và lợi nhuận khác Sự cấu thành và biến động tổng lợi nhuận của Công ty được tổng hợp qua biểu 03:
Qua biểu 03 ta thấy Công ty đã ngày càng cố gắng để sản xuất kinh doanh có hiệu quả nhưng lợi nhuận đạt được qua các năm vẫn chưa cao với tốc độ phát triển bình quân đạt 71,15% giảm 28,85% Năm 2006 so với năm 2005 tổng lợi nhuận chỉ đạt 33,99% giảm 66,01%, năm 2007 tổng lợi nhuận đã tăng lên 48,95% so với năm 2006 Trong 3 năm qua thì năm 2006 là năm lợi nhuận đạt được thấp nhất Nguyên nhân chính là do năm 2006 lợi nhuận từ sản phẩm than đem lại kém hiệu quả do khối lượng than tiêu thụ trong năm này giảm mạnh, bên cạnh đó các sản phẩm khác mà Công ty sản xuất kinh doanh đều bị lỗ do vậy đã làm giảm lợi nhuận trong năm Đối với các sản phẩm than thì ta nhận thấy sản phẩm than cám là mặt hàng chủ đạo của Công ty và luôn đạt được mức lợi nhuận cao nhất so với các sản phẩm than khác trong suốt 3 năm qua Trong đó than cám 5 và than cám 6 là hai loại
BIỂU 03: KẾT CẤU LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY TRONG 3 NĂM (2005 ÷ 2007) Đơn vị tính: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 ±∆ θ lh(%) ±∆ θ lh(%) θ bq(%)
A Sản phẩm than 16.783.208.932 14.440.341.797 30.876.896.752 -2.342.867.135 86,04 16.436.554.955 213,80 135,63 1.Than cục 850.689.391 1.349.193.288 3.306.655.933 498.503.897 158,60 1.957.462.645 245,10 197,16
Gạch -386.813.139 -640.523.633 -35.393.899 -253.710.494 605.129.734 Đá hộc 30.563.922 30.563.922 Đá đen -70.859.701 -84.078.201 -13.218.500 84.078.201
II LN từ HĐ khác 3.228.985.535 8.106.297.945 -1.344.818.815 4.877.312.410 251 -9.451.116.760 Tổng lợi nhuận 2.360.157.623 802.305.689 1.195.062.922 -1.557.851.934 33,99 392.757.233 148,95 71,15
30 than cám có lợi nhuận đạt được cao hơn cả trong số các loại than cám mà Công ty sản xuất và tiêu thụ Về than cám 5: Lợi nhuận đạt được từ sản phẩm này có xu hướng tăng lên và năm 2007 đạt ở mức rất cao tăng 255,1% so với năm
2006 Nguyên nhân là thị trường tiêu thụ trong nước và nhiều khu vực trên thế giới có nhu cầu về tiêu thụ than lớn nên năm 2007 giá bán sản phẩm than cám 5 tăng lên cao hơn so với các năm trước, đồng thời Công ty đã đầu tư trang thiết bị hiện để nâng cao chất lượng than nhằm chuyển một lượng than cám 6 thành than cám 5 có chất lượng tốt hơn nên dễ tiêu thụ đồng thời lại tiết kiệm được một số chi phí nhằm hạ giá thành sản phẩm than cám 5 do vậy lợi nhuận năm
2007 đã tăng lên rất cao
Về than cám 6: gồm than cám 6a, 6b đây là sản phẩm cũng có đóng góp khá lớn trong việc hình thành tổng lợi nhuận của Công ty Nhưng trong 3 năm qua lợi nhuận của sản phẩm này có xu hướng giảm Nguyên nhân chính làm giảm lợi nhuận là do năm 2006 và năm 2007 Công ty đã tuyển than cám 6 sang cám 5 nên khối lượng than cám 6 tiêu thụ cho các hộ điện, hộ xi măng cũng giảm dần, đồng thời do than cám 6 của Mạo Khê có độ tro cao, nhiệt lượng thấp hơn so với vùng Hòn Gai - Cẩm phả nên giá bán bình quân thấp hơn, đây cũng chính là điểm yếu của Công ty trong việc tăng sức cạnh tranh với các Công ty cùng ngành
Trong năm 2007 Công ty đã xuất khẩu được một lượng than cám 11c và than cám 12a cho Công ty cảng và kinh doanh than, Công ty kho vận Đá bạc do đó lợi nhuận năm 2007 cũng đã được tăng lên khá cao Qua đây ta cũng nhận thấy than cám 11c và than cám 12a là hai loại than cám rất tiềm năng và có giá trị xuất khẩu cao, do đó Công ty cần chú trọng đến hai sản phẩm này nhằm hướng đến mục tiêu tăng lợi nhuận
Về than cục: Năm 2006 so với năm 2005 lợi nhuận từ tiêu thụ sản phẩm than cục tăng 58,6%, năm 2007 lợi nhuận tăng 145,1% so với năm 2006 do đó trong 3 năm tốc độ phát triển bình quân của sản phẩm than cục đã tăng lên 97,16% Nguyên nhân chính làm tăng lợi nhuận của sản phẩm than cục là do dây chuyền trang thiết bị hiện đại mà Công ty đầu tư vào quá trình sản xuất nên chất lượng than cục đạt được cao, cũng như giảm độc hại của than với môi trường, do đó giá bán than cục trên thị trường cao vì thế mà lợi nhuận thu được từ sản phẩm này cũng tăng đáng kể Đồng thời do nhu cầu sử dụng than hiện nay khá lớn nên mới đây Tập đoàn CN Than – Khoáng sản Việt Nam vừa gửi công văn tới các tập đoàn, Tổng Công ty, các Công ty sử dụng than cho sản xuất điện, xi măng, phân bón và giấy thông báo tình hình giá bán than trên thị trường và dự kiến hướng điều chỉnh giá bán than tăng nhiều nhất đối với than cục và than cám loại tốt, cụ thể than cục Mạo Khê sẽ tăng từ 720.000 – 780.000 đồng/tấn do đó giá than cục vùng Mạo Khê cao nhất sẽ là 2,9 triệu đồng/tấn và thấp nhất là 2,5 triệu đồng/tấn
Còn các sản phẩm than cám 7a, than cám 7b, và than bùn đều cho kết quả không cao và ảnh hưởng tới lợi nhuận sản xuất kinh doanh của Công ty Đối với các sản phẩm khác của Công ty hầu như không mang lại lợi nhuận là do các sản phẩm này sản xuất được chủ yếu để phục vụ xây dựng hầm lò trong nội bộ Công ty, phục vụ một số nhu cầu sinh hoạt khác của công nhân viên Công ty và tận dụng một số nguyên nhiên vật liệu từ quá trình khai thác, sản xuất than
Qua biểu 03 ta nhận thấy trong suốt 3 năm qua hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty luôn có lãi, thậm chí lãi rất cao với tốc độ tăng bình quân là 30,99% nhưng hoạt động tài chính của Công ty lại bị lỗ rất lớn Nguyên nhân chính là do năm nào Công ty cũng phải trả tiền lãi vay rất lớn cho Ngân hàng thương mại cổ phần nhà Hà Nội, Tập đoàn CN Than Khoáng sản Việt Nam, Công ty tài chính – TKV
Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh của Công ty bao gồm lợi nhuận từ hoạt động sản xuất kinh doanh than & các sản phẩm dịch vụ khác và lợi nhuận từ hoạt động tài chính Nhưng chúng ta đều nhận thấy trong năm 2005 và năm
2006 lợi nhuận hoạt động kinh doanh đều có giá trị âm, nguyên nhân chủ yếu là do lợi nhuận từ hoạt động tiêu thụ sản phẩm không đủ bù đắp khoản chi phí tài
32 chính của Công ty đó là các khoản chi cho hoạt động đầu tư mua sắm trang thiết bị hiện đại cho quá trình sản xuất, sàng tuyển than
Lợi nhuận từ hoạt động khác: Năm 2006 so với năm 2005 lợi nhuận khác tăng 151% Lợi nhuận này có được là do thanh lý nhượng bán tài sản cố định, thu từ dịch vụ than tận thu, bán phụ tùng sắt thép thiết bị hỏng Đây cũng là nguồn thu tuy không chiếm tỷ trọng không lớn nhưng cũng góp phần tăng lợi nhuận cho Công ty Nhưng năm 2007 lợi nhuận từ hoạt động khác lại có giá trị âm là do chi phí về nhượng bán sắt thép phế liệu, chi phí cho lập quy hoạch chi tiết xây dựng khu nhà ở CBCNV Công ty, chi phí giúp đỡ kinh phí mua nhà làm trụ sở KH và CN mỏ khá lớn
Tóm lại sau khi phân tích sự cấu thành và biến động lợi nhuận của Công ty ta nhận thấy trong 3 năm qua Công ty luôn làm ăn có lãi nhưng lợi nhuận đạt được chưa cao do chi phí lãi vay khá lớn Do đó Công ty cần có những biện pháp quản lý và sử dụng vốn hiệu quả để tăng lợi nhuận cho Công ty
3.2.2 Đánh giá các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận Để đánh giá chất lượng hoạt động kinh doanh của Công ty, ngoài chỉ tiêu lợi nhuận tuyệt đối ta cần phải sử dụng các chỉ tiêu lợi nhuận tương đối Các chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận của Công ty trong 3 năm được phản ánh trên biểu 04:
Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu: Trong 3 năm qua tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu biến đổi liên tục Năm 2005 tỷ suất này đạt 38,86%, năm
2006 là 13,24%, năm 2007 là 18,64% Điều này có nghĩa là cứ 100 đồng doanh thu thì Công ty thu được 38,86 đồng lợi nhuận vào năm 2005, năm 2006 là 13,24 đồng và năm 2007 là 18,64 đồng lợi nhuận Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu có xu hướng giảm qua từ năm 2005 đến năm 2006, đến năm 2007 tỷ suất lợi nhuận doanh thu lại bắt đầu tăng lên Nguyên nhân là do lợi nhuận từ các sản phẩm khác và lợi nhuận từ hoạt động tài chính của Công ty bị thua lỗ, điều này chứng tỏ lợi nhuận kế toán trước thuế của Công ty chủ yếu được hình thành từ lợi nhuận khác
BIỂU 04: CÁC CHỈ TIÊU TỶ SUẤT LỢI NHUẬN CỦA CÔNG TY Đơn vị tính: Đồng
Chỉ tiêu Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 ±∆ θ lh(%) ±∆ θ lh(%) θ bq(%)
1 Tổng lợi nhuận trước thuế 2.360.157.623 802.305.689 1.195.062.922 -1.557.851.934 33,99 392.757.233 148,95 71,15
4 Vốn sản xuất bình quân 95.843.090.677 94.667.943.935 86.601.475.844 -1.175.146.742 98,77 -8.066.468.091 91,48 95,06
Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận hoạt động sản xuất kinh doanh
Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đến kết quả sản xuất kinh doanh do đó nó có vai trò vô cùng quan trọng và ảnh hưởng lớn tới lợi nhuận của Công ty Chính nhờ khâu tiêu thụ mà Công ty mới thu hồi được vốn để tái sản xuất mở rộng Kết quả của quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ phản ánh đúng đắn chất lượng của bộ máy quản lý Trong 3 năm qua Công ty than Mạo Khê đã rất coi trọng chất lượng than từ khâu sàng tuyển, phân loại sản phẩm vì thế
Công ty có những kết quả khả quan trong công tác tiêu thụ sản phẩm Kết quả tiêu thụ sản phẩm của Công ty được phản ánh qua biểu 05:
Qua biểu 05 ta nhận thấy: Cấu thành doanh thu của Công ty do nhiều sản phẩm mang lại Doanh thu từ sản phẩm than luôn chiếm tỷ trọng lớn vì đây là lĩnh vực kinh doanh chính của Công ty Sản phẩm than năm 2006 so với năm
2005 doanh thu đạt 99,93% tức doanh thu giảm 0,07%, nhưng đến năm 2007 doanh thu so với năm 2006 lại tăng 7% Tốc độ phát triển bình quân của sản phẩm than đạt 102,08% Nguyên nhân làm tăng doanh thu là do sự tăng lên của giá cả thị trường vì thế giá bán các sản phẩm than nhìn chung đều tăng
Trong ba sản phẩm than: than cục, than cám, than bùn thì sản phẩm than cám là sản phẩm chủ yếu và luôn có doanh thu cao nhất Tốc độ phát triển bình quân của than cám là 105,2% Vì sản phẩm than cám ở Mạo Khê rất đa dạng về chủng loại, khối lượng than cám tiêu thụ lớn đặc biệt là than cám 5, than cám 6
Than cám 5 có doanh thu cao trong số các loại than cám mà Công ty tiêu thụ, tiếp sau phải kể đến than cám 6b, than cám 12a, cám 7b, nhưng nhìn chung doanh thu của các loại than cám này không ổn định bằng than cám 5 Tốc độ phát triển bình quân của than cám 5 là 102,11% Nguyên nhân doanh thu than cám 5 đạt cao là do sản phẩm này là một trong những mặt hàng truyền thống của Công ty, chất lượng than cám 5 cũng tốt hơn so với cám 6 nên khách hàng vẫn tin dùng, vì thế mà nội bộ Tập Đoàn than luôn đặt hàng với khối lượng lớn
Sản phẩm đem lại doanh thu lớn cho Công ty sau than cám 5 là than cám
6 (gồm: than cám 6a, than cám 6b) Than cám 6a với tốc độ phát triển bình quân đạt 87,1%, than cám 6b với tốc độ phát triển bình quân đạt 80,87% Năm
2005 là năm doanh thu tiêu thụ sản phẩm này đạt cao sau đó có xu hướng giảm ở hai năm sau đó Nguyên nhân chủ yếu là do trong năm 2005 Công ty đã xuất khẩu được một khối lượng than cám 6a, 6b cho Công ty Cảng và Kinh doanh than, Công ty kho vận Đá bạc nên đã làm tăng doanh thu tiêu thụ trong năm Bên cạnh sản phẩm than cám 6b Công ty còn xuất khẩu một số loại than cám khác Kết quả than xuất khẩu trong 3 năm qua được phản ánh qua biểu 06
BIỂU 05: DOANH THU TIÊU THỤ TỪNG MẶT HÀNG Đơn vị tính: Đồng
Sản phẩm Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 ±∆ θlh(%) ±∆ θlh(%) θ bq(%)
Xây dựng cơ bản 31.688.171.127 23.722.945.057 34.267.475.304 -7.965.226.070 74,86 10.544.530.247 144,40 103,97 Gạch 919.856.980 1.297.683.430 390.737.110 377.826.450 141,10 -906.946.320 30,11 65,18 Đá hộc 36.201.000 59.970.000 36.201.000 23.769.000 165,70 Đá đen 258.535.169 166.905.323 -91.629.846 64,56 -166.905.323
Qua biểu 06 ta nhận thấy: Khối lượng than xuất khẩu với tốc độ phát triển bình quân tăng là 40,18%, tốc độ phát triển bình quân của doanh thu tiêu thụ tăng 48,3% Nguyên nhân chủ yếu là do khối lượng than cám xuất khẩu năm 2007 lớn, đồng thời do thị trường năng lượng thế giới đang có nhu cầu sử dụng than khá cao nên giá bán than xuất khẩu cũng tăng lên vì thế doanh thu từ xuất khẩu than cũng đã tăng khá cao
Trong 3 năm qua thì năm 2007 là năm có khối lượng than cám xuất khẩu lớn nhất, do đó doanh thu từ sản phẩm này đem lại cũng cao hơn hai năm trước đó Sản phẩm xuất khẩu năm 2007 là than cám 11c, than cám 12a Đây là hai sản phẩm mà Công ty mới khai thác, loại than này có nhiều đặc tính tốt hơn hẳn các loại than cám khác như về độ tro và độ độc hại giảm do đó giá trị xuất khẩu của loại than này khá cao Khách hàng đặt hàng loại than này là Công ty Cảng và Kinh doanh than thuộc nội bộ Tập Đoàn Than Năm 2006 doanh thu từ xuất khẩu than đạt thấp nhất, sản phẩm xuất khẩu năm này là than cám 11c Nguyên nhân là do năm 2006 than cám 11c mới bắt đầu được Công ty sản xuất, do đó khối lượng sản xuất còn hạn chế nên sản xuất đến đâu đều xuất khẩu hết đến đó vì thế doanh thu đạt được không cao, đồng thời năm 2006 tình hình than trên thế giới có nhiều thay đổi dẫn đến nhiều loại than xuất khẩu giá giảm tới
30 – 40% so với năm 2005 Mặc dù hiện nay nhu cầu sử dụng than trên thế giới tăng nhưng thời gian tới Tập Đoàn Than sẽ cố gắng giảm lượng xuất khẩu cụ thể bắt đầu từ năm 2007 trở đi vì trữ lượng than dự tính không còn nhiều trong khi nhu cầu trong nước đang ngày càng tăng mạnh vì thế tiêu chí quan trọng nhất của ngành than là đáp ứng đủ nhu cầu trong nước tiếp theo đó mới là xuất khẩu ra nước ngoài
Qua biểu 05 ta thấy: Than cục năm 2006 so với năm 2005 doanh thu tiêu thụ chỉ đạt 90,05% giảm 9,95% Năm 2007 so với năm 2006 doanh thu tiêu thụ chỉ còn 64,57% giảm 35,43% Tốc độ phát triển bình quân đạt 76,25% Than cục là sản phẩm than có chất lượng cao mà Công ty sản xuất nhưng khối lượng than cục khai thác được không nhiều Nguyên nhân chủ yếu là do thăm dò địa
BIỂU 06: CÁC SẢN PHẨM THAN CÁM XUẤT KHẨU TRONG 3 NĂM (2005 ÷ 2007)
Chỉ tiêu Đơn vị Năm 2005 Năm 2006 Năm 2007 ±∆ θlh ±∆ θlh θbq
2 Doanh thu tiêu thụ Đồng 66.766.156.004 52.459.558.345 146.857.020.984 -14.306.597.659 78,57 94.397.462.639 279,94 148,30
- Than cám 12a Đồng 52.459.558.345 118.746.399.842 52.459.558.345 66.286.841.497 226,36 chất mỏ Mạo Khê chủ yếu than khai thác được là than cám, vì thế tỷ trọng than cục sản xuất được không cao
Than bùn là sản phẩm mang lại ít doanh thu nhất trong số ba sản phẩm than chính của Công ty Nguyên nhân là do loại than này có khối lượng khai thác không ổn định nên lượng than tiêu thụ nhỏ, đồng thời giá bán sản phẩm trên thị trường thấp nên doanh thu mang lại không nhiều
Bên cạnh các sản phẩm than là sản phẩm chính mang lại doanh thu cao cho Công ty thì doanh thu tiêu thụ các sản phẩm khác cũng có sự biến động qua
3 năm với tốc độ phát triển bình quân đạt 97,4% Nguyên nhân có sự biến động này là do: lĩnh vực xây dựng cơ bản mà doanh nghiệp thực hiện đã mang lại doanh thu đáng kể với tốc độ phát triển bình quân đạt 103,97% Đồng thời do Công ty kinh doanh sản xuất thêm một số sản phẩm phụ khác, tuy nhiên doanh thu từ các sản phẩm này mang lại chỉ chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng doanh thu vì những sản phẩm này sản xuất chủ yếu để phục vụ cho nội bộ Công ty
Trên đây là các nhân tố cấu thành nên tổng doanh thu của Công ty Năm
2006 so với năm 2005 tổng doanh thu giảm 1,29% nhưng đến năm 2007 tổng doanh thu lại tăng 7,4% so với năm 2006 Trong 3 năm qua ta thấy năm 2007 là năm có doanh thu đạt được là cao nhất Do đó tốc độ phát triển bình quân 3 năm cũng đã tăng 2,96% Qua đây chúng ta cũng thấy được sự cố gắng nỗ lực của Công ty trong công tác tổ chức quản lý và tiêu thụ sản phẩm nhằm đạt được mức doanh thu cao Nhưng để đánh giá được đầy đủ lợi nhuận của Công ty có tăng qua từng năm không chúng ta không chỉ xem xét ở phương diện doanh thu mà phải chú trọng đến các chi phí cho hoạt động sản xuất kinh doanh
3.3.2 Phân tích ảnh hưởng của nhóm nhân tố chi phí sản xuất đến lợi nhuận
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình đầu tư liên tục, thường xuyên các loại chi phí để tạo ra những giá trị sử dụng nhất định cho xã hội biểu hiện bằng những sản phẩm khác nhau Mức tiêu hao các chi phí sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của Công ty Vì vậy tiết kiệm
Biến động giá thành đơn vị của các sản phẩm chủ yếu
Giá thành là nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến giá bán sản phẩm, từ đó ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận Vì giá thành có quan hệ tỷ lệ nghịch với lợi nhuận, do đó giảm giá thành sẽ làm tăng lợi nhuận cho Công ty
3.4.1 Biến động giá thành đơn vị của sản phẩm than cục
Chi phí nguyên nhiên vật liệu: bao gồm các chi phí như: sắt, thép, gỗ, đá, xăng dầu, cột thuỷ lực… Chi phí này cũng biến động qua 3 năm với tốc độ phát triển bình quân đạt 112% Năm 2006 so với năm 2005 chi phí này tăng 10,34% ứng với mức tăng 21.631,19 đồng/tấn, năm 2007 chi phí này lại tăng 13,74% so
50 với năm 2006 ứng với mức tăng 31.715,64 đồng/tấn Nguyên nhân tăng là do ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Nguyên vật liệu: Do đặc điểm sản xuất sản phẩm than, than cục được khai thác trong khu nguyên liệu nên chi phí chủ yếu để tác động lớn đến giá thành là chi phí khai thác, vì thế mức chi phí nguyên vật liệu là không cao Năm 2005 tỷ trọng chi phí nguyên vật liệu là 19,81%, năm 2006 là 20,74%, năm 2007 là 20,81% Mặc dù vậy chi phí này trong giá thành đơn vị sản phẩm đang có xu hướng tăng lên với tốc độ tăng bình quân là 6,85 % Nguyên nhân là do trong những năm qua giá sắt thép không ngừng tăng, mà đây là những vật liệu chính trong xây dựng hầm lò do đó chúng rất quan trọng và không thể thay thế được, đồng thời do Công ty đã trang bị một số máy móc trong khâu khai thác và chế biến than như trang bị các cột thuỷ lực phục vụ cho sản xuất than, cứ 2 cột thuỷ lực trên 1000 tấn than nguyên khai hầm lò vì thế làm giá thành đơn vị sản phẩm tăng lên
- Nhiên liệu bao bồm: xăng, dầu mogan, dầu diezen là những nhiên liệu không thể thiếu trong khâu khai thác và chế biến than Năm 2006 so với năm
2005 chi phí nhiên liệu tăng 10,31% ứng với mức tăng 1.223,8 đồng/tấn, năm
2007 so với năm 2006 chi phí này tăng 94,15% ứng với mức tăng 12.330,32 đồng/tấn Do đó tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm tăng 46,34% Nguyên nhân là do trong những năm qua giá xăng dầu trên thị trường thường xuyên tăng, đồng thời Công ty đã trang bị thêm nhiều dây chuyền máy móc hiện đại cho khâu chế biến than, dây chuyền tuyển than để sản phẩm than có chất lượng tốt hơn vì thế nhiên liệu tiêu hao cũng tăng
- Động lực: Với tốc độ phát triển bình quân tăng 25,72% Nguyên nhân là do Công ty đã trang bị thêm một số thêm các trạm biến áp di động TBHDP 250KVA, tàu điện ác quy AM8, tời điện phòng nổ JB 14B, máy khoan
Một trong những chi phí chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm phải kể đến là chi phí nhân công Do đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty thì chi phí này là chi phí chiếm tỷ trọng cao nhất trong giá thành sản phẩm
BIỂU 10: GIÁ THÀNH ĐƠN VỊ CỦA SẢN PHẨM THAN CỤC Đơn vị tính: Đồng/tấn
Giá trị TT Giá trị TT θlh(%) Giá trị TT θlh(%) θbq(%)
1 Chi phí nguyên nhiên vật liệu 209.272,78 24,32 230.903,97 25,65 110,34 262.619,61 28,07 113,74 112,00
4 Chi phí dịch vụ mua ngoài 157.086,81 18,25 151.182,39 16,79 96,24 51.186,53 5,47 33,86 57,08
5 Chi phí khác bằng tiền 38.168,18 4,44 44.937,18 4,99 117,73 64.823,11 6,93 144,25 130,32
52 than Năm 2005 chi phí này chiếm tỷ trọng 46,12%, năm 2006 là 44,11%, năm
2007 là 49,2% Tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm tăng 7,69% cũng ảnh hưởng đến giá thành đơn vị sản phẩm Nguyên nhân của sự biến động chi phí nhân công là do mức lương cơ bản của công nhân tăng, nhu cầu của cuộc sống cũng tăng cao vì thế mà thu nhập của công nhân trong Công ty khá cao Những năm gần đây, công tác chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho người lao động được lãnh đạo Công ty đặc biệt quan tâm, đối tượng hàng đầu là đội ngũ thợ lò Ngoài tiền lương, mỗi năm Công ty đã chi hàng chục tỷ đồng cho công nhân ăn giữa ca và sau ca Qua đây ta cũng thấy được sự quan tâm của Công ty đối với đời sống của công nhân thợ mỏ Do đó vấn đề đặt ra là Công ty cần có các giải pháp hợp lý nhằm giảm tỷ trọng chi phí nhân công trên một đơn vị sản phẩm bằng cách tăng năng suất lao động có như vậy mới góp phần tăng lợi nhuận cho Công ty
Khấu hao tài sản: Năm 2006 so với năm 2005 chi phí khấu hao tài sản tăng 28,56%, năm 2007 so với năm 2006 chi phí khấu hao tăng 26,94%, do đó tốc độ phát triển bình quân đã tăng 27,75% Nguyên nhân là do một số máy móc được trang bị thêm cho khai thác chế biến than như giá thuỷ lực di động XDY 1T2/1200, xe KAMAS, thiết bị thuỷ lực ZH 1600… vì thế cũng phải trích khấu hao nên đã làm chi phí khấu hao tính trên một đơn vị sản phẩm tăng lên
Chi phí dịch vụ mua ngoài: bao gồm các chi phí như thuê bốc xúc đất đá, thuê vận chuyển than, chi phí mua than bán thành phẩm,… Đây là chi phí chiếm tỷ trọng khá cao trong giá thành sản phẩm Trong 3 năm qua chi phí dịch vụ mua ngoài biến động và có xu hướng giảm mạnh với tốc độ phát triển bình quân chỉ đạt 57,08% Năm 2006 so với năm 2005 chi phí dịch vụ mua ngoài giảm 3,76% ứng với mức giảm 5.904,42 đồng/tấn, năm 2007 so với năm 2006 chi phí này giảm 66,14% ứng với mức giảm 99.995,86 đồng/tấn Nguyên nhân là do Công ty đã giảm được một số khoản chi từ việc tự thực hiện như vận chuyển đất đá, than, chở công nhân, sửa chữa nhỏ thường xuyên thay vì phải mua ngoài nên đã làm giảm tỷ trọng chi phí này trong giá thành sản phẩm
Chi phí khác bằng tiền: Trong 3 năm qua chi phí khác bằng tiền có xu hướng tăng lên với tốc độ phát triển bình quân đạt 130,32% Nguyên nhân là do Công ty đã chi trả lệ phí môi trường, chi ăn định lượng cho công nhân và chi phí độc hại tăng do đó làm cho chi phí này tăng lên qua từng năm
Tóm lại trong 3 năm qua giá thành sản phẩm than cục luôn có xu hướng tăng với tốc độ tăng bình quân đạt 4,25% Qua đây ta nhận thấy nếu cộng cả các khoản mục đầu tư vào các khối sản xuất phụ trợ như phương tiện vận tải, sàng tuyển, cơ khí sửa chữa, nhiên liệu, điện năng và chi phí lao động…thì hòn than Mạo Khê luôn phải gánh chịu với một giá thành quá sức nặng nề
3.4.2 Biến động giá thành đơn vị của sản phẩm than cám
Qua biểu 11 ta nhận thấy:
Chi phí nguyên nhiên vật liệu qua 3 năm với tốc độ phát triển bình quân đạt 111% tăng 11% Năm 2006 so với năm 2005 chi phí này tăng 27,62%, năm2007 so với năm 2006 chi phí nguyên nhiên vật liệu giảm 3,45% Nguyên nhân là do:
- Nguyên vật liệu : Chi phí nguyên vật liệu năm 2006 tăng 24,94% so với năm 2005, năm 2007 chi phí nguyên vật liệu lại giảm 9,96% nên làm cho tốc độ phát triển bình quân qua 3 năm tăng 6,04% Nguyên nhân là do năm 2006 Công ty vừa cho khai thác một lò than mới ở cánh nam vì thế chi phí cho xây dựng hầm lò cũng khá cao, đồng thời giá bán của một số loại nguyên vật liệu tăng như giá xi măng, giá sắt, thép cũng tăng cao do đó chi phí nguyên vật liệu để sản xuất ra 1 tấn than cám tăng
- Nhiên liệu và động lực: Chi phí nhiên liệu và động lực đều tăng qua 3 năm Về nhiên liệu với tốc độ phát triển bình quân đạt 142,32% tăng 42,32%
Về động lực với tốc độ phát triển bình quân đạt 124,76% tăng 24,76% Nguyên nhân của sự tăng chi phí này là do trong những năm qua do biến động giá xăng dầu trên thế giới nên đã làm cho giá bán xăng dầu tăng mạnh, đồng thời một
54 ảnh hưởng quan trọng là với đặc thù khí nổ loại siêu hạng nên Công ty luôn đầu tư thích đáng cho công tác an toàn do vậy giá thành than sạch tăng lên bởi các chi phí này so với các đơn vị hầm lò trong Tập đoàn Than, và ảnh hưởng đến kế hoạch lợi nhuận của Công ty