LỜI CẢM ƠN Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, với đề tài “Nghiên cứu các biện pháp hạ giá thành sản phẩm tại nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang thuộc Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá”, em đã n
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp, với đề tài “Nghiên cứu các biện pháp hạ giá thành sản phẩm tại nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang thuộc Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá”, em đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tình của các thầy cô giáo và các cán bộ công nhân viên của Tổng công ty Nhân dịp này:
Em xin chân thành cảm ơn các Thầy cô giáo trong khoa Quản trị kinh doanh trường Đại học Lâm Nghiệp, đặc biệt là cô giáo Th.s Bùi Thị Minh Nguyệt, người
đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em làm khoá luận tốt nghiệp
Em xin trân trọng cảm ơn ban lãnh đạo, các cán bộ của Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá, và cán bộ công nhân viên của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang đã giúp đỡ em trong quá trình thực tập
Vì khoảng thời gian thực tập ngắn nên em vẫn chưa thể hiểu hết về thực tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy và trình độ còn hạn chế, nên luận văn của em còn mang nặng tính lý thuyết và không tránh khỏi những sai sót
Em rất mong sự đóng góp ý kiến của các thầy cô và mọi người để cuốn luận văn của em hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hà tây, ngày 6 tháng 5 năm 2008
Sinh viên
Vũ Thị Mỹ Quyên
Trang 2MỤC LỤC
Trang
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
PHẦN 1:CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM 3
1.1 Chi phí sản xuất 3
1.1.1 Khái niệm 3
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất 3
1.2 Giá thành sản phẩm 7
1.2.1 Khái niệm và vai trò của giá thành sản phẩm 7
1.2.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm 7
1.2.3 Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp 8
1.2.4 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm 9
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng và các biện pháp hạ giá thành sản phẩm 11
1.3 Những công trình nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu có liên quan đến tính giá thành sản phẩm 15
PHẦN 2:ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL SƠN TRANG THUỘC TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN HÀM RỒNG THANH HOÁ… 17
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá và nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang 17
2.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội 18
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên 18
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội 18
2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất tại nhà máy gạch Tuynel 18
2.3.1 Tình hình tổ chức lao động của nhà máy 18
2.3.2 Tình hình tổ chức bộ máy quản lý 19
2.3.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất 20
2.4 Đặc điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật 21
2.5 Tình hoạt động sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang trong 3 năm qua 22
2.5.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch thông qua chỉ tiêu hiện vật……… 22
2.5.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch thông qua chỉ tiêu giá trị……… 25
2.6 Những thuận lợi và khó khăn của nhà máy 27
2.6.1 Những thuận lợi 27
2.6.2 Những khó khăn: 28
2.7 Phương hướng phát triển của nhà máy 29
PHẦN 3:KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ THÀNH SẢN PHẨMCỦA NHÀ MÁY TUYNEL SƠN TRANG 30
3.1 Phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang 30
Trang 33.2 Tình hình biến động tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị của gạch
Tuynel 2 lỗ 31
3.3 Phân tích tình hình biến động của các khoản mục phí trong giá thành sản phẩm gạch 2 lỗ của công ty 33
3.3.1 Tình hình biến động chi phí nguyên vật liệu chính trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ…… 36
3.3.2 Tình hình chi phí nhiên liệu than trong giá thành sản phẩm gạch Tuynel 2 lỗ……… 38
3.3.3 Tình hình biến động chi phí năng lượng điện trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ……… 40
3.3.4 Tình hình biến động chi phí nhiên liệu dầu trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ…… ………42
3.3.5 Tình hình biến động chi phí nhân công trực tiếp trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ……… 44
3.3.6 Tình hình biến động chi phí quản lý phân xưởng trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ……… 46
3.3.7 Tình hình biến động chi phí quản lý doanh nghiệp trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ…… 48
3.3.8 Tình hình biến động chi phí bán hàng trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ 50
3.3.9 Tình hình biến động chi phí tài chính trong giá thành gạch Tuynel 2 lỗ 52
PHẦN 4:MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM HẠ GIÁ THÀNH SẢN PHẨM GẠCH TUYNEL 2 LỖ TẠI NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL SƠN TRANG 54
4.1 Những nhận xét chung về tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang trong 3 năm qua 54
4.2 Những thành công và hạn chế của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang 54
4.2.1 Những thành công 54
4.2.2 Những hạn chế 55
4.3 Một số giải pháp đề xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm gạch Tuynel 2 lỗ của nhà máy………55
4.3.1 Giảm mức tiêu hao các chi phí đầu vào 56
4.3.2 Tăng khối lượng sản xuất để giảm chi phí cố định 61
4.3.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ lao động 63
4.3.4 Xây dựng hệ thống thưởng phạt về tiết kiệm chi phí 63
4.4.5 Xây dựng thương hiệu sản phẩm 64
4.4.6 Một số biện pháp giảm chi phí sản xuất khác 65
KẾT LUẬN 65
Trang 4ĐẶT VẤN ĐỀ
Nền kinh tế trên thế giới hiện nay là một nền kinh tế thị trường, là sự cạnh tranh khốc liệt giữa các quốc gia nói chung, giữa các doanh nghiệp trong và ngoài nước nói riêng Từ khi, Việt Nam mở cửa hội nhập và là thành viên của WTO đã đặt các ngành, các doanh nghiệp đứng trước những cơ hội và thách thức to lớn Cùng với xu thế quốc tế hoá, toàn cầu hoá, và hội nhập kinh tế đòi hỏi mỗi ngành và mỗi doanh nghiệp phải tìm cho mình một hướng đi đúng đắn, phù hợp yêu cầu thực
tế của thị trường để đạt hiệu quả cao nhất
Để tồn tại, phát triển và đứng vững trong thị trường cạnh tranh, mỗi doanh nghiệp đều phải theo đuổi mục tiêu của mình là chiếm lĩnh thị trường và thu lợi nhuận tối đa Hạ giá thành là nhân tố quan trọng để doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ sản phẩm, làm tăng lợi nhuận Không những thế, hạ giá thành là yếu tố để doanh nghiệp mở rộng, chiếm lĩnh thị trường và nâng cao thế cạnh tranh cho doanh nghiệp Do đó, việc nghiên cứu tìm ra các biện pháp làm như thế nào để giảm chi phí và hạ giá thành sản phẩm là một trong những mục tiêu và những chiến lược kinh doanh được quan tâm hàng đầu của mỗi doanh nghiệp
Gạch Tuynel là một sản phẩm không thể thiếu được trong lĩnh vực xây dựng Nhận thấy nhu cầu thiết yếu của thị trường, Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng đã xây dựng thêm nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang Tuy nhà máy mới được thành lập cách đây năm năm, nhưng với những kế hoạch hợp lý trong sản xuất kinh doanh nhà máy đã thu được những kết quả đáng kể và đứng vững trên thị trường Được sự đồng ý của nhà trường, của Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá và sự giúp
đỡ hướng dẫn tận tình của Th.S Bùi Thị Minh Nguyệt, nhận thấy vai trò quan trọng trong việc hạ giá thành sản phẩm đối với các doanh nghiệp, trong quá trình thực tập
tại Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá, em đã mạnh dạn chọn đề tài “ Nghiên cứu các biện pháp hạ giá thành sản phẩm gạch tuynel tại nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang thuộc Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá”
Mục tiêu của đề tài:
Tìm hiểu một số nguyên nhân chủ yếu ảnh hưởng đến tình hình biến động giá thành Từ đó, nghiên cứu đề xuất các biện pháp hạ giá thành sản phẩm gạch Tuynel của nhà máy gạch Sơn Trang
Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
Trang 5+ Đối tượng: nghiên cứu giá thành sản phẩm gạch Tuynel của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang
+ Phạm vi nghiên cứu:
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2005-2007
- Không gian nghiên cứu: Nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang thuộc Tổng công
ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá
Phương pháp nghiên cứu:
+ Phương pháp thu thập số liệu:
- Thu thập số liệu mà nhà máy cung cấp, thông qua các tài liệu báo cáo tài chính, sổ chi tiết nguyên vật liệu, sổ chi tiết hàng hoá bán ra, thẻ hạch toán giá thành sản phẩm…
- Phỏng vấn và quan sát các cán bộ công nhân viên của nhà máy, so sánh số liệu và kết quả thu được với thực tế
+ Phương pháp xử lý số liệu bằng phương pháp thống kê, thông qua các công thức toán học…
Đề tài gồm những nội dung sau:
- Những cơ sở lý luận cơ bản về giá thành sản phẩm
- Kết quả nghiên cứu giá thành sản phẩm của nhà máy gạch trong 3 năm
- Đề xuất một số biện pháp hạ giá thành sản phẩm
Trang 6Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp đều phải sử dụng các yếu
tố đầu vào cho sản xuất là: tư liệu lao động, đối tượng lao động, và sức lao động, kết hợp chúng theo những tỷ lệ và những phương thức thích hợp Trong quá trình sản xuất, các yếu tố nguồn lực bị tiêu hao để tạo ra sản phẩm, dịch vụ nhất định để đáp ứng cho nhu cầu của con người
Mức tiêu hao các chi phí sản xuất có ảnh hưởng quyết định đến hiệu qủa sản xuất của một doanh nghiệp Tiết kiệm chi phí, là con đường cơ bản nhất để hạ giá thành sản phẩm, nâng cao lợi nhuận cho doanh nghiệp
1.1.2 Phân loại chi phí sản xuất
Chi phí sản xuất bao gồm nhiều loại khác nhau Việc nghiên cứu phân loại một cách chính xác các loại chi phí sản xuất có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý doanh nghiệp
Phân loại chi phí sản xuất chính xác tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân tích
và lập kế hoạch giá thành sản phẩm Bên cạnh đó, việc phân loại chi phí sản xuất còn giúp cho các doanh nghiệp có thể phát hiện những tiềm năng tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm trong sản xuất kinh doanh
Sau đây là một số phương pháp phân loại chi phí chủ yếu:
1.1.2.1 Phân loại chi phí theo yếu tố
Phân loại theo yếu tố là phương pháp phân loại chi phí sản xuất chỉ căn cứ vào nội dung kinh tế ban đầu của các chi phí mà không kể đến công dụng cụ thể và địa điểm phát sinh của những chi phí đó Phương pháp này chia các chi phí sản xuất doanh nghiệp thành 8 yếu tố:
1 Nguyên vật liệu chính mua ngoài: bao gồm các chi phí dùng để mua nguyên vật liệu chính từ ngoài vào, không kể đến việc vật liệu đó dùng vào mục đích gì, dùng ở bộ phận nào
Trang 72 Vật liệu phụ mua ngoài, bao gồm toàn bộ những chi phí dùng để mua vật liệu phụ từ bên ngoài
3 Nhiên liệu mua ngoài, bao gồm toàn bộ chi phí dùng để mua nhiên liệu từ bên ngoài
4 Năng lượng mua ngoài, bao gồm những chi phí để mua năng lượng từ bên ngoài
5 Tiền lương, bao gồm tất cả các khoản tiền dùng để trả lương, trả công cho tất
cả lực lượng lao động của doanh nghiệp, kể cả trực tiếp và gián tiếp
6 Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn bao gồm toàn bộ các khoản trích theo lương của trong doanh nghiệp theo quy định của chế độ hiện hành
7 Khấu hao tài sản cố định, bao gồm toàn bộ số tiền trích khấu hao trong kỳ của tài sản cố định toàn doanh nghiệp
8 Các chi phí khác bằng tiền, bao gồm tất cả các chi phí bằng tiền để phục vụ cho các hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà chưa được xếp vào 7 yếu tố trên
Phương pháp này thường được dùng để lập dự toán chi phí sản xuất của các bộ phận và cho toàn doanh nghiệp
1.1.2.2 Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục
Phân loại chi phí sản xuất theo khoản mục là phương pháp phân loại chi phí căn cứ vào công dụng cụ thể và địa điểm phát sinh của các chi phí mà không xem xét đến nội dung kinh tế ban đầu của các chi phí đó Phương pháp này chia các chi phí sản xuất thành các khoản mục sau:
1 Nguyên vật liệu chính dùng vào sản xuất, bao gồm các chi phí về sử dụng nguyên liệu chính vào việc trực tiếp sản xuất ra sản phẩm
2 Nguyên vật liệu phụ vào sản xuất, bao gồm các chi phí về sử dụng vật liệu phụ vào sản xuất ra sản phẩm
3 Nhiên liệu dùng vào sản xuất, bao gồm các chi phí về sử dụng nhiên liệu cho việc trực tiếp sản xuất ra sản phẩm
4 Năng lượng dùng vào sản xuất, bao gồm các chi phí về năng lượng cho việc trực tiếp sản xuất ra sản phẩm
Trang 85 Tiền lương của công nhân trực tiếp sản xuất, bao gồm số tiền để trả lương chính và trả lương phụ cho những công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong doanh nghiệp
6 Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân sản xuất, bao gồm số tiền trích theo lương theo chế độ hiện hành của công nhân trực tiếp sản xuất ra sản phẩm trong doanh nghiệp
7 Chi phí sử dụng máy móc thiết bị trực tiếp dùng vào sản xuất, bao gồm toàn bộ các chi phí phát sinh cho việc sử dụng hệ thống máy móc thiết bị vào mục đích sản xuất của doanh nghiệp
8 Chi phí quản lý phân xưởng, bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phát sinh cho hoạt động của bộ máy quản lý sản xuất ở cấp phân xưởng, đội sản xuất của doanh nghiệp
9 Chi phí quản lý doanh nghiệp, bao gồm toàn bộ các khoản chi phí phụ vụ cho hoạt động của bộ máy quản lý chung toàn doanh nghiệp
10 Thiệt hại sản phẩm hỏng và thiệt hại ngừng sản xuất, bao gồm các khoản chi phí cho việc sửa chữa sản phẩm hỏng và những chi phí phát sinh do sản xuất bị ngừng vì các lý do chủ quan hoặc khách quan
11 Chi phí ngoài sản xuất, bao gồm các khoản chi phí có liên quan đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
Phương pháp phân loại chi phí theo khoản mục thường được dùng để lập kế hoạch giá thành đơn vị sản phẩm
1.1.2.3 Phân loại chi phí theo phương pháp tính chi phí vào giá thành sản phẩm
Phân loại chi phí theo phương pháp tính chi phí vào giá thành sản phẩm là phương pháp phân loại chi phí dựa vào đặc điểm tính toán, tập hợp các chi phí đó vào giá thành sản phẩm Theo cách phân loại này, các chi phí sản xuất được chia làm 2 loại sau:
Chi phí trực tiếp:
Gồm các khoản chi phí có liên quan trực tiếp đến việc sản xuất từng loại sản phẩm cụ thể Vì vậy, chúng có thể được tính toán trực tiếp vào giá thành của từng loại sản phẩm thông qua các định mức tiêu chuẩn
Chi phí trực tiếp thường bao gồm các khoản sau:
- Nguyên vật liệu chính dùng vào sản xuất
Trang 9- Nguyên vật liệu dùng vào sản xuất
- Nhiên liệu dùng vào sản xuất
- Năng lượng dùng vào sản xuất
- Tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất
- Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của công nhân trực tiếp
sản xuất
- Chi phí sử dụng máy móc thiết bị
Chi phí gián tiếp:
Gồm những chi phí phát sinh không liên quan trực tiếp đến một số loại sản phẩm cụ thể nào, mà có liên quan đến việc sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau
Vì thế, để tính toán các chi phí này vào giá thành từng loại sản phẩm, người ta phải tiến hành phân bổ theo những phương pháp thích hợp
Chi phí gián tiếp thường bao gồm:
- Chi phí quản lý phân xưởng
- Chi phí quản lý doanh nghiệp
- Các chi tiêu ngoài sản xuất
1.1.2.4 Phân loại chi phí theo các mối quan hệ giữa chi phí với sản lượng sản phẩm
Đây là phương pháp phân loại chi phí dựa vào mối quan hệ của bản thân các chi phí với mức sản lượng sản phẩm trong kỳ của doanh nghiệp
Theo phương pháp này, các chi phí được chia làm 2 loại sau:
- Chi phí biến đổi:
Là những khoản chi phí mà tổng số của chúng thay đổi tỷ lệ với sự biến động của sản lượng sản phẩm sản xuất ra của doanh nghiệp Thông thường
chi phí biến đổi bao gồm các khoản chi phí trực tiếp của doanh nghiệp
- Chi phí cố định:
Là những khoản chi phí mà tổng số của chúng không thay đổi hoặc thay đổi chậm hơn so với sự thay đổi của sản lượng sản xuất ra của doanh nghiệp Trong doanh nghiệp, các chi phí cố định thường bao gồm các chi phí gián tiếp
Cách phân loại chi phí sản xuất này cho biết tính hợp lý của các loại chi phí, đồng thời cũng cho biết mức sản lượng tối thiểu để không bị lỗ vốn
Trang 10Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp, phản ánh chất lượng của toàn bộ quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
b Vai trò
Giá thành là thước đo mức hao phí cho sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, là căn
cứ để xác định hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh Để quyết định một sản phẩm nào đó, doanh nghiệp cần nắm được nhu cầu thị trường, giá cả thị trường và mức hao phí sản xuất, tiêu thụ sản phẩm đó Trên cơ sở đó xác định được hiệu quả kinh doanh của loại sản phẩm đó để quyết định lựa chọn và quyết định khối lượng sản xuất nhằm tối đa hoá lợi nhuận
Giá thành là công cụ quan trọng của doanh nghiệp để kiểm soát quá trình sản xuất kinh doanh, xem xét hiệu quả các biện pháp kỹ thuật Thông qua tình hình thực hiện giá thành doanh nghiệp có thể xem xét tình hình sản xuất, chi phí bỏ vào sản xuất, tác động hiệu quả thực hiện các biện pháp tổ chức kỹ thuật đến sản xuất, phát hiện và tìm ra những nguyên nhân dẫn đến phát sinh những chi phí không hợp lý để
có biện pháp loại trừ
Giá thành còn là căn cứ quan trọng để doanh nghiệp xây dựng chính sách giá
cả đối với từng loại sản phẩm
1.2.2 Mối quan hệ giữa chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
Trang 11Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm là hai mặt khác nhau của quá trình sản xuất: chi phí sản xuất phản ánh mặt hao phí, giá thành phản ánh phần kết quả sản xuất
Giá thành sản phẩm với chi phí sản xuất có mối quan hệ mật thiết với nhau Giá thành sản phẩm chính là những chi phí để sản xuất ra những sản phẩm đã hoàn thành Nghĩa là, giá thành sản phẩm cấu thành từ chi phí sản xuất Tuy nhiên, không phải tất cả chi phí sản xuất đều được tính vào giá thành, một số loại chi phí như: chi phí sản xuất dở dang đầu kỳ, thiệt hại sản phẩm hỏng ngoài định mức không được tính vào giá thành sản phẩm.Vì thế, giá thành sản phẩm và chi phí sản xuất giống nhau về tính chất nhưng khác nhau về lượng
Tất cả các chi phí phát sinh (phát sinh trong kỳ và kỳ trước chuyển sang) và chi phí trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm, lao vụ, dịch vụ đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên chỉ tiêu giá thành sản phẩm
Tổng giá thành =
SP
Chi phí SX dở + dang đầu kỳ
Chi phí phát sinh trong kỳ
- Chi phí SX dở dang cuối kỳ
1.2.3 Các loại giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
1.2.3.1 Phân loại giá thành sản phẩm theo cơ cấu chi phí
Theo cơ cấu chi phí hình thành nên giá thành sản phẩm, người ta chia giá thành sản phẩm thành 3 cấp chính sau:
- Giá thành phân xưởng: bao gồm toàn bộ các chi phí sản xuất ra sản phẩm phát
sinh trong cấp phân xưởng
- Giá thành công xưởng, bao gồm giá thành phân xưởng cộng thêm chi phí quản
Chi phí QLPX
Trang 12Giá thành toàn bộ
1.2.3.2 Phân loại giá thành sản phẩm theo trình tự tính toán
Theo trình tự tính toán và thực hiện, người ta chia giá thành sản phẩm thành các loại sau đây:
- Giá thành dự toán: là giá thành sản phẩm được xây dựng và tính toán dựa trên
tài liệu thiết kế kỹ thuật và các định mức kinh tế kỹ thuật có liên quan đến quá trình sản xuất sản phẩm
- Giá thành kế hoạch: là giá thành sản phẩm được xây dựng trên cơ sở các định
mức kinh tế kỹ thuật có tính đến các biện pháp chủ quan của doanh nghiệp nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm
- Giá thành thực tế là giá thành sản phẩm được tính toán dựa trên cơ sở các số
liệu thực tế về chi phí để sản xuất và tiêu thụ của doanh nghiệp trong kỳ
1.2.4 Đối tượng và phương pháp tính giá thành sản phẩm
1.2.4.1 Đối tượng tính giá thành sản phẩm
Xác định đối tượng tính giá thành sản phẩm là việc xác định sản phẩm, án thành phẩm, lao vụ, dịch vụ nhất định đòi hỏi phải tính được giá thành đơn vị sản phẩm
Để xác định được giá thành sản phẩm, người ta thường căn cứ vào các vấn đề sau:
- Căn cứ vào đặc điểm tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh, loại sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp sản xuất để xác định đối tượng tính giá thành
- Căn cứ vào quy trình công nghệ sản xuất của doanh nghiệp Nếu doanh nghiệp
có quy trình công nghệ sản xuất đơn giản thì đối tượng tính giá thành là loại sản phẩm hoàn thành ở cuối quy trình công nghệ Nếu quy trình sản xuất phức tạp theo kiểu liên tục thì đối tượng tính giá thành có thể là nửa thành phẩm ở từng giai đoạn
và thành phẩm ở giai đoạn cuối
Xác định đối tượng tính giá thành đúng và phù hợp với điều kiện, đặc điểm của doanh nghiệp tạo điều kiện cho doanh nghiệp quản lý giá thành hiệu qủa đáp
Trang 13ứng nhu cầu quản lý của doanh nghiệp và đồng thời giúp doanh nghiệp lựa chọn phương pháp tính giá thành phù hợp
1.2.4.2 Phương pháp tính giá thành
- Phương pháp trực tiếp
Áp dụng trong các doanh nghiệp sản xuất giản đơn, mặt hàng sản xuất ít, khối lượng sản xuất lớn, chu kỳ sản xuất ngắn Đối tượng hạch toán là chi phí sản xuất từng loại sản phẩm riêng biệt
- Phương pháp tổng cộng chi phí:
Áp dụng trong doanh nghiệp mà sản xuất sản phẩm ở nhiều công đoạn, nhiều biện pháp sản xuất khác nhau Đối tượng kế toán chi phí sản xuất là các biện pháp, chi tiết sản phẩm, trên giai đoạn công nghệ hay biện pháp sản xuất
Zsp = Z1 + Z2 + Z3 + …+ Zn
- Phương pháp hệ số:
Áp dụng mà doanh nghiệp mà trong cùng một quá trình sản xuất, cùng sử dụng một loại nguyên vật liệu và một lượng lao động nhưng sản xuất ra nhiều loại sản phẩm khác nhau, chi phí không tập hợp riêng cho từng loại sản phẩm cụ thể Phương pháp này áp dụng hệ số quy đổi
Trước hết, người ta căn cứ vào đặc điểm kinh tế kỹ thuật của từng loại sản phẩm để tính toán và xác định cho mỗi loại một hệ số
Qo = Qi x Hi Trong đó: Qo: tổng số SP gốc đã quy đổi
Qi: số lượng SP loại i
Hi: Hệ số quy đổi SP loại i
Giá thành
đơn vị SP =
Tổng CP sản xuất SP
Số lượng thành phẩm
Giá trị SP dở dang đầu kỳ
Giá trị SP dở dang cuối kỳ
vị SP từng loại = Giá thành đơn
vị SP gốc X
hệ số quy đổi
SP từng loại Tổng giá
thành SX của
các loại SP
=
CPSX dở dang đầu
CPSX phát sinh trong kỳ -
CPSX dở dang cuối
kỳ
Trang 14Ngoài ra, còn có một số phương pháp tính giá thành khác như phương pháp loại trừ giá trị sản phẩm phụ, phương pháp liên hợp…
1.2.5 Các nhân tố ảnh hưởng và các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
1.2.5.1 Ý nghĩa của việc hạ giá thành sản phẩm
- Hạ giá thành sản phẩm tạo điều kiện cho doanh nghiệp thực hiện tốt việc tiêu thụ
sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, mở rộng quy mô sản xuất từ đó tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp
- Hạ giá thành sản phẩm còn là cơ sở để hạ giá bán sản phẩm, góp phần nâng cao
hiệu qủa kinh tế và mức sống của toàn xã hội
- Hạ giá thành sản phẩm là giảm các chi phí cấu thành nên sản phẩm cả lao động
sống và lao động vật hoá trên một đơn vị sản phẩm Nó tiết kiệm được nguồn tài nguyên thiên nhiên của đất nước Như vậy, hạ giá thành sản phẩm không những có
ý nghĩa với doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa đối với toàn xã hội
Phấn đấu tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm là một trong những điều kiện tiên quyết để tăng tích luỹ lao động xã hội, tăng tốc độ và quy mô phát triển sản xuất và cải thiện đời sống
Muốn thực hiện được điều đó, phải căn cứ vào đặc điểm tình hình thực tế của mỗi một doanh nghiệp để nghiên cứu các biện pháp hạ giá thành sản phẩm
1.2.5.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến hạ giá thành sản phẩm
+ Nhân tố về mặt kỹ thuật, công nghệ sản xuất: đây là một trong những nhân
tố quan trọng nhất bởi vì việc áp dụng kỹ thuật tiên tiến, công nghệ sản xuất hiện đại sẽ tạo khả năng to lớn để nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, tiết kiệm chi phí sản xuất cho mỗi đơn vị sản phẩm Tuy nhiên, việc đổi mới phải đi đôi và đồng bộ với các yếu tố sản xuất khác nhau như trình độ lao động, khả năng đáp ứng nguyên vật liệu, khả năng tiêu thụ sản phẩm…
+ Nhân tố về tổ chức quản lý: có thể coi đây là nhân tố mang tính chất quyết định bởi vì quản lý doanh nghiệp và quản lý sản xuất đòi hỏi các nhà quản lý phải tính toán sắp xếp các hoạt động trong doanh nghiệp một cách nhịp nhàng hợp lý, kiểm tra giám sát thường xuyên chặt chẽ việc sử dụng các yếu tố sản xuất và chi phí phát sinh, có các biện pháp hợp lý để khuyến khích người lao động tự giác sáng tạo thực hiện tốt nhất công việc được giao
Trang 15+ Nhân tố về lao động: chất lượng lao động và ý thức của người lao động ảnh hưởng trực tiếp đến số lượng và chất lượng công việc Vì vậy, cũng ảnh hưởng trực tiếp số lượng chi phí phát sinh và tới giá thành sản phẩm
+ Đặc điểm về sản xuất sản phẩm của doanh nghiệp: với mỗi doanh nghiệp đặc điểm sản xuất khác nhau, tính chất và ngành nghề khác nhau thì có chi phí, kết cấu chi phí khác nhau dẫn đến giá thành sản phầm cũng khác nhau Vì vậy, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải xác định đúng đối tượng tính toán và tập hợp chi phí phù hợp
1.2.5.3 Các biện pháp chủ yếu hạ giá thành sản phẩm
a Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp trong giá thành đơn vị sản phẩm
+ Chi phí trực tiếp trong giá thành sản phẩm bao gồm các loại chi phí: chi phí nguyên vật liệu chính, nguyên vật liệu phụ, nhiên liệu, năng lượng dùng trực tiếp vào sản xuất ra sản phẩm của doanh nghiệp
+ Tiết kiệm chi phí nguyên vật liệu có ý nghĩa rất lớn trong hạ giá thành sản phẩm nhất là các doanh nghiệp có chi phí nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng cao trong giá thành sản phẩm Như ngành chế biến trong ngành lâm sản
Các hướng biện pháp chính:
- Cải tiến, hoàn thiện kỹ thuật, công nghệ sản xuất
- Thay thế nguyên vật liệu rẻ tiền hơn
- Sử dụng triệt để các loại phế liệu, phế phẩm vào sản xuất
- Nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân, giảm tỷ lệ phế phẩm
- Cải tiến công tác quản lý, bảo quản, cấp phát vật tư, giảm tiêu hao mất mát
- Tăng cường tuyên truyền, giáo dục đồng thời áp dụng các biện pháp kích thích với công nhân, tiết kiệm vật tư
Trang 16Pnvl : Tỷ lệ tiết kiệm chi phí NVL
G : Tỷ lệ tăng giảm giá cả NVL kỳ kế hoạch so với kỳ trước
M : Tỷ lệ tăng giảm mức tiêu hao NVL cho 1 đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch
- Hợp lý hoá nơi làm việc, cải thiện các điều kiện làm việc cho công nhân
- Nâng cao trình độ tay nghề cho công nhân
- Cải tiến công tác phục vụ sản xuất, chuẩn bị sản xuất
- Mở rộng việc áp dụng các biện pháp kích thích vật chất để nâng cao năng suất lao động cho công nhân
Trong đó:
Hzlg : tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm do nâng cao năng suất lao động
Dlg : Tỷ trọng chi phí nhân công trực tiếp trong giá thành đơn vị sản phẩm kỳ trước
Plg : Tỷ lệ tiết kiệm chi phí nhân công trực tiếp cho 1 đơn vị sản phẩm
lg : Tỷ lệ tăng giảm tiền lương bình quân và các khoản trích theo lương của công nhân trực tiếp kỳ kế hoạch so với kỳ trước
x 100 - 100
Trang 17w : Tỷ lệ tăng giảm năng suất lao động kỳ kế hoạch so với kỳ trước của công nhân sản xuất
c Tiết kiệm tương đối chi phí cố định
Chi phí cố định có tổng số không thay đổi hoặc thay đổi không cùng tỷ lệ với khối lượng sản phẩm sản xuất Có 2 hướng tiết kiệm chi phí cố định trong giá thành
sản phẩm:
+ Tăng quy mô sản xuất để tiết kiệm tương đối chi phí cố định
+ Giảm bớt các khoản chi tiêu chung để tiết kiệm tuyệt đối chi phí cố định
Trong đó:
Hzcđ : tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm do tiết kiệm tương đối chi phí cố định Dcđ : tỷ trọng chi phí cố định trong giá thành đơn vị sản phẩm năm trước Pcđ : tỷ lệ tiết kiệm tương đối chi phí cố định
cđ : tỷ lệ tăng giảm tổng chi phí cố định định kỳ kế hoạch so với kỳ trước Q : tỷ lệ tăng giảm sản lượng sản phẩm kỳ kế hoạch so với kỳ trước
d Xác định ảnh hưởng tổng hợp của các biện pháp đến giá thành sản phẩm
- Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm kỳ kế hoạch so áp dụng các biện pháp
Hzc = Hznvl + Hzlg + Hzcđ
- Mức hạ giá thành sản phẩm do áp dụng các biện pháp:
Trong đó:
Qkh : khối lượng sản xuất kỳ kế hoạch
Zbc : giá thành đơn vị sản phẩm của kỳ trước
Hzc: Tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm do áp dụng các biện pháp
- Dự kiến giá thành đơn vị sản phẩm kế hoạch
Dựa trên cơ sở tỷ lệ hạ giá thành vừa tính có thể dự kiến được mức giá thành đơn vị sản phẩm của kỳ kế hoạch theo biểu thức sau đây:
Hzcđ = Pcđ x Dcđ
100
Pcđ =
100+cđ 100+Q
Trang 18Trong đó:
Zkh : mức giá thành đơn vị sản phẩm kỳ kế hoạch
1.3 Những công trình nghiên cứu và tài liệu nghiên cứu có liên quan đến tính giá thành sản phẩm
Trong thời gian thực tập và làm khoá luận tốt nghiệp em đã tìm kiếm và tham khảo một số tài liệu và luận văn, từ đó em đã kế thừa và chọn lọc những kiến thức
để xây dựng khoá luận của mình Cụ thể:
Các sách tham khảo:
- T.S Phạm Quang đã xuất bản cuốn “Hạch toán kế toán trong doanh nghiệp”,nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân năm 2005 Cuốn sách trình bày hệ thống kiến thức cơ bản về công tác hạch toán kế toán theo từng phần hành kế toán
cơ bản trong doanh nghiệp Trong đó, tại chương 5, trang 123 tác giả đã đề cập đến các phương pháp hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- T.S Nguyễn Văn Tuấn và Trần Hữu Dào đã xuất bản giáo trình “Quản lý doanh nghiệp Lâm Nghiệp”, nhà xuất bản Nông Nghiệp năm 2002 Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về lý luận và nghiệp vụ chính của việc quản trị kinh doanh trong các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp Lâm Nghiệp nói riêng Tại chương 9, trang 171 tác giả đề cập đến “quản lý chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp Lâm Nghiệp”
- Th.s Nguyễn Văn Đệ đã xuất bản giáo trình “Phân Tích hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp”,nhà xuất bản Nông Nghiệp năm 2002 Giáo trình cung cấp các kiến thức, công thức cơ bản sử dụng trong phân tích, và tác giả đưa ra những ví dụ thực tiễn để độc giả có thể hiểu rõ hơn Tại chương 4, trang 41 tác giả
đề cập đến” phân tích chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm”
- Th.s Trần Ngọc Bình đã xuất bản giáo trình “Quản trị tài chính doanh nghiệp”, nhà xuất bản Nông Nghiệp năm 2002 Giáo trình được biên soạn theo hướng chọn lọc, bổ sung kiến thức cơ bản về quản trị kinh doanh Tại chương 3, trang 87, tác giả đã đề cập tới “chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm”
Các đề tài:
- Tác giả Đinh Thuý Hoàn(2007), khoá 48 thực hiện đề tài “Nghiên cứu thực trạng sản xuất và giá thành sản phẩm gạch Tuynel 2 lỗ tại nhà máy gạch Gia Thanh
Zkh
Trang 19Gia Viễn – Ninh Binh” Khoá luận đưa ra những lý luận cơ bản về chi phí sản xuất
và giá thành sản phẩm, trên phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy
Và đưa ra một số biện pháp hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên, luận văn còn một số tồn tại sau:
+ Phần trình bày chưa đẹp, luận văn còn để nhiều khoảng trống
+ Phân tích các khoản mục chi phí còn sơ sài, nguyên nhân ảnh hưởng đến tình hình biến động các chi phí của các năm chưa rõ ràng
+ Biện pháp đề xuất còn nặng tính lý thuyết, chưa cụ thể, chưa đưa ra dự đoán
tỷ lệ hạ giá thành
- Tác giả Mai Quý Long (2004), khoá 46 thực hiện đề tài “Một số biện pháp hạ giá thành sản phẩm mành trang trí B404-00 tại Công ty TNHH mành trang trí thị xã Sơn Tây – Hà Tây” Tác giả đã đi sâu nghiên cứu đặc điểm sản xuất kinh doanh, quy trình công nghệ của công ty Vì vậy, tác giả đã chỉ ra được các nguyên nhân ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm và đưa ra các biện pháp thiết thực góp phần hạ giá thành sản phẩm mành trang trí Tuy nhiên, đề tài còn một số tồn tại sau:
+ Chưa đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bằng chỉ tiêu hiện vật
+ Chưa phân tích một số chỉ tiêu rất quan trọng trong bảng kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bằng chỉ tiêu giá trị
+ Chưa chỉ ra được nhân tố ảnh hưởng lớn nhất đến giá thành sản phẩm
+ Chưa chỉ ra những thành công của công ty đã đạt được
- Tác giả Hà Văn Triều(2004), khoá 46 thực hiện đề tài “Đề xuất một số biện pháp nhằm hạ giá thành sản phẩm gạch Tuynel 2 lỗ của công ty vật liệu xây dựng Cẩm Trướng – Thanh Hoá” Khoá luận đã hệ thống cơ sở lý luận về hạ giá thành sản phẩm, đặc điểm của cơ bản của công ty, chỉ ra được các nhân tố ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm, từ đó đưa ra một số biện pháp làm hạ giá thành sản phẩm Tuy nhiên, khoá luận còn có một số tồn tại sau:
+ Chưa nêu rõ nội dung cụ thể của quy trình công nghệ
+ Chưa chỉ ra nhân tố tác động lớn nhất đến giá thành sản phẩm
+ Chưa dự tính tỷ lệ hạ giá thành sản phẩm của nguyên vât liệu, nhiên liệu
Trang 20PHẦN 2 ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL SƠN TRANG THUỘC TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN HÀM RỒNG THANH HOÁ
2.1 Qúa trình hình thành và phát triển của Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá và nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang
Tổng công ty Hàm Rồng Thanh Hoá tiền thân là nhà máy phân lân Hàm Rồng, được thành lập vào năm 1962 đóng tại phường Hàm Rồng, thành phố Thanh Hóa cách Hà Nội 156 km về phía nam Tháng 7/1999, nhà máy phân lân Hàm rồng từ một doanh nghiệp nhà nước đã đi đầu trong việc cổ phần hoá doanh nghiệp và đổi tên thành Công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá Cùng với sự phát triển của công
ty, và nắm bắt nhu cầu của thị trường, công ty đã ngày càng mở rộng sản xuất đa ngành, đa nghề, đa sản phẩm Chỉ tính riêng năm 2002, công ty đã xây dựng 2 nhà máy: nhà máy nước mắm Thiên Hương và nhà máy thức ăn chăn nuôi gia súc Đại Phước Năm 2003, công ty thành lập nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang Tháng 11/2007 công ty đã chính thức đổi tên thành Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng - Thanh Hoá
Mặc dù, trong địa bàn tỉnh Thanh Hoá có trên 20 nhà máy gạch Tuynel như xí nghiệp gạch ngói Cẩm Trướng,nhà máy gạch Đông Văn,…nhưng nhận thấy nhu cầu về các sản phẩm gạch ngày càng cao về chất lượng sản phẩm, cũng như đa dạng hoá các mẫu mã sản phẩm mà các nhà máy, xí nghiệp khác chưa đáp ứng được Năm 2003, tổng công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá đã quyết định khởi công xây dựng nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang tại xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hoá-
Trang 21Thanh Hóa Nhiệm vụ chính của nhà máy là sản xuất gạch, ngói và kinh doanh vật liệu xây dựng Nhà máy được xây dựng và lắp đặt dây truyền công nghệ kỹ thuật tiên tiến hiện đại với công suất là 40triệu viên/năm, và sản xuất 6 chủng loại sản phẩm: như gạch 2 lỗ, gạch 3 lỗ, gạch 4 lỗ, gạch đặc, gạch 6 lỗ rỗng, gạch 14 lỗ rỗng, trong đó gạch 2 lỗ là sản phẩm sản xuất chính của nhà máy
2.2 Đặc điểm tự nhiên – kinh tế - xã hội
2.2.1 Đặc điểm tự nhiên
Nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang được xây dựng tại xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hoá, tỉnh Thanh Hoá Nhà máy nằm sát quốc lộ 1A, và cách thành phố Thanh Hoá 15km về phía Bắc, nên việc vận chuyển và tiêu thụ sản phẩm rất thuận lợi Nhà máy có vị trí địa lý:
Phía Đông giáp với xã Hoằng Trinh, huyện Hoằng Hoá
Phía Tây giáp với xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hoá
Phía Bắc giáp với xã Triệu Lộc, huyện Hậu Lộc
Phía Nam giáp với huyện Hà Trung
2.2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
Xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hoá là xã có 80% dân số làm nghề nông Vì vậy, đời sống nhân dân vẫn đang còn gặp nhiều khó khăn Tuy nhiên, các cơ sở vật chất ở đây tương đối đầy đủ và đạt chất lượng cao như xây dựng các trường học, các trạm xá, giao thông và thông tin liên lạc thuận tiện.Việc xây dựng nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang đã giảm sự thất nghiệp, tạo thêm việc làm cho người dân trong
xã
2.3 Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý và sản xuất tại nhà máy gạch Tuynel
2.3.1 Tình hình tổ chức lao động của nhà máy
Nhà máy Tuynel Sơn Trang có tổng số lao động là 258 người, trong đó số lao động nam là 138 người, và 120 lao động là nữ Vì công việc của nhà máy gạch đòi hỏi những người phải có sức khoẻ tốt nên với tỷ lệ 53,5% là nam sẽ là một điều kiện tốt trong việc sản xuất như tăng năng suất lao động Mặc dù, với số lượng lao động như vậy, song số người lao động có trình độ học vấn, và tay nghề lại rất ít Số người
có trình độ đại học chiếm 5,15% tổng số lao động, 25,79% trình độ cao đẳng và trung cấp Đây cũng là một điều tất yếu đối với các nhà máy, xí nghiệp vì nguồn lao động được lấy tại địa phương chưa được qua trường lớp đào tạo Vì vậy, để đạt hiệu
Trang 22quả cao trong sản xuất, một yêu đặt ra cho các nhà quản lý là luôn nâng cao trình độ học vấn, cũng như tay nghề cho lao động
Biểu 2.1 : Cơ cấu lao động của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang
Chỉ tiêu Tổng Giới tính
Tính chất công việc Trình độ Nam Nữ Trực
tiếp
Gián tiếp
Đại học
CĐ và
TH
Công nhân
+ Phòng tổ chức-hành chính: Tham mưu cho giám đốc về tổ chức quản lý lao động ở các bộ phận, hoàn thiện công tác hành chính, giải quyết các chế độ cho công nhân viên, lao động, lập các thông báo, quyết định công văn, hợp đồng theo sự chỉ đạo của giám đốc
+ Phòng kế toán có 2 người, trong đó có một kế toán trưởng Nhiệm vụ của kế toán là thực hiện tốt công tác kế toán trong doanh nghiệp theo đúng quy định của pháp luật và chế độ chuẩn mực của kế toán nhà nước
+ Phòng kỹ thuật: nhiệm vụ nghiên cứu, kiểm tra các kỹ thuật quy trình trong sản xuất…
+ Phòng thị trường: chuyên nghiên cứu tìm hiểu thị trường, các đối thủ cạnh tranh, đề ra các chiến lược nhằm tiêu thụ được sản phẩm…
Trang 23SƠ ĐỒ 2.1: BỘ MÁY QUẢN LÝ NHÀ MÁY GẠCH TUYNEL SƠN TRANG
Ghi chú:
Quan hệ trực tuyến
Quan hệ tham mưu giúp việc
Quan hệ kiểm tra giám sát
2.3.3 Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất
Nguyên liệu đất được đưa vào thùng nạp liệu,thái nhỏ đất và theo băng truyền vào máy cán thô Tại đây, đất được pha trộn với than theo tỷ lệ quy định Sau đó, được đưa vào máy cán mịn làm cho hỗn hợp đất than đánh mịn, tiếp đó được vào máy nhào đùn liên hợp để các nguyên liệu được trộn đều và nhuyễn Nguyên liệu hỗn hợp đưa vào máy cắt tự động tạo nên hình dáng sản phẩm Sau đó, vận chuyển đưa chúng vào nhà kính phơi mộc, tại đây gạch được phơi đảo, rồi đưa vào lò sấy Tuynel trong vòng 12 tiếng, rồi được chuyển sang lò nung Tuynel ở nhiệt độ 220-
1050 độ Gạch chín tạo ra sản phẩm gạch Tuynel có màu gạch hồng
Giám Đốc
Phòng thị
trường
Phòng TC-HC
Phòng TC-KT
Phòng kỹ thuật
Tổ nghiền than
Tổ xếp goòng
Tổ lò nung sản phẩm
Tổ xuống goòng
Trang 24SƠ ĐỒ 2.2 : QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT
2.4 Đặc điểm cơ sở vật chất - kỹ thuật
Nhìn vào bảng biểu 2.2 ta thấy: tổng tài sản cố định của nhà máy là 16.085.152.356 đồng, trong đó nhà của kiến trúc chiếm tỷ lệ 45,94%, bao gồm khu nhà làm việc của các cán bộ nhân viên, các nhà máy phân xưởng, nhà cáng kính… Máy móc thiết bị, chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng tài sản cố định 47,96%, điều này chứng tỏ nhà máy rất chú trọng đến việc đầu tư các thiết bị công nghệ vào sản xuất Vì vậy, là nhà máy đầu tiên trong tỉnh đạt gần tối đa công suất và sau 5 năm nhà máy đi vào hoạt động sản xuất giá trị còn lại hiện nay chiếm 48,66% trong tổng giá trị còn lại
Để phục vụ cho hoạt động sản xuất cũng như tiêu thụ sản phẩm một cách liên tục và đều đặn, nhà máy đã đầu tư mua 4 xe ôtô tải dùng để vận chuyển
Qua đó ta thấy được, cơ cấu tài sản của nhà máy tương đối hợp lý, và phù hợp với mô hình sản xuất kinh doanh hiện nay
Nguyên
liệu đất
Thùng nạp liệu
Máy cán thô
Máy cán mịn
Nhà kính phơi gạch mộc
Máy cắt tự động
Máy nhào đùn liên hợp
Lò sấy Tuynel
Lò nung Tuynel
Kho thành phẩm
Trang 25Biểu 2.2: cơ sở vật chất kỹ thuật
Stt Tên TSCĐ Nguyên giá Tỷ
trọng% Giá trị còn lại
Tỷ trọng%
2.5.1 Tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch thông qua chỉ tiêu hiện vật
Nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang mới được thành lập từ năm 2003, song là một trong những nhà máy đầu tiên tận dụng được công suất lớn nhất so với các nhà máy gạch khác trong tỉnh Với công suất tối đa của nhà máy là 40triệu viên/năm, trong 3 năm qua, nhà máy không ngừng tăng sản lượng với mức tăng bình quân là 5,1% Năm 2006, số lượng gạch sản xuất là 33.361.872 viên, tăng 4,9% so với năm
2005 Sang năm 2007, sản xuất tăng hơn so với năm 2006 là 5,3%, với số lượng gạch là 35.145.347 viên Điều này chứng tỏ, nhà máy gạch luôn thực hiện mục tiêu tận dụng tối đa công suất, để tiết kiệm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm Nhà máy sản xuất rất nhiều chủng loại sản phẩm gạch như: gạch 2 lỗ, gạch 3 lỗ, gạch đặc…song sản phẩm chủ lực của nhà máy là gạch Tuynel 2 lỗ chiếm 92% trong tổng số gạch sản xuất
Nhìn vào biểu đồ 3.1 ta thấy: sản lượng gạch 2 lỗ tăng dần đều trong 3 năm qua, với tốc độ tăng bình quân là 4,4% Với năm 2006 tăng 4,8% so với năm
Trang 26Biểu 2.3: Kết quả sản xuất kinh doanh bằng giá trị chỉ tiêu hiện vật Đơn vị: Viên
Trang 272005, thì năm 2007 tăng 4,1% so với năm 2006 Điều này là do nhà máy đã nắm bắt tìm hiểu và dự đoán nhu cầu thị trường ở các năm trước, và nhu cầu hiện tại
Biểu đồ 3.1: SẢN LƢỢNG GẠCH 2 LỖ
cũng như trong tương lai về sản phẩm nên ban lãnh đạo nhà máy đưa ra những kế hoạch đúng đắn cho việc tăng khối lượng sản xuất, sao cho không để thừa hàng tồn kho, cũng như thiếu sản phẩm trong tiêu thụ
Gạch đặc là sản phẩm tuy không sử dụng nhiều trong lĩnh vực xây dựng nhu cầu gạch 2 lỗ song cũng là sản phẩm không thể thiếu được Trong 3 năm qua nhà máy cũng tăng dần số lượng gạch đặc với tốc độ phát triển bình quân là 17,8%, riêng năm 2006 do nhu nhà máy nhận thấy nhu cầu về gạch đặc ở năm 2005 nhiều nên đã tăng khối lượng sản xuất lên 26,3%
Các sản phẩm gạch khác như gạch 3 lỗ, 4 lỗ, 6 lỗ rỗng, 14 lỗ rỗng là những sản phẩm có quy trình kỹ thuật sản xuất cao hơn gạch Tuynel 2 lỗ, và nhu cầu về sản phẩm này cũng ít hơn do chỉ được sử dụng để trang trí trong xây dựng, nên được sản xuất với khối lượng rất ít trong tổng số lượng sản gạch sản xuất Nhìn chung, với cùng với sự phát triển và nhu cầu chung của thị trường thì các sản phẩm gạch này cũng được sản xuất ngày càng tăng dần nhưng không đồng đều Trong tương lai, do nhận thấy kinh tế của tỉnh Thanh Hoá và đời sống nhân dân ngày càng nâng cao nên nhu cầu về gạch Tuynel và các gạch trang trí sẽ ngày càng nhiều Nhà máy vẫn luôn hướng theo mục đích sử dụng tối đa công suất và nâng cao chất lượng sản phẩm, nhằm tăng lợi nhuận
sản lượng gạch 2 lỗ trong 3 năm
260000002800000030000000320000003400000036000000
năm 2005 năm 2006 năm 2007
Trang 282.5.2 Tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch thông qua chỉ tiêu giá trị
Nếu như, phân tích kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng chỉ tiêu hiện vật trong 3 năm 2005- 2007 cho ta nhìn một cách khái quát về quy mô sản xuất, cũng như phương hướng phát triển của nhà máy, thì phân tích tình hình sản xuất kinh doanh của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang bằng chỉ tiêu giá trị sẽ cho ta nhìn một cách cụ thể hơn
Qua bảng biểu 2.4 cho ta thấy: nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang trong 3 năm qua hoạt động sản xuất ngày càng có hiệu quả Lợi nhuận của công ty tăng dần đều trong 3 năm với tốc độ phát triển bình quân là 5,8% Năm 2006, tăng 9,5% so với năm 2005, tương ứng với mức tăng là 4,2% Sang năm 2007, lợi nhuận thu được tăng cao hơn so với mức tăng năm 2006 là 7,6% Để biết được nguyên nhân dẫn đến lợi nhuận tăng chúng ta đi tìm hiểu các nhân tố cấu thành nên lợi nhuận
Nhìn vào bảng biểu ta thấy: lợi nhuận nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang thu được là từ doanh thu hoạt động sản xuất kinh doanh còn lại sau khi trừ đi các khoản chi phí sản xuất Trong 3 năm qua, doanh thu nhà máy tăng đều với tốc độ phát triển bình quân là 11,3% Năm 2006, doanh thu đã tăng hơn năm 2005 là 9,5% Sang năm 2007, mức tăng doanh thu tăng nhiều hơn so với năm 2006 là 13,1% Doanh thu nhà máy tăng cũng là một điều dễ hiểu khi nhà máy tăng quy mô sản xuất, tăng khối lượng sản phẩm Mặt khác, do thị trường luôn biến động, khiến cho giá bán sản phẩm ngày càng tăng, đồng thời chất lượng sản phẩm gạch của nhà máy dần cao hơn so với trước nên số gạch xấu và bị hỏng đã giảm
Cùng với sự tăng doanh thu thì tổng chi phí sản xuất gạch Tuynel cũng tăng một cách song hành, với tốc độ phát triển bình quân là 13,4% Qua bảng biểu ta thấy, nguyên nhân dẫn đến chi phí sản xuất tăng là chủ yếu là do giá
Trang 29Biểu 2.4: Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bằng chỉ tiêu giá trị
IV Tỷ suất lợi nhuận
Trang 30vốn hàng bán tăng, và các chi phí khác như: chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí bán hàng, và chi phí tài chính tăng
Trong 3 năm qua, giá vốn hàng bán tăng dần với tốc độ phát triển bình quân là 12,7% Năm 2006, giá vốn hàng bán tăng so với 2005 là 10,3%, nhưng sang năm
2007, giá vốn tăng 15,2% so với năm 2006 Nguyên nhân dẫn đến sự tăng giá vốn
là do lượng hàng tồn kho của nhà máy giảm, do nhu cầu thị trường lớn nên hầu như nhà máy sản xuất đến đâu, bán hết đến đó, số lượng hàng tồn kho hàng năm trên dưới khoảng 1triệu viên Đồng thời, giá thành sản xuất tăng nên giá vốn ngày càng tăng
Chi phí quản lý và chi phí bán hàng trong 3 năm qua tăng khá cao Nguyên nhân là do chủ trương chính sách tăng lương của nhà nước của nhà nước hằng năm, nên làm cho tiền lương công nhân viên tăng lên đáng kể
Do nhà máy phải chi trả tiền lãi hàng năm cao, và ngày càng tăng nên chi phí tài chính có xu hướng tăng lên Qua đó thể hiện, nguồn vốn hoạt động trong sản xuất kinh doanh của nhà máy chủ yếu là nguồn vốn vay
Nhìn vào bảng biểu 2.4 cho ta thấy: tỷ suất lợi nhuận trong 2 năm 2005 và năm
2006 tương đối ổn định nhưng không cao, 1 đồng doanh thu chỉ thu được 0,05 đồng lợi nhuận Sang năm 2007, tỷ suất lợi nhuận giảm còn 0,04 Điều đó chứng tỏ doanh thu càng cao, chi phí sản xuất càng lớn nên lợi nhuận thu được vẫn còn thấp
Như vậy, qua nghiên cứu ta thấy: với quy mô sản xuất của nhà máy ngày càng
mở rộng thì doanh thu ngày càng tăng, nhưng lợi nhuận thu được không cao, do chi phí sản xuất lớn, hiệu quả sản xuất của nhà máy vẫn chưa tốt Để thực hiện mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận, nhà máy cần phải có các biện pháp tiết kiệm chi phí, hạ giá thành sản phẩm
2.6 Những thuận lợi và khó khăn của nhà máy
Hiện nay, nhà máy gạch đang đứng trước những thuận lợi và khó khăn to lớn, đặc biệt khi nước ta vừa mới gia nhập WTO Vì vậy, đòi hỏi phải có sự cố gắng nỗ lực của toàn thể cán bộ công nhân viên của nhà máy
2.6.1 Những thuận lợi
Thứ nhất, thị trường tiềm năng của nhà máy là rất lớn Thanh Hoá là một tỉnh đất rộng, người đông, dân số đứng thứ 2 trong cả nước và cũng là một tỉnh đang trên đà phát triển kinh tế, có rất nhiều kế hoạch xây dựng cơ sở vật chất cơ sở hạ
Trang 31tầng Trong khi đó: Gạch, ngói là một trong những nguyên liệu không thể thiếu được trong xây dựng Chính vì vậy, thị trường tiêu thụ sản phẩm gạch là rất lớn Thứ hai, sản phẩm của nhà máy sẽ có uy tín trên thị trường Vì nhà máy gạch thuộc Tổng công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hoá, là một công ty đã có uy tín và thương hiệu nổi tiếng trong địa bàn tỉnh, cũng như thị trường trong nước, về chất lượng sản phẩm Được tổ chức QUACER&AJA công nhận hệ thống chất lượng quốc tế ISO:9000-2000, được tặng quả cầu vàng hàng Việt Nam chất lượng cao tại Hội chợ triển lãm Giảng Võ- Hà Nội…
Thứ ba, nhà máy được xây dựng nơi có đầy đủ hệ thống thông tin liên lạc, cơ
sở hạ tầng, giao thông thuận lợi và đang phát triển, đồng thời là nơi gần nguồn nguyên liệu đầu vào Đây chính là yếu tố quan trọng để tiết kiệm chi phí vận chuyển
và các chi phí khác trong sản xuất
Thứ tư, hệ thống dây truyền công nghệ sản xuất tiên tiến, hiện đại được nhập khẩu từ nước ngoài với công suất tương đối lớn sẽ nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các sản phẩm Mặt khác, nước ta vừa gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO sẽ mang lại nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp tiếp cận và mở rộng thị trường mới, đẩy mạnh xuất khẩu
Thứ năm, cơ chế chính sách của nhà nước càng được nới lỏng, các thủ tục rườm rà đang dần được đơn giản hoá theo hướng có lợi cho các doanh nghiệp Điều này tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp nâng cao tính tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh
Thứ sáu, nhà máy có đội ngũ công nhân lành nghề, cán bộ công nhân viên có trình độ kỹ thuật cao, đều là những con người năng động sáng tạo trong sản xuất, cũng như luôn nắm bắt và thích ứng với điều kiện hội nhập kinh tế hiện nay
2.6.2 Những khó khăn:
Nhà máy tuy có rất nhiều thuận lợi, song khó khăn đặt ra cũng không ít cụ thể: Thứ nhất, cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi đối với nhà máy Chưa nói đến các tỉnh thành khác, chỉ riêng trong địa bàn tỉnh Thanh Hoá đã có trên 20 doanh nghiệp, công ty sản xuất gạch Tuynel Vì thế, trên thị trường sẽ có rất nhiều đối thủ cạnh tranh như Công ty vật liệu xây dựng Cẩm Trướng, nhà máy gạch Tuynel Đồng Văn…Điều khó khăn ở đây là các công ty này đều ra đời trước nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang
Trang 32Thứ hai, trong sản xuất kinh doanh thiếu vốn là điều không tránh khỏi đối với nhà máy Vì nhà máy hoạt động chủ yếu là nguồn vốn vay, nên trong sản xuất sẽ luôn ở thế bị động do thiếu vốn Trong khi các thủ tục vay vốn rườm rà, phức tạp,
đó chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng trì trệ trong sản xuất
Thứ ba, trên thị trường thế giới hiện nay đang có sự biến động mạnh mẽ và không ổn định về giá cả nguyên vật liệu đầu vào, đặc biệt là hàng hoá xăng dầu, năng lượng và than Với chỉ số giá cả luôn tăng vọt như hiện nay sẽ làm tăng chi phí nguyên liệu đầu vào, làm gia tăng giá thành sản phẩm, giảm khả năng cạnh tranh Thứ tư, Cơ chế chính sách nhà nước tuy đã có nới lỏng song vẫn chưa thực sự
ổn định, liên tục có những thay đổi đặc biệt là chính sách thuế, và các thủ tục vay vốn vẫn còn rườm rà và phức tạp
Thứ năm, sản xuất gạch phụ thuộc vào thời tiết do nguồn nguyên liệu chủ yếu
là đất sét và đất thịt nên gây không ít khó khăn cho hoạt động sản xuất kinh doanh
2.7 Phương hướng phát triển của nhà máy
Nâng cao hiệu quả kinh doanh, nâng cao khả năng năng cạnh tranh của sản phẩm cả về chất lượng và giá thành sản phẩm, thích ứng hơn nữa với cơ chế thị trường, với một nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và quốc tế
Trong các năm vừa qua, nhà máy mới chỉ tận dụng tối đa công suất 35 triệu viên/năm, đến 36triệu viên/năm Vì vậy, nhà máy luôn đặt mục tiêu tận dụng tối đa công suất trong sản xuất
Mặc dù, nhà máy mới thành lập được 5 năm, song hoạt động sản xuất kinh doanh rất phát triển Là nhà máy đầu tiên trong tỉnh đã hoạt động gần tối đa công suất, vì vậy trong tương lai nhà máy sẽ mở rộng quy mô sản xuất Đặc biệt, chú trọng đầu tư sản xuất thêm các loại sản phẩm mỏng trang trí trong xây dựng
Để đứng vững trong thị trường cạnh tranh, nhà máy luôn phải quan tâm đến chất lượng sản phẩm, chất lượng phục vụ khách hàng Lập các kế hoạch mở rộng, chiếm lĩnh thị trường thông qua việc xây dựng các hệ thống đại lý tại các huyện, thành phố trong tỉnh và ngoài tỉnh để quảng bá hình ảnh xây dựng và phát triển thương hiệu của mình
Trang 33PHẦN 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU GIÁ THÀNH SẢN PHẨM CỦA NHÀ MÁY TUYNEL SƠN TRANG
3.1 Phương pháp tập hợp chi phí và tính giá thành sản phẩm của nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang
Nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang áp dụng phương pháp tính giá thành theo theo
hệ số Trong quá trình sản xuất, các sản phẩm gạch 2 lỗ, gạch 3lỗ, gạch 4 lỗ, gạch đặc…đều sử dụng cùng một yếu tố đầu vào như vật liệu, chi phí than, điện, dầu, chi phí nhân công…Các sản phẩm này được quy đổi về sản phẩm gốc, thông qua hệ số quy đổi Thông thường hệ số quy đổi H = 1, được gọi là sản phẩm gốc Nhà máy gạch Tuynel Sơn Trang chủ yếu sản xuất gạch tuynel 2 lỗ, nên gạch 2 lỗ được xem là sản phẩm gốc
Hệ số quy đổi của nhà máy gạch như sau:
Biểu 3.1: Hệ số quy đổi của nhà máy gạch
STT Loại sản phẩm Hệ số quy đổi
Cách tính giá thành của nhà máy gạch:
Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ(Q0) = Tổng số lượng từng loại sản phẩm hoàn thành x hệ số quy đổi từng loại
Giá thành đơn vị sản phẩm i (Zi) = giá thành đơn vị sản phẩm gốc(Zo) x Hi
Giá thành đơn vị sản
phẩm gốc(Zo) =
Tổng giá thành của tất cả các loại sản phẩm gạch
Số lượng sản phẩm hoàn thành trong kỳ(Qo)
Trang 34Do sản phẩm gạch 2 lỗ là sản phẩm gốc của công ty, nên khi nghiên cứu biến động tổng giá thành sản phẩm tôi tập trung nghiên cứu vào sản phẩm gạch 2 lỗ, trên
cơ sở đó có thể biết được biến động tổng giá thành của các sản phẩm còn lại của nhà máy
3.2 Tình hình biến động tổng giá thành sản phẩm và giá thành đơn vị của gạch Tuynel 2 lỗ
Giá thành sản phẩm là toàn bộ các khoản chi phí mà doanh nghiệp bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh Cũng như các doanh nghiệp sản xuất khác, tổng chi phí sản xuất mà nhà máy bỏ ra bao gồm: chi phí nguyên nhiên vật liệu, năng lượng, chi phí nhân công, chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp, chi phí tài chính… Qua bảng biểu 3.2 ta thấy: tổng giá thành sản phẩm trong 3 năm qua tăng dần, với tốc độ phát triển bình quân là 9,8% Ngoài nguyên nhân chủ yếu là do nhà máy luôn hướng tới mục tiêu tối đa hoá công suất nên khối lượng sản phẩm sản xuất hằng năm tăng với tốc độ bình quân là 4,42% Còn nguyên nhân khác đó là giá nguyên liệu đầu vào của nhà máy chịu ảnh hưởng của tình hình biến động của giá cả thị trường trong nước cũng như thế giới Sự tăng giá của giá dầu và vàng…đã làm cho giá nguyên liệu đầu vào trong tất cả các ngành sản xuất tăng mạnh trong những năm gần đây
Sự biến động của tổng giá thành sản phẩm và khối lượng sản xuất kéo theo sự biến động của giá thành đơn vị sản phẩm So sánh mức tăng năm 2006 và 2005, giá thành đơn vị sản phẩm tăng 5,98%, cao hơn so với mức tăng năm 2007 Điều này chứng tỏ, tốc độ tổng tăng chi phí năm 2006 tăng cao hơn so với khối lượng sản xuất trong kỳ
Sự biến động của tổng giá thành sản phẩm và khối lượng sản xuất kéo theo sự biến động của giá thành đơn vị sản phẩm So sánh mức tăng năm 2006 và 2005, giá thành đơn vị sản phẩm tăng 5,98%, cao hơn so với mức tăng năm 2007 Điều này chứng tỏ, tốc độ tổng tăng chi phí năm 2006 tăng cao hơn so với khối lượng sản xuất trong kỳ
Trang 35Biểu 3.2: Tình hình biến động tổng giá thành, và giá thành đơn vị
Trang 363.3 Phân tích tình hình biến động của các khoản mục phí trong giá thành sản phẩm gạch 2 lỗ của công ty
Tổng giá thành sản phẩm là sự cấu thành của tất cả các loại chi phí trong sản xuất kinh doanh Sự tăng lên hay giảm đi của bất kỳ yếu tố chi phí nào cũng đều ảnh hưởng đến giá thành sản phẩm
Việc phân tích tình hình biến động của các khoản mục chi phí sẽ cho ta biết chi phí nào chiếm tỷ trọng lớn nhất và ảnh hưởng của nó đến giá thành sản phẩm Những chi phí nào chiếm tỷ trọng lớn nhất là những chi phí cần phải giảm nhiều nhất khi muốn hạ giá thành sản phẩm
Các khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm gạch 2 lỗ được thể hiện trên Biểu đồ 3.2
Biểu đồ 3.2: CÁC KHOẢN MỤC CHI PHÍ
Các khoản mục chi phí gạch Tuynel 2 lỗ
0 500000000
Để biết chi tiết hơn vể các khoản mục chi phí nhìn vào Biểu 3.3: