CƠ SỞ LÝ LUẬN CƠ BẢN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOẠT ĐỘNG XUẤT KHẨU
Cơ sở lí luận
Ngoại thương đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, đảm bảo lưu thông hàng hoá và dịch vụ giữa thị trường nội địa và quốc tế, đồng thời là một phần thiết yếu của cấu trúc kinh tế.
Xuất khẩu là một phần quan trọng của hoạt động ngoại thương, trong đó hàng hóa và dịch vụ được cung cấp cho thị trường quốc tế nhằm thu ngoại tệ Đây không chỉ là hành vi buôn bán đơn lẻ mà còn là một hệ thống quan hệ mua bán phức tạp, có tổ chức, với mục tiêu tạo ra lợi nhuận, thúc đẩy sản xuất, và chuyển đổi cơ cấu nền kinh tế Hoạt động xuất khẩu góp phần ổn định và nâng cao mức sống của người dân Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn rủi ro lớn do phải đối mặt với những hệ thống kinh tế khác mà các doanh nghiệp trong nước khó kiểm soát.
Ngày nay, xuất khẩu không chỉ đơn thuần là buôn bán mà còn phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia trong phân công lao động quốc tế Do đó, cần coi trọng xuất khẩu và thương mại quốc tế như những yếu tố then chốt cho sự phát triển kinh tế trong nước, thông qua việc tối ưu hóa phân công lao động và chuyên môn hóa quốc tế.
Xuất khẩu là hình thức kinh doanh mang lại lợi nhuận thông qua việc bán sản phẩm và dịch vụ ra nước ngoài, yêu cầu các sản phẩm và dịch vụ này phải được vận chuyển ra khỏi biên giới quốc gia.
Chủ thể tham gia xuất khẩu rất đa dạng bao gồm các cá nhân, doanh nghiệp, tổ chức, các chính phủ
Hàng hóa xuất khẩu bao gồm tất cả các sản phẩm mà quốc gia đó có lợi thế cạnh tranh trên thị trường quốc tế, giúp mang lại lợi ích kinh tế.
Thị trường xuất khẩu là thị trường nước ngoài với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm xuất khẩu, đòi hỏi sản phẩm phải có khả năng cạnh tranh Sự đa dạng của thị trường xuất khẩu phụ thuộc vào loại hàng hóa được xuất khẩu, dẫn đến sự khác biệt trong từng thị trường.
Hoạt động xuất khẩu liên quan đến việc đưa hàng hóa ra ngoài tiêu dùng quốc gia, với thị trường xuất khẩu phức tạp và chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố văn hóa, chính trị và pháp luật Điều này tạo ra nhiều rủi ro hơn so với hoạt động trao đổi thông thường Thêm vào đó, trong xuất khẩu, tiền tệ được sử dụng thường là ngoại tệ, ít nhất là đối với một bên trong giao dịch.
Xuất khẩu diễn ra trong nhiều lĩnh vực và điều kiện kinh tế, bao gồm hàng tiêu dùng, tư liệu sản xuất, máy móc thiết bị, công nghệ kỹ thuật cao, và cả hàng hóa hữu hình lẫn vô hình, nhằm mang lại lợi ích cho các quốc gia tham gia.
Hoạt động xuất khẩu diễn ra rộng rãi về không gian và thời gian, có thể kéo dài từ một ngày đến nhiều năm và bao gồm nhiều quốc gia Các doanh nghiệp xuất khẩu cần nắm vững thông tin về nhu cầu hàng hóa, thị hiếu, tập quán tiêu dùng, khả năng mở rộng sản xuất, giá cả và xu hướng biến động của thị trường Để tận dụng cơ hội trong thương mại quốc tế, các doanh nghiệp nên coi xuất khẩu là một phần thường xuyên trong tư duy kinh doanh của mình.
1.1.2.Vai trò của hoạt động xuất khẩu
1.1.2.1.Đối với nền kinh tế quốc dân nói chung
Trong bối cảnh kinh tế thị trường hiện nay, việc hội nhập vào thương mại quốc tế là điều kiện tiên quyết để một quốc gia phát triển bền vững, bất kể nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú Nếu không tham gia vào quá trình toàn cầu hóa, nền kinh tế tự cung tự cấp sẽ trở nên yếu kém và không thể theo kịp xu hướng phát triển toàn cầu, dẫn đến tình trạng tụt hậu Do đó, xuất khẩu đóng vai trò thiết yếu trong việc thúc đẩy nền kinh tế quốc dân và góp phần quan trọng vào sự phát triển của đất nước trên trường quốc tế.
- Xuất khẩu tạo điều kiện cho các quốc gia tận dụng được các lợi thế so sánh của mình
Mỗi quốc gia sở hữu những lợi thế riêng, và theo lý thuyết thương mại, các quốc gia nên chuyên môn hóa sản xuất những sản phẩm mà họ có lợi thế so sánh để trao đổi với nhau Việc này không chỉ giúp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa mà còn thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ổn định và bền vững thông qua việc phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn Quá trình này đặc biệt mang lại cơ hội cho các nước, đặc biệt là các nước đang phát triển, trong việc thúc đẩy công nghiệp hóa dựa trên ứng dụng thành quả của cuộc cách mạng công nghệ khoa học.
- Xuất khẩu tạo nguồn thu ngoại tệ
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn ngoại tệ, phục vụ cho nhập khẩu công nghệ và máy móc thiết bị cần thiết cho sản xuất trong nước Điều này không chỉ thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước mà còn tạo ra nguồn dự trữ ngoại tệ dồi dào, góp phần ổn định nội tệ và kiểm soát lạm phát Đặc biệt, đối với Việt Nam - một quốc gia đang phát triển với đồng tiền không chuyển đổi, ngoại tệ từ xuất khẩu giúp cân bằng cung cầu, ổn định sản xuất và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao khả năng cạnh tranh Đẩy mạnh xuất khẩu giúp các nước kém phát triển chuyển từ nông nghiệp sang công nghiệp, phù hợp với xu hướng toàn cầu Để nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh, Việt Nam cần tập trung vào chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phát triển các hướng xuất khẩu, khai thác lợi thế so sánh Các doanh nghiệp cũng cần đổi mới công nghệ, sản phẩm và cải thiện chất lượng để tăng cường khả năng cạnh tranh, giữ vững thị trường trong nước và mở rộng ra quốc tế.
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết vấn đề việc làm, xoá đói giảm nghèo và cải thiện đời sống của người dân, đặc biệt là lao động tại các vùng trung du miền núi Tại Việt Nam, tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm chiếm hơn 30% lực lượng lao động, khiến việc tạo ra công ăn việc làm trở thành thách thức lớn Kinh nghiệm cho thấy, sự phát triển của ngành công nghiệp, nông nghiệp và dịch vụ trong nước cần có sự hỗ trợ mạnh mẽ từ ngoại thương để thu hút thêm lao động Việc đưa lao động tham gia vào thị trường lao động quốc tế là giải pháp hiệu quả nhất nhằm giảm thiểu tình trạng thất nghiệp Sản xuất hàng hóa xuất khẩu không chỉ tạo ra hàng triệu việc làm với thu nhập ổn định mà còn mang lại ngoại tệ để nhập khẩu hàng tiêu dùng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người dân.
Xuất khẩu đóng vai trò quan trọng trong việc mở rộng và thúc đẩy quan hệ kinh tế đối ngoại, từ đó nâng cao vị thế kinh tế của các quốc gia trên thị trường quốc tế.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Mục tiêu nghiên cứu
Góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu sản phẩm chè tại Tổng công ty chè Việt Nam
- Hệ thống hoá được những lý luận cơ bản về tổ chức hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp
- Đánh giá được tình hình sản xuất kinh doanh của Tổng công ty chè Việt Nam
- Đánh giá được tình hình và kết quả hoạt động xuất khẩu tại Tổng công ty chè Việt Nam
- Đề xuất một số giải pháp gáp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại Tổng công ty chè Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu
- Cơ sở lí luận về hoạt động xuất khẩu trong doanh nghiệp
- Tình hình và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của Tổng công ty chè Việt Nam
- Tình hình và hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty chè Việt Nam
- Các giải pháp góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại Tổng công ty chè Việt Nam.
Phương pháp nghiên cứu
2.3.1.Phương pháp thu thập số liệu
Phương pháp kế thừa là việc tham khảo các tài liệu nghiên cứu liên quan, bao gồm báo, tạp chí, khóa luận từ các khóa trước, cùng với các báo cáo về tình hình sản xuất kinh doanh và các báo cáo khác từ Tổng công ty.
-Phương pháp khảo sát thực tiễn sản xuất kinh doanh tại cơ sở
-Phương pháp chuyên gia: Phỏng vấn một số lãnh đạo, chuyên viên Tổng công ty
2.3.2 Phương pháp tổng hợp, phân tích số liệu
- Phương pháp so sánh, tổng hợp, thống kê, tính các chỉ số bình quân.
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Tình hình và kết quả sản xuất của Tổng công ty chè Việt Nam
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty
Tổng công ty chè Việt Nam, tiền thân là liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam, được thành lập vào năm 1974 Liên hiệp này được hình thành từ sự hợp nhất của các nhà máy chế biến chè xuất khẩu trung ương và một số xí nghiệp chè Hương ở miền Bắc Nhiệm vụ chính của liên hiệp là thực hiện chế biến và xuất khẩu chè theo kế hoạch của Nhà nước.
Từ năm 1975 đến 1979, hoạt động của các xí nghiệp gặp nhiều khó khăn do mâu thuẫn trong quản lý sản xuất nguyên liệu giữa trung ương và địa phương, cũng như giữa các Bộ Hệ quả là sản lượng chè chế biến chỉ đạt dưới 50% công suất.
Tháng 3 đến tháng 9 năm 1979, chính phủ ra quyết định số 75/TTg và 244/TTg về thống nhất tổ chức ngành chè, hợp nhất hai khâu trồng và chế biến, giao các nông trường chè của địa phương cho trung ương quản lý thống nhất
Năm 1980, Liên hiệp các xí nghiệp chè chính thức được thành lập và hoạt động trong 15 năm, đến năm 1995, toàn liên hiệp có 21 xí nghiệp công-nông nghiệp và 15 đơn vị dịch vụ Các xí nghiệp này được phân bố chủ yếu tại các vùng trọng điểm sản xuất chè, tập trung ở trung du và miền núi phía Bắc.
Tổng công ty chè Việt Nam được thành lập theo quyết định số 394-NN-TCCB/QĐ ngày 29/12/1995 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, nhằm sắp xếp lại tổ chức của Liên hiệp các xí nghiệp công nông nghiệp chè Việt Nam Đến năm 2005, theo quyết định số 203/2005/QĐ-TTg ngày 11/8/2005 và quyết định số 2374/QĐ-BNN-ĐM ngày 13/9/2005, Tổng công ty được tổ chức lại theo mô hình công ty mẹ - công ty con, với Tổng công ty chè là công ty mẹ, quản lý 8 công ty con, 6 công ty liên kết và 5 công ty Nhà nước.
Tổng công ty Chè Việt Nam có tên giao dich quốc tế là:
Tên viết tắt là: Vinatea corp
Trụ sở chính đặt tại: 46 Tăng Bạt Hổ, quận Hai Bà Trưng, Thành phố Hà Nội
Tổng công ty chè Việt Nam (Vinatea) hiện là doanh nghiệp hàng đầu trong ngành sản xuất và kinh doanh chè tại Việt Nam, vượt trội so với hơn 600 công ty khác Vinatea lớn hơn nhiều so với doanh nghiệp đứng thứ hai, dẫn đầu về vốn, tài sản, công nghệ, kỹ thuật, cũng như nguồn nhân lực chuyên môn cao và lành nghề.
Vinatea sở hữu Trung tâm phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiệp, nhằm đảm bảo sức khỏe và tinh thần cho cán bộ công nhân viên chức trong toàn Tổng công ty.
Vinatea sở hữu một cơ cấu tổ chức vững mạnh với các đơn vị thành viên phân bố khắp Việt Nam, tận dụng các vùng nguyên liệu chè phong phú và chất lượng cao.
3.1.2 Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh của Tổng công ty
3.1.2.1 Đặc điểm về cơ sở vật chất kỹ thuật của Tổng công ty
Phần lớn các thiết bị chè của Tổng công ty là những thiết bị nhập từ Liên
Từ năm 1955 đến 1977, các thiết bị chế biến chè đã được sửa chữa và thay thế nhiều lần Đến cuối năm 2004, Tổng công ty có 45 nhà máy và xưởng chế biến với công suất từ 6 tấn/ngày trở lên, tổng công suất chế biến đạt 879 tấn chè búp tươi/ngày và năng lực chế biến lên tới 40.883 tấn/năm Tổng công ty trực tiếp quản lý 26 nhà máy, với tổng công suất chế biến 341 tấn búp tươi/ngày, trong đó chè đen là 239 tấn/ngày và chè xanh.
Tổng công ty quản lý 26 dây chuyền công nghệ, bao gồm 16 dây chuyền sản xuất chè đen và 10 dây chuyền sản xuất chè xanh, với tổng công suất đạt 102 tấn/ngày Trong số các dây chuyền này, 23% được đánh giá là tiên tiến, 58% thuộc loại công nghệ trung bình, trong khi 19% vẫn là công nghệ lạc hậu, cho thấy cần cải tiến đáng kể trong hệ thống sản xuất.
Biểu 3.1: Hiện trạng thiết bị công nghệ do TCT chè Việt Nam quản lý Đánh giá
Thiết bị công nghệ Nước chế tạo
Năm sản xuất số lượng Tiên tiến Trung bình Lạc hậu
Chè đen OTD Ấn Độ 1996-1998 3 3
Chè đen OTĐ LX- VN 1970-1999 8 8
Chè đen OTĐ VN- TQ 1991 5 2 3
Chè xanh Nhật Bản Nhật Bản 1994-1996 2 2
Chè xanh Pau Chung VN-ĐL 1994 1 1
Chè xanh, chè hương VN-TQ-ĐL 1995 7 5 2
(Nguồn: Phòng kĩ thuật) 3.1.2.2 Đặc điểm cơ cấu tổ chức của Tổng công ty chè Việt Nam
Tổng công ty chè Việt Nam hoạt động theo mô hình công ty mẹ - công ty con, với cấu trúc tổ chức được sắp xếp hợp lý nhằm tối ưu hóa hiệu quả quản lý và phát triển bền vững trong ngành chè.
• Công ty mẹ: Văn phòng cơ quan Tổng công ty
• Các công ty hạch toán phụ thuộc
+ Công ty chè Hải Phòng
+ Công ty chè Sài Gòn
+ Công ty chè Bắc Sơn
+ Công ty thương mại và du lịch Hồng Trà
+ Công ty TNHH một thành viên: Công ty chè Mộc Châu,Công ty chè Long Phú, Công ty chè Sông Cầu
Công ty cổ phần do Tổng công ty nắm giữ cổ phần chi phối bao gồm: Công ty cổ phần chè Trần Phú, Công ty cổ phần chè Nghĩa Lộ và Công ty cổ phần chè Liên Sơn.
+ Công ty liên doanh do Tổng công ty giữ cổ phần chi phối: Công ty liên doanh chè Phú Đa
+ Công ty hoạt động ở nước ngoài có 100% vốn của Tổng công ty: Công ty chè Ba Đình
• Các công ty liên kết
+ Công ty cổ phần chè Quân Chu
+ Công ty cổ phần chè Kim Anh
+ Công ty cổ phần chè Yên Bái
+ Công ty cổ phần chè Hà Tĩnh
+ Công ty cổ phần chè Thái Nguyên
+ Công ty cổ phần Thái Bình Dương
+ Công ty cổ phần Xây lắp – vật tư kĩ thuật
+ Công ty cổ phần cơ khí chè
+ Công ty liên doanh Indochine
• Các đơn vị sự nghiệp
+ Trung tâm phục hồi chức năng và điều trị bệnh nghề nghiêp Đồ Sơn
Bộ máy điều hành của tổng công ty chè Việt Nam được quy định như sau:
Hội đồng quản trị của Tổng công ty bao gồm Chủ tịch hội đồng, Tổng giám đốc, Chủ tịch hội đồng khoa học kỹ thuật, Trưởng ban kiểm soát và Viện trưởng viện nghiên cứu chè Hội đồng này có nhiệm vụ quản lý hoạt động của Tổng công ty và chịu trách nhiệm về sự phát triển theo nhiệm vụ mà Nhà nước giao phó.
Ban kiểm soát gồm 4 thành viên, bao gồm một trưởng ban là thành viên Hội đồng quản trị, một chuyên viên kế toán, một thành viên do Đại hội đại biểu công nhân viên chức Tổng công ty giới thiệu, và một thành viên do tổng cục trưởng Tổng cục quản lý vốn và tài sản Nhà nước giới thiệu Nhiệm vụ của Ban kiểm soát là kiểm tra và giám sát các hoạt động điều hành của Tổng công ty, bộ máy giúp việc, cũng như các đơn vị thành viên trong lĩnh vực tài chính, đảm bảo chấp hành pháp luật, điều lệnh của Tổng công ty và các nghị quyết của Hội đồng quản trị.
Tổng giám đốc là người đại diện pháp nhân của Tổng công ty, có trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và giữ vị trí quyền điều hành cao nhất trong tổ chức.
Hiện trạng xuất khẩu chè của Tổng công ty
3.2.1 Công tác tổ chức hoạt động kinh doanh xuất khẩu của Tổng công ty 3.2.1.1 Nghiên cứu thị trường
Trước năm 1990, Tổng công ty chủ yếu xuất khẩu theo hình thức hàng đổi hàng, do đó việc tìm kiếm thị trường không phải là ưu tiên Từ năm 1991 đến 1995, hoạt động xuất khẩu chủ yếu dựa vào các hợp đồng trả nợ Kể từ năm 1996, khi Tổng công ty đã tự chủ trong sản xuất kinh doanh, việc mở rộng và phát triển thị trường trở thành mục tiêu hàng đầu Tổng công ty duy trì mối quan hệ với khách hàng cũ và đồng thời tìm kiếm khách hàng mới có nhu cầu tiêu thụ chè xuất khẩu, thông qua các văn phòng đại diện và gửi mẫu hàng để giới thiệu về công ty Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng tích cực quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng và tham gia các hội chợ triển lãm quốc tế tại Việt Nam.
3.2.1.2 Công tác tạo nguồn hàng
Công tác tạo nguồn hàng cho Tổng công ty không phức tạp, với trụ sở tại Hà Nội và nguồn chè phân bố khắp cả nước Cán bộ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu cần xuống trực tiếp các khu vực trồng chè để nắm bắt tình hình cung ứng và đánh giá chất lượng sản phẩm Tuy nhiên, việc thu mua tại chỗ không thường xuyên do số lượng cán bộ hạn chế Để khắc phục, Tổng công ty chuyển giao mua nguyên vật liệu cho các xí nghiệp trực thuộc và ký hợp đồng đứt đoạn để mua nguyên liệu Giá cả phụ thuộc vào mùa vụ, giá trị sản lượng và nhu cầu tiêu dùng trong và ngoài nước.
Giá cả của mặt hàng chè thường không ổn định và thường được xác định dựa trên giá hợp đồng xuất khẩu Do Việt Nam chỉ chiếm một thị phần nhỏ trong thị trường chè toàn cầu, nên giá chè trong nước chịu ảnh hưởng lớn từ giá cả trên thị trường thế giới.
3.2.1.3 Đàm phán trước khi ký kết
Việc đàm phán giữa Tổng công ty và khách hàng được thực hiện linh hoạt, tùy thuộc vào từng đối tượng Đối với khách hàng thường xuyên, quy trình đàm phán đơn giản hơn, khi bên mua chỉ cần gửi yêu cầu về mặt hàng, quy cách, khối lượng và mức giá; nếu Tổng công ty chấp thuận, hợp đồng coi như đã ký kết Ngược lại, đối với khách hàng mới, đàm phán diễn ra kỹ lưỡng hơn do thiếu thông tin cụ thể Tổng công ty sẽ gửi mẫu chào hàng và đảm bảo hàng giao đúng theo mẫu đã thỏa thuận, cùng với giá cả và điều kiện giao hàng được thống nhất trước khi ký hợp đồng Thông thường, các cuộc đàm phán chủ yếu diễn ra qua thư tín, điện thoại và fax.
Sau khi hoàn tất quá trình đàm phán thành công, Tổng công ty tiến hành ký kết hợp đồng xuất khẩu Hợp đồng này không chỉ bao gồm các điều khoản thông thường mà còn cần chú ý đến một số vấn đề quan trọng khác.
Đối với các thị trường chiếm thị phần lớn hoặc các khách hàng quen thuộc của Tổng công ty, giá chung cho mặt hàng chè thường dựa trên giá chè của thị trường thế giới và nước nhập khẩu Mức giá mà khách hàng đề xuất sẽ được Tổng công ty xem xét và chấp nhận.
Trong thị trường bán lẻ, giá được xác định từ giá thành sản phẩm Tổng công ty sẽ đưa ra giá chào hàng kèm theo mẫu hàng, sau đó hai bên sẽ thỏa thuận và bàn bạc để đạt được phương án giá hợp lý.
• Điều kiện cơ sở giao hàng: Tổng công ty thưòng thực hiện hợp đồng xuất khẩu theo giá FOB(Free, On, Board) Hải Phòng
Tổng công ty thường sử dụng phương thức nhờ thu theo điều kiện
D/P (Documentary against payment) yêu cầu người mua thanh toán hối phiếu trước khi ngân hàng phát hành chứng từ gửi hàng Trong khi đó, D/A (Documentary against acceptance) áp dụng cho khách hàng quen thuộc và thường sử dụng phương thức tín dụng chứng từ L/C để thực hiện thanh toán.
Tổng công ty thực hiện thủ tục xuất hàng tại các kho và phối hợp với hải quan kiểm tra hàng vào ngày giao hàng Hàng hóa sau đó sẽ được vận chuyển đến cảng Hải Phòng để giao nhận, trong khi bộ chứng từ sẽ được chuyển từ phòng kinh doanh xuất nhập khẩu sang phòng tài chính kế toán để hoàn tất thanh toán.
3.2.2 Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu
Từ năm 1998 đến 2001, sản lượng xuất khẩu chè của Tổng công ty tăng nhanh, đạt 29.770 tấn, tăng 1,6 lần chỉ trong ba năm Tuy nhiên, vào năm 2002, sản lượng xuất khẩu giảm mạnh do khó khăn từ hai thị trường chính là Pakistan và Iraq, mặc dù cả nước có 163 đơn vị tham gia xuất khẩu chè, tổng sản lượng đạt 71.202 tấn, trong đó Tổng công ty dẫn đầu với 24.013 tấn, chiếm hơn 34% tổng sản lượng Năm 2003, sản lượng xuất khẩu tiếp tục giảm mạnh, chủ yếu do chiến tranh tại Iraq, khiến Tổng công ty không thể tiếp cận thị trường này, kết thúc năm 2003 với chỉ 6.715 tấn, tương đương 23,5% so với năm 2002.
Sản lượng xuất khẩu trong giai đoạn 2004-2007 có xu hướng tăng lên với tốc độ bình quân tăng 7,2% Năm 2004 đạt 17,279 nghìn tấn đến năm 2007 đạt
Trong giai đoạn này, thị trường xuất khẩu đã đạt 21,300 tấn và tương đối ổn định, bên cạnh các thị trường truyền thống, Tổng công ty đã mở rộng sang các thị trường mới như Nga, Đức, Đông Âu và Pakistan Với cam kết duy trì uy tín với các đối tác hiện tại và tìm kiếm khách hàng mới, Tổng công ty đã gặt hái nhiều thành công và ngày càng phát triển.
Tổng công ty chè Việt Nam là một trong những doanh nghiệp xuất khẩu chè hàng đầu của Việt Nam, với sản lượng xuất khẩu chiếm 20-22% toàn quốc, đặc biệt năm 2002 đạt đến 34%.
Kim ngạch xuất khẩu của Tổng công ty có sự biến động không đều, chủ yếu do giá chè đen xuất khẩu giảm nhanh với tốc độ bình quân 11,5% Đặc biệt, năm 2003, việc mất thị trường xuất khẩu chủ lực là Iraq đã khiến giá chè đen xuất khẩu sang các thị trường khác chỉ đạt 732,94 USD/tấn, giảm 39,2% so với năm 2002.
Biểu 3.5: Sản lượng và kim ngạch xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt Nam
Sản lượng (1000 tấn) Kim ngạch (triệu USD)
Vinatea Cả nước Tỷ lệ (%) Vinatea Cả nước Tỷ lệ (%)
( Nguồn: Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu) 3.2.3 Mặt hàng xuất khẩu của Tổng công ty
Trong những năm gần đây, Tổng công ty đã tập trung vào việc điều chỉnh cơ cấu mặt hàng xuất khẩu chè nhằm đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các thị trường Tình hình này được thể hiện rõ qua biểu 3.6 về các loại chè xuất khẩu.
Biểu 3.6: Cơ cấu chủng loại xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt Nam Loại chè Năm 2004 Năm 2005 Năm2006 Năm2007
(Nguồn:Phòng kinh doanh xuất nhập khẩu)
Chè đen chiếm 83% tổng sản lượng xuất khẩu của Tổng công ty, là mặt hàng chủ lực được đầu tư công nghệ hiện đại Sự lựa chọn này dựa trên kinh nghiệm truyền thống và nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng quốc tế, đặc biệt là tại các thị trường Châu Âu và Trung Cận Đông Các thị trường khó tính như Anh, Mỹ và Nhật Bản rất chú trọng đến màu sắc của nước chè, và chè đen đáp ứng tiêu chuẩn với màu đỏ tươi, trong suốt Do đó, chè CTC và các loại chè cấp thấp và trung được các nhà sản xuất đặc biệt quan tâm Tổng công ty đã xác định chiến lược tập trung vào mặt hàng chè đen, khai thác nhu cầu thị hiếu tiêu dùng và mở rộng thị trường xuất khẩu một cách hợp lý.
Những thành công và tồn tại trong hoạt động xuất khẩu của Tổng công ty chè Việt Nam
Sản phẩm của Tổng công ty đã được phân phối đến hơn 40 quốc gia, bao gồm cả những thị trường khó tính như Anh, Mỹ, Nhật Bản và Đài Loan, điều này chứng tỏ sự thành công lớn trong việc thiết lập và mở rộng thị trường của công ty.
Chất lượng sản phẩm chè của Tổng công ty đã được cải thiện đáng kể nhờ vào việc thay đổi điều kiện sản xuất tại các nhà máy Tổng công ty và các đơn vị thành viên đã nâng cao năng suất và giảm bớt lao động nặng nhọc cho người lao động Đồng thời, công tác kiểm tra giám sát trong sản xuất cũng được tăng cường, chuyển từ kiểm tra thụ động sang phòng ngừa để đảm bảo các thông số kỹ thuật Quy trình chế biến đã được xây dựng riêng, phù hợp với điều kiện nguyên liệu và khí hậu.
Ngành công nghiệp chế biến đang có sự chuyển mình mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cả khách hàng trong nước và quốc tế Việc đổi mới thiết bị và công nghệ đã giúp nâng cao quy trình chế biến sản phẩm, đồng thời cải thiện mẫu mã và hình thức sản phẩm để phù hợp hơn với thị trường.
Để đảm bảo cung cấp hàng hóa chất lượng ổn định và đúng hạn, Tổng công ty đã thiết lập mối quan hệ hợp tác với các nhà cung cấp trong nước thông qua việc đầu tư ứng vốn và hướng dẫn kỹ thuật, đồng thời xây dựng cơ chế giá hợp lý để bảo vệ quyền lợi của nhà sản xuất Nhờ đó, Tổng công ty có thể huy động số lượng hàng lớn với chất lượng đồng đều khi khách hàng yêu cầu Bên cạnh đó, Tổng công ty cũng đã phát triển một trung tâm tinh chế chè, giúp đảm bảo sự đồng nhất và ổn định trước khi xuất khẩu, qua đó giữ vững vị thế dẫn đầu trong ngành kinh doanh chè tại Việt Nam về uy tín và khối lượng xuất khẩu.
Đội ngũ cán bộ kinh doanh giàu kinh nghiệm của Tổng công ty, với hơn 70% có trình độ đại học và trên đại học, đã đóng góp đáng kể vào thành công chung Đặc biệt, 50% trong số đó có khả năng đọc viết và giao dịch thành thạo một ngoại ngữ, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác thu mua hàng hóa và giao dịch với các đối tác quốc tế.
Tổng công ty, phối hợp với Hiệp hội chè Việt Nam, đã triển khai chương trình xúc tiến thương mại nhằm quảng bá sản phẩm tại các hội chợ quốc tế như Hội chợ chè và cà phê Châu Á ở Hamburg, Đức và hội chợ thực phẩm thế giới tại Matxcova.
Mặc dù Tổng công ty chè Việt Nam đã mở rộng một số thị trường mới, nhưng chất lượng sản phẩm vẫn chưa đạt tiêu chuẩn quốc tế, dẫn đến việc không đáp ứng được nhu cầu của người tiêu dùng Sản phẩm chè còn thiếu sự đa dạng và chuyển biến chậm trong việc thay đổi cơ cấu sản phẩm Hiện tại, mặt hàng chủ yếu vẫn là chè rời, trong khi các sản phẩm như chè túi nhúng chưa thực sự thâm nhập vào thị trường quốc tế, gây ra hiệu quả kinh doanh thấp.
Sản phẩm chè xuất khẩu của Tổng công ty đang gặp khó khăn về tính cạnh tranh, cả về chất lượng lẫn giá cả Năng lực tiếp thị và mở rộng thị trường còn hạn chế do thiếu thông tin và chiến lược tiếp cận phù hợp, dẫn đến khó khăn trong việc đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác và tìm kiếm đối tác mới, đặc biệt khi thị trường Iraq gặp khó khăn.
Trình độ công nghệ kỹ thuật trong ngành chè còn nhiều hạn chế, mặc dù đã có nhiều cải tiến và áp dụng công nghệ mới, chủ yếu là chế biến chè xanh và chè xanh Nhật Bản Tuy nhiên, sản phẩm từ các công nghệ này chỉ đáp ứng được một số thị trường nhập khẩu chè xanh, trong khi sản phẩm xuất khẩu chủ yếu của Tổng công ty là chè đen, vẫn sử dụng công nghệ từ những năm 80.
Đội ngũ công nhân kỹ thuật có tay nghề cao đang thiếu hụt nghiêm trọng, dẫn đến việc phát hiện và xử lý khuyết tật sản phẩm chậm trễ Đồng thời, sự gia tăng số lượng các xưởng chế biến nhỏ đã ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng chung của sản phẩm chè, khiến sản phẩm không đạt tiêu chuẩn về chất lượng và vệ sinh công nghiệp Điều này đã tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt, trong khi chè thu mua lại già, làm giảm chất lượng cả về nội dung lẫn ngoại hình.
Một số ý kiến đề xuất góp phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại Tổng công ty chè
Phân tích thực trạng xuất khẩu chè của Tổng công ty chè Việt Nam cho thấy việc đẩy mạnh xuất khẩu là rất quan trọng trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập kinh tế Để đạt được điều này, cần thay đổi cơ cấu xuất khẩu nhằm tận dụng tối đa lợi thế so sánh của đất nước, đồng thời tăng cường cả số lượng và chất lượng hàng hóa xuất khẩu, từ đó thu hút ngoại tệ và nâng cao hiệu quả xuất khẩu.
Dựa trên thực trạng kinh doanh xuất khẩu chè tại Tổng công ty chè Việt Nam, tôi xin đề xuất một số biện pháp nhằm cải thiện hiệu quả xuất khẩu mặt hàng này.
3.4.1 Về phía Tổng công ty
3.4.1.1 Các biện pháp duy trì và mở rộng thị trường
• Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu thị trường
Mục tiêu nghiên cứu thị trường là xác định khách hàng ổn định cho từng mặt hàng xuất khẩu và dung lượng hàng xuất khẩu, đồng thời phát hiện thị trường mới Sản phẩm chè của Tổng công ty đã có mặt trên thị trường quốc tế, với nhiều thị trường quen thuộc và cả những thị trường mới Do đó, củng cố và tìm kiếm thị trường chè là nhiệm vụ hàng đầu trong chiến lược xuất khẩu của Tổng công ty.
Thị trường Liên Bang Nga, các nước SNG và Đông Âu đã nhập chè Việt Nam trong suốt 40 năm qua, do đó cần duy trì sự ổn định và gia tăng thị phần xuất khẩu chè Để đạt được điều này, cần chú trọng vào công tác tiếp thị và nghiên cứu nhu cầu, thị hiếu của người tiêu dùng tại các thị trường này nhằm cải tiến chất lượng sản phẩm.
Thị trường Trung Cận Đông, bao gồm Iraq, Iran, Libya, và Jordan, mặc dù còn mới nhưng chứa đựng nhiều tiềm năng lớn cho xuất khẩu của Tổng công ty Để tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu, cần có chính sách ổn định và bền vững Đồng thời, việc đẩy mạnh tiếp thị, quảng cáo và giới thiệu sản phẩm mới, đặc biệt là các sản phẩm trà tổng hợp phù hợp với tập quán không sử dụng đồ uống có cồn của người theo đạo Hồi, là vô cùng cần thiết.
Thị trường Bắc Mỹ và Tây Âu mặc dù khó tính nhưng đầy hứa hẹn, với giá chè xuất khẩu cao hơn so với các thị trường khác Để mở rộng thị trường Tây Âu, việc tăng cường tiếp thị dưới nhiều hình thức là rất quan trọng Tổng công ty cần đầu tư vào việc nắm bắt thông tin thị trường chè toàn cầu và nghiên cứu các xu hướng biến đổi của thị trường chè để thực hiện tốt công tác này.
Để nâng cao hiệu quả trong công tác nghiên cứu thị trường và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu, cần áp dụng các phương pháp và công cụ phù hợp nhằm xác định nhu cầu của thị trường mục tiêu và xu hướng tiêu dùng Việc phân tích dữ liệu thị trường, khảo sát khách hàng và theo dõi đối thủ cạnh tranh sẽ giúp doanh nghiệp có cái nhìn rõ ràng hơn về cơ hội và thách thức trong xuất khẩu.
Tổng công ty cần thành lập bộ phận chuyên trách thu thập và xử lý thông tin thị trường chè, tổ chức các lớp bồi dưỡng nhằm nâng cao năng lực cho đội ngũ marketing, đồng thời cần có chính sách tuyển chọn nhân sự cho công tác này một cách kỹ lưỡng và hiệu quả.
Tổng công ty cần nhận thức rằng các hội thảo, hội chợ và triển lãm trong và ngoài nước là cơ hội quan trọng để trao đổi thông tin và nắm bắt nhu cầu thị trường Việc thu thập thông tin và tiếp xúc với đối tác, bạn hàng và đối thủ cạnh tranh sẽ giúp Tổng công ty xác định hướng phát triển kinh doanh phù hợp, đặc biệt trong việc lựa chọn thị trường và sản phẩm thích hợp.
Ba là, Tổng công ty thông qua các chi nhánh đại diện tại nước ngoài, thúc đẩy việc giao lưu và tiếp xúc với khách hàng tại thị trường đó Để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng, Tổng công ty cần xây dựng mối quan hệ tốt, thường xuyên gặp gỡ và lắng nghe ý kiến của họ nhằm phát triển chiến lược mới hiệu quả hơn.
Công tác tìm kiếm thông tin và tiếp cận thị trường là hoạt động quan trọng, không thể thực hiện nửa vời Tổng công ty cần nỗ lực và đầu tư thích đáng để đạt được kết quả tốt, từ đó xác định đúng thị trường mục tiêu và có biện pháp khai thác hiệu quả.
• Xây dựng chiến lược kinh doanh trong xuất khẩu chè
Nhu cầu sử dụng chè trên thế giới không ổn định và ngày càng yêu cầu chất lượng cao hơn Do đó, khi xây dựng chiến lược xuất khẩu, cần đa dạng hóa loại chè, mẫu mã và kiểu dáng, thay vì chỉ tập trung vào một mặt hàng hay thị trường quen thuộc Đồng thời, cần mở rộng mối quan hệ thương mại với nhiều thị trường tiềm năng và mới, nhằm đảm bảo hoạt động xuất khẩu diễn ra liên tục và hạn chế tình trạng buôn bán theo kiểu thương vụ.
• Hoàn thiện chiến lược quảng cáo, chào hàng, hoạt động marketing
Chính sách giao tiếp và khuyếch trương là công cụ quan trọng giúp Tổng công ty xây dựng hình ảnh sản phẩm Để sản phẩm chè thâm nhập sâu hơn vào thị trường, Tổng công ty cần lên kế hoạch tăng cường giới thiệu sản phẩm tại các quầy hàng, hội chợ và triển lãm.
Mặc dù nhãn hiệu chè của Tổng công ty đã được cải tiến trong những năm gần đây, nhưng vẫn chưa thể sánh bằng các nhãn hiệu chè nhập ngoại Do đó, Tổng công ty cần đầu tư vào việc đổi mới mẫu mã bao bì sản phẩm và đa dạng hóa sản phẩm Bên cạnh đó, việc áp dụng phương thức bán hàng linh hoạt cũng là điều cần thiết để nâng cao sức cạnh tranh.
Chiến lược giá cả của Tổng công ty chè xuất khẩu phụ thuộc nhiều vào giá thị trường thế giới, điều này cũng phản ánh tình trạng chung của nông sản Việt Nam Do đó, Tổng công ty cần tiến hành nghiên cứu giá một cách kỹ lưỡng để tránh tình trạng không chủ động trong việc xuất hàng khi giá chè biến động Việc dự đoán chính xác xu hướng tăng giảm của giá cả sẽ giúp Tổng công ty giảm thiểu rủi ro và thiệt hại.
3.4.1.2 Nâng cao chất lượng hàng xuất khẩu