* Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về[r]
Trang 1TẬP HUẤN Giáo dục bảo vệ môi trường trong môn sinh học bậc THCS
Tình hình môi trường thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng hiện nay đang bị ô nhiễm nghiêm trọng Trước tình hình đó việc giáo dục ý thức, trách nhiệm cho học sinh nói riêng và mọi người nói chung biết bảo vệ môi trường là điều hết sức cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội
PHẦN I : MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ MÔI TRƯỜNG
TS PHẠM VĂN SƠN
1 Môi trường và một số thuật ngữ, khái niệm liên quan
Môi trường
Định nghĩa về môi trường (theo nghĩa rộng): Môi trường là tổng hợp các điều kiện bên ngoài có
ảnh hưởng đến một vật thể hoặc một sự kiện
Định nghĩa môi trường (theo nghĩa hẹp): Môi trường sống là tổng hợp những điều kiện bên
ngoài có ảnh hưởng đến đời sống và sự phát triển của cơ thể (Lê Văn Khoa, 1995)
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh
hưởng xấu đến con người và sinh vật
Sự cố môi trường là tai biến hoặc rủi ro xảy ra trong quá trình hoạt động của con người hoặc biến đổi
thất thường của tự nhiên, gây ô nhiễm, suy thoái hoặc biến đổi môi trường nghiêm trọng
Chất gây ô nhiễm là chất hoặc yếu tố vật lí khi xuất hiện trong môi trường thì làm cho môi trường bị
ô nhiễm
Chất thải là vật chất ở thể rắn, lỏng, khí được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, sinh hoạt hoặc hoạt
động khác
Chất thải nguy hại là chất thải chứa yếu tố độc hại, phỏng xạ, dễ cháy, dễ nổ, dễ ăn mòn, dễ lây
nhiễm, gây ngộ độc hoặc đặc tính nguy hại khác
Khí thải gây hiệu ứng nhà kính là các loại khí tác động đến sự trao đổi nhiệt giữa Trái đất và không
gian xung quanh làm nhiệt độ của không khí bao quanh bề mặt trái đất nóng lên
Hoạt động BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác
động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại đến
khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và BVMT
Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh,
về hàm lượng của chất gây ô nhiễm trong chất thải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ để quản lí và BVMT
Quản lí chất thải là hoạt động phân loại, thu gom, vận chuyển, giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế, xử lí,
tiêu huỷ, thải loại chất thải
Hệ sinh thái là hệ quần thể sinh vật trong một khu vực địa lí tự nhiên nhất định cùng tồn tại và phát
triển, có tác động qua lại với nhau
Đa dạng sinh học là sự phong phú về nguồn gen, loài sinh vật và hệ sinh thái.
2 Phân loại môi trường
Môi trường tự nhiên bao gồm các nhân tố thiên nhiên như: vật lý, hóa học, sinh học, tồn tại ngoài ý
muốn chủ quan của con người nhưng ít nhiều chịu tác động của con người Đó là ánh sáng Mặt trời, núi, sông, biển, không khí, động vật, thực vật, đất và nước,…
Môi trường xã hội là tổng thể các mối quan hệ giữa con người với con người Đó là luật lệ, thể chế,
cam kết ở các cấp khác nhau (thể hiện ở pháp luật, bản sắc văn hóa, tôn giáo, thẩm mỹ học, dân số học, kinh tế học,…)
3 Các chức năng chủ yếu của môi trường
Môi trường là không gian sống của con người và thế giới sinh vật
Môi trường là nơi chứa đựng các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con người (tài nguyên khoáng sản, năng lượng đất, nước, khí hậu, rừng, sinh vật,…)
Môi trường là nơi chứa đựng các phế thải của đời sống và sản xuất
Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp các nguồn thông tin cho con người
Trang 24 Các thành phần cơ bản của môi trường
Thạch quyển (Lithosphere); Thuỷ quyển (Hydrophere); Khí quyển (Atmosphere); Sinh quyển (Biophere)
5 Tình hình môi trường ở Việt Nam hiện nay
Theo báo cáo về hiện trạng môi trường quốc gia năm 2005, 2006, 2007, 2008 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, sức ép chủ yếu của phát triển kinh tế - xã hội lên môi trường là:
Quy mô dân số lớn và ngày càng lớn hơn tạo ra sức ép rất lớn đối với đất đai, nguồn cung cấp
năng lượng và tài nguyên thiên nhiên
Sự phát triển của các ngành công nghiệp, xây dựng, năng lượng, khai thác và giao thông vận tải
đã tiêu thụ nhiều nguyên liệu, năng lượng và quá trình sản xuất thường gây ô nhiễm môi trường ở mức
độ cao
Sản xuất nông nghiệp với việc sử dụng ngày càng nhiều các loại thuốc hoá học bảo vệ thực vật, các loại phân bón hoá học và việc không xử lí các chất thải của vật nuôi trước khi thải ra môi trường đã làm cho môi trường đất, nước ngày càng bị ô nhiễm
Đô thị hoá không cân đối làm cho tài nguyên đất đô thị bị khai thác triệt để, diện tích cây xanh,
ao hồ bị thu hẹp, gây ra ngập úng, tài nguyên nước bị suy giảm và ô nhiễm nặng nề
Việc khai thác thuỷ sản quá mức và việc nuôi trồng thuỷ sản phát triển một cách ồ ạt, thiếu qui hoạch đã tác động mạnh theo chiều hướng xấu tới hệ sinh thái và nơi cư trú của các loài thuỷ sản Việc chế biến thuỷ sản cũng tạo ra một lượng lớn các chất thải rắn, nước thải, khí thải độc hại gây ô nhiễm môi trường đất và nước
Phát triển du lịch “nóng” ven biển đã làm thay đổi cảnh quan ven biển và cũng là nguyên nhân gây ô nhiễm vùng ven biển Tính đa dạng sinh học của các khu du lịch cũng bị ảnh hưởng
Mặt trái của hội nhập kinh tế quốc tế:
+ Làm gia tăng nguy cơ ô nhiễm môi trường từ bên ngoài do không kiểm tra, giám sát chặt chẽ được việc nhập khẩu hàng hoá vật tư Điều này dẫn đến nguy cơ Việt Nam trở thành bãi thải thiết bị, công nghệ lạc hậu và là nơi tiêu thụ những hàng hoá kém chất lượng, không đảm bảo các yêu cầu về môi trường
+ Làm tăng suy thoái môi trường, cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên do các hàng hoá xuất khẩu của nước ta chủ yếu dựa vào khai thác các loại tài nguyên, đặc biệt là các tài nguyên không tái tạo
+ Tự do hoá thương mại thúc đẩy sự phát triển nhiều loại hình dịch vụ, trong đó có những loại hình có thể gây ra ô nhiễm và sự cố môi trường như hệ thống chợ, hệ thống dịch vụ ăn uống, các cơ sở sản xuất và chế biến
+ Những sức ép của phát triển kinh tế-xã hội lên môi trường đã làm cho môi trường Việt Nam bị
xuống cấp, nhiều nơi bị ô nhiễm nghiêm trọng, có lúc, có nơi đến mức báo động
PHẦN II: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BVMT VÀ GIÁO DỤC BVMT 1/ Cơ sở pháp lí của Hoạt động BVMT
1.1 Chủ trương của Đảng
- Nghị quyết 41/NQ/TƯ ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về việc BVMT trong thời kì đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
- Chỉ thị 29-CT/TƯ của Ban Bí thư ngày 21/01/2009 về tiếp tục đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết 41-NQ/TƯ của Bộ Chính trị (khóa IX)
1.2 Văn bản pháp quy của nhà nước
Luật BVMT được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XI thông qua ngày 29/11/2005
Quyết định số 1363/QĐ-TTg ngày 17/10/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề
án “Đưa các nội dung BVMT vào hệ thống giáo dục quốc dân”
Quyết định số 256/2003/QĐ-TTg ngày 2/12/2003 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt chiến lược BVMT Quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020
Chỉ thị số 02/2005/CT-BGD&ĐT ngày 31/1/2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc tăng
cường công tác giáo dục BVMT
2/ Một số biện pháp giữ gìn, BVMT bền vững ở Việt Nam
Đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục mọi người nâng cao nhận thức và trách nhiệm BVMT
Tăng cường công tác quản lý nhà nước, tạo cơ chế pháp lý và chính sách trong BVMT
Tăng cường áp dụng các biện pháp kỹ thuật trong BVMT
Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, ứng dụng công nghệ, đào tạo nhân lực về môi trường, mở rộng hợp tác quốc tế trong lĩnh vực BVMT
Trang 3Xây dựng và phát triển đội ngũ cán bộ GV giảng dạy giáo dục BVMT trong các loại hình giáo dục Đẩy mạnh xã hội hoá hoạt động BVMT
3/ Giáo dục BVMT
3.1 Khái niệm
BVMT là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu
đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lí và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học (Điều 3-Luật Môi trường 2005)
Giáo dục BVMT là một quá trình thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính
quy nhằm giúp cho con người có được hiểu biết, kỹ năng và giá trị, tạo điều kiện cho họ tham gia phát triển một xã hội bền vững về sinh thái (Tổng Cục Môi trường, Bộ Tài nguyên và Môi trường)
Có 3 cách tiếp cận trong giáo dục môi trường:
- Giáo dục về môi trường: Giáo dục môi trường cần cung cấp cho người học những hiểu biết cơ bản
về môi trường, các thành phần môi trường và mối quan hệ giữa chúng; những hiểu biết về hệ thống tự nhiên và hoạt động của nó, về mối quan hệ tác động qua lại giữa con người và môi trường
- Giáo dục trong môi trường: Giáo dục trong môi trường cần được tiến hành trong môi trường, xem
môi trường như là cơ sở, phương tiện để giảng dạy, học tập, nghiên cứu
- Giáo dục vì môi trường: Giáo dục môi trường phải hướng tới việc hình thành thái độ thân thiện,
ứng xử tích cực với môi trường, ý thức BVMT, trách nhiệm cải thiện môi trường, phong cách sống thích hợp, hài hoà với môi trường và sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các tài nguyên thiên nhiên
3.2 Mục đích, mục tiêu chung của GD BVMT
Mục đích của GD BVMT là giúp cho người học vận dụng những kiến thức và kỹ năng về BVMT để
giữ gìn, bảo tồn, sử dụng môi trường, phát triển môi trường bền vững cho thế hệ hiện tại và tương lai
Mục tiêu chung của GD BVMT là đem lại cho người học những hiểu biết, thái độ và kĩ năng sau:
- Những hiểu biết cơ bản, cần thiết về bản chất các vấn đề môi trường
- Ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường
- Kĩ năng nhận biết các vấn đề môi trường; thu thập, xử lí, phân tích các thông tin về môi trường;
xây dựng kế hoạch và thực hiện kế hoạch hành động BVMT; năng lực sử dụng hợp lí, khôn khéo các tài nguyên thiên nhiên và tham gia các vấn đề môi trường cụ thể
4/ Nguyên tắc, phương thức, phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường trong trường THCS :
4.1/ Nguyên tắc :
Giáo dục BVMT là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, tích hợp vào các môn học và các hoạt động Giáo dục BVMT không phải là ghép thêm vào chương trình giáo dục như là một bộ môn riêng biệt hay một chủ đề nghiên cứu mà nó là một hướng hội nhập vào chương trình Giáo dục BVMT là cách tiếp cận xuyên bộ môn
Mục tiêu: Nội dung và phương pháp giáo dục BVMT phải phù hợp với mục tiêu đào tạo của cấp học, góp phần thực hiện mục tiêu đào tạo của cấp học
Giáo dục BVMT phải trang bị cho học sinh một hệ thống kiến thức tương đối đầy đủ về môi trường và kĩ năng BVMT, phù hợp với tâm lí lứa tuổi Hệ thống kiến thức và kĩ năng được triển khai qua các môn học và các hoạt động theo hướng tích hợp nội dung qua các môn học, thông qua chương trình dạy học chính khóa và các hoạt động ngoại khóa, đặc biệt coi trọng việc đưa vào chương trình Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp
Nội dung giáo dục BVMT phải chú ý khai thác tình hình thực tế MT của từng địa phương
Nội dụng và phương pháp giáo dục BVMT phải chú trọng thực hành, hình thành các kĩ năng, phương pháp hành động cụ thể để học sinh có thể tham gia có hiệu quả vào các hoạt động BVMT của địa phương, của đất nước phù hợp với độ tuổi
Cách tiếp cận cơ bản của giáo dục bảo vệ môi trường là:
+ Giáo dục về môi trường: Chương trình lồng ghép
+ Giáo dục trong môi trường: Đi tìm hiểu thực tế
+ Giáo dục vì môi trường: Vì tương lai ngày mai,…
Phương pháp giáo dục BVMT tạo cơ hội cho học sinh phát hiện các vấn đề môi trường và tìm hướng giải quyết vấn đề dưới sự tổ chức và hướng dẫn của giáo viên
Tận dụng các cơ hội để giáo dục bảo vệ môi trường nhưng phải đảm bảo kiến thức cơ bản của môn học, tính logic của nội dung, không làm quá tải lượng kiến thức và tăng thời gian của bài học
4.2/ Phương thức giáo dục :
Giáo dục bảo vệ môi trường là một lĩnh vực giáo dục liên ngành, vì vậy được triển khai theo phương thức tích hợp
Trang 4Việc tích hợp thể hiện ở 3 mức độ:
+ Mức độ toàn phần: Mục tiêu và nội dung của bài học hoặc của chương phù hợp hoàn toàn với mục tiêu và nội dung của giáo dục BVMT
+ Mức độ bộ phận: Chỉ có một phần bài học có mục tiêu và nội dung giáo dục BVMT + Mức độ liên hệ: Có điều kiện liên hệ một cách logic
Ngoài ra, có thể dạy học một số chuyên đề như: Tác động của sự nóng lên toàn cầu, sản xuất nước sạch,…
Các hoạt động giáo dục bảo vệ môi trường ngoài lớp học:
+ Câu lạc bộ môi trường
+ Hoạt động tham quan theo chủ đề
+ Điều tra, khảo sát, nghiên cứu tình hình MT địa phương thảo luận phương án xử lí + Hoạt động trồng cây, xanh hóa nhà trường
+ Tổ chức thi tìm hiểu về môi trường
+ Hoạt động Đoàn TN, Đội TNTP Hồ Chí Minh về bảo vệ môi trường
4.3/ Các phương pháp giáo dục bảo vệ môi trường :
Phương pháp tham quan, điều tra, khảo sát nghiên cứu thực địa Có thể triển khai theo 2 cách :
+ Tổ chức cho học sinh đi tham quan học tập ở khu bảo tồn thiên nhiên, nhà máy xử lí rác, khu chế xuất, danh lam thắng cảnh, …
+ Lập nhóm tìm hiểu, nghiên cứu tình hình môi trường ở trường học hoặc ở địa phương
- Phương pháp thí nghiệm
- Phương pháp khai thác kinh nghiệm thực tế để giáo dục
- Phương pháp hoạt động thực tiễn
- Phương pháp giải quyết vấn đề cộng đồng
- Phương pháp học tập theo dự án
- Phương pháp nêu gương
- Phương pháp tiếp cận kĩ năng sống BVMT
PHẦN III : GIÁO DỤC MÔI TRƯỜNG TRONG MÔN SINH HỌC 1/ Chương trình tích hợp giáo dục môi trường cấp trung học cơ sở :
Giáo dục môi trường được tích hợp vào nhiều môn học ở trường THCS, trong đó có môn sinh học Bộ môn SH là một trong những bộ môn có khả năng đưa giáo dục MT vào một cách thuận lợi nhất vì các nội dung trong chương trình SH 6,7,8,9 đều có khả năng đề cập nội dung GDMT
- Khi soạn giáo án, Giáo viên cần xem xét, nghiên cứu và chọn lọc những nội dung GDMT phù hợp để đưa vào nội dung bài giảng dưới dạng :
+ Lồng ghép toàn phần (nếu toàn bài có nội dung giáo dục môi trường)
+ Lồng ghép một phần (trong bài có một mục, một đoạn hay một vài câu có nội dung GDMT) + Liên hệ (Nếu kiến thức trong bài có một hoặc nhiều chỗ có khả năng liên hệ, bổ sung thêm kiến thức giáo dục môi trường mà SGK chưa đề cập
- Khi tích hợp kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường cần tuân thủ các nguyên tắc sau :
+ Đảm bảo tính đặc trưng và tính hệ thống của bộ môn, tránh mọi sự gượng ép
+ Tránh làm nặng nề thêm các kiến thức sẵn có Xem xét và chọn lọc những nội dung có thể lồng ghép nội dung GDMT một cách thuận lợi nhất và đem lại hiệu quả cao nhất nhưng vẫn tự nhiên và nhẹ nhàng
+ Phải đảm bảo nguyên tắc vừa sức
2/ Chương trình tích hợp giáo dục môi trường môn sinh học trung học cơ sở :
Trong tài liệu đã giới thiệu từ lớp 6 đến lớp 9 Sau này chúng ta sẽ thảo luận nhóm và đi đến thống nhất
3/ Phương pháp tích hợp giáo dục môi trường trong môn sinh học trung học cơ sở :
3.1/ Quan niệm tích hợp kiến thức giáo dục môi trường vào các môn học :
* Tích hợp là sự kết hợp một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục môi trường và kiến thức môn học thành một nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên những mối liên hệ về lí luận và thực tiễn được đề cập trong bài học
Sự tích hợp kiến thức giáo dục môi trường vào môn học, đối với môn sinh học có thể phân thành
2 dạng khác nhau :
a) Dạng lồng ghép: Kiến thức GDMT đã có trong chương trình và SGK
- Kiến thức GDMT được lồng ghép có thể:
Trang 5+ Chiếm một vài chương SGK lớp 9 có 4 chương nói về các kiến thức môi trường và bảo
vệ môi trường
Chương I: Sinh vật và môi trường
Chương II: Hệ sinh thái
Chương III: Con người, dân số và môi trường
Chương IV: Bảo vệ môi trường
+ Chiếm một hoặc một số bài trọn vẹn (Lồng ghép toàn phần)
VD : Bài 49 Bảo vệ sự đa dạng của thực vật ở lớp 6
+ Chiếm một mục, một đoạn hay một câu trong bài học (lồng ghép một phần)
VD : Bài 22 Vệ sinh hô hấp ở lớp 8
b) Dạng liên hệ: Các kiến thức GDMT không được đưa vào chương trình và SGK, nhưng dựa vào nội dung bài học, GV có thể bổ sung kiến thức GDMT có liên quan với bài học qua giờ giảng trên lớp
3.2/ Các hình thức tổ chức dạy học giáo dục môi trường:
a) Hình thức dạy học nội khóa:
Bao gồm hình thức dạy học trên lớp và ngoài lớp (các bài thực hành tìm hiểu về môi trường, thiên nhiên, …)
b) Hình thức dạy học ngoại khóa:
- Tổ chức nói chuyện giao lưu về môi trường
- Tổ chức thi tìm hiểu môi trường địa phương, đố vui về môi trường
- Tổ chức xem phim về môi trường
- Nghiên cứu môi trường địa phương
- Tổ chức tham quan về môi trường
- Tổ chức hoạt động bảo vệ môi trường trường học và môi trường địa phương theo chế độ thường xuyên hay định kì,
3.3/ Phương pháp dạy học tích hợp giáo dục môi trường :
a.) Phương pháp trần thuật:
Đây là phương pháp dùng lời Sử dụng phương pháp này để mô tả sự vật, hiện tượng của môi trường
VD : Kể chuyện cho HS về 1 số cảnh quan thiên nhiên
b.) Phương pháp giảng giải :
Thường sử dụng khi giải thích các vấn đề GV nêu ra các dẫn chứng để làm rõ những kiến thức mới và khó về môi trường
VD : Khi nói về hiện tượng ô nhiễm không khí thì nêu rõ nguyên nhân dẫn đến hiện tượng ô nhiễm không khí,…
c.) Phương pháp vấn đáp:
GV đưa ra câu hỏi, HS trả lời, cũng có khi HS hỏi, GV trả lời hoặc giữa HS và HS
VD : “ Vì sao nhiệt độ của trái đất ngày càng tăng ?”
d.) Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan :
Các phương tiện trực quan như : Tranh ảnh, băng hình video, phim ảnh đó là những phương tiện rất hữu ích cho việc giảng dạy kiến thức về giáo dục môi trường Việc sử dụng các phương tiện trực quan gây hứng thú và ấn tượng sâu sắc cho học sinh
e.) Phương pháp dạy học hợp tác trong nhóm nhỏ:
Lớp được chia thành các nhóm nhỏ Các nhóm được giao cùng nhiệm vụ hoặc các nhiệm vụ khác nhau
f.) Phương pháp dạy học đặt vấn đề và giải quyết vấn đề :
VD : Chủ đề ô nhiễm nước
Tạo tình huống, nêu vấn đề: Một dòng suối nằm bên lề thị trấn đã qua rất nhiều thế hệ, đó là một địa điểm bơi lội lí tưởng và các hoạt động giải trí khác Một nhà máy sản xuất giấy được xây dựng gần
đó Gần đây, người ta thấy để trẻ em ra suối bơi không còn an toàn nữa vì một số lớn cá ở suối này đã chết Học sinh có thể tự nêu vấn đề :Vì sao cá ở suối này bị chết?
Giải quyết vấn đề : Học sinh nêu ra các nguyên nhân làm cho cá chết : có thể là do thuốc trừ sâu,
do nước thải sinh hoạt, do phân hóa học thải ra từ đồng ruộng, do nước thải ra từ các nhà máy …
Giáo viên cho học sinh xem một số hình ảnh về việc thải trực tiếp nước từ các nhà máy xuống dòng suối mà không qua xử lí Đa số học sinh nhận ra nguyên nhân chính dẫn đến việc cá bị chết là do nước thải ra từ nhà máy
Kết luận: Nguyên nhân làm cho cá chết : Nước thải ra từ nhà máy đã làm cho dòng suối bị ô nhiễm nặng
Biện pháp: Cần có biện pháp xử lí nước thải công nghiệp
Trang 6g.) Phương pháp động não :
Khái niệm: Động não là một kĩ thuật giúp cho người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về vấn đề nào đó
Giáo viên nêu vấn đề cần tìm hiểu trước lớp hoặc nhóm
VD: Chúng ta nên làm gì để hạn chế ô nhiễm môi trường nước ?
h.) Phương pháp giao cho học sinh làm các bài tập thực hành ở nhà :
Các bài tập giúp cho học sinh vận dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn Vì vậy, hình thành cho học sinh kĩ năng học tập, kĩ năng bảo vệ môi trường
VD: Tìm hiểu về tình hình ô nhiễm môi trường ở địa phương
i.) Phương pháp thí nghiệm :
Phương pháp này nhằm minh họa cho những kiến thức đã học hoặc tìm lời giải đáp cho một vấn
đề nào đó đã đặt ra
VD: Nhờ quá trình quang hợp, hàm lượng khí oxi và khí cacbonic trong không khí được ổn định (làm thí nghiệm chứng minh quá trình quang hợp thải ra khí oxi)
3/ Hướng dẫn thực hành, thực tế, ngoại khóa giáo dục môi trường.
3.1/ Hướng dẫn thực hành giáo dục môi trường:
Quy trình soạn một bài thực hành có thể tuân theo các bước sau :
Mục tiêu bài học
Chuẩn bị
Các hoạt động tổ chức dạy học
Thảo luận và viết thu hoạch
3.2/ Hướng dẫn thực tế ( tham quan môi trường )
Xác định mục tiêu
Nội dung tham quan
Cách tiến hành
3.3/ Hướng dẫn ngoại khóa giáo dục môi trường :Các hình thức hoạt động ngoại khóa :
- Báo cáo ngoại khóa về môi trường
- Tổ chức các cuộc thi tìm hiểu môi trường địa phương, đất nước
- Tổ chức nghiên cứu môi trường địa phương
- Một số hoạt động khác :
+ Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động bảo vệ môi trường ở nhà trường và địa phương + Tổ chức các câu lạc bộ môi trường
4/ Kiểm tra đánh giá: Các phương pháp đánh giá kết quả học tập :
1 Vấn đáp
2 Viết
- Trắc nghiệm khách quan
- Trắc nghiệm tự luận
PHƯƠNG THỨC TÍCH HỢP
- Phương thức bài tập tích hợp từ kiến thức nhiều môn học khác nhau
- Phương thức đề tài tích hợp từ kiến thức nhiều môn học khác nhau
- Phương thức tình huống tích hợp, theo đó các môn học được tích hợp xung quanh mục tiêu chung
- Phương thức tích hợp toàn phần: với những bài học phù hợp hoàn toàn
- Phương thức tích hợp bộ phận: với bài học phù hợp một hoặc một số phần
- Phương thức tích hợp liên hệ kiến thức : Khai thác kiến thức bài học và liên hệ chúng với nội dung
BTTN và BVĐDSH
ĐỊNH HƯỚNG PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC
– Dạy học nêu vấn đề và giải quyết vấn đề
– Dạy học hợp tác theo nhóm/ năng lực làm việc nhóm
– Dạy học dự án (học sinh chủ động chọn đề tài, giáo viên là người tư vấn và giúp đỡ,….- Chú ý tới xây dựng đề cương của dự án)
– Dạy học kiến tạo (học sinh chủ động, tự lực, tìm tòi các phương án giải quyết vấn đề,…/ bộc lộ năng lực giải quyết vấn đề….)