1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Giải pháp phát triển du lịch huyện hoàng su phì tỉnh hà giang

70 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 70
Dung lượng 1,82 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giá trị văn hóa truyền thống chưa gắn kết với du lịch Việc liên kết giữa các địa phương và giữa Huyện với các công ty du lịch chưa được chặt chẽ, các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịc

Trang 1

MỤC LỤC

MỤC LỤC

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

DANH MỤC HÌNH ẢNH

LỜI MỞ ĐẦU 1

1 Tính cấp thiết của đề tài 1

2 Mục tiêu và nghiên cứu 2

2.1 Mục tiêu chung 2

2.2 Mục tiêu cụ thể 2

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

4 Nội dung 3

5 Phương pháp nghiên cứu 3

6 Bố cục khóa luận 5

CHƯƠNG 1CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN DU LỊCH 6

1.1 Cơ sở lý luận 6

1.1.1 Khái niệm về du lịch 6

1.1.2 Phân loại về du lịch 7

1.1.3 Khách du lịch 8

1.1.4 Sản phẩm du lịch 8

1.1.5 Tài nguyên du lịch 9

1.1.6 Điều kiện phát triển du lịch 10

1.2 Cơ sở thực tiễn 11

1.3 Bài học cho phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì 14

CHƯƠNG 2ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG 16

2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Hoàng Su Phì 16

2.2 Điều kiện tự nhiên 17

Trang 2

2.2.1 Vị trí địa lý 17

2.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn 17

2.2.3 Đặc điểm địa hình, đất đai 18

2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội 19

2.3.1 Tình hình văn hóa - xã hội 19

2.3.2 Tình hình phát triển kinh tế của huyện 21

2.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về ảnh hưởng phát triển du lịch tại huyện Hoàng Su Phì 23

2.4.1 Thuận lợi 23

2.4.2 Khó khăn 24

CHƯƠNG 3THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG 26

3.1 Tiềm năng và điều kiện phát triển du lịch huyện 26

3.1.1 Tiềm năng về du lịch tự nhiên 26

3.1.2 Tiềm năng về du lịch nhân văn 29

3.1.3 Các điều kiện cơ sở, hạ tầng 38

3.2 Hiện trạng phát triển du lịch tại huyện 39

3.2.1 Hệ thống bộ máy tổ chức hoạt động du lịch huyện Hoàng Su Phì 39

3.2.2 Hiện trạng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch 40

3.2.3 Nguồn lực lao động phục vụ cho du lịch 42

3.2.4 Kết quả hoạt động kinh doanh du lịch của huyện 43

3.2.5 Đánh giá của du khách ( phân tích phiếu điều tra) 48

3.3 Phân tích SWOT về phát triển du lịch Hoàng Su Phì 51

3.3.1 Điểm mạnh của du lịch Hoàng Su Phì 51

3.3.2 Điểm yếu, khó khăn còn tồn tại 51

3.3.3 Cơ hội cho phát triển du lịch Hoàng Su Phì 53

3.3.4 Thách thức đang đặt ra với công tác phát triển du lịch Hoàng Su Phì 53

3.4 Những yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch của huyện 54

3.4.1 Quy hoạch du lịch 54

Trang 3

3.4.2 Cơ sở hạ tầng 55

3.4.3 Nguồn nhân lực 55

3.4.4 Tài nguyên du lịch 55

3.4.5 Tuyên truyền và ý thức của người dân trong lĩnh vực DL 55

3.5 Giải pháp phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì 56

3.5.1 Giải pháp về quản lý quy hoạch du lịch, xây dựng cơ sở hạ tầng, cơ sở lưu trú 56

3.5.2 Giải pháp về bảo tồn các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể 57

3.5.3 Giải pháp về xây dựng các sản phẩm du lịch 58

3.5.4 Giải pháp về nguồn lao động phục vụ du lịch 59

3.5.5 Giải pháp về công tác kiểm tra, kiểm soát hạn chế ô nhiễm bảo vệ môi trường 60

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 61

1 Kiến nghị 61

2 Kết luận 61 TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Trang 4

WTO World Trade Organization

Trang 5

DANH MỤC BẢNG BIỂU, SƠ ĐỒ

Bảng 2.1:Dân số và dân tộc huyện Hoàng Su Phì 20

Bảng 3.1: Thống kê nhà cung cấp dịch vụ du lịch trên địa bàn Hoàng Su Phì 40

Bảng 3.2: Thống kê cơ sở lưu trú tại huyện Hoàng Su Phì năm 2015-2017 41

Bảng 3.3: Lao động trong ngành du lịch tại huyện Hoàng Su Phì 42

Bảng 3.4: Sự phát triển của các loại hình du lịch năm 2015-2017 44

Bảng 3.5: Thống kê số tour du lịch huyện Hoàng Su Phì năm 2015-2017 45

Bảng 3.6: Khách du lịch đến Hoàng Su Phì năm 2015-2017 46

Bảng 3.7: Doanh thu từ khách du lịch Hoàng Su Phì năm 2015-2017 47

Bảng 3.8: Đối tượng, độ tuổi khách du lịch 48

Bảng 3.9: Chi phí bình quân của khách du lịch 48

Bảng 3.10: Hình thức DL và số lần DL của du khách 49

Bảng 3.11: Tài nguyên DL, mùa DL và điểm thu hút khách DL 49

Bảng 3.12: Đánh giá của du khách về dịch vụ lưu trú và dịch vụ ăn uống 50

Biểu đồ 2.1: Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Hoàng Su Phì 21

Sơ đồ 3.1: Bộ máy Phòng Văn hóa & Thông tin huyện HSP 39

Trang 6

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 3.1: Mùa vàng ở Hoàng Su Phì 27

Hình 3.2: Mùa nước đổ ở Hoàng Su Phì 27

Hình 3.3: Đỉnh Tây Côn Lĩnh 28

Hình 3.4: Đồng bào dân tộc hái chè Shan tuyết 28

Hình 3.5: Bốt Pháp tại xã Pố Lồ 29

Hình 3.6: Tết Khu cù tê của dân tộc La chí 32

Hình 3.7: Lễ cúng thần rừng 33

Hình 3.8: Lễ cúng ông Hoàng Vần Thùng 33

Hình 3.9: Món thắng cố 36

Hình 3.10: Món cháo ấu tẩu 37

Trang 7

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Cũng như nhiều ngành khoa học, kỹ thuật, nghệ thuật, sản xuất, ngành

du lịch được hình thành từ rất sớm trong bối cảnh lịch sử nhất định

Bước sang thế kỷ XXI thì Du lịch đã trở thành một thuật ngữ quen thuộc với mọi tầng lớp trên thế giới Trải qua một quá trình phát triển lâu dài với nhiều biến động thăng trầm phức tạp thì ngày nay hoạt động du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa - xã hội của con người

Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia, vùng miền Chính vì vậy ngày nay du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong

sự nghiệp phát triển của các nước.Việt Nam vốn giàu tài nguyên du lịch và đang từng bước khai thác, bảo vệ nguồn tài nguyên ấy Loại hình du lịch văn hóa, dịch vụ môi trường sinh thái được xác định là quan trọng nhất trong việc phát triển du lịch Việt Nam, sức hấp dẫn và khả năng thực hiện các hoạt động

du lịch theo định hướng ấy ngày nay được quan tâm

Cùng với xu thế phát triển chung trong những năm qua du lịch ở huyện Hoàng Su Phì đã có nhiều khởi sắc nhất là với vị trí một huyện cửa ngõ phía Tây của tỉnh Hà Giang Với đặc điểm về địa hình và những yếu tố về địa lý, thành phần dân tộc đa dạng nên Hoàng Su Phì còn lưu giữ được những vốn văn hóa truyền thống phong phú, đa dạng và các văn hóa vật thể, phi vật thể mang đậm bản sắc riêng độc đáo Nét đẹp hoang sơ trên nền không gian thiên nhiên hùng vĩ cùng với vốn văn hóa độc đáo và phong phú của các dân tộc đã

và đang tạo cho Hoàng Su Phì lợi thế rất lớn để phát triển du lịch Đây chính

là những tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái và

du lịch văn hoá cộng đồng

Song, do hoạt động du lịch của Huyện là một lĩnh vực mới mẻ nên chưa tương xứng với tiềm năng vốn có, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch

Trang 8

chưa phát triển Các giá trị văn hóa truyền thống chưa gắn kết với du lịch Việc liên kết giữa các địa phương và giữa Huyện với các công ty du lịch chưa được chặt chẽ, các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch còn nghèo nàn nên chưa đáp ứng được nhu cầu mua sắm ăn nghỉ của khách du lịch nên chưa đem lại thu nhập cho người dân Nguồn nhân lực làm công tác du lịch từ Huyện đến

xã vừa thiếu vừa yếu, chưa đáp ứng được yêu cầu hiện nay Bên cạnh đó, việc phát triển du lịch theo hướng bền vững và hiệu quả, tránh phá vỡ cảnh quan môi trường sinh thái đặc trưng Gắn du lịch với việc bảo tồn văn hóa truyền thống, ngăn chặn tình trạng đeo bám du khách, bán hàng rong cũng là một trong những thách thức đặt ra đối với lĩnh vực phát triển du lịch của huyện

Hoàng Su Phì Chính vì vậy em chọn đề tài “Giải pháp phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì, tỉnh Hà Giang” để làm khóa luận tốt nghiệp

2 Mục tiêu và nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Phân tích thực trạng và đánh giá khả năng khai thác các thế mạnh sẵn có

về địa lý, tài nguyên và văn hóa truyền thống nhằm phát triển loại hình dịch

vụ du lịch của huyện

2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch

- Phân tích thực trạng phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì để thấy được các mặt tích cực và những ưu nhược điểm của loại hình dịch vụ du lịch

- Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tại huyện Hoàng Su Phì

- Định hướng phát triển du lịch và đưa ra một số giải pháp nhằm phát triển

du lịch của huyện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu đề tài khả năng khai thác và phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì

- Nội dung: đề tài tập trung đánh giá thực trạng phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì

Trang 9

- Về không gian: nghiên cứu thực hiện trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì

- Về thời gian: nghiên cứu quá trình phát triển du lịch trong giai đoạn 2015-2017

4 Nội dung

- Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phát triển du lịch

- Thực trạng phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì để thấy được các mặt tích cực và những ưu nhược điểm của loại hình dịch vụ du lịch

- Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển du lịch tại huyện Hoàng Su Phì

- Một số giải pháp nhằm phát triển du lịch của huyện

5 Phương pháp nghiên cứu

 Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp:

Tài liệu thứ cấp là tài liệu đã được thu thập, sử dụng cho các mục đích khác nhau, có thể là dữ liệu thô hoặc dữ liệu đã qua xử lý Việc thu thập và sử dụng tài liệu thứ cấp giúp tiết kiệm thời gian và công sức của học viên trong việc tìm hiểu thực tiễn và để đưa ra các đánh giá phù hợp Tuy nhiên, việc thu thập sử dụng tài liệu thứ cấp phải quan tâm đến nguồn thông tin, nội dung, độ chính xá và độ tin cậy của thông tin Phương pháp này giúp tiết kiệm thời gian, kinh phí và công sức, tuy nhiên cần phải chọn lựa và sử dụng số liệu chuẩn xác, tránh nhầm lẫn, đảm bảo tính chính xác với thông tin đưa ra

Những nguồn dữ liệu thứ cấp được sử dụng trong khóa luận gồm: Các tài liệu, kết quả nghiên cứu của các tổ chức, cá nhân đã công bố trên sách, báo, tạp chí,… Các báo cáo, số liệu thống kê của Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch, của tỉnh Hà Giang, của huyện Hoàng Su Phì có liên quan đến hoạt động

du lịch và phát triển du lịch trong giai đoạn 2015-2017

 Phương pháp thu thập tài liệu sơ cấp:

Là số liệu được thu thập từ phiếu điều tra nhằm nắm rõ được nhu cầu của khách du lịch và những nhận xét khách quan của khách du lịch về các dịch vụ cũng như hoạt động du lịch của Hoàng Su Phì Đối tượng điều tra, thu thập số liệu là khách du lịch: Bao gồm khách du lịch trong nước và nước ngoài Để

Trang 10

thu thập thông tin phục vụ đánh giá nhu cầu và thị hiếu khách du lịch, ta tiến hành chọn mẫu ngẫu nhiên

Cỡ mẫu điều tra: được xác định bằng công thức Slovin:

=(1 + ∗ )

Trong đó:

n: quy mô mẫu

N: kích thước của tổng thể N = 75 (tổng số khách du lịch đến Hoàng Su Phì trung bình trong 01 tuần)

Chọn khoảng tin cậy là 95%, nên mức độ sai lệch e = 0,05 ̣

Ta có: n = 75/( 1 + 75 * 0,052 ) = 60,1 => Quy mô mẫu: 60 mẫu

Nội dung: mỗi phiếu điều tra gồm 2 phần, cụ thể như sau:

Phần 1: Sơ lược về thông tin cá nhân để nhận biết vị trí, vai trò xã hội của người tham gia điều tra

Phần 2: Hỏi về mức độ hài lòng của khách tham quan khi thực hiện các hoạt động du lịch tại Hoàng Su Phì

 Phương pháp xử lý số liệu:

- Sau quá trình thu thập thông tin, toàn bộ phiếu điều tra sẽ được sàng lọc thông tin và thu thập dữ liệu làm căn cứ để phân tích - Phương pháp biểu đồ, bảng, đồ thị Đây là phương pháp cho phép tác giả sau quá trình thu thập thông tin về số lượng, chất lượng, sự phân bố, thực trạng khai thác tài nguyên du lịch của huyện Hoàng Su Phì, sẽ thiết kế số liệu dưới dạng bảng số liệu hay biểu đồ, đồ thị để đánh giá được sự phát triển của hoạt động du lịch trong một giai đoạn nhất định làm cơ sở phân tích số liệu

 Phương pháp so sánh tổng hợp:

Phương pháp so sánh là phương pháp phổ biến được sử dụng trong phân tích và đánh giá thực trạng, từ quá trình phân tích số liệu thu thập, so sánh với các chỉ tiêu tương ứng của cùng nội dung tại các địa phương khác nhau, có như vậy mới có được những nhận định và đánh giá chính xác về nội dung cần

Trang 11

phân tích Trong bài khóa luận ta tiến hành so sánh trong giai đoạn từ 2015 đến 2017, bao gồm các nội dung: các loại hình du lịch, sự phát triển của cơ sở phục vụ du lịch, số lượng lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch, doanh thu

từ du lịch, số lượng khách du lịch, số lượng cơ sở lưu trú, chất lượng dịch vụ

du lịch

 Phương pháp thống kê mô tả:

Căn cứ vào số liệu thống kê thu thập được từ XX phiếu khảo sát và các

số liệu thứ cấp thu được từ các báo cáo đánh giá của địa phương, ta tổng hợp, thu thập thông tin cần thiết tính toán và mô tả các đặc trưng của hoạt động du lịch của Hoàng Su Phì, từ đó phản ánh thực trạng hoạt động du lịch cũng như những thế mạnh cần khai thác, những hạn chế cần được phát hiện và loại bỏ

 Phương pháp phân tích SWOT:

Phương pháp phân tích SWOT là mô hình ma trận phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ Phương pháp này giúp ta có thể tổng hợp các kết quả nghiên cứu môi trường bên trong và bên ngoài địa bàn nghiên cứu và đề

ra chiến lược một cách khoa học

Các bước xây dựng ma trận SWOT gồm các bước sau: Xác định điểm mạnh điểm yếu chính của Hoàng Su Phì nói chung và hoạt động du lịch nói riêng và những cơ hội và nguy cơ mà hoạt động phát triển du lịch gặp phải từ môi trường bên ngoài

6 Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận bài khóa luận có kết cấu thành 3 chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển du lịch

 Chương 2: Đặc điểm huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang

 Chương 3: Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch tại huyện Hoàng Su

Phì tỉnh Hà Giang

Trang 12

Tổ chức du lịch thế giới WTO đưa ra khái niệm về du lịch năm 1993:

“Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ những cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình”

Tại hội nghị liên hợp quốc về du lịch tại Roma-Italya (21/8-5/9/1963) các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hiện tượng kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của

họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình Nơi họ đến lưu trú không phải

là nơi làm việc của họ”

Theo Pirogionic, 1985 khái niệm về du lịch được xác định như sau: “Du lịch

là hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa hoặc thể thao kèm theo đó

là việc tiêu thụ các gái trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa, lịch sử”

Theo điều 4 luật du lịch Việt Nam (2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưỡng trong một thời gian nhất định”

Trang 13

Khái niệm du lịch một mặt mang ý nghĩa xã hội là việc đi lại của con người nhằm mục đích nghỉ ngơi, giải trí, tìm hiểu, khám phá mặt khác du lịch là ngành kinh tế có liên quan đến nhiều thành phần tạo thành một ngành dịch vụ như: lưu trú, ăn uống, giao thông vận tải, vì vậy có thể đánh giá tác động của du lịch ở rất nhiều khía cạnh khác nhau

1.1.2 Phân loại về du lịch

Du lịch có rất nhiều tiêu chí để phân loại thành nhiều nhóm khác nhau

Có thể phân loại theo tiêu chí mục đích chuyến đi hoặc lãnh thổ hoạt động, cung có thể phân loại theo tiêu chí thời gian tổ chức chuyến đi hoặc tiêu chí

về phương tiện tổ chức chuyến đi,

 Phân chia theo môi trường tài nguyên:du lịch thiên nhiên, du lịch văn hóa

 Phân loại theo mục đích chuyến đi: du lịch tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, khám phá, thể thao, tôn giáo, nghiên cứu học tập,

 Phân loại theo lãnh thổ hoạt động: du lịch quốc tế, du lịch nội địa

 Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch: du lịch miền biển, núi,

đô thị hay thôn quê

 Phân loại theo phương tiện giao thông: du lịch bằng xe đạp, ô tô, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay

 Phân loại theo loại hình lưu trú: khách sạn, nhà trọ, camping, bungaloue, làng du lịch

 Phân loại theo lứa tuổi du lịch: du lịch thiếu niên, thanh niên, trung niên, người cao tuổi

 Phân loại theo độ dài chuyến đi: du lịch ngắn ngày, du lịch dài ngày

 Phân loại theo hình thức tổ chức: du lịch tập thể, cá nhân hay du lịch gia đình

 Phân loại theo phương thưc hợp đồng: du lịch trọn gói, du lịch từng phần

Trang 14

1.1.3 Khách du lịch

Khách du lịch là người đi du lịch hoặc kết hợp đi du lịch, trừ trường hợp

đi học, làm việc hoặc hành nghề để nhận thu nhập ở nơi đến Trong đó khách

du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế

- Khách du lịch nội địa là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam

- Khách du lịch quốc tế là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch; công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch

1.1.4 Sản phẩm du lịch

Sản phẩm du lịch là một tổng thể bao gồm các thành phần không đồng nhất hữu hình và vô hình Đó là tài nguyên tự nhiên và tài nguyên nhân văn,

cơ sở vật chất, kỹ thuật, cơ sở hạ tầng dịch vụ du lịch và đội ngũ cán bộ nhân viên du lịch Sản phẩm du lịch có thể là một món hàng cụ thể như thức ăn hoặc một món hàng không cụ thể như chất lượng phục vụ, bầu không khí tại nơi nghỉ mát (Michael M.Coltman, 2011)

Theo Luật du lịch Việt Nam năm 2005: “sản phẩm du lịch là tập hợp các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn như cầu của khách du lịch trong chuyến đi du lịch” Như vậy hiểu một cách chung nhất, sản phẩm du lịch là sự kết hợp

Trang 15

những dịch vụ và phương tiện vật chất trên cơ sở khai thác tài nguyên du lịch đáp ứng nhu cầu của khách du lịch

=>Sản phẩm du lịch = Dịch vụ du lịch + Tài nguyên du lịch

1.1.5 Tài nguyên du lịch

Du lịch là một trong những ngành có sự định hướng tài nguyên rõ rệt Tài nguyên du lịch có ảnh hưởng trực tiếp đến tổ chức lãnh thổ, đến việc hình thành chuyên môn hóa và hiệu quả kinh tế của hoạt động du lịch Thực chất, tài nguyên du lịch là các điều kiện tự nhiên, các đối tượng văn hóa - lịch sử đã

bị biến đổi ở mức độ nhất định dưới ảnh hưởng của nhu cầu xã hội và khả năng sử dụng trực tiếp vào mục đích du lịch Theo tác giả Nguyễn Minh Tuệ,

“Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng góp phần khôi phục và phát triển thể lực, trí lực của con người, khả năng lao động và sức khỏe của họ ”

Một số chỉ tiêu đánh giá tài nguyên du lịch:

 Tính hấp dẫn: là yếu tố quan trọng nhất để đánh giá tài nguyên du lịch vì nó quyết định sức thu hút khách du lịch Độ hấp dẫn có tính chất tổng hợp rất cao và thường được xác định bằng vẻ đẹp của phong cảnh, sự thích hợp của khí hậu, sự đặc sắc và độc đáo của tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn

 Tính an toàn: là chỉ tiêu thu hút khách đảm bảo sự an toàn về sinh thái

và xã hội, được xác định bởi tình hình an ninh chính trị, trật tự xã hội, vệ sinh môi trường

 Tính bền vững: khả năng bền vững của các thành phần và bộ phận tự nhiên trước áp lực của hoạt động du lịch và các hiện tượng tự nhiên tiêu cực như thiên tai

 Tính thời vụ: thời vụ hoạt động du lịch được xác định bởi số thời gian thích hợp nhất trong năm của các điều kiện khí hậu và thời tiết đối với sức khỏe du khách và số thời gian trong năm thuận lợi nhất cho việc triển khai các hoạt động du lịch

Trang 16

1.1.6 Điều kiện phát triển du lịch

a Điều kiện tự nhiên

Tài nguyên du lịch : Du lịch là ngành kinh tế có định hướng tài nguyên một cách rõ rệt vì vậy “Tài nguyên du lịch … là yếu tố cơ bản để hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch” Trong đó, tài nguyên du lịch bao gồm: Tài nguyên thiên nhiên và Tài nguyên nhân văn

- Tài nguyên thiên nhiên gồm vị trí địa lý,khí hậu,địa hình, hệ động thực vật,đất, nước Sự kết hợp hài hòa này là điểm thu hút khách du lịch đến tham quan đông hơn

- Tài nguyên du lịch nhân văn là những giá trị văn hoá tiêu biểu cho mỗi dân tộc, mỗi quốc gia Thông qua những hoạt động du lịch dựa trên việc khai thác các tài nguyên du lịch nhân văn, khách du lịch có thể hiểu được những đặc trưng về văn hóa của dân tộc, của địa phương nơi mà khách đến.Tài nguyên du lịch nhân văn bao gồm các di tích lịch sử, di tích lịch sử văn hoá, phong tục tập quán, lễ hội, các món ăn, thức uống dân tộc, các loại hình nghệ thuật, các lối sống, nếp sống của các tộc người mang bản sắc độc đáo và được lưu giữ cho đến ngày nay

b Cơ sở vật chất phục vụ du lịch

Các điều kiện về kỹ thuật ảnh hưởng đến sự sẵn sàng đón tiếp khách du lịch trước tiên là cơ sở vật chất du lịch (của một cơ sở một vùng hay một đất nước) và sau đó là cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng

Cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch: Bao gồm toàn bộ nhà cửa và phương tiện

kỹ thuật giúp cho việc phục vụ để thoả mãn các nhu cầu của khách du lịch như khách sạn, nhà hàng, phương tiện giao thông vận tải, các khu nhà giải trí, cửa hàng, công viên, đường xá, hệ thống thoát nước, mạng lưới điện trong khu vực của cơ sở du lịch (có thể là một cơ sở du lịch, có thể là một khu du lịch) Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch đóng vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch Sự tận dụng hiệu quả tài

Trang 17

nguyên du lịch và việc thoả mãn các nhu cầu của khách phụ thuộc một phần lớn vào cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch

Cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng xã hội: Là những phương tiện vật chất không phải do các tổ chức du lịch xây dựng lên mà là của toàn xã hội Đó là

hệ thống đường xá, nhà ga, sân bay, bến cảng… Đối với ngành du lịch thì cơ

sở vật chất kỹ thuật xã hội là yếu tố cơ sở nhằm khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch Trong cơ sở hạ tầng kỹ thuật của xã hội phục vụ đắc lực nhất và có tầm quan trọng nhất đối với du lịch là hệ thống giao thông vận tải Hệ thống thông tin viễn thông, hệ thống cấp thoát nước, hệ thống cung cấp điện Nó được xây dựng phục vụ dân địa phương, sau nữa là phục vụ khách du lịch đến thăm đất nước hoặc vùng du lịch Nó quyết định nhịp độ phát triển du lịch và trong một chuẩn mực nào đó còn quyết định chất lượng phục vụ du lịch

Thiên nhiên đã ban tặng cho Đồng Văn những tài nguyên quý giá, tạo tiền đề cho bước đột phá của ngành du lịch với các cảnh quan hùng vĩ như đèo Mã Pì Lèng và hẻm vực Tu Sản, các hoang mạc đá, rất nhiều điểm di sản địa chất, địa mạo của CVĐC Cao nguyên đá Đồng Văn có vẻ đẹp quyến rũ như núi Cỏ Non, tháp kim Pải Lủng, thung lũng Thủy mặc; nhiều điểm có giá trị khoa học giáo dục như ranh giới địa tầng Frasni - Famen; các giá trị văn hóa - lịch sử như Cột cờ Lũng Cú, khu di tích Nhà Vương, các làng văn hóa dân tộc Để phát triển, Đồng Văn phải vượt qua thách thức về thiếu nguồn nước, đất canh tác, nguồn nhiên liệu và tai biến thiên nhiên có xu hướng gia

Trang 18

tăng; Sự kiện Cao nguyên đá Đồng Văn gia nhập mạng lưới CVĐC toàn cầu

mở ra cơ hội lớn cho phát triển kinh tế du lịch, đặc biệt phát triển du lịch sinh thái dựa vào cộng đồng, du lịch khoa học, du lịch văn hóa - lịch sử và nghỉ dưỡng; phát triển nền nông nghiệp sạch, tạo sản phẩm hàng hóa gắn với du lịch, tăng cường đầu tư phát triển đàn bò, tạo nên các sản phẩm rau quả sạch, chất lượng cao; phát triển nguồn nhân lực

Năm 2013 có 520.000 lượt khách, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2010, tăng 16,4% so với năm 2012 Tính đến tháng 7/2015, lượng khách du lịch đến với Đồng Văn đạt 366.316 lượt người Đặc biệt trong mùa hoa Tam giác mạch, lượng khách đã tăng đột biến Theo dự báo của ngành du lịch, đến năm

2016, lượng khách đến với Đồng Văn đạt khoảng 800.000 lượt, trong đó có 250.000 lượt khách Quốc tế, thời gian lưu trú bình quân khoảng 1,5 - 4,8 ngày Cơ sở lưu trú du lịch ngày càng được đầu tư, đến nay trên địa bàn tỉnh

có 124 cơ sở được xếp hạng khách sạn, nhà nghỉ gồm 1 khách sạn 3 sao, 31 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 2 sao, với tổng số 1.841 phòng Tổng số lao động làm việc trong ngành du lịch đến nay có 1.227 người Ngoài hoạt động khai thác du lịch ra, tỉnh đã từng bước chú trọng đến hoạt động đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng; hoạt động quảng bá xúc tiến du lịch; hợp tác liên vùng và Quốc tế Bên cạnh đó, cũng tập trung xây dựng, phát triển các sản phẩm du lịch về danh lam thắng cảnh, cảnh quan tự nhiên; sản phẩm du lịch tâm linh;

du lịch hang động; làng văn hóa cộng đồng; làng nghề truyền thống; du lịch chợ phiên vùng cao; du lịch lễ hội; sản phẩm về khu du lịch, nghỉ dưỡng; du lịch sinh thái

b Sa Pa - Lào Cai

Thị trấn Sa Pa xưa là cao nguyên Lồ Suối Tủng, thuộc trại Ngòi Bo, sau

là Tổng Hướng Vinh, Châu Thuỷ Vĩ, tỉnh Hưng Hóa Cách đây đúng 110 năm, vào mùa đông năm 1903, đoàn thám hiểm của Sở Địa lý Đông Dương trong khi tiến hành đo đạc xây dựng bản đồ tỷ lệ 1/100.000 đã khám phá ra cảnh quan cao nguyên Lồ Suối Tủng và làng Sa Pả Đoàn thám hiểm đã đặt

Trang 19

tên cao nguyên và ghi danh vào bản đồ là “Cao trạm Sa Pa” Sự kiện này trở thành dấu mốc lịch sử phát hiện ra Sa Pa

Năm 2013, Sa Pa đón 721.991 lượt khách du lịch, đạt 100,3% kế hoạch được giao Đây là con số rất ấn tượng trong điều kiện kinh tế đất nước, thế giới vẫn đang trong giai đoạn khó khăn, phục hồi suy thoái toàn cầu Các đơn

vị quản lý du lịch đã cấp, phát thẻ đi thăm quan các tuyến du lịch làng bản cho 13.188 đoàn khách, với trên 67 nghìn lượt người Với Sa Pa, năm 2014 có

ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việc hoàn thành toàn diện mục tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện khóa XXI và 6 chương trình, 18 đề án trọng tâm giai đoạn 2011 - 2015 cùng kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội huyện Sa Pa 5 năm (2011 - 2015), Sa Pa nỗ lực thực hiện mục tiêu thu hút lượng khách du lịch đạt 820 nghìn lượt người, tổng doanh thu từ hoạt động dịch vụ - du lịch ước đạt 633 tỷ đồng

Thời gian qua, đồng thời với việc đầu tư phát triển hạ tầng du lịch, Sa Pa

đã thực hiện nhiều biện pháp xây dựng môi trường văn hóa du lịch Sa Pa văn minh hơn, góp phần thu hút khách du lịch trong và ngoài nước Các cấp, các ngành đã tích cực ngăn chặn tình trạng đeo bám khách du lịch, bán hàng rong bằng những việc làm cụ thể như: Tuyên truyền tại các xã có nhiều phụ nữ và trẻ em bán hàng rong, đồng thời đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, hỗ trợ hướng dẫn người dân phát triển các mô hình sinh kế hiệu quả thông qua các câu lạc

bộ thêu, may thổ cẩm, hình thành các điểm bán hàng tập trung tại địa phương

Sa Pa cũng đang rất quan tâm tăng cường công tác quản lý trật tự đô thị, hệ thống chiếu sáng đô thị, công tác vệ sinh môi trường, chăm sóc cây xanh, thảm hoa, thảm cỏ Sa Pa hiện đã có xã Nậm Cang hoàn thành 19/19 tiêu chí xây dựng nông thôn mới Thực hiện phong trào giữ gìn vệ sinh môi trường nông thôn với phương châm “ba sạch, một tốt”, từ năm 2013 công tác vệ sinh môi trường nông thôn đã có nhiều chuyển biến tích cực

Bên cạnh đó, để bảo tồn văn hóa các dân tộc và giới thiệu tới khách du lịch những sản phẩm riêng có, tinh hoa văn hóa của đồng bào dân tộc, Sa Pa

Trang 20

cũng đã quan tâm tới việc xây dựng các điểm bán hàng tập trung tại các xã và một số khu vực thuộc thị trấn, tiêu biểu là điểm trưng bày, giới thiệu sản phẩm thổ cẩm của người Dao đỏ tại Nhà Bảo tàng trung tâm thị trấn Sa Pa; điểm sản xuất và bán tại chỗ các sản phẩm thổ cẩm của dân tộc thiểu số tại chợ Sa Pa Đến nay, một bộ phận người dân đã có sự chuyển biến tích cực trong nhận thức và hành động; cơ bản giảm hiện tượng phụ nữ, người già, trẻ

em người dân tộc đeo bám khách du lịch

Đẩy mạnh quảng bá, xúc tiến du lịch Sa Pa là cơ hội tốt để Sa Pa tiếp tục phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những tồn tại, hạn chế, phát triển

du lịch tương xứng với tiềm năng, thế mạnh, phục vụ cho sự nghiệp phát triển của Sapa

1.3 Bài học cho phát triển du lịch huyện Hoàng Su Phì

Từ việc đúc rút những kinh nghiệm về phát triển du lịch những năm qua cũng như qua quá trình trao đổi học hỏi kinh nghiệm về phát triển du lịch của các địa phương có bề dày kinh nghiệm trong lĩnh vực này như Sa Pa - Lào Cai, Đồng Văn - Hà Giang, ta rút ra bài học kinh nghiệm về phát triển du lịch cho huyện Hoàng Su Phì như sau:

Thứ nhất, các cấp uỷ đảng, chính quyền, của các ngành, cộng đồng dân

cư cũng như các doanh nghiệp cần có nhận thức đúng đắn về vị trí quan trọng của phát triển du lịch bền vững, những đóng góp của ngành du lịch vào phát triển kinh tế- xã hội, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo vệ môi trường sinh thái, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển là tiền đề và là điều kiện cần thiết cho sự phát triển bền vững của ngành du lịch

Thứ hai, cần xây dựng chiến lược và kế hoạch chi tiết, liên kết các tổ chức ban ngành liên quan để cùng nhau tham gia vào hoạt động phát triển du lịch Hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch và nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và cảnh quanh khu vực

Trang 21

Thứ ba, bảo vệ môi trường và cảnh quan tự nhiên Có chiến lược quy hoạch phát triển du lịch cụ thể và hợp lí Nâng cao vai trò của công tác quản lí nhà nước đối với hoạt động du lịch Bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng địa phương Duy trì quy mô cư dân và du khách hợp lí tại các khu du lịch Nâng cao sự tham gia của cộng đồng địa phương vào hoạt động du lịch

Thứ tư, hỗ trợ cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong bảo vệ môi trường và cảnh quan khu

du lịch

Thứ năm, xây dựng kênh thông tin phản hồi ý kiến của du khách, mạng lưới cộng đồng tham gia vào việc giám sát, bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, và môi trường

Thứ sáu, nâng cấp đồng bộ hệ thống giao thông, cơ sở lưu trú, các khu

vui chơi phục vụ du lịch

Trang 22

CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM CỦA HUYỆN HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG 2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của huyện Hoàng Su Phì

Xa xưa, vùng đất huyện Hoàng Su Phì là một bộ phận của huyện Bình Nguyên tỉnh Tuyên Quang Đến cuối đời Lê, huyện Bình Nguyên được đổi là châu Vị Xuyên thuộc phủ Tương Yên, tỉnh Tuyên Quang Đến năm 1835, triều đình Hậu Lê cắt phần đất nằm ở hữu ngạn sông Lô để thành lập huyện mới lấy tên là Vĩnh Tuy (sau đổi là Bắc Quang) Phần đất còn lại gọi là huyện

Vị Xuyên với 5 tổng, 31 xã trong đó có tổng Hoàng Su Phì.Dưới thời Pháp thuộc, Hoàng Su Phì (Tức Hoàng Thụ Bì) gồm các tổng xã:

- Tổng Tụ Nhân: Gồm các xã Bản Luốc, Ho Tao, Trung Thịnh, Tụ nhân;

- Tổng Xín Mần (Tiền Môn): Gồm các xã Hữu Yên và Man Máy

Sau cách mạng tháng 8, dưới chính thể mới của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà, ngày 30-4-1962, một số xã của Hoàng Su Phì được chia thành nhiều xã nhỏ, trong đó xã Tụ Nhân chia thành 5 xã gồm: Tụ Nhân, Đản Ván, Thèn Chú Phùng, Pố Lồ, Chiên Phố, xã Bản máy Chia thành 5 xã gồm: Bản Phùng, Bản Máy, Bản Pắng, Nàn Xỉn, Thàng Tín; xã Chí Cà chia thành 2 xã: Chí Cà, Pà Vầy Sủ.Đến ngày 13-12-1962, xã Thèn Chú Thùng đổi tên là Thèn Chu Phìn; đồng thời chia các xã Trung Thịnh thành 6 xã: Việt Thái, Trung Thịnh, Ngán Chiên, Thu Tà, Nàng Đôn, Pờ Ly Ngài; xã Chế Là thành 4 xã: Cốc Rế, Tả Nhìu, Chế Là, Nấm Dẩn; xã Cốc Pài thành 3 xã: Cốc Pài, Nàn Ma, Bản Ngò Ngày 1/4/1965, Chính phủ ra Quyết định số 49-CP về việc chia tách huyện Hoàng Su Phì thành 2 huyện: Hoàng Su Phì và Xín Mần Trong đó huyện Hoàng Su Phì gồm 21 xã.Ngày 18/11/1983, Nghị quyết số 136/HĐBT của Hội đồng bộ trưởng tách xã Nàng Đôn, Trung Thịnh nhập vào huyện Xín Mần; xã Bản Máy (Xín Mần), xã Thông Nguyên, Tiên Nguyên (Bắc Quang) nhập vào Hoàng Su Phì và thành lập xã Xuân Minh nâng tổng số xã là 23 xã Năm 1986, thành lập xã Nậm Khòa tách từ xã Thông Nguyên, tổng số 24 xã Tháng 7 năm 1991: Thành lập xã Nậm Ty tách từ xã Thông Nguyên, sáp nhập

Trang 23

xã Nàng Đôn, Bản Phùng của huyện Xín Mần vào Hoàng Su Phì, tổng số là

27 xã Tháng 7/1997, xã Vinh Quang được công nhận là thị trấn Vinh Quang Ngày 01/12/2003 tách các xã: Xuân Minh, Tiên Nguyên về Quang Bình Hiện

nay, Huyện Hoàng Su Phì có tổng số 24 xã và 1 thị trấn

2.2 Điều kiện tự nhiên

2.2.1 Vị trí địa lý

Hoàng Su Phì là huyện biên giới phía tây của tỉnh Hà Giang nằm trên thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc, cách thành phố Hà Giang 100km về phía tây

 Phía bắc giáp Trung Quốc,;

 Phía tây giáp huyện Xín Mần;

 Phía đông giáp huyện Vị Xuyên;

 Phía đông nam và nam giáp các huyện Bắc Quang, Quang Bình

Về địa giới hành chính: Toàn huyện có tổng số 193 thôn bản và 06 tổ dân

phố thuộc 24 xã và 1 thị trấn gồm: Bản Luốc, Bản Máy, Bản Nhùng, Bản Péo, Bản Phùng, Chiến Phố, Đản Ván, Hồ Thầu, Nam Sơn, Nàng Đôn, Nậm Dịch, Nậm Khòa, Nậm Ty, Ngàm Đăng Vài, Pố Lồ, Pờ Ly Ngài, Sán Sả Hồ, Tả Sử Choóng, Tân Tiến, Thàng Tín, Thèn Chu Phìn, Thông Nguyên, Tụ Nhân, Túng Sán, thị trấn Vinh Quang

2.2.2 Đặc điểm khí hậu, thủy văn

a) Khí hậu:

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và là miền núi cao, khí hậu Hoàng Su Phì nói riêng và Hà Giang nói chung về cơ bản mang những đặc điểm của vùng núi Việt Bắc - Hoàng Liên Sơn, song cũng có những đặc điểm riêng biệt, mát và lạnh hơn các tỉnh miền Đông Bắc nhưng ấm hơn các tỉnh miền Tây Bắc Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 21 đến 24 độ C, biên độ nhiệt trong năm có sự giao động trên 10 độ C và trong ngày cũng từ 6 đến 7 độ C Mùa nóng nhiệt độ cao tuyệt đối lên đến 40 độ C (tháng 6, tháng 7), ngược lại mùa lạnh nhiệt độ thấp tuyệt đối là 2,2 độ C (tháng 1) Chế độ mưa khá phong phú, lượng mưa giao động trong vùng giữa các năm và các tháng trong năm

Trang 24

khá lớn Độ ẩm bình quân hàng năm đạt 85% và sự giao động cũng không lớn, thời điểm cao nhất (tháng 6,7,8) vào khoảng 88%, thời điểm thấp nhất (tháng 1,2,3) cũng vào khoảng 81% Đặc điểm nổi bật về khí hậu Hoàng Su Phì là độ ẩm trong năm cao, mưa nhiều và kéo dài, nhiệt độ mát và lạnh, đều

có ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống

b) Thủy văn:

Trên địa bàn huyện Hoàng Su Phì có 2 con sông suối lớn chảy qua đó là: Sông Chảy được bắt nguồn từ các khe núi thuộc sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnh và sườn đông bắc đỉnh Chiêu Lầu Thi trên khối núi Tây Côn Lĩnh phía tây bắc tỉnh Hà Giang nằm trên địa phận các xã Túng Sán, Hồ Thầu, Sam Sơn huyện Hoàng Su Phì và xã Thượng Sơn huyện Vị Xuyên Sông Bạc có khởi nguồn từ các nhánh suối thuộc sườn tây nam đỉnh Tây Côn Lĩnhthuộc các xã Nậm Ty, Thông Nguyên, Nậm Khòa và sườn đông nam đỉnh Chiêu Lầu Thi trên khối núi Tây Côn Lĩnh thuộc địa bàn huyện Hoàng Su Phì Đây là nguồn cung cấp nước rồi rào cho các hoạt động sinh hoạt, sản xuất của người dân các huyện Hoàng Su Phì, Xín Mần, Quang Bình và Bắc Quang, đồng thời là nguồn năng lượng quan trọng cho việc duy trì hoạt động của Nhà máy thủy điện Thác Bà cũng như việc xây dựng các công trình thủy điện của các địa

phương tỉnh Hà Giang

2.2.3 Đặc điểm địa hình, đất đai

Do toàn bộ địa hình của huyện Hoàng Su Phì nằm trên lưu vực thượng nguồn sông Chảy và sông Bạc, có kết cấu địa hình phức tạp chủ yếu là đồi núi dốc bị nhiều con suối chia cắt nên giao thông đi lại khó khăn, vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét, lũ ống Toàn huyện có tổng diện tích tự nhiên là 63.303,34 ha Trong đó:

 Đất nông nghiệp: 11.075 ha

 Đất lâm nghiệp: 26.427,2 ha

 Đất khác: 25.801,14 ha

Trang 25

Toàn bộ địa hình của huyện Hoàng Su Phì nằm trên khối núi đất thượng nguồn sông Chảy được cấu tạo cách đây ít nhất 500 triệu năm có độ cao trung bình từ 1.300 -1.700 m trong đó có 2 đỉnh núi cao nhất nhì nước ta là Đỉnh Tây Côn Lĩnh cao 2.423m và đỉnh Chiêu Lầu Thi cao 2.402m Do địa hình núi đất có độ đốc lớn, kết cấu yếu, bị nhiều khe suối chia cắt nên địa bàn huyện Hoàng Su Phì tương đối phức tạp, thường hay sạt lở về mùa mưa, khí hậu chia thành nhiều tiểu vùng khác nhau với 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng

5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau Tại các xã vùng cao khí hậu mát mẻ phù hợp cho việc trồng trọt canh tác nhiều loài cây đặc hữu như: Chè san tuyết, thảo quả và các loài dược liệu quý hiếm khác

2.3 Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.3.1 Tình hình văn hóa - xã hội

Hoàng Su Phì là nơi tập trung nhiểu lễ hội của các dân tộc như; lễ hội Cu

cù tê của dân tộc La Chí; Cấp sắc, Nhảy lửa, Cầu mùa của dân tộc Dao đỏ; Lồng Tồng của dân tộc Tày, Cúng rừng của dân tộc Nùng Khu vực khoanh vùng di tích thuộc vào địa phận của 2 thôn: Nậm Lỳ, xã Bản Luốc và Lủng Dăm xã Sán Sả Hồ, hai thôn này là địa bàn sinh sống của hai dân tộc: Nùng (nhóm Nùng Dín còn gọi là Nùng U) và dân tộc Dao (nhóm Dao Áo dài) Thôn Nậm Lỳ trước kia có tên là Sám Cạp (Ba con suối), đến năm 1976 mới đổi thành thôn Nậm Lỳ (suối dốc) Toàn thôn hiện có 57 hộ với 273 nhân khẩu, dân số trong thôn toàn bộ là người Dao Thôn Lủng Dăm hiện có 33 hộ với 163 nhân khẩu, 100% số hộ trong thôn là người Nùng

Giáo dục và đào tạo có nhiều đổi mới, chất lượng dạy và học được nâng lên rõ rệt:

 Tỷ lệ huy động trẻ dưới 2 tuổi đi nhà trẻ 16,63 %;

 Tỷ lệ huy động trẻ 5 tuổi đến lớp mẫu giáo 98,75 %;

 Tỷ lệ huy động trẻ 6 - 14 tuổi đến trường 98%

Công tác chăm sóc sức khoẻ cho nhân dân được duy trì thường xuyên từ tuyến huyện đến tuyến xã, duy trì tốt các mục tiêu Chương trình y tế Quốc

Trang 26

gia Giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn 1,47 %; Giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng xuống còn 21,2 %

Tính đến ngày 20/12/2016 toàn huyện có 13.649 hộ, 66.258 nhân khẩu của trên 13 dân tộc chủ yếu

Bảng 2.1:Dân số và dân tộc huyện Hoàng Su Phì

(Nguồn: Trang thông tin điện tử huyện HSP)

Người Nùng là dân tộc có lịch sử cư trú lâu đời tại huyện Hoàng Su Phì tỉnh Hà Giang Theo nhiều nguồn tài liệu nghiên cứu và tư liệu khảo sát đều xác định tộc người Nùng có nguồn gốc di cư đến từ vùng Tây Nam Trung Quốc Theo các tài liệu còn để lại thì người Nùng di cư vào Việt Nam khoảng trên 300 năm nay, họ sang Việt Nam theo từng nhóm, vào từng thời điểm khác nhau, chia làm nhiều đợt Nguyên nhân di cư của họ chủ yếu là do bị áp bức bóc lột nặng nề, bị chèn ép và nhất là bị đàn áp đẫm máu sau những cuộc khởi nghĩa không thành công Từ bao đời nay, với truyền thống cần cù, chịu khó, sáng tạo, với ý chí tự lực, tự cường, đồng bào các dân tộc huyện Hoàng

Su Phì đã gắn bó với làng bản, ruộng nương, kiên trì đấu tranh với thiên nhiên, khắc phục những điều kiện nghiệt ngã làm ra hạt thóc, hạt ngô, manh áo… để tồn tại và phát triển, xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn

Trang 27

xá bệnh viện, điện lư

mặt của nông thôn huy

Cơ cấu kinh tế:

cầm là: 215.616 con Công tác chăm sóc, kh

rừng qua được quan tâm, đ

.2 Tình hình phát triển kinh tế của huyện

ng kê đến cuối năm 2016, tỷ lệ hộ nghèo trên đ

m 53,19% Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,9 tri

ã có 100% các xã trong Huyện có đường ô tô đến trung tâm xã (

ng nhựa hoặc đường bê tông), hệ thống trư

n lưới Quốc gia được xây dựng đã làm thay

a nông thôn huyện Hoàng Su Phì

:

ểu đồ 2.1: Cơ cấu ngành kinh tế của huyện Hoàng Su Phì

t nông - lâm nghiệp chuyển dịch đúng hướ

ng, sản xuất hàng hoá được duy trì, hệ s

n tích gieo trồng là: 24.039 ha Tổng sản lượ

t 100,03 %KH Tổng đàn gia súc là: 88.867 con T

m là: 215.616 con Công tác chăm sóc, khoanh nuôi tuyên truy

c quan tâm, đã tiến hành trồng rừng mới trong năm đưừng đạt 40,5 % Các chương trình, dự

: Chương trình di dân biên giới đã thực hi, đạt 100% kế hoạch đối với chương tr

n hoàn thành 516 nhà, đạt 100 % kế hoạch; Mở đư

giao thông nông thôn Đồng thời thực hiện hoàn thành 3 đi

p trung, xen ghép với 543 hộ

Nông, lâm nghiệp Công nghiệp Thương mại

nghèo trên địa bàn huyện

ng đàn gia súc là: 88.867 con Tổng đàn gia

oanh nuôi tuyên truyền và bảo vệ

i trong năm được 1.140

án được triển khai

c hiện hoàn thành đưa

i chương trình xoá nhà tạm,

được 72,4 km đường

n hoàn thành 3 điểm quy tụ dân cư

Nông, lâm nghiệp Công nghiệp - xây dựng Thương mại - Dịch vụ

Trang 28

Đối với chương trình xây dựng nông thôn mới đã huy động được nhiều nguồn lực tham gia thực hiện chương trình; đã triển khai làm đường giao thông nông thôn được 8.003 m, láng nền nhà lớp học mầm non được 104 điểm trường và láng nền nhà dân hoàn thành 154 nhà Xây dựng 100 bể nước

ăn hộ gia đình và triển khai xây dựng được 70 công trình vệ sinh Đồng thời hoàn thành nghiệm thu đưa vào sử dụng 02 nhà Văn hóa thôn Pú lũng và Sủng cháng Đến nay huyện Hoàng Su Phì hoàn thành 1 tiêu chí đó là tiêu chí

số 19: An ninh trật tự xã hội

Sản xuất chính của nhân dân trong thôn chủ yếu sống bằng nghề nông nghiệp làm nương rẫy, ngô là cây cây lương thực chủ yếu Ngoài trồng ngô, đồng bào nơi đây còn trồng lúa, rau đậu, các loại cây ăn quả, cây dược liệu, cây công nghiệp như chè Shan tuyết nổi tiếng của vùng

Nhân dân các dân tộc Hoàng Su Phì luôn đoàn kết phấn đấu đạt được những kết quả nổi bật trong phát triển kinh tế - văn hóa - xã hội Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt trên 13,3%; tổng sản phẩm xã hội năm 2016 đạt 968,8 tỉ đồng, lương thực đạt gần 64 ngàn tấn - theo đó bình quân lương thực đạt 547kg/người/năm, cơ bản đã xóa xong hộ đói, tỉ lệ hộ nghèo giảm theo các năm, năm 2015 tỉ lệ hộ nghèo chiếm 48,76%, giảm hơn 10% so với năm

2014 Nhiều năm qua, để giải quyết vấn đề lương thực, huyện đã chỉ đạo luân canh cây trồng, đưa các loại cây con, giống mới vào gieo trồng; tăng hệ số sử dụng đất; có cơ chế hỗ trợ khuyến khích sản xuất phát triển bằng việc hỗ trợ lãi xuất cho nhân dân vay vốn ngân hàng, gắn sản xuất với chế biến, tiêu thụ

để giải quyết đầu ra cho hàng nông sản của nhân dân Huyện cũng triển khai, nhân rộng nhiều mô hình kinh tế trên các lĩnh vực sản xuất, chế biến nông - lâm sản…

Với đặc điểm về địa hình và những yếu tố về địa lý, thành phần dân tộc

đa dạng nên Hoàng Su Phì còn lưu giữ được những vốn văn hoá truyền thống phong phú, đa dạng và các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể, mang bản sắc riêng rẽ độc đáo thể hiện qua các lễ hội, các làng nghề, các di tích văn hóa

Trang 29

lịch sử tiêu biểu như lễ hội Cu Cù Tê của người La Chí, lễ hội của dân tộc Dao Đỏ, lễ hội Gầu Tào của người Mông các làn điệu dân ca, dân vũ truyền thống cùng các lễ thức tâm linh tín ngưỡng phong phú được nhân dân các dân tộc bảo lưu gìn giữ, tạo nên sự đa dạng độc đáo của văn hóa truyền thống các dân tộc trong huyện trở thành nguồn tài nguyên du lịch nhân văn giá trị

2.4 Đánh giá những thuận lợi và khó khăn về ảnh hưởng phát triển du lịch tại huyện Hoàng Su Phì

2.4.1 Thuận lợi

Hoàng Su Phì có tiềm năng phát triển du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa cộng đồng Hiện tại, Hoàng Su Phì đã quy hoạch xây dựng 4 làng văn hóa du lịch cộng đồng tại xã Thông Nguyên gồm: Phìn

Hồ, Làng Giang, Giàng Thượng, Nậm Hồng Ngoài ra, Hoàng Su Phì còn có

du lịch sinh thái Pan Hour (nhà của người Dao), các lễ hội của 11 anh em dân tộc như nhảy lửa dân tộc dao, ném còn của dân tộc Nùng, Tày, các làng nghề như dệt thổ cẩm, có tắm lá thuốc dân tộc Dao, ngắm hoa tam giác mạch tại các xã Sán Sả hồ, thôn Pố Lũng của Thị trấn Vinh Quang, chợ phiên Hoàng

Su Phì họp vào ngày chủ nhật hàng tuần, chợ đêm tối thứ bẩy hàng tuần diễn

ra tại Thị trấn huyện, đặc biệt là ruộng bậc thang Hoàng Su Phì là một trong những cảnh quan thiên nhiên được rất nhiều khách du lịch ưa thích Di sản ruộng bậc thang thuộc 6 xã: Bản Luốc, Bản Phùng, Nậm Ty, Thông Nguyên,

Hồ Thầu, Sán Xả Hồ, trong đó khu vực có cảnh quan đẹp nhất nằm vào địa phận các xã Bản Luốc, Sán Sả Hồ và Bản Phùng Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì không những có giá trị đặc sắc về cảnh quan mà hơn thế, nó còn mang giá trị minh chứng cho lịch sử tồn tại và phát triển của cộng đồng người tại đây Đồng thời những thửa ruộng bậc thang cũng là tài sản và tạo nguồn thu nhập chính cho nhân dân các dân tộc trong huyện Hoàng Su Phì có những đặc sản như: Cá chép nuôi ở ruộng bậc thang, cải nương chấm nước mắm trứng và rượu thóc Nàng Đôn Phiên chợ chủ nhật và chợ chợ đêm vào tối thứ 7 hàng tuần, các làng nghề dệt thổ cẩm, các lễ hội của các dân tộc được bảo tồn như

Trang 30

Cấp sắc, nhảy lửa dân tộc Dao, Ném còn của dân tộc Nùng, tắm lá dân tộc Dao Cùng với Hoa tam giác mạch ở xã Sán Xả Hồ, thôn Pố Lũng của Thị trấn Vinh Quang Hoàng Su Phì có nhiều điều kiện phát triển kinh tế, đặc biệt

là nông nghiệp chiếm tỷ trọng 58,4% GDP hằng năm với những lợi thế ở các cây chè, thảo quả, rau quả, lúa gạo Cùng với đó là công nghiệp và thương mại dịch vụ đang có bước phát triển nhanh trong những năm gần đây Hệ thống giao thông và thông tin liên lạc của huyện đã tương đối hoàn thiện nên

đã tạo ra cho Hoàng Su Phì tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch sinh thái với hàng loạt hệ thống các cơ sở phục vụ du lịch đã đi vào hoạt động, đặc biệt

là khu du lịch sinh thái Pan Hau - Thông Nguyên được rất nhiều du khách nước ngoài đến để ngủ lại và thưởng thức các khúc hát người bản địa và tắm

lá thuốc dân tộc dao Hiện ngành công nghiệp không khói này đã được xác định là mũi nhọn kinh tế của địa phương trong những năm tiếp theo

2.4.2 Khó khăn

Bên cạnh những kết quả đã đạt được như trên, hoạt động du lịch của huyện những năm qua cho thấy việc phát triển du lịch chưa thực sự tương xứng với tiềm năng vốn có Do đây là một lĩnh vực còn mới mẻ đối với huyện nên các hoạt động văn hóa phục vụ du lịch còn manh mún, thiếu tính chuyên nghiệp, hoạt động du lịch của huyện hiện nay chủ yếu là du lịch sinh thái, chưa phát huy được tiềm năng thế mạnh sẵn có của địa phương Hệ thống cơ

sở hạ tầng dịch vụ du lịch như: Nhà hàng, khách sạn chưa phát triển, đội ngũ cán bộ làm công tác du lịch vừa thiếu và yếu, nhận thức của nhân và một bộ phận cấp uỷ chính quyền cơ sở về du lịch còn hạn chế, việc gắn kết giữa văn hóa và du lịch chưa chặt chẽ, chưa rõ nét Các sản phẩm du lịch, dịch vụ du lịch chưa đáp ứng nhu cầu của du khách Việc liên kết giữa các địa phương và giữa Huyện với các công ty du lịch chưa được chặt chẽ Đặc biệt, huyện chưa đầu tư xây dựng được hệ thống cơ sở hạ tầng đồng bộ về du lịch, nhất là trên những tua tuyến đã quy hoạch, chưa cung cấp được những dịch vụ và sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu ăn nghỉ và mua sắm cho khách du lịch khiến

Trang 31

cho việc duy trì hoạt động của các tua tuyến gặp khó khăn, đặc biệt là chưa tạo được thương hiệu về du lịch của huyện Hoàng Su Phì nên lượng khách du lịch đến với huyện chưa nhiều, người dân chưa thực sự được hưởng lợi từ các hoạt động du lịch Hoàng Su Phì là 1 trong 19 khu vực phía Bắc có nguy cơ trượt lở cao, 6/25 xã, thị trấn ở Hoàng Su Phì có nguy cơ trượt lở, do có nhiều sương mù và vào mùa mưa thường xảy ra lũ quét, lũ bùn đá mạnh và rất mạnh

ở khu vực các xã trên thượng nguồn các sông nhánh Đây cũng là những khó khăn ảnh hưởng lớn đến việc phát triển kinh tế xã hội ở địa phương, xây dựng

cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch Cơ sở hạ tầng phục vụ cho phát triển du lịch còn hạn chế, chưa được đầu tư đúng mức Hệ thống thông tin liên lạc, đường giao thông đi lại còn nhiều khó khăn, đây là yếu tố ảnh hưởng lớn đến việc tham quan du lịch của các du khách trong thời gian tới Hoạt động du lịch còn manh mún nhỏ lẻ, chưa tạo thành hệ thống cung cấp các dịch vụ du lịch chuyên nghiệp nên giá trị mang lại chưa cao

Trang 32

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DU LỊCH TẠI HUYỆN

HOÀNG SU PHÌ TỈNH HÀ GIANG 3.1 Tiềm năng và điều kiện phát triển du lịch huyện

3.1.1 Tiềm năng về du lịch tự nhiên

Hà Giang nói chung và Hoàng Su Phì nói riêng là một địa danh du lịch với những cảnh quan thiên nhiên hùng vĩ, những nét sinh hoạt truyền thống lâu đời đặc sắc của đồng bào các dân tộc Một trong những thế mạnh của du lịch tại địa phương là du lịch sinh thái như: ruộng bậc thang, thảm thực vật phong phú và đa dạng với nhiều loại động thực vật quý hiếm của vùng cao và nét văn hóa độc đáo của đồng bào dân tộc, đây chính là nguồn lợi đáng kể đóng góp vào kinh tế địa phương đồng thời cũng là tiềm năng để xây dựng những khu bảo tồn thiên nhiên với những loại thực vật và động vật phong phú Bên cạnh đó cảnh quan vùng cao Hoàng Su Phì cho đến nay vẫn mang đậm nét hoang sơ, thuần khiết với những dãy núi đất hùng vĩ với những thửa ruộng bậc thang nối tiếp nhau cùng với cả hệ thống thác nước, hang động đẹp không chỉ có giá trị về cảnh quang mà còn chứa đựng những dấu ấn di tích lịch sử Một số cảnh quan thiên nhiên nổi tiếng Hoàng Su Phì:

 Ruộng bậc thang Hoàng Su Phì:

RBT là danh thắng đã được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận

là di tích cấp quốc gia Nằm trên địa bàn 6 xã Bản Luốc, Sán Sả Hồ, Bản Phùng, Hồ Thầu, Nậm Ty và Thông Nguyên tổng diện tích gần 765 ha Cây lúa tại Hoàng Su Phì thân dài hơn so với Mù Căng Chải và các thửa RBT cũng ở cao hơn

Đây là những xã có danh lam thắng cảnh RBT tiêu biểu, được đánh giá vào loại đẹp nhất Việt Nam với lịch sử hàng trăm năm, do đồng bào các dân tộc La Chí, Dao, Nùng tạo nên bằng chính bàn tay lao động cần cù và sáng tạo của mình RBT Hoàng Su Phì không chỉ mang những giá trị về mặt vật chất mà còn mang nhiều giá trị về lịch sử, văn hóa và giá trị thẩm mỹ cao

Trang 33

Với việc công nhận là Di tích cấp quốc gia, RBT Hoàng Su Phì sẽ trở thành một trong những điểm thu hút du khách trong và ngoài nước tới chiêm ngưỡng công trình độc đáo và mang đâm nét văn hóa của bà con vùng cao Hoàng Su Phì

Hình 3.1: Mùa vàng ở Hoàng Su Phì

Hoàng Su Phì mang trong mình cái đẹp duyên dáng của những cánh đồng thửa RBT bao la, mềm mại lại vừa sở hữu cái đẹp hùng vĩ của những thác khe, hay những đồi thông trùng trùng điệp điệp Và đặc biệt, khi mùa thu về, cánh đồng lúa vàng chín rực rỡ khoác lên Hoàng Su Phì một vẻ đẹp lộng lẫy

Không chỉ có vậy, Hoàng Su Phì còn là một điểm đến tuyệt vời cho những tour du lịch cộng đồng Điểm đến đặc biệt nhất là Pan Hour - khu du lịch sinh thái bên dòng suối Thông Nguyên Giữa không gian yên bình và lãng mạn của mảnh đất này, sự hồn nhiên, trẻ trung của những cô gái Dao, tìm hiểu về đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc Dao tại đây chắc chắn sẽ để lại ấn tượng tốt đẹp về chuyến du lịch Hoàng Su Phì, Hà Giang trong lòng du khách

Hình 3.2: Mùa nước đổ ở Hoàng Su Phì

Trang 34

 Chinh phục đỉnh Tây Côn Lĩnh:

Hình 3.3: Đỉnh Tây Côn Lĩnh

Tây Côn Lĩnh là một trong những địa điểm du lịch thú vị ở Hoàng Su Phì Du khách đến đây muốn được trải nghiệm cảm giác mới mẻ của thiên nhiên vùng núi hoang sơ, chinh phục đỉnh Tây Côn Lĩnh bướng bỉnh huyền thoại, cung đường khó của vùng Đông Bắc với khu rừng không có lối vào hay lối ra rõ ràng Để băng qua được đây, đòi hỏi bạn phải có sự kiên trì, dũng cảm và mạnh mẽ

Với độ cao 2.427 m, Tây Côn Lĩnh là một trong những ngọn núi cao nhất Việt Nam, là nóc nhà của núi rừng Đông Bắc Trên đỉnh núi có mốc trắc địa Dưới chân núi là rừng nguyên sinh á nhiệt đới còn được bảo tồn Tây Côn Lĩnh được coi là dãy núi thiêng của người dân tộc La Chí

 Đồi chè cổ thụ:

Hình 3.4: Đồng bào dân tộc hái chè Shan tuyết

Trang 35

Tây Côn Lĩnh Hoàng Su Phì nổi tiếng với loại chè shan tuyết cổ thụ hàng trăm năm tuổi Sau khi vượt qua cổng trời Hoàng Su Phì, bạn sẽ thấy nhiều cây chè cổ thụ cao quá đầu người Càng lên cao, mật độ càng dày và trải dài đến mênh mông, ẩn hiện trong sương sớm, khiến ai ngang qua đều có cảm giác như lạc về miền cổ tích Bạn có thể dừng chân ở rừng chè cổ thụ của

xã Hồ Thầu, nằm trên độ cao 1.500 m, để ngắm bạt ngàn chè cao chót vót, cành lá sum suê Trong những phút nghỉ chân dưới tán mát của chè, bạn sẽ thấy dâng tràn nguồn cảm hứng để sáng tạo nên những khuôn hình mang đậm dấu ấn của Tây Côn Lĩnh

3.1.2 Tiềm năng về du lịch nhân văn

- Các di tích lịch sử văn hóa

a Di tích lịch sử đồn Pố Lũng thị trấn Vinh Quang

Đồn Pố Lũng TT.Vinh Quang hay còn gọi là Bốt Pháp được người Pháp xây dựng từ những năm cuối thế kỷ XIX trên một ngọn đồi phía đông thị trấn Vinh Quang của huyện Hoàng Su Phì Đây là quần thể kiến trúc quân sự liên hoàn với hệ thống lô cốt xây bằng đá được nối với nhau bằng hệ thống giao thông hào, ụ gác và một đoạn hầm ngầm lên khu vực lô cốt phía trên đỉnh đồi

Hình 3.5: Bốt Pháp tại xã Pố Lồ

Hiện nay, hệ thống lô cốt, hầm hào vẫn được nhân dân thôn Pố Lũng giữ gìn gần như nguyên vẹn, như một chứng tích chiến tranh và tội ác của thực dân Pháp, song do thời gian mưa nắng nên công trình nhà chỉ huy đã bị đổ sập

Ngày đăng: 23/06/2021, 15:51

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm