1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chất lượng dân số với dân tộc thái tại xã mường tè huyện mường tè tỉnh lai châu

73 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chất Lượng Dân Số Với Dân Tộc Thái Tại Xã Mường Tè, Huyện Mường Tè, Tỉnh Lai Châu
Tác giả Lò Thị Thủy
Người hướng dẫn Thạc Sĩ Nguyễn Thị Kiều Trang
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Công Tác Xã Hội
Thể loại khóa luận tốt nghiệp
Năm xuất bản 2020
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 73
Dung lượng 1,73 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ (11)
    • 1.1. Cơ sở lý luận của nghiên cứu (11)
      • 1.1.1. Một số khái niệm sử dụng trong đề tài (11)
      • 1.1.2. Khái niệm chất lƣợng dân số (0)
      • 1.1.3. Các lý thuyết đƣợc sử dụng trong đề tài (0)
    • 1.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài (16)
      • 1.2.1. Pháp luật về dân số của Việt Nam (16)
    • 1.3. Các chỉ tiêu phản ánh về chất lƣợng dân số (18)
      • 1.3.1. Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao về thể chất (18)
      • 1.3.2. Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện về trí tuệ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề của dân cƣ (18)
      • 1.3.3. Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao về tinh thần: Đánh giá về tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng của dân cƣ (18)
      • 1.3.4. Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản (19)
  • CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ CỦA ĐỒNG BÀO THÁI TẠI XÃ MƯỜNG TÈ-HUYỆN MƯỜNG TÈ-TỈNH LAI CHÂU (20)
    • 2.1. Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mức độ hưởng thụ vật chất (20)
      • 2.1.1. Kinh tế của hộ và sự phản ánh về mức thu chi của hộ đồng bào dân tộc Thái (20)
      • 2.1.2. Mức hưởng thụ về hạ tầng cơ sở (25)
    • 2.2. Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí mức độ hưởng thụ về mặt tinh thần (31)
      • 2.2.1. Thông tin truyền thông (31)
      • 2.2.2. Đời sống văn hóa của người đồng bào Thái (32)
    • 2.3. Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mặt thể chất (34)
      • 2.3.1. Mức độ chăm sóc sức khỏe của người dân (34)
      • 2.3.2. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng (39)
      • 2.3.3. Tuổi thọ trung bình (41)
    • 2.4. Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mặt trí tuệ (43)
      • 2.4.1. Giáo dục (43)
      • 2.4.2. Đào tạo nghề (51)
    • 2.5. Nguyên nhân (52)
      • 2.5.1. Nguyên nhân chủ quan (52)
      • 2.5.2. Nguyên nhân khách quan (57)
    • 2.6. Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dân số (60)
      • 2.6.1. Giải pháp nâng cao thể chất (61)
      • 2.6.2. Giải pháp nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn cho người dân (62)
      • 2.6.3. Nâng cao đời sống tinh thần của người dân (63)
      • 2.6.4. Giải pháp nâng cao đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản (64)
      • 2.6.5. Tăng cường công tác nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số (65)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ

Cơ sở lý luận của nghiên cứu

1.1.1 Một số khái niệm sử dụng trong đề tài

Việc làm rõ các khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài không chỉ giúp chúng ta sử dụng chúng như công cụ nghiên cứu mà còn định hướng phạm vi nội dung và phương pháp tiếp cận vấn đề nghiên cứu.

Theo “Sổ tay GDDS” thì dân số (population) là tổng số người sống trên một lãnh thổ nhất định đƣợc tính vào một thời điểm nhất định

Trong cuốn "Một số vấn đề cơ bản về GDDS (Dự án VIE/94/P01)", dân số được định nghĩa là cộng đồng người sống trên một lãnh thổ tại một thời điểm nhất định Thuật ngữ dân số không chỉ đề cập đến số lượng mà còn phản ánh chất lượng dân số, bao gồm kết cấu, sự phân bố và trình độ văn hóa Khi nói về dân số của một địa phương, cần xem xét hai khía cạnh: thứ nhất là số lượng và kết cấu (theo tuổi, giới tính, lãnh thổ), thứ hai là các vấn đề liên quan đến sinh tử, di dân, mức sống và trình độ văn hóa Do đó, nghiên cứu dân số phải bao gồm cả hai mặt này để có cái nhìn toàn diện.

Chất lượng có thể được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau Đối với nhà sản xuất, chất lượng thể hiện mức độ hoàn thiện của sản phẩm hoặc dự án so với tiêu chuẩn thiết kế Trong lĩnh vực dịch vụ, chất lượng bao gồm tổng thể các đặc tính của một thực thể, phù hợp với việc sử dụng và đáp ứng nhu cầu tiêu dùng Ngoài ra, chất lượng còn được xem là giá trị mà khách hàng nhận được, đảm bảo sự thỏa mãn nhu cầu của họ.

Chất lượng sản phẩm được xác định qua các thuộc tính vật chất và khả năng sử dụng lâu dài, đảm bảo tính bền vững Những yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc đánh giá độ tin cậy và hiệu quả của sản phẩm dịch vụ.

 Chất lƣợng là phạm trù có thể áp dụng đối với mọi thực thể

 Chất lƣợng phải thể hiện trên một tập hợp nhiều đặc tính của thực thể, thể hiện khả năng thỏa mãn nhu cầu

Chất lượng được định nghĩa là sự phù hợp với nhu cầu của thị trường Một sản phẩm dù đạt tiêu chuẩn nhưng không đáp ứng được nhu cầu và không được thị trường chấp nhận thì vẫn bị coi là thiếu chất lượng Vì vậy, chất lượng được đo lường qua mức độ thỏa mãn nhu cầu của người tiêu dùng.

 Chất lượng phải gắn với điều kiện cụ thể của nhu cầu, của thị trường về các mặt kinh tế, kỹ thuật, xã hội, phong tục tập quán

1.1.2 Khái niệm chất lượng dân số

Chất lượng dân số phản ánh các đặc điểm thể chất, trí tuệ và tinh thần của toàn bộ dân cư, theo quy định tại Điều 3, Mục 6 của Pháp lệnh Dân số Việt Nam 2003.

Kể từ đầu những năm 1980, các nhà nghiên cứu về dân số và phát triển đã chú trọng đến vấn đề phát triển con người và tác động của nó đối với sự phát triển kinh tế của các quốc gia Thuật ngữ “Chất lượng dân số” đã trở nên phổ biến từ thời điểm đó Hiện nay, có ba quan niệm chính về chất lượng dân số.

Chất lượng dân số được hiểu là tổng hợp các đặc trưng xã hội và con người trong cộng đồng, bao gồm thể lực, sức chịu đựng, trí thông minh, đạo đức, khả năng tư duy, cũng như trình độ học vấn và tay nghề của cư dân.

Quan niệm thứ hai về chất lượng dân số cho rằng đây là tập hợp các cấu trúc khác nhau, được xác định bởi phương thức sản xuất và chất lượng lao động xã hội, theo C Mar Các cấu trúc này bao gồm cấu trúc giai cấp, cấu trúc xã hội, sức khỏe, giáo dục, nghề nghiệp, hôn nhân, giới tính, độ tuổi và dân tộc.

Chất lượng dân số cần được xem xét từ góc độ lý thuyết về vốn con người, theo quan niệm thứ ba Những người ủng hộ quan điểm này cho rằng có một tập hợp các đặc trưng cơ bản tạo nên chất lượng dân số, bao gồm sức khỏe, trình độ học vấn và trình độ nghề nghiệp.

7 và kinh nghiệp sản xuất ra của cải vật chất…Luồng quan niệm này rất gần với khái niệm “ Phát triển con người” mà UNDP đề xuất

Dân số được coi là chất lượng tốt khi đảm bảo sự sinh tồn, sức khỏe tốt, tỷ lệ người tàn tật và mắc bệnh thần kinh thấp Ngoài ra, trình độ học vấn cao, đời sống vật chất và tinh thần phong phú, tự do phát triển, gắn kết cộng đồng mạnh mẽ và an ninh được đảm bảo cũng là những yếu tố quan trọng.

Thể chất bao gồm nhiều yếu tố quan trọng như chiều cao, cân nặng, sức mạnh, tốc độ, sức bền, sự khéo léo, dinh dưỡng, tình trạng bệnh tật, tuổi thọ và di truyền Những yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sức khỏe và khả năng vận động của mỗi người.

Thể chất con người chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố như di truyền, môi trường, dinh dưỡng, sức khỏe, thể dục thể thao và chất lượng đời sống Việc nâng cao thể chất đòi hỏi sự nỗ lực từ cả chính quyền và người dân thông qua các biện pháp cải thiện chiều cao, cân nặng và sức bền, đồng thời nâng cao chất lượng giống nòi và gen di truyền của cộng đồng.

Tinh thần bao gồm ý thức và tính năng động xã hội, thể hiện qua mức độ tiếp cận và tham gia vào các hoạt động xã hội, văn hóa và thông tin của con người.

Nâng cao yếu tố tinh thần phụ thuộc vào nhiều yếu tố cơ bản như văn hóa, chính trị, giáo dục và đạo đức Các yếu tố này bao gồm thẩm mỹ, truyền thống gia đình, dòng họ, dân tộc, cũng như chất lượng đời sống văn hóa và thông tin giải trí Nỗ lực nâng cao tinh thần con người là trách nhiệm của chính quyền và cộng đồng, nhằm cải thiện ý thức và tính năng động xã hội Điều này được thể hiện qua việc gia tăng mức độ tiếp cận, hưởng thụ và tham gia vào các dịch vụ xã hội, văn hóa, thông tin và giải trí của người dân.

Cơ sở thực tiễn của đề tài

1.2.1 Pháp luật về dân số của Việt Nam

1.2.1.1 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về công tác dân số

Quan điểm chỉ đạo về công tác dân số trong tình hình mới nhấn mạnh rằng dân số là yếu tố quan trọng hàng đầu trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Công tác dân số được xác định là nhiệm vụ chiến lược, cấp thiết và lâu dài, mang tính toàn Đảng, toàn dân Chính sách dân số cần chuyển trọng tâm từ kế hoạch hóa gia đình sang phát triển dân số, chú trọng đến quy mô, cơ cấu phân bố và chất lượng dân số, đồng thời liên kết với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh để đảm bảo phát triển nhanh và bền vững Đầu tư cho công tác dân số chính là đầu tư cho phát triển, vì vậy Nhà nước cần ưu tiên ngân sách và khuyến khích xã hội hóa, đồng thời thu hút sự hỗ trợ quốc tế để đảm bảo nguồn lực Cần tổ chức bộ máy công tác dân số một cách tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả, phù hợp với từng giai đoạn, đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất của cấp ủy, chính quyền và quản lý chuyên môn.

1.2.1.2 Nguyên tắc của công tác dân số

Bảo đảm quyền của cặp vợ chồng và cá nhân trong việc chủ động và tự nguyện quyết định về sinh sản, nuôi dạy con cái, lựa chọn nơi cư trú Họ cũng có trách nhiệm thực hiện các biện pháp nâng cao chất lượng dân số và được cung cấp đầy đủ thông tin liên quan.

Người dân được tuyên truyền và tư vấn để tiếp cận, lựa chọn dịch vụ dân số phù hợp, đảm bảo an toàn, đa dạng và chất lượng Quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và cộng đồng được bảo vệ thông qua việc ban hành biện pháp cụ thể và tổ chức thực hiện công tác dân số, phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống Sự kết hợp giữa quyền lợi của cá nhân, gia đình và quyền lợi của cơ quan, tổ chức, cộng đồng nhằm đảm bảo mọi thành viên trong gia đình được hưởng quyền cơ bản và thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước và địa phương.

1.2.1.3 Chính sách của Nhà nước về dân số

Giải quyết vấn đề dân số là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa Quốc hội, Chính phủ, các ngành, lĩnh vực, cơ sở, đoàn thể và các địa phương.

Giải pháp cơ bản để giải quyết các vấn đề dân số bao gồm việc vận động, tuyên truyền, tư vấn và giáo dục, đồng thời cung cấp dịch vụ dân số an toàn, chất lượng, đa dạng và thuận tiện Cần bảo vệ và hỗ trợ các cặp vợ chồng, cá nhân trong việc chủ động, tự nguyện và bình đẳng quyết định về dân số, đồng thời ngăn chặn và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật liên quan đến dân số.

Nhà nước và xã hội hỗ trợ người nghèo, người có hoàn cảnh khó khăn và các vùng kinh tế - xã hội khó khăn trong công tác dân số.

Lồng ghép dân số trong phát triển là một hoạt động cần thiết và thường xuyên của các cơ quan, tổ chức, nhằm đáp ứng nhu cầu cuộc sống của nhân dân và thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững về kinh tế - xã hội tại các địa phương và toàn quốc.

Các cơ quan và tổ chức có trách nhiệm tham gia giải quyết các vấn đề dân số trên toàn quốc và địa phương, đồng thời trực tiếp xử lý các vấn đề dân số liên quan đến các thành viên trong phạm vi quản lý của họ.

1.2.1.4 Trách nhiệm của Nhà nước, cơ quan, tổ chức về dân số

Nhà nước cam kết bảo vệ và tạo điều kiện thuận lợi cho công tác dân số, đồng thời hỗ trợ kinh phí để thực hiện các hoạt động này Bên cạnh đó, nhà nước cũng khuyến khích tổ chức và cá nhân đầu tư, hợp tác và giúp đỡ trong lĩnh vực dân số.

Cơ quan quản lý Nhà nước về dân số có trách nhiệm hỗ trợ người nghèo và những người có hoàn cảnh khó khăn thông qua các hoạt động nâng cao chất lượng dân số và kế hoạch hóa gia đình Để thực hiện nhiệm vụ này, cần có sự phối hợp giữa các ngành, cấp và tổ chức xã hội, đồng thời lồng ghép công tác dân số vào kế hoạch phát triển Các cơ quan, tổ chức cần xây dựng quy chế và biện pháp thực hiện công tác dân số cho các thành viên, đồng thời đưa tiêu chí và biện pháp này vào kế hoạch hoạt động thường xuyên Việc tuyên truyền, giáo dục về dân số và pháp luật liên quan cũng rất quan trọng, cùng với việc cung cấp dịch vụ dân số và phúc lợi xã hội Ngoài ra, cần tạo điều kiện hỗ trợ về tinh thần, phương tiện và kinh phí cho các thành viên thực hiện quy chế về dân số, đồng thời kiểm tra và đánh giá kết quả thực hiện công tác này trong cơ quan, tổ chức.

Các chỉ tiêu phản ánh về chất lƣợng dân số

1.3.1 Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao về thể chất

Sự cải thiện và nâng cao trình độ thể chất được đánh giá qua các chỉ tiêu như chiều cao trung bình, cân nặng trung bình, chỉ số khối lượng cơ thể (MB), tuổi thọ bình quân và tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng Những yếu tố này phản ánh sự phát triển toàn diện của thanh niên 20 tuổi trong xã hội.

1.3.2.Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện về trí tuệ, trình độ học vấn, trình độ chuyên môn kỹ thuật và tay nghề của dân cư

Tỷ lệ dân số từ 15 tuổi trở lên biết chữ là một chỉ số quan trọng phản ánh trình độ giáo dục trong cộng đồng Hơn nữa, số lượng học sinh tham gia học mẫu giáo trên 1000 dân cho thấy sự quan tâm của gia đình đối với giáo dục mầm non Tỷ lệ học sinh đi học trung học phổ thông cũng là một yếu tố quyết định đến sự phát triển nguồn nhân lực Cuối cùng, tỷ lệ lao động được đào tạo góp phần nâng cao chất lượng lao động và đáp ứng nhu cầu của thị trường.

1.3.3 Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao về tinh thần: Đánh giá về tinh thần, đời sống văn hóa và gắn kết cộng đồng của dân cư

Để nâng cao chất lượng cuộc sống, cần cải thiện các tiêu chí quan trọng như tỷ lệ gia đình được công nhận là gia đình văn hóa, giảm số vụ tai nạn giao thông trên 100 nghìn dân, và tăng tỷ lệ hộ gia đình sử dụng internet trên 100 nghìn dân.

1.3.4.Nhóm nhân tố phản ánh mức cải thiện và nâng cao đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Sự cải thiện và nâng cao các chỉ tiêu: (1) Thu nhập bình quân đầu người;

(2) tỷ lệ hộ gia đình được sử dụng nước sạch; (3) Tỷ lệ hộ gia đình có hố xí hợp vệ sinh

THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG DÂN SỐ CỦA ĐỒNG BÀO THÁI TẠI XÃ MƯỜNG TÈ-HUYỆN MƯỜNG TÈ-TỈNH LAI CHÂU

Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mức độ hưởng thụ vật chất

2.1.1 Kinh tế của hộ và sự phản ánh về mức thu chi của hộ đồng bào dân tộc Thái

Kinh tế hộ gia đình là tổ chức kinh doanh do các thành viên trong hộ sở hữu, cùng chung sức để hoạt động trong lĩnh vực nông, lâm, ngư nghiệp và các lĩnh vực khác theo quy định của pháp luật Đây là mô hình kinh tế phổ biến trên toàn thế giới, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia Tại Việt Nam, với gần 80% dân số sống ở nông thôn, kinh tế hộ gia đình trở thành đơn vị sản xuất chủ yếu, góp phần vào quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô và thúc đẩy công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Ở xã Mường Tè, nơi còn nhiều khó khăn, chính quyền địa phương đã khuyến khích phát triển kinh tế hộ gia đình để nâng cao đời sống cộng đồng Đặc biệt, các hộ dân tộc Thái tại đây chú trọng vào việc phát triển mô hình kinh tế nhằm cải thiện thu nhập Nghiên cứu khảo sát 200 hộ gia đình dân tộc Thái tại xã Mường Tè sẽ giúp nhận diện những thay đổi trong kinh tế hộ gia đình.

Bảng 2.1: Kinh tế của hộ phân theo các ngành nghề

STT Ngành nghề Số lƣợng Tỷ lệ (%)

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Theo khảo sát, hộ đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Tè chủ yếu làm nông nghiệp, chiếm 94,5% tổng ngành nghề, với các hoạt động như chăn nuôi, trồng trọt và khai thác lâm sản Một số ít làm ngành phi nông nghiệp như giáo viên, cán bộ công chức và bộ đội (3,5%), trong khi các nghề khác như sửa chữa xe, buôn bán chỉ chiếm 2,0% Đối tượng làm nông nghiệp chủ yếu là người trung tuổi từ 40 đến 55, do trước đây không có cơ hội học tập Ngược lại, người làm trong ngành phi nông nghiệp chủ yếu là thanh niên từ 25 đến 35 tuổi, những người có cơ hội học tập hoặc được cử đi học theo hệ cử tuyển Nhiều thanh niên trẻ cũng chuyển hướng sang học nghề hoặc làm công nhân tại các khu công nghiệp, chủ yếu ở Thái Nguyên và Bắc Giang, do không tìm được việc làm sau khi tốt nghiệp đại học hoặc vì lý do kết hôn sớm Tình trạng này phản ánh xu hướng chung ở nông thôn Việt Nam, khi nhiều thanh niên rời quê để tìm kiếm công việc thu nhập cao hơn, không muốn tiếp tục nghề nông như bố mẹ họ.

Theo khảo sát thực tế, thu nhập của các hộ đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Tè trong 16 lĩnh vực lao động phi nông nghiệp cho thấy sự đa dạng và tiềm năng phát triển kinh tế.

Bảng 2.2 Tổng thu nhập bình quân một tháng của hộ gia đình

Mức thu nhập Số hộ có mức thu nhập hàng tháng

Tỷ lệ các hộ có mức thu nhập hàng tháng (Đơn vị:Đồng) (%)

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Mức thu nhập của các hộ đồng bào Thái hiện còn rất thấp, với 82,5% hộ có thu nhập từ 1 triệu đến 3 triệu đồng, chủ yếu từ nông nghiệp và buôn bán sản phẩm nông sản như gạo, rau, gia cầm, và các sản vật rừng Thu nhập này không ổn định, có tháng cao tháng thấp tùy thuộc vào số lượng sản phẩm có sẵn để bán Tỷ lệ hộ có thu nhập dưới 1 triệu đồng vẫn ở mức cao (10%), phản ánh tình trạng nghèo đói trong cộng đồng Theo thống kê đến đầu năm 2020, có 69 hộ nghèo, cận nghèo, chiếm 6,45% tổng số hộ trong xã, trong đó 20/200 hộ đồng bào Thái được khảo sát thuộc diện này, chiếm 1,9% tổng số hộ và 28,99% tổng số hộ nghèo trong xã Điều này cho thấy tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo trong cộng đồng dân tộc Thái vẫn rất cao, với mức thu nhập chỉ từ 1 triệu đồng mỗi tháng Mức thu nhập từ 3 triệu đến 5 triệu đồng chiếm tỷ lệ thấp nhất (7,5%).

Mức thu nhập của 17 hộ làm nghề phi nông nghiệp và dịch vụ khá ổn định hàng tháng, và tỷ lệ thuận với mức chi tiêu của họ Cụ thể, hộ gia đình có thu nhập cao sẽ chi tiêu nhiều hơn, dẫn đến chất lượng cuộc sống tốt hơn, trong khi hộ có thu nhập thấp sẽ phải hạn chế chi tiêu Qua khảo sát, chúng ta nhận thấy mức chi tiêu cho ăn uống của hộ đồng bào dân tộc Thái cũng phản ánh rõ điều này.

Bảng 2.3 Mức chi tiêu cho thực phẩm

STT các nhóm thực phẩm Các mức chi

Tổng các hộ có mức chi

Các loại thực phẩm thuộc chất đạm

Không chi, hoặc chi rất ít cho khản này 35 17.5

Các loại thực phẩm thuộc chất xơ

Không chi, hoặc chi rất ít cho khản này 189 94.5

Các loại đồ uống dinh dƣỡng ( sữa)

Không chi, hoặc chi rất ít cho khản này 102 51

(Nguồn: khảo sát thực tế)

Nhu cầu về dinh dưỡng của con người luôn cao, bất kể hoàn cảnh hay môi trường sống Để đảm bảo sức khỏe và hiệu suất công việc tốt nhất, việc bổ sung chất dinh dưỡng là rất cần thiết Khi xã hội phát triển, nhu cầu dinh dưỡng càng gia tăng; trước đây, con người chỉ mong muốn có một bữa ăn no, nhưng hiện nay, mọi người đã chú trọng hơn đến chế độ dinh dưỡng.

Việc đảm bảo mỗi bữa cơm gia đình đầy đủ chất dinh dưỡng là rất quan trọng, tuy nhiên, khảo sát cho thấy hộ gia đình dân tộc Thái vẫn chi tiêu rất ít cho thực phẩm Cụ thể, tỷ lệ chi tiêu cho nhóm thực phẩm giàu đạm như thịt, trứng và cá vẫn còn thấp, cho thấy cần có sự cải thiện trong thói quen chi tiêu thực phẩm để nâng cao dinh dưỡng cho cả gia đình.

Theo kết quả khảo sát, 75% hộ gia đình chi từ 1 triệu đến 2 triệu đồng cho thực phẩm, trong khi 17,5% không chi hoặc chi rất ít Mức chi từ 2 triệu đến 3 triệu chỉ chiếm 7,5% Điều này cho thấy thu nhập của người dân còn thấp, họ phải lo nhiều khoản chi tiêu khác và thường tự chăn nuôi hoặc bắt cá để cải thiện bữa ăn Tỷ lệ chi tiêu cho thực phẩm chất xơ như rau, đậu, củ, quả rất thấp, với 94,5% hộ không chi hoặc chi rất ít, chỉ 5,5% chi từ 1 triệu đến 2 triệu Nguyên nhân có thể là do giá thực phẩm này rẻ và người dân tự cung tự cấp Đối với đồ uống dinh dưỡng như sữa, 51% hộ không chi hoặc chi rất ít, 41,5% chi từ 1 triệu đến 2 triệu, và chỉ 7,5% chi từ 2 triệu đến 3 triệu Thực tế cho thấy chỉ trẻ nhỏ uống sữa, còn người lớn thường không có thói quen này do hoàn cảnh kinh tế Từ những số liệu trên, có thể thấy chất lượng dinh dưỡng trong bữa ăn của người đồng bào Thái còn rất thấp, với tỷ lệ hộ nghèo cao và việc chi tiêu cho ăn uống rất hạn chế Người dân chủ yếu sống dựa vào nguồn thực phẩm tự cung tự cấp.

2.1.2 Mức hưởng thụ về hạ tầng cơ sở

Hạ tầng cơ sở tại các vùng sâu, vùng xa, đặc biệt là nơi sinh sống của đồng bào dân tộc thiểu số, luôn được Đảng và Nhà nước quan tâm Tuy nhiên, điều kiện hạ tầng tại đây còn nhiều hạn chế với điện, đường, trường, trạm thô sơ, nhiều nơi vẫn học trong nhà tranh, trường lớp xuống cấp Trạm y tế thiếu trang thiết bị, người dân ít có cơ hội tiếp cận điện lưới quốc gia, nhiều bản vẫn dùng đèn dầu Hệ thống giao thông khó khăn, nhiều tuyến đường xuống cấp, nhiều xã vẫn còn đi đường đất Tỷ lệ hộ dân chưa có nhà vệ sinh cao, nguồn nước sạch hạn chế, chủ yếu sử dụng nước khe, nước mưa Nhà ở của đồng bào còn bất cập, việc nuôi gia súc dưới gầm sàn gây ô nhiễm Mường Tè, xã biên giới với địa hình hiểm trở, gặp nhiều khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ xã hội và cơ sở vật chất hiện đại Để đánh giá mức độ tiếp cận hạ tầng cơ sở của đồng bào thiểu số tại Mường Tè, đã tiến hành khảo sát 200 hộ đồng bào Thái và phân tích số liệu thống kê của xã.

Người Thái đã sống trong những ngôi nhà sàn cao ráo từ xưa đến nay, tạo nên nét văn hóa đặc trưng và lối sống độc đáo Kiến trúc nhà sàn không chỉ mang lại sự thoáng mát mà còn chịu đựng được điều kiện khắc nghiệt của miền núi cao Những ngôi nhà này đã gắn bó với đời sống của đồng bào Thái hàng nghìn năm, giúp họ tồn tại và phát triển bền vững.

Bảng 2.4: Kiểu nhà ở của người dân tộc Thái hiện nay

STT Kiểu nhà Số lƣợng Tỷ lệ

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Chất lượng nhà ở của đồng bào dân tộc Thái tại xã Mường Tè còn nhiều hạn chế, với 67% hộ gia đình sống trong nhà kiên cố và 29,5% trong nhà tạm bợ Trong tổng số 1.064 hộ, 713 hộ là đồng bào Thái, cho thấy tỷ lệ hộ ở nhà tạm bợ chiếm 8,3% trong cộng đồng Thái Tình trạng này gây khó khăn cho chính quyền địa phương, khi nhiều hộ nghèo và cận nghèo vẫn sống trong các ngôi nhà đơn sơ, thiếu thốn tiện nghi Những ngôi nhà kiên cố thường là nhà sàn 3-4 gian, nhưng cũng đã xuống cấp theo thời gian Nhà ở của người dân tộc thiểu số thường gắn liền với hình ảnh nhà sàn truyền thống, cao so với mặt đất và có khoảng trống để chăn thả gia súc, phản ánh một hiện trạng phổ biến tại xã.

Nhà vệ sinh không đảm bảo vệ sinh có thể gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư, ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của các thành viên trong hộ gia đình Việc duy trì vệ sinh nhà vệ sinh là cần thiết để bảo vệ sức khỏe cộng đồng và môi trường sống.

Tiêu chí số 17 về môi trường yêu cầu tất cả các hộ dân phải có nhà tiêu hợp vệ sinh, nhưng đối với các hộ đồng bào dân tộc thiểu số, đây là một thách thức lớn Việc vận động họ tự xây dựng nhà tiêu hoặc hỗ trợ xây dựng gặp nhiều khó khăn do thói quen không sử dụng nhà vệ sinh và điều kiện kinh tế hạn chế Mặc dù đã có nhiều chương trình hỗ trợ về tài chính và vật liệu, nhưng hiệu quả vẫn chưa cao, dẫn đến việc người dân chỉ xây dựng được những nhà tiêu tạm bợ, chưa đáp ứng tiêu chuẩn hợp vệ sinh Tình trạng này đặc biệt phổ biến tại các xã vùng sâu vùng xa, trong đó có xã Mường Tè, cần được quan tâm hơn nữa từ các cấp chính quyền và tổ chức.

Bảng 2.5: Tỷ lệ hộ gia đình dân tộc Thái đƣợc sử dụng nhà tiêu hợp vệ sinh

STT tiêu chí số lƣợng

2 Nhà vệ sinh tạm bợ 104 52

4 Không có nhà vệ sinh 40 20

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Theo bảng số liệu, chỉ có 28% hộ gia đình sử dụng nhà vệ sinh tự hoại, trong khi đó, 52% hộ đang sử dụng nhà vệ sinh tạm bợ, cho thấy tỷ lệ này chiếm ưu thế nhất Bên cạnh đó, tỷ lệ hộ không có nhà vệ sinh là thấp nhất.

Trong xã Mường Tè, có 1.064 hộ dân, trong đó 104 hộ (9,8%) sử dụng nhà vệ sinh tạm bợ và 40 hộ (3,8%) chưa có nhà vệ sinh Việc tiếp cận nhà tiêu hợp vệ sinh của người dân, đặc biệt là đồng bào Thái, còn nhiều hạn chế, chủ yếu rơi vào hộ nghèo và cận nghèo Nguyên nhân một phần do điều kiện kinh tế khó khăn, một phần do nhận thức hạn chế về tầm quan trọng của nhà vệ sinh Điều này không chỉ ảnh hưởng đến đời sống của họ mà còn cản trở công tác vệ sinh môi trường và phòng, chống dịch bệnh Mặc dù nhiều gia đình đã tiếp cận các phương tiện hiện đại như điện thoại di động và ti vi, nhưng vẫn bỏ qua việc xây dựng nhà vệ sinh hợp chuẩn Một số hộ vẫn duy trì thói quen không sử dụng nhà vệ sinh và chưa có thông tin đầy đủ về kỹ thuật và chi phí xây dựng Thực trạng này đang diễn ra phổ biến tại xã Mường Tè, gây ra nhiều vấn đề về vệ sinh và sức khỏe.

Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí mức độ hưởng thụ về mặt tinh thần

Đảng và nhà nước luôn chú trọng đầu tư phát triển các dịch vụ xã hội cho đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm giảm khoảng cách trong việc tiếp cận các dịch vụ cơ bản Điều này giúp người dân nắm bắt thông tin, chính sách và pháp luật một cách nhanh chóng và hiệu quả, phản ánh chất lượng dân số của địa phương.

Bảng 2.8: Tỷ lệ người dân được tiếp cận với thông tin và truyền thông

STT Tiêu chí Số lƣợng

1 Hộ có sử dụng mạng internet Có 55 27.5

3 có đƣợc tiếp cận với các kênh thông tin đại chúng

5 Có sử dụng điện thoại để truy cập mạng

(Nguồn:Khảo sát thực tế)

Mức độ tiếp cận các kênh truyền thông của đồng bào Thái vẫn còn hạn chế, mặc dù khu vực đã có sự phủ sóng của hai mạng Viettel và Vinaphone Tuy nhiên, không phải hộ gia đình nào cũng đủ điều kiện để sử dụng dịch vụ này.

Khảo sát cho thấy chỉ 27,5% hộ gia đình sử dụng internet, trong khi 72,5% không có điều kiện tiếp cận Với thu nhập thấp từ 1 triệu đến 3 triệu đồng, chi phí cho internet, dù chỉ từ 100.000 đến 200.000 đồng, vẫn là gánh nặng lớn Tỷ lệ tiếp cận thông tin đại chúng của người đồng bào Thái cũng thấp, chỉ 51% hộ có thể tiếp cận, trong khi 49% không có Mặc dù xã, bản duy trì phát loa hàng ngày, nhưng người dân, chủ yếu làm nông, ít quan tâm do phải ra đồng sớm Tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo cao, nhiều hộ chưa có ti vi để giải trí và cập nhật tin tức Chỉ 47,5% người được hỏi sử dụng điện thoại để truy cập mạng, chủ yếu là thanh niên và người làm nghề phi nông nghiệp, trong khi 52,5% không sử dụng điện thoại, phần lớn là người lớn tuổi.

2.2.2 Đời sống văn hóa của người đồng bào Thái

Một cộng đồng được coi là có chất lượng sống cao không chỉ dựa vào kinh tế phát triển mà còn phải đảm bảo nhu cầu giải trí và tinh thần Dân tộc Thái cũng có những nhu cầu về tinh thần mà họ mong muốn được đáp ứng Việc nâng cao thể lực và đời sống văn hóa tinh thần của người dân ngày càng được chú trọng và cải thiện so với trước đây Sự tham gia tích cực vào các hoạt động văn hóa, thể thao cho thấy đời sống tinh thần của người dân được nâng cao, từ đó cải thiện chất lượng cuộc sống và chất lượng dân số Nhận thức được điều này, xã Mường Tè luôn chú trọng tổ chức các hoạt động phù hợp.

Trong nỗ lực khuyến khích người dân phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, 27 hoạt động VHVN-TDTT được tổ chức bao gồm các hoạt động văn hóa dân gian như ném còn, múa xòe, nhảy sạp và chọi gà, cùng với các cuộc thi thể dục thể thao như bóng đá, bóng chuyền và đẩy gậy Những hoạt động này không chỉ nâng cao đời sống tinh thần mà còn tăng cường sự đoàn kết giữa các dân tộc trong xã Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là liệu các hoạt động này có nhận được sự hưởng ứng từ người dân hay không, điều này được thể hiện qua khảo sát 200 hộ đồng bào dân tộc Thái.

Bảng 2.9: Mức độ tham gia hoạt động VHVN-TDTT

STT Tiêu chí Tỷ lệ %

1 Có tham gia và các hoạt động

Hoạt động đó có thật sự cần thiết

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Theo bảng số liệu, hoạt động văn hóa, thể thao và du lịch (VHVN-TDTT) tại xã có sự tham gia rất hạn chế từ người dân, với chỉ 32% người được hỏi cho biết tham gia Đáng chú ý, 68% người dân không tham gia vào các hoạt động này Trong số những người tham gia, 86% cho biết mức độ tham gia rất ít, trong khi chỉ có 14% tham gia thường xuyên, không có ai tham gia nhiều hoặc rất nhiều Tác giả cũng tiến hành khảo sát ý kiến của người dân về vấn đề này.

Theo khảo sát, 61,8% người dân cho rằng hoạt động văn hóa, thể thao là không cần thiết, trong khi chỉ 3,2% cho rằng nó rất cần thiết Nguyên nhân chủ yếu là do đời sống khó khăn của người dân tại địa bàn xã, khi mà họ phải lo lắng cho cái ăn, cái mặc hàng ngày Cuộc sống vất vả đã khiến họ không còn thời gian và tâm trí cho các nhu cầu giải trí Đây là thực trạng chung ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cho thấy cần có sự quan tâm từ chính quyền để nâng cao nhận thức và cải thiện đời sống tinh thần cho họ.

Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mặt thể chất

chí về mặt thể chất

2.3.1 Mức độ chăm sóc sức khỏe của người dân

Sức khỏe con người là điều kiện cần thiết phản ánh chất lượng sống tại một quốc gia Mặc dù sức khỏe là ưu tiên hàng đầu, nhiều người vẫn coi nhẹ việc thăm khám định kỳ và chỉ tìm đến bác sĩ khi bệnh trở nặng Tại các thành phố lớn, người dân có thu nhập cao thường chú trọng hơn đến chăm sóc sức khỏe, trong khi ở vùng nông thôn, đặc biệt là khu vực sâu xa, việc này thường bị xem nhẹ Để hiểu rõ hơn về tình hình chăm sóc sức khỏe tại đây, một khảo sát đã được thực hiện với 200 hộ đồng bào Thái tại xã Mường Tè.

Bảng 2.10 Các tiêu chí đánh giá về mức độ chăm sóc sức khỏe

STT Các tiêu chí Số lƣợng

Mức độ thường xuyên thăm khám sức khỏe

6 Có đi chữa khi mắc bệnh nhẹ: ốm, cảm cúm, đau đầu…

8 Có đi chữa khi mắc bệnh năng Có 72 36

Số tiền chi trả cho một lần khám, chữa bệnh không phải chi trả đồng nào 50 25

( Nguồn: khảo sát thực tế)

Theo bảng số liệu, tỷ lệ hộ gia đình có Bảo hiểm y tế đạt 100% nhờ vào chính sách cấp thẻ miễn phí cho đồng bào dân tộc thiểu số, giúp họ được nhà nước chi trả khi khám chữa bệnh tại các cơ sở y tế công Tuy nhiên, mức độ thăm khám sức khỏe của người dân vẫn còn thấp, với 28,5% hộ không thăm khám, 51,5% thăm khám rất ít, và chỉ 20% thăm khám thường xuyên Đặc biệt, khi mắc các bệnh nhẹ như cảm cúm hay đau đầu, 88,5% hộ không đi chữa trị, chỉ một tỷ lệ nhỏ 11,5% có thăm khám Người dân thường chỉ xin thuốc tại trạm y tế hoặc tự khỏi mà không cần điều trị Đối với các bệnh nặng như ung thư hay đau dạ dày, tỷ lệ đi chữa trị cũng chỉ đạt 36%, trong khi 64% không tìm kiếm sự giúp đỡ y tế.

Thời xưa, ông không bao giờ ốm đau, sống khỏe mạnh nhờ ăn rau rừng, và không biết đến ung thư Việc đi lại khó khăn khiến việc khám bệnh ở thị trấn trở nên bất tiện, và bệnh tật thường được cho là do ma quỷ, với thầy mo giúp đuổi ma để khỏi bệnh Ngày nay, người trẻ ăn uống không khoa học, dẫn đến sự gia tăng các bệnh tật.

Chi phí khám chữa bệnh ở độ tuổi 45 không cao, với 25% người được hỏi không phải chi trả gì Tỷ lệ người chi trả dưới 1 triệu đồng chiếm 53,5%, trong khi chỉ 21,5% chi trả từ 1 triệu đến 3 triệu đồng Nhờ vào bảo hiểm y tế (BHYT), chi phí khám chữa bệnh giảm đáng kể, tạo điều kiện cho 100% người dân được chăm sóc và điều trị sức khỏe thường xuyên.

Chăm sóc sức khỏe sinh sản là một lĩnh vực quan trọng trong việc nâng cao sức khỏe cho người đồng bào Theo điều tra trên 200 khách thể, có 68 phụ nữ đã sinh con và một số đang mang thai cho biết những nhu cầu và thách thức trong việc chăm sóc sức khỏe của họ.

Bảng 2.11: Mức độ chăm sóc sức khỏe đối với phụ nữ mang thai trước và sau khi sinh

STT Tiêu chí Số lƣợng

1 Suy nghĩ của mọi người về việc khám thai định kì trước khi sinh

Mức độ thường xuyên thăm khám thai không khám bao giờ 25 36.8

5 lúc nào có thời gian rảnh thì đi 35 51.5

8 Có tiêm chủng trước khi sinh Có 14 20.6

10 Đẻ tại nhà hay đẻ ở trạm y tế, bệnh viện

Mức độ quan tâm tới sức khỏe sau sinh

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Theo số liệu khảo sát, nhận thức của người dân về việc khám thai định kỳ trước khi sinh còn thấp, với 63% cho rằng không cần thiết, 32,5% cho rằng bình thường, và chỉ 4,5% cho rằng rất cần thiết Về tần suất khám thai, 51,5% cho biết chỉ đi khi rảnh, 36,8% không bao giờ đi, và chỉ 11,8% đi khám thường xuyên Tỷ lệ tiêm chủng trước sinh cũng thấp, chỉ 20,6% được tiêm chủng, trong khi 79,4% không được tiêm Mặc dù trạm y tế xã phối hợp với ban dân số triển khai tiêm chủng thường xuyên, nhiều phụ nữ Thái vẫn không nắm bắt lịch tiêm do bận rộn với công việc và thiếu nhận thức về tầm quan trọng của tiêm chủng Về sinh đẻ, 70,6% chọn sinh tại nhà, trong khi chỉ 29,4% sinh tại bệnh viện hoặc trạm y tế Sự quan tâm đến sức khỏe sau sinh cũng rất thấp, với 82,4% không quan tâm nhiều Qua phỏng vấn, nhiều người cho rằng việc sinh nở không có gì nghiêm trọng, và họ thường phải trở lại làm việc ngay sau khi sinh.

Chăm sóc sức khỏe trước và sau khi sinh là rất quan trọng, vì thiếu sót trong giai đoạn này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy như giảm tuổi thọ, di chứng đau khớp và sức khỏe suy giảm Tình trạng này vẫn diễn ra chủ yếu do lối tư duy và thói quen sinh hoạt truyền thống của người phụ nữ Thái, cùng với việc xa trung tâm khiến họ ít có cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản chất lượng.

Chăm sóc trẻ từ khi còn trong bụng mẹ cho đến sau khi sinh là vô cùng quan trọng, giúp trẻ phát triển toàn diện sau này Một cuộc khảo sát với 200 người cho thấy 98 hộ gia đình có con nhỏ dưới 1 tuổi nhận thức rõ về tầm quan trọng của việc chăm sóc này.

Bảng 2.12: Mức độ chăm sóc sức khỏe đối với trẻ nhỏ

STT Các tiêu chí Số lƣợng

1 Trẻ đƣợc tiêm chủng định kỳ Có 67 68.4

3 Trẻ đƣợc uống viên vitamin định kỳ Có 25 25.5

8 Trẻ đƣợc vệ sinh thân thể sạch sẽ Có 39 39.8

10 Khi mắc bệnh có đƣa trẻ đến trạm, bênh viện chữa trị

(nguồn:khảo sát từ thực tế)

Theo thống kê của xã, tỷ lệ trẻ dưới 1 tuổi được tiêm chủng đầy đủ các loại vacxin ước đạt mức cao tính đến đầu năm.

Năm 2020, tỷ lệ tiêm chủng định kỳ trong cộng đồng dân tộc Thái đạt 68,4%, trong khi đó, tỷ lệ trẻ không được tiêm chủng vẫn còn cao.

Tỷ lệ trẻ em dân tộc Thái được tiêm chủng chỉ đạt 31,6%, thấp hơn so với mức trung bình toàn xã Việc uống vitamin định kỳ cũng gặp khó khăn, với 74,5% trẻ em không được uống vitamin Mặc dù nhiều gia đình nhận thức được tầm quan trọng của việc cho trẻ uống sữa thường xuyên, nhưng do điều kiện kinh tế khó khăn, tỷ lệ trẻ em được uống sữa vẫn rất thấp, đạt 66,3% Chỉ có 33,7% trẻ em được uống sữa nhiều, chủ yếu là từ các hộ làm nghề phi nông nghiệp với thu nhập từ 3 trở lên.

Việc vệ sinh thân thể cho trẻ em chưa được cha mẹ quan tâm đúng mức, với 60,2% phụ huynh cho biết không vệ sinh cho trẻ sạch sẽ Tỷ lệ trẻ mắc bệnh như ốm, cảm cúm, sổ mũi, ho được đưa đến trạm y tế hoặc bệnh viện chỉ chiếm 20,4%, trong khi 79,6% cha mẹ cho rằng những bệnh này nhẹ và tự khỏi sau vài ngày Điều này cho thấy sự quan tâm đến sức khỏe và chế độ dinh dưỡng của phụ huynh đối với con em mình còn thấp, chủ yếu do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, nhiều hộ nghèo không có thời gian chăm sóc trẻ Bữa ăn thiếu dinh dưỡng cũng ảnh hưởng đến sự phát triển toàn diện của trẻ Mặc dù việc tiêm chủng cho trẻ dưới 1 tuổi được triển khai thường xuyên, nhưng do thiếu quan tâm và hạn chế trong tiếp cận thông tin, nhiều trẻ không được tiêm chủng đúng lịch Đây là tình trạng phổ biến trong cộng đồng dân tộc thiểu số miền núi, vùng cao.

2.3.2 Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng

Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em thuộc dân tộc thiểu số (DTTS) vẫn cao so với tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế Thế giới, với sự chênh lệch rõ rệt giữa các vùng miền Đặc biệt, tình trạng suy dinh dưỡng thể thấp còi ảnh hưởng nghiêm trọng đến chiều cao và sự phát triển của trẻ.

Người dân tộc thiểu số (DTTS) có tầm vóc thấp hơn so với dân tộc Kinh, với chiều cao trung bình từ 1m40 đến 1m50 và cân nặng trung bình từ 40 đến 45kg Tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em DTTS dưới 5 tuổi đạt 29,2%, cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em cao có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng bào thai Theo điều tra của Tổng cục Thống kê năm 2014, tỷ lệ cân nặng trẻ sơ sinh thấp ở DTTS rất cao, với 8,1% ở trẻ được cân ngay sau sinh và 14,6% ở những trẻ không được cân nhưng mẹ cho rằng con mình nhẹ hơn so với trẻ khác.

Dựa trên thực tế đã khảo sát, đề tài tiến hành điều tra và phân tích dữ liệu thu thập được, cho ra kết quả thể hiện qua biểu đồ dưới đây.

(Nguồn: Báo cáo của trạm y tế xã Mường Tè năm 2019)

Thực trạng chất lƣợng dân số của dân tộc Thái thể hiện trên tiêu chí về mặt trí tuệ

Tình trạng đói nghèo và kém phát triển ở một số vùng dân tộc hiện nay chủ yếu do trình độ học vấn hạn chế, đặc biệt ở các khu vực sâu, xa, biên giới và hải đảo Đội ngũ cán bộ lãnh đạo tại các vùng dân tộc thiểu số cũng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nhấn mạnh rằng "Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu", cho thấy tầm quan trọng của kiến thức trong việc đạt được sự bình đẳng giữa các dân tộc Để phát triển bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế, cần tiếp tục đầu tư và quan tâm đến công tác giáo dục ở các vùng dân tộc thiểu số, nhằm xóa dần khoảng cách chênh lệch về giáo dục và thực hiện chính sách bình đẳng, tôn trọng và đoàn kết giữa các dân tộc.

Đảng bộ xã Mường Tè đã nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục và không ngừng đầu tư nguồn lực để nâng cao trình độ dân trí cho người dân địa phương Qua khảo sát đối với 200 người thuộc đồng bào dân tộc Thái, chúng tôi đã ghi nhận số năm đi học của họ, phản ánh nỗ lực trong công tác giáo dục tại địa phương.

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Biểu đồ cho thấy, đồng bào dân tộc Thái có số năm đi học còn thấp, với 47,5% chỉ học từ 1 đến 5 năm, 17,5% học từ 6 đến 10 năm, và chỉ 6,5% học trên 11 năm Tỷ lệ người dân tham gia học xóa mù vẫn cao, đạt 28,5%, cho thấy trước đây việc học chưa được chú trọng và người dân chỉ tiếp cận giáo dục cơ bản rất ít Nhiều lớp xóa mù được mở ra chủ yếu nhằm dạy đọc, viết Trước đây, khả năng nói tiếng phổ thông của người đồng bào cũng rất hạn chế Đối tượng có số năm đi học từ 1 đến 7 năm chủ yếu là người trung tuổi từ 40 đến 50, trong khi tỷ lệ học trên 10 năm chủ yếu là người trẻ từ 25 đến 30 tuổi Một số ít người trẻ làm phi nông nghiệp đã theo học các hệ sơ cấp, trung cấp, cao đẳng để tạo nguồn cán bộ Điều này cho thấy trình độ dân trí thấp dẫn đến thiếu hiểu biết trong sản xuất kinh tế, không áp dụng được kỹ thuật canh tác đúng và thiếu nhận thức về chăm sóc sức khỏe trước hôn nhân.

1-5 năm 6-10 năm trên 11 năm xóa mù

50 Biểu đồ 2.3: Số năm đi học của người được hỏi

Việc thăm khám sức khỏe thường xuyên đã dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng, bao gồm hôn nhân cận huyết gây dị tật bẩm sinh, tảo hôn ảnh hưởng đến chất lượng sinh sản và sức khỏe của mẹ lẫn bé, cũng như tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, dẫn đến giảm tuổi thọ trung bình Hơn nữa, nhận thức của phụ huynh về giáo dục có tác động lớn đến việc học của con cái; cộng đồng người Thái chưa thực sự chú trọng đầu tư cho giáo dục và thiếu sự quan tâm đúng mức đến việc định hướng cho tương lai của trẻ.

2.4.1.2 Mức độ tiếp cận giáo dục cơ bản và chi phí cho giáo dục

 Mức độ tiếp cận giáo dục cơ bản

Theo thống kê của Hội khuyến học xã, đầu năm học 2020 có 1.068 học sinh dân tộc thiểu số, trong đó mầm non chiếm 31,8% với 340 học sinh, tiểu học 37,5% với 400 học sinh, và trung học cơ sở 30,7% với 328 học sinh Tuy nhiên, mức độ tiếp cận giáo dục cơ bản giữa các nhóm dân tộc không đồng đều, và khảo sát cho thấy đặc điểm tiếp cận giáo dục của đồng bào dân tộc Thái có những khác biệt rõ rệt.

Bảng 2.13: Mức độ trẻ đƣợc tiếp cận với GDCB

STT Tiêu chí Số lƣợng

1 Số hộ có người đang đi học

2 Trẻ đƣợc đi học đúng độ tuổi Có 80 52.6

5 Hộ gia đình có bao nhiêu người đang đi học 2 52 34.2

Số trẻ đang đi học tại các cấp

10 Trung học 189 48.3 (Nguồn:Khảo sát thực tế)

Khảo sát 200 hộ dân tộc Thái cho thấy 76% hộ có người đi học, nhưng tỷ lệ trẻ đi học đúng tuổi chỉ đạt 52,6% Nhiều ý kiến cho rằng trẻ không được học mẫu giáo và phải vào thẳng tiểu học, hoặc chỉ được cho đi học khi đủ 6-7 tuổi Tỷ lệ hộ có nhiều người đi học cùng lúc khá cao, với 58,6% hộ có 3 người đang học, trong khi chỉ 2% hộ có 4 người Việc này gây khó khăn cho gia đình do chi phí sắm sửa đồ dùng học tập và sự quan tâm đến chất lượng học tập của từng thành viên Tổng cộng có 391 trẻ đang đi học, trong đó 104 trẻ mầm non (26,6%), 98 trẻ tiểu học (25,1%), và 189 trẻ trung học (48,3%) Số liệu này cho thấy thực trạng học sinh dân tộc Thái tại các cấp học.

152 hộ chiếm (36,6%) số học sinh toàn xã và chiếm cao nhất so với các nhóm dân tộc khác

 Chi phí cho giáo dục

Mặc dù giáo dục cơ bản ở các vùng dân tộc thiểu số (DTTS) miễn phí, nhưng vẫn có nhiều khoản phí học đường khác như chi phí đi lại và đồng phục Theo điều tra của Ngân hàng Thế giới, khoảng 30% hộ gia đình DTTS cho biết có ít nhất một con phải bỏ học trước khi hoàn thành bậc học, so với 16% ở hộ gia đình người Kinh, chủ yếu do học phí cao Các điều tra về mức sống hộ gia đình trong các năm 2015, 2016 và 2017 cho thấy các hộ gia đình chi gần 30% tổng chi phí cho giáo dục chỉ để đóng học phí.

Năm 2015, tổng chi phí giáo dục của hộ nghèo tại khu vực miền núi phía Bắc chỉ đạt 544 nghìn đồng/hộ cho một người đi học, tương đương với 63% tổng chi phí giáo dục của hộ nghèo trên toàn quốc.

Chi phí giáo dục của hộ gia đình tại miền núi phía Bắc chiếm 18% tổng chi tiêu, với hộ nghèo phải chi khoảng 266 nghìn đồng/năm, trong đó gần 50% dành cho giáo dục Trẻ em thuộc hộ nghèo được miễn hoặc giảm học phí, nhưng tỷ lệ thụ hưởng không đồng đều, đặc biệt ở học sinh tiểu học (99,1%) và THCS (89,1%), trong khi trẻ mẫu giáo chỉ được miễn giảm 81,7% Để nâng cao trình độ dân trí, xã Mường Tè triển khai nhiều chính sách khuyến học như miễn giảm học phí, trao học bổng và cho mượn sách miễn phí Khảo sát cho thấy 95,2% hộ gia đình chỉ chi dưới 500.000 đồng/năm cho mỗi trẻ học, nhưng chi phí này có thể tăng khi có nhiều con em đi học Để tiết kiệm, các gia đình thường tái sử dụng đồ dùng học tập cũ, giúp giảm bớt gánh nặng tài chính.

Tại xã Mường Tè, mặc dù số lượng 42 là không nhiều, nhưng đối với các hộ gia đình nghèo, cận nghèo và có thu nhập thấp, đây là một khoản tiền đáng lưu tâm Tình trạng bỏ học trong cộng đồng dân tộc Thái đang trở thành một vấn đề cần được giải quyết.

Trong những năm gần đây, tình trạng bỏ học ở đồng bào dân tộc thiểu số miền núi đã giảm, nhưng vẫn cao hơn mức trung bình toàn quốc Theo báo cáo của Ủy ban dân tộc, tỷ lệ học sinh dân tộc thiểu số giảm dần qua các cấp học, với 17,85% ở tiểu học, 15,22% ở trung học cơ sở và chỉ còn 10,12% ở trung học phổ thông (số liệu năm học 2009-2010) Đặc biệt, tỷ lệ học đại học và cao đẳng tại vùng dân tộc thiểu số vẫn ở mức thấp so với cả nước.

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Tình trạng bỏ học và nghỉ học thường xuyên ở trẻ em dân tộc Thái đang ở mức cao, với 48% học sinh thường xuyên nghỉ học và chỉ 30% đi học đầy đủ Ngoài ra, 22% học sinh bỏ học giữa chừng, chủ yếu đến từ các hộ nghèo, cận nghèo hoặc gia đình có hoàn cảnh khó khăn Nhiều trường hợp, giáo viên phải đến tận nhà để vận động học sinh quay lại lớp Tình trạng này đặc biệt nghiêm trọng ở các trường học miền núi.

BIỂU ĐỒ 2.4: THỰC TRẠNG ĐI HỌC CỦA HỌC SINH LÀ

Tình trạng học sinh nghỉ học nhiều nhất diễn ra ở cấp 2, với nhiều lớp vắng đến gần nửa số học sinh Nhiều gia đình chỉ cho con học hết cấp 2 rồi cho đi học nghề hoặc làm nông, bởi quan niệm sinh nhiều con để có thêm lao động Phó chủ tịch xã cho biết, giáo viên phải xuống bản để vận động học sinh đến lớp, một nhiệm vụ nặng nề Tình trạng bỏ học là thách thức lớn cho nhà trường và chính quyền địa phương Nguyên nhân chính bao gồm: điều kiện kinh tế khó khăn, giao thông khó khăn khiến học sinh phải đi bộ từ sớm, và nhận thức thấp của phụ huynh về việc học tập của con cái.

Tình trạng học sinh đồng bào thường xuyên nghỉ học và bỏ học một phần nguyên nhân đến từ phía phụ huynh Qua khảo sát ý kiến của hộ gia đình về việc đầu tư cho việc học tập của con em, chúng tôi nhận thấy những suy nghĩ và quan điểm khác nhau về tầm quan trọng của giáo dục.

(Nguồn: Khảo sát thực tế)

Biểu đồ cho thấy người Thái chưa quan tâm nhiều đến việc học của con em, với 45% cho rằng đầu tư cho học tập là bình thường, 40% cho rằng không cần thiết, và chỉ 15% cho rằng rất cần thiết Điều này có thể giải thích bởi các chính sách ưu đãi của nhà nước, như miễn học phí và hỗ trợ dụng cụ học tập cho con em dân tộc vùng sâu Do xa thành phố, trẻ em ít có cơ hội học thêm, khiến một số hộ gia đình cho rằng chi phí học tập thấp Hơn nữa, truyền thống làm nông nghiệp lâu đời vẫn ảnh hưởng đến tư tưởng của nhiều gia đình, họ định hướng cho con em học đến cấp 2 hoặc 3 rồi nghỉ để giúp đỡ gia đình, đặc biệt trong bối cảnh kinh tế khó khăn.

Bình thường 45% không cần thiết lắm 40%

BIỂU ĐỒ 2 5: NHẬN THỨC CỦA HỘ VỀ VIỆC ĐẦU TƢ CHO HỌC TẬP

45 để cho con em học cao, nên tình trạng số hộ cho rằng việc đầu tƣ cho học tập là không cần thiết vẫn còn ở mức cao

Nguyên nhân

Trong những năm qua, nhờ sự quan tâm và đầu tư của Đảng và Nhà nước, xã Mường Tè đã có nhiều thay đổi tích cực, giúp cải thiện đời sống người dân và tạo điều kiện tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản Tuy nhiên, vẫn còn nhiều vấn đề cần khắc phục, như tỷ lệ hộ nghèo giảm nhưng kinh tế hộ vẫn khó khăn, thu nhập thấp so với mức chung cả nước, và khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội của người dân còn hạn chế Người dân chưa nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của giáo dục và chăm sóc sức khỏe, dẫn đến tỷ lệ bỏ học ở các cấp còn cao Nguyên nhân của những hạn chế này xuất phát từ nhiều yếu tố, bao gồm nhận thức còn hạn chế của người dân và điều kiện tự nhiên khó khăn, có thể phân tích theo hai khía cạnh chính: khía cạnh chủ quan từ phía người dân và gia đình, và khía cạnh khách quan từ chính quyền, cộng đồng và điều kiện tự nhiên của xã.

Nhân tố chủ quan bao gồm các yếu tố về năng lực và phẩm chất của cá nhân, tạo nên tính cách tích cực và chủ động trong hoạt động nhận thức Những yếu tố này không chỉ giúp cải biến điều kiện khách quan mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của người dân Việc nhận thức rõ về nguyên nhân chủ quan sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc đạt được các mục tiêu đã đề ra.

Trình độ học vấn thấp, kinh tế hộ gia đình chưa phát triển, và tính năng động sáng tạo hạn chế của người dân là những nguyên nhân chính ảnh hưởng đến chất lượng sống và làm chậm sự phát triển kinh tế xã hội của khu vực.

Trình độ dân trí của dân tộc Thái tại xã Mường Tè còn thấp, đặc biệt là ở nhóm tuổi từ 40 đến 50, với tỷ lệ biết chữ không cao và khả năng giao tiếp bằng tiếng phổ thông hạn chế Điều này đã tạo ra rào cản lớn trong giao tiếp với các dân tộc khác và ảnh hưởng tiêu cực đến chất lượng sống của người dân Thiếu kiến thức về kỹ thuật canh tác và tầm quan trọng của giống cây trồng, người dân vẫn sử dụng giống cũ để tiết kiệm chi phí, dẫn đến năng suất lúa thấp Hơn nữa, việc duy trì phương thức canh tác truyền thống như trồng ngô, sắn trên những mỏm đồi cao trong điều kiện thời tiết khô hanh đã làm giảm năng suất lương thực hàng năm.

Bảng 2.14: Tổng sản lượng lương thực có hạt của xã Mường Tè giai đoạn 2016-2020

STT Loại lương thực đơn vị

Kế hoạch Thực hiện kế hoạch

(Nguồn:Thống kê ngành nông lâm, thủy sản giai đoạn 2016-2020)

Qua bảng số liệu trên ta thấy, sản lượng lương thực có hạt của xã Mường

Trong giai đoạn 2016-2020, sản lượng thóc thực tế chỉ đạt 1.826 tấn, tương đương 88,8% so với kế hoạch đề ra là 2.056 tấn.

48 lƣợng ngô theo kế hoạch đề ra là 950 tấn, thực hiện kế hoạch đạt 305 tấn đạt

Tỷ lệ thực hiện kế hoạch sản xuất nông nghiệp tại xã chỉ đạt 32,1%, cho thấy thực trạng sản xuất lương thực còn thấp và chưa đạt yêu cầu Nguyên nhân chính là do thiếu kiến thức về kỹ thuật canh tác và hạn chế trong đầu tư phân bón, dẫn đến chất lượng và năng suất chưa cao Người dân chủ yếu sản xuất theo hình thức tự cung, tự cấp, với lương thực chủ yếu phục vụ cho chăn nuôi, không tạo ra nguồn thu nhập đáng kể cho hộ gia đình.

Trình độ dân trí thấp dẫn đến thiếu hiểu biết về chăm sóc sức khỏe, khiến người dân không nhận thức được tầm quan trọng của việc thăm khám định kỳ Họ vẫn duy trì tư duy lạc hậu, như đưa thầy mo về cúng bái thay vì đưa người ốm đi khám bệnh, dẫn đến tình trạng bệnh không khỏi và tốn kém kinh tế Quan niệm rằng mọi bệnh tật đều do ma quỷ hay vị trí nhà ở không tốt cũng ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe Đặc biệt, phụ nữ đồng bào Thái ít chăm sóc và khám thai, tỷ lệ sinh tại nhà cao, và việc bổ sung dinh dưỡng cho thai nhi rất hạn chế, dẫn đến chất lượng giống nòi thấp và tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng cao Thiếu hiểu biết của phụ huynh ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe trẻ em, trong khi việc chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi cũng còn hạn chế, khi họ vẫn làm việc nặng cho đến khi không còn khả năng.

Việc duy trì hoạt động thể chất là rất quan trọng cho sức khỏe của người cao tuổi, trong khi lối sống ít vận động có thể dẫn đến suy giảm sức khỏe Chất lượng dinh dưỡng trong mỗi bữa ăn của người cao tuổi thường chưa được đảm bảo, góp phần làm giảm sức khỏe tổng thể Những yếu tố này đã dẫn đến tuổi thọ trung bình của người cao tuổi trong cộng đồng thấp hơn so với mức trung bình toàn quốc.

Trình độ dân trí thấp là nguyên nhân chính dẫn đến việc người đồng bào dân tộc thiểu số, đặc biệt là người Mông, dễ bị kẻ xấu lợi dụng và lôi kéo chống đối lại Đảng, Nhà nước Hiện tượng nghiện ngập gia tăng trong cộng đồng Mông do những thế lực bên ngoài dụ dỗ bằng thuốc phiện, gây ra bạo loạn tại địa phương Bên cạnh đó, người Thái, mặc dù có bản sắc văn hóa đặc trưng, vẫn duy trì nhiều phong tục lạc hậu như tổ chức ma chay tốn kém và mê tín dị đoan, dẫn đến việc không đưa người ốm đi chữa trị đúng cách Ý thức bảo vệ môi trường sống của người dân còn thấp, với tình trạng đốt rừng làm nương rẫy và vứt rác bừa bãi gây ô nhiễm Những vấn đề này đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của người đồng bào Thái tại xã Mường Tè.

Hộ gia đình đóng vai trò là tế bào của xã hội, là đơn vị sản xuất kinh tế quan trọng và có ảnh hưởng trực tiếp đến nền kinh tế chung Kinh tế hộ gia đình quyết định sự phát triển và ổn định của nền kinh tế.

Mức thu nhập của hộ gia đình ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng sống của các thành viên Hộ gia đình có thu nhập cao có khả năng đáp ứng đầy đủ nhu cầu của tất cả các thành viên, trong khi hộ gia đình có thu nhập thấp thường không thể đảm bảo các nhu cầu cơ bản và cần thiết.

Khảo sát 200 hộ dân tộc Thái tại xã Mường Tè cho thấy 94,5% các hộ chủ yếu làm nông nghiệp với nền sản xuất còn thô sơ và lạc hậu Điều kiện tự nhiên khắc nghiệt khiến kinh tế nông nghiệp không tạo ra thu nhập cao, với 82,5% hộ có thu nhập từ 1 triệu đến 3 triệu đồng, ảnh hưởng đến khả năng đáp ứng nhu cầu cơ bản, đặc biệt là dinh dưỡng cho trẻ em Nhiều hộ nghèo, cận nghèo không đủ chi tiêu cho ăn uống, dẫn đến sức khỏe giảm sút và tuổi thọ thấp hơn mức trung bình cả nước Thu nhập thấp cũng hạn chế khả năng tiếp cận dịch vụ xã hội và chăm sóc sức khỏe, khiến người dân không có thời gian và điều kiện để chăm sóc bản thân Kinh tế khó khăn còn dẫn đến tình trạng bỏ học, khi gia đình không đủ khả năng cho con em đi học, từ đó ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của cộng đồng.

51 hộ gia đình có thu nhập cao chắc chắn chất lƣợng sống của mọi thành viên tron gia đình sẽ đƣợc đảm bảo

Khách quan là những sự kiện và hiện tượng diễn ra ngoài ý muốn, nằm ngoài tầm kiểm soát của con người, và phát triển một cách độc lập với suy nghĩ của họ Nhận thức về thực tế khách quan là điều cần thiết, nếu không sẽ dẫn đến sự thiếu hiểu biết Nguyên nhân khách quan được hiểu đơn giản là những yếu tố từ bên ngoài mà con người không mong muốn và không thể kiểm soát, do đó cần tôn trọng thực tế này Các nguyên nhân khách quan bao gồm nhiều yếu tố, trong đó có điều kiện tự nhiên, và chúng có ảnh hưởng lớn đến chất lượng sống của người dân.

Mường Tè là xã biên giới với địa hình núi cao, hiểm trở, cách trung tâm thành phố Lai Châu 200km, gây khó khăn cho người dân trong sản xuất nông nghiệp và tiếp cận dịch vụ Địa hình khó khăn làm cho việc áp dụng công nghệ hiện đại vào canh tác gặp trở ngại, trong khi mùa mưa thường xuyên gây sạt lở đất, thiệt hại lớn về hoa màu Khoảng cách xa trung tâm thành phố ảnh hưởng đến chất lượng sống, hạn chế cơ hội học tập và việc làm cho người dân, đồng thời cản trở việc trao đổi buôn bán hàng hóa Mặc dù đây là thị trường tiêu thụ lớn, nhưng chi phí vận chuyển cao khiến kinh tế xã chủ yếu là tự cung tự cấp Hơn nữa, các chính sách dân số chưa thực sự hiệu quả và đội ngũ cán bộ thiếu năng lực, làm giảm khả năng phát triển của xã.

Vùng dân tộc thiểu số miền núi có những đặc thù khác biệt, ảnh hưởng lớn đến tình trạng đói nghèo của người dân, đặc biệt là do điều kiện sản xuất khó khăn.

Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lƣợng dân số

Trong thời gian qua, các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số (DTTS) đã được triển khai mạnh mẽ, bao gồm chính sách về y tế, dân số, giáo dục, bảo tồn và phát triển văn hóa, cũng như đầu tư phát triển bền vững Sự quan tâm đặc biệt đã được dành cho việc nâng cao sức khỏe và chất lượng dân số của nhóm DTTS.

Nhờ 55 chính sách và nỗ lực của địa phương, đồng bào dân tộc thiểu số ngày càng có cơ hội tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cơ bản Trẻ em trong độ tuổi đi học được tạo điều kiện thuận lợi để đến trường Đặc biệt, các cấp chính quyền luôn chú trọng phát triển kinh tế hộ gia đình, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của vùng.

2.6.1 Giải pháp nâng cao thể chất

2.6.1.1 Giải pháp về kinh tế

Để nâng cao thể chất và chất lượng sống của người dân, giải pháp hiệu quả nhất là cải thiện mức thu nhập Kinh tế của đồng bào dân tộc Thái còn nhiều hạn chế, do đó cần thúc đẩy phát triển kinh tế thông qua việc hướng dẫn kỹ thuật canh tác và áp dụng tiến bộ khoa học vào sản xuất nông nghiệp Việc thay thế sức kéo của trâu bò bằng máy móc sẽ giúp tăng năng suất và giảm sức lao động Đồng thời, cần đưa giống cây trồng và vật nuôi có giá trị kinh tế cao vào sản xuất Việc mở lớp tập huấn để thay đổi tư duy canh tác cũ và khuyến khích người dân phát triển kinh tế thông qua nguồn vốn vay lãi suất thấp cũng rất quan trọng Hỗ trợ các mô hình thí điểm và phát triển làng nghề thủ công sẽ giúp tạo ra việc làm và nâng cao đời sống cho hộ nghèo Tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động cũng sẽ góp phần tạo công ăn việc làm cho người lao động.

2.6.1.2 Giải pháp về chăm sóc sức khỏe Đảm bảo 100% người dân được cấp thẻ BHYT miễn phí, tổ chức khám chữa bệnh cho người nghèo Giáo dục nhận thức của người đồng bào về việc chăm sóc sức khỏe trước và sau khi sinh để đảm bảo trẻ được phát triển tốt không để lại di chứng về sau Thay đổi nhận thức của người dân về chăm sóc sức khỏe, giúp người dân thấy được mức độ quan trọng của việc thăm khám sức

Việc duy trì sức khỏe cộng đồng là rất quan trọng, đồng thời cần lên án những hành vi đưa thầy mo vào chữa trị bệnh Cần đảm bảo 100% trẻ em được tiêm phòng đúng lịch và giáo dục về chăm sóc trẻ sơ sinh Người dân cũng cần được cung cấp thuốc miễn phí khi thăm khám tại các trạm y tế Hơn nữa, thường xuyên tổ chức tập huấn nâng cao chuyên môn cho cán bộ y tế địa phương là cần thiết để họ có thể thực hiện sơ cứu kịp thời trong các tình huống khẩn cấp.

2.6.2 Giải pháp nâng cao trình độ học vấn và chuyên môn cho người dân

2.6.2.1.Về giáo dục- đào tạo

Chính sách miễn giảm học phí cho học sinh dân tộc thiểu số và hỗ trợ chi phí học tập cần được tiếp tục thực hiện Cần thường xuyên nâng cao trình độ chuyên môn của giáo viên và cập nhật phương pháp giảng dạy để thu hút học sinh Việc “Học đi đôi với hành” giúp trẻ hiểu rõ kiến thức và phát triển kỹ năng Cần khuyến khích những trẻ có ý định bỏ học và nâng cấp cơ sở vật chất để cải thiện môi trường học tập Ngoài chương trình học, trường học nên tổ chức các hoạt động giao lưu để kích thích sự sáng tạo Giáo dục sức khỏe sinh sản cho học sinh vị thành niên là cần thiết để họ có nhận thức đúng đắn Cuối cùng, định hướng nghề nghiệp từ khi còn học sẽ giúp học sinh dân tộc có cái nhìn đúng đắn về tương lai nghề nghiệp của mình.

2.6.2.2 Nâng cao tay nghề, kỹ thuật canh tác của người lao động Đa dạng hóa các hình thức đào tạo nghề thông qua việc, triển khai công tác đào tạo nghề cho đối tƣợng lao động chính sách trên địa bàn xã, chú trọng đào tạo nghề theo hình thức kèm cặp, truyền nghề tại các làng nghề và các doanh nghiệp Đối với những ngành sản xuất nông nghiệp nên kết hợp với hội nông dân, cập nhật những giống cây trồng mới mang lại năng suất cao và những kĩ thuật canh tác mới Trong thời gian tiếp theo, tiếp tục nâng cao công tác đào tạo nghề đến từng địa phương, từng đối tượng dân tộc khác nhau nhằm tăng tỷ lệ số lao động trên 15 tuổi được đào tạo nghề trên địa bàn xã Thường xuyên cử đội

57 cán bộ khuyến nông và cán bộ thôn bản đã tham gia tập huấn và tham quan các mô hình canh tác mới, nhằm truyền bá kiến thức cho người dân trong xã Các chính sách ưu đãi về thuế và vốn vay cho doanh nghiệp được áp dụng để khuyến khích phát triển sản xuất, tạo ra nhiều việc làm cho người dân, từ đó giúp họ học hỏi và mở rộng kỹ năng nghề nghiệp.

2.6.3 Nâng cao đời sống tinh thần của người dân

2.6.3.1.Văn hóa văn nghệ- thể dục thể thao

Để nâng cao chất lượng sống của người dân đồng bào Thái, cần chú trọng đến đời sống tinh thần thông qua việc tạo ra nhiều sân chơi và giao lưu văn nghệ quần chúng, giúp họ có cơ hội giao lưu văn hóa Việc tổ chức lễ hội và khuyến khích người dân tham gia sẽ góp phần giữ gìn và phát huy văn hóa dân tộc Thái Các hoạt động như chiếu bóng, chiếu phim lưu động và phát loa trong thôn bản cũng cần được duy trì, không chỉ để giải trí mà còn để tuyên truyền giáo dục về dân số, pháp luật và các vấn đề xã hội Nhờ đó, người dân sẽ nắm bắt kịp thời các chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước, từ đó áp dụng vào phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo Đồng thời, việc phát triển văn hóa-nghệ thuật, bảo tồn giá trị văn hóa dân tộc cần được gắn kết chặt chẽ Xây dựng câu lạc bộ hưu trí và hội người cao tuổi cũng là một hoạt động quan trọng, tạo điều kiện cho người già tham gia các hoạt động văn hóa, thể thao, góp phần nâng cao sức khỏe và tuổi thọ.

2.6.3.2 Các hoạt động truyền thông

Triển khai hiệu quả các hoạt động truyền thông và giáo dục cần chú trọng nội dung, hình thức và cách tiếp cận phù hợp với từng vùng miền và nhóm đối tượng khác nhau.

Để nâng cao chất lượng cuộc sống cho các hộ gia đình nghèo ở vùng khó khăn, cần đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục về dân số, sức khỏe sinh sản và bình đẳng giới, đặc biệt cho trẻ vị thành niên Các hoạt động cần được lồng ghép và mở rộng, bao gồm phong trào rèn luyện thể chất, bảo vệ sức khỏe và cải thiện môi trường sống Đồng thời, cần tăng cường tư vấn tiền hôn nhân và mô hình nâng cao chất lượng dân số, nhằm giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng, đặc biệt cho đồng bào dân tộc thiểu số Việc tăng cường các kênh truyền thông, cả gián tiếp và trực tiếp, cũng như phổ cập kiến thức về sức khỏe sinh sản như phòng tránh thai và các bệnh lây truyền qua đường tình dục là hết sức cần thiết.

2.6.4 Giải pháp nâng cao đời sống vật chất và các dịch vụ xã hội cơ bản

Tiếp tục đầu tư xây dựng hệ thống rãnh thoát nước thải trong khu dân cư để giữ vệ sinh môi trường và giảm mùi hôi Cải tạo, nâng cấp các công trình công cộng như đường nội đồng để thuận tiện cho sản xuất nông nghiệp Đẩy mạnh phát triển kinh tế xã hội, khuyến khích người dân tham gia lao động sản xuất, áp dụng kỹ thuật mới và máy móc vào sản xuất, đồng thời hỗ trợ vốn vay lãi suất thấp cho các hộ muốn phát triển kinh tế Đầu tư trang thiết bị y tế để hỗ trợ sơ cứu khẩn cấp và đảm bảo thuốc dự trữ đầy đủ cho người dân Xây dựng cơ chế chính sách khuyến khích các đối tượng tham gia cung cấp dịch vụ xã hội và bảo vệ quyền lợi cho những người thụ hưởng dịch vụ này.

2.6.5 Tăng cường công tác nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác dân số

Để phát triển nguồn nhân lực hiệu quả, cần ưu tiên đào tạo tại chỗ cho cán bộ nữ và cán bộ là người dân tộc thiểu số Việc nâng cao trình độ đội ngũ cán bộ thông qua các lớp bồi dưỡng ngắn hạn về công tác dân số là rất quan trọng Cán bộ y tế cần được đào tạo thường xuyên để cải thiện chăm sóc sức khỏe cho người dân, đồng thời nắm bắt kịp thời các chính sách của Đảng và Nhà nước để truyền đạt đến cộng đồng Cần tuyên truyền để mọi người hiểu rõ vai trò và tiềm năng của vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cũng như tầm quan trọng của công tác dân số trong phát triển địa phương Việc vận động đồng bào tích cực thực hiện và giám sát chính sách dân tộc là cần thiết để xây dựng khối đại đoàn kết Động viên người dân phát huy nội lực, tự lực vươn lên thoát nghèo và hội nhập với sự phát triển chung của đất nước là mục tiêu quan trọng trong công tác này.

PHẦN KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

Chất lượng dân số là yếu tố quan trọng thúc đẩy tăng trưởng nhanh và phát triển bền vững, phản ánh mức sống và trình độ văn minh của quốc gia Cải thiện chất lượng dân số không chỉ là trách nhiệm của ngành y tế mà cần sự phối hợp từ nhiều ngành và cấp độ khác nhau Nâng cao chất lượng dân số sẽ tạo ra một xã hội ổn định, công bằng và văn minh, góp phần phát triển kinh tế, mang lại cuộc sống ấm no, tự do và hạnh phúc cho mọi người Điều này cũng giúp loại bỏ áp bức, bảo vệ môi trường và cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người dân, đồng thời tạo cơ hội phát huy tài năng và năng lực sáng tạo.

Quá trình nghiên cứu chất lượng dân số tại xã Mường Tè cho thấy nhiều khó khăn, bao gồm tỷ lệ khám chữa bệnh thấp, nhu cầu dinh dưỡng trẻ em chưa được đáp ứng, và hạn chế trong tiếp cận dịch vụ xã hội Địa hình khó khăn và thiếu quan tâm từ chính quyền cũng góp phần vào tình trạng này Kinh tế xã hội còn thấp, cùng với nhận thức hạn chế do ảnh hưởng của lối sống cũ, khiến người dân không có khả năng chi trả cho nhu cầu cơ bản Nhiều người vẫn tin rằng bệnh tật do ma quỷ gây ra, dẫn đến việc không đưa bệnh nhân đến bệnh viện Phụ nữ mang thai cũng ít chú trọng sức khỏe, gây ra biến chứng nghiêm trọng cho cả mẹ và bé, làm giảm tuổi thọ.

Ngày đăng: 23/06/2021, 15:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w