Để kiểm soát các rủi ro có thể phá hủy sự ổn định tàichính với những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế thực, những chính sách truyền thốngnhư chính sách tài khóa CSTK và CSTT là khôn
Trang 1, il
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRẦN XUÂN LINH
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
• • CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ ĐẾN
ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH: NGHIÊN CỨU TẠI CÁC NƯỚC CÓ
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGÂN HÀNG TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN TRẦN XUÂN LINH
TÁC ĐỘNG CỦA CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VÀ
• • CHÍNH SÁCH AN TOÀN VĨ MÔ ĐẾN
ỔN ĐỊNH TÀI CHÍNH: NGHIÊN CỨU TẠI CÁC NƯỚC CÓ
• •
NỀN KINH TẾ MỚI NỔI VÀ DẪN DẮT TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ THẾ GIỚI
LUẬN ÁN TIẾN SĨ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
MÃ SỐ: 9.34.02.01
Người hướng dẫn khoa học: PGS TSKH NGUYỄN NGỌC THẠCH
TP HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 3tổ chức tín dụng (TCTD) cụ thể thay vì là toàn bộ hệ thống tài chính (Freixas và cộng sự,2016) Những quy định giám sát được thiết lập trước thời kỳ khủng hoảng với kỳ vọng rằng
sẽ tạo được tấm đệm để hấp thụ những cú sốc đối với từng TCTD cụ thể, và do vậy, cả hệthống tài chính sẽ trở nên an toàn hơn Tuy nhiên, cuộc khủng hoảng năm 2008 đã cho thấynhững quy định này là chưa đầy đủ Để kiểm soát các rủi ro có thể phá hủy sự ổn định tàichính với những tác động tiêu cực đối với nền kinh tế thực, những chính sách truyền thốngnhư chính sách tài khóa (CSTK) và (CSTT) là không đủ, mà phải có sự quản lý và giám sát
hệ thống tài chính như một thể thống nhất và sự liên quan của nó với toàn bộ nền kinh tếthông qua việc thực thi chính sách an toàn vĩ mô (Macroprudential policy - CSATVM)(Freixas và cộng sự, 2016)
Theo Freixas và cộng sự (2016), thuật ngữ CSATVM đã được các nhà nghiên cứu đềcập từ cuối những năm 1970 khi mà tăng trưởng cho vay đối với các quốc gia đang pháttriển tăng lên một cách nhanh chóng Tuy nhiên, cho tới nay, mặc dù trải qua rất nhiều cuộckhủng hoảng nhưng cụm từ CSATVM rất ít được sử dụng cho đến trước khi cuộc khủnghoảng tài chính tại Mỹ năm 2008 Nhưng dù được các nhà hoạch định chính sách, ngânhàng trung ương (NHTW) và các nhà nghiên cứu quan tâm hơn rất nhiều, ý nghĩa của cụm
từ “CSATVM” vẫn còn mơ hồ (Clement, 2010; Laeven và Valencia, 2010) Bên cạnh đó, sựtương tác giữa CSTT và CSATVM dù là một vấn đề then chốt đối với ổn định tài chínhnhưng những nghiên cứu về chủ đề này còn tương đối ít ỏi và các kết quả nghiên cứu cũngchưa có sự đồng nhất, đặc biệt là phương pháp đo lường và biến đại diện cho Ổn định tàichính (Adrian và Liang, 2018)
Xuất phát từ thực tiễn đó, tác giả quyết định lựa chọn đề tài “Tác động của chính sáchtiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính: Nghiên cứu tại các nước có nềnkinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế thế giới” làm luận án tốt nghiệp với mongmuốn hệ thống hóa các khái niệm về CSATVM và ổn định tài chính, đề xuất một thang đo
ổn định tài chính phù hợp với thực tiễn của các quốc gia này, xem xét tác động của CSTT
Trang 4và CSATVM đến ổn định tài chính tại các quốc gia mới nỗi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế
thế giới (Emerging and growth-leading economies - EAGLEs) Từ cac phân tich nay, tac gia
se đưa ra những khuyến nghị chính sách hướng tới sự ổn định tài chính cho các quốc giathuộc nhóm nước EAGLEs
1.2 Khoảng trống nghiên cứu
Thứ nhất, các thang đo lường ổn định tài chính hoặc quá lớn để có thể thu thập được
dữ liệu và quá phức tạp để diễn giải, hoặc chưa phù hợp với đặc thù của các nước EAGLEs.Thứ hai, các nghiên cứu về tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chínhmới chỉ phân tích một vài khía cạnh của hệ thống tài chính như chu kỳ tín dụng, tăng trưởngtín dụng, tăng trưởng giá tài sản, nó chưa phản ảnh được đầy đủ các khía cạnh của hệ thốngtài chính, do vậy, giải pháp đề xuất có thể bị thiên lệch, chỉ tập trung vào một vài khu vựccủa hệ thống tài chính
Thứ ba, các nghiên cứu hiện tại thường theo cách tiếp cận tần suất, nhưng phươngpháp này bị giới hạn bởi số lượng mẫu, vì thế, các nghiên cứu chỉ thường phân tích mộtnhóm nước, tuy nhiên, mỗi quốc gia trong nhóm lại có những đặc thù riêng trong hệ thốngtài chính, do vậy, việc chỉ phân tích tổng thể một nhóm sẽ khó có thể bao hàm tất cả các đặcđiểm nội tại của từng quốc gia trong nhóm
1.3 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của luận án là đánh giá tác động của CSTT và CSATVM đến ổnđịnh tài chính tại nhóm EAGLEs và từng quốc gia cụ thể trong nhóm EAGLEs Kết quả đạtđược sẽ là cơ sở khoa học để đề xuất những hàm ý chính sách giúp củng cố sự ổn định của
hệ thống tài chính, qua đó cải thiện môi trường kinh tế vĩ mô, hướng tới tăng trưởng kinh tếbền vững
Để đạt được mục tiêu tổng quát, luận án lần lượt giải quyết các mục tiêu cụ thể nhưsau:
- Đề xuất một bộ chỉ tiêu đo lường ổn định tài chính phù hợp đặc thù hệ thống tàichính tại các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs
- Đánh giá tác động của CSTT và CSATVM đến ổn định tài chính tại nhóm EAGLEs
và từng quốc gia cụ thể thuộc nhóm EAGLEs
- Đề xuất một số hàm ý chính sách trong thực thi CSTT và CSATVM để cải thiện ổn
Trang 5định tài chính tại các nhóm nước thuộc nhóm EAGLEs
1.4 Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu, luận án sẽ trả lời các câu hỏi sau:
- Các phương pháp đo lường ổn định tài chính phổ biến hiện nay là gì? Phương phápnào thích hợp và cần hiệu chỉnh những gì để phù hợp với điều kiện thực tế tại cácquốc gia thuộc nhóm EAGLEs
- CSTT và CSATVM có tác động như thế nào đến chỉ số ổn định tài chính tại nhómnước EAGLEs và các quốc gia trong nhóm EAGLEs?
- Giải pháp nào nên được thực thi nhằm cải thiện ổn định tài chính các nước EAGLEs?
1.5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận án là Ổn định tài chính; và tác động của CSATVM vàCSTT đến ổn định tài chính tại các quốc gia có nền kinh tế mới nổi và dẫn dắt tăng trưởngkinh tế thế giới (Emerging and growth-leading economies - EAGLEs)
Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu được tiến hành tại các nước mới nổi và dẫn dắt tăng trưởng kinh tế(EAGLEs)
Thời gian nghiên cứu:
Luận án tiến hành nghiên cứu tác động của CSTT và CSATVM tại các quốc gia thuộcnhóm EAGLEs trong giai đoạn 2008 - 2018
1.6 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu là đánh giá tác động của CSTT và CSATVM tại cácnước thuộc nhóm EAGLEs, luận án sẽ kết hợp phương pháp định tính và định lượng theocách tiếp cận Bayes để giải quyết các vấn đề nghiên cứu
1.7 Dữ liệu nghiên cứu
Dữ liệu nghiên cứu là dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn đáng tin cậy là Ngânhàng thế giới (World Bank - WB), Quỹ Tiền tệ Thế giới (International Monetary Fund -IMF), Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế & Viện Nghiên cứu Kinh tế (Center for EconomicStudies and Ifo Institute - CESifo), dữ liệu Kinh tế vĩ mô (Macroeconomic database) củaOxford economics và Eugenio dataset (2018)
Trang 6hệ thống tài chính, DTBB phản chu kỳ hoặc/và DTBB đối với tiền gửi ngoại tệ giúp ổn địnhtài chính tại các nước EAGLEs; (iii) CSTT và CSATVM cải thiện ổn định tài chính nếuchúng được thực thi cùng chiều; (iv) đối với từng quốc gia cụ thể thì tác động của CSTT vàCSATVM cũng cho kết quả tương tự với toàn nhóm EAGLEs nhưng ở các mức độ khácnhau, trừ Ai Cập trong ngắn hạn, khi nới lỏng cung tiền thì ổn định tài chính của quốc gianày sẽ tăng lên, và Malaysia khi mở rộng TDNH cho KVTN cũng giúp cải thiện ổn định tàichính cho quốc gia này trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn, nếu hai chính sách này nớilỏng quá lâu sẽ tác động tiêu cực đến ổn định tài chính tại các quốc gia này.
vĩ mô đến ổn định tài chính như các nghiên cứu trước đã thực hiện
Đóng góp về mặt thực tiễn: Thứ nhất, luận án sẽ đề xuất một bộ chỉ tiêu giúp đo lường
và theo dõi sức khỏe của hệ thống tài chính tại các quốc gia thuộc nhóm EAGLEs Thứ hai,kết quả nghiên cứu sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách nắm bắt được mối quan hệ giữaCSTT và CSATVM và tác động của hai chính sách này đến ổn định tài chính tại nhóm nướcEAGLEs
1.9 Cấu trúc của luận án
Luận án được chia làm 5 chương, cụ thể như sau:
Trang 7Chương 1: Giới thiệu tổng quan về nghiên cứu
Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách
Kết luận chương 1
Chương 1 đã trình bày tính cấp thiết về nghiên tác động của CSTT và CSATVM đến
ổn định tài chính trong giai đoạn sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu bắt đầu từ cuốinăm 2007 Ngoài ra, trong chương này cũng chỉ ra các khoảng trống nghiên cứu chủ yếu,qua đó xác định các mục tiêu, phạm vi, phương pháp nghiên cứu Bên cạnh đó, chương nàycũng trình bày các kết quả chính và những đóng góp của luận án về mặt khoa học lẫn thựctiễn
Trang 8CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN2.1 Ổn định tài chính
Hiện nay, có hai cách tiếp cận về ổn định tài chính (1) Khái niệm hẹp - tìm cách mô tảtình huống nào không được xem là không Ổn định tài chính, có nghĩa đưa ra một khái niệm vềbất ổn tài chính (2) Khái niệm rộng - tìm kiếm một thuật ngữ mô tả ổn định tài chính
Nghiên cứu này theo cách tiếp cận mô tả ổn định tài chính thông qua “khái niệm rộng”,nghĩa là: Ổn định tài chính là hệ thống tài chính ổn định có khả năng phân bổ hiệu quả cácnguồn lực, đánh giá và quản lý rủi ro tài chính, duy trì mức việc làm gần với mức toàn dụngcủa nền kinh tế, loại bỏ sự giao động giá tương đối của tài sản thực và tài sản tài chính Hệthống tài chính trong một chuỗi ổn định khi nó có khả năng loại trừ sự mất cân đối tài chínhphát sinh do nội tại hệ thống tài chính hoặc do chịu sự tác động tiêu cực, không lường trướcbởi các cú sốc từ bên ngoài Trong trạng thái ổn định, hệ thống sẽ hấp thụ các cú sốc thôngqua cơ chế tự điều chỉnh, ngăn ngừa các sự kiện bất lợi có tác động phá vỡ nền kinh tế thựchoặc các hệ thống tài chính khác Ổn định tài chính được xem là điều kiện tiên quyết để tăngtrưởng kinh tế bền vững, vì hầu hết các giao dịch trong nền kinh tế thực đều được thực hiệnthông qua hệ thống tài chính
2.2 Chính sách tiền tệ
2.2.1 Khái niệm chính sách tiền tệ
Chính sách tiền tệ là một công cụ tài chính vĩ mô do NHTW thực hiện để điều tiết lượngtiền trong lưu thông thông qua các công cụ của mình nhằm đạt được các mục tiêu kinh tế vĩ
mô như kiềm chế lạm phát, duy trì tỷ giá, tăng trưởng kinh tế bền vững, đạt mức toàn dụnglao động và các mục tiêu khác (Yeyati và cộng sự, 2010; Ball, 2011; Mishkin, 2012; Jahan,
2.3.1 Khái niệm chính sách an toàn vĩ mô
Theo định nghĩa gốc, CSATVM là việc sử dụng các công cụ chính sách với mục tiêu rõ
Trang 9ràng là cải thiện sự ổn định của hệ thống tài chính thống nhất, nhằm giảm thiểu khả năng đo
vỡ của hệ thống tài chính, giải quyết các rủi ro phổ biến tránh gây ra các hậu quả nghiêmtrọng đối với nền kinh tế thực (Clement, 2010) Như vậy, khác với CSTK và CSTT, là dạngchính sách bình ổn, được thực thi nhằm bình ổn sản lượng sau cú sốc, CSATVM được thựcthi để kiểm soát và ngăn ngừa các cú sốc (Thạch và cộng sự, 2017)
2.3.2 Mục tiêu và phạm vi chính sách an toàn vĩ mô
Mục tiêu cụ thể của CSATVM là giảm thiểu rủi ro hệ thống nhằm tối thiểu hóa chi phí
mà sự bất ổn tài chính có thể áp đặt vào toàn bộ nền kinh tế NHTW Anh (2009) cho rằng,mục tiêu cốt lõi nhất của CSATVM hướng tới các quy định nhằm ổn định dịch vụ tài chínhtrung gian - dịch vụ thanh toán - trung gian tín dụng và tổ chức bảo hiểm nhằm chống lại cácrủi ro đối với nền kinh tế, cố gắng tránh các dạng bùng nổ và khủng hoảng theo chu kỳ TheoNgân hàng Trung ương châu Âu (European Central Bank - ECB, 2010), mục tiêu củaCSATVM bao gồm: (i) giảm thiểu các rủi ro quá mức do các tác động từ yếu tố ngoại tác và
sự thất bại của thị trường nhằm đảm bảo hệ thống tài chính vận hành một cách hiệu quả; (ii)nâng cao khả năng phục hồi và giảm thiểu các tác động lan truyền khủng hoảng
2.3.3 Các công cụ chính sách an toàn vĩ mô
Các công cụ nâng cao khả năng phục hồi của hệ thống tài chính
Các đề xuất do ủy ban Basel đưa ra liên quan đến các cong cụ chính sách ảnh hưởng trựctiếp đến bảng cân đối kế toán của các tổ chức tài chính Những cong cụ này bao gồm cả tínhchất an toàn vi mo, tức là các biện pháp nhằm tăng cường khả năng phục hồi của các tổ chứctài chính riêng lẻ, và các biện pháp giám sát hoặc điều chỉnh phù hợp để đạt được các mụctiêu an toàn vĩ mo (ATVM)
Bộ công cụ CSATVM xử lý sự mất cân đối tài chính
Một bộ cong cụ khác của CSATVM thay vì hướng tới nguồn cung tín dụng như bộ cong
cụ trên (bằng cách ảnh hưởng trực tiếp lên bảng cân đối tài sản của ngân hàng) sẽ hướng tớinguồn cầu tín dụng (tác động về phía người đi vay) (Ovenden, 2019) Những giải pháp nàyđược thực thi nhằm mục tiêu nâng cao sự lành mạnh của hệ thống và tăng khả năng trụ vữngtrước những cú sốc Chúng sẽ bảo vệ hệ thống theo một cách khác bằng cách xử lý nguồn gốc
ra gây tình trạng mất cân đối tài chính Cơ quan chịu trách nhiệm giám sát an toàn vĩ mô ví dụnhư NHTW sẽ đề xuất các công cụ tiềm năng tác động đến cầu tín dụng Với nhiệm vụ giámsát tài chính vĩ mô, cơ quan chịu trách nhiệm có thể giám sát một cách liên tục các nguồn rủi
ro nội và ngoại tác đến sự ổn định hệ thống với mục tiêu phát hiện sớm các lỗ hổng và rủi ro
Trang 10của hệ thống tài chính Nó có thể liên quan đến việc sử dụng đòn bẩy trong các khu vực cụ thểcủa nền kinh tế, đặc biệt nếu chúng xuất hiện kết hợp với các rủi ro đổ vỡ tài chính tiềm ẩn.Chúng cũng có thể liên quan đến sự tăng trưởng quá nóng trong giá của một loại tài sản haykhu vực tài chính cụ thể.
2.3.4 Tác động của CSATVM đến ổn định tài chính
Khuôn khổ phân tích tác động của CSATVM đến ổn định hệ thống tài chính được thểhiện thông qua hai chiều của rủi ro hệ thống: chiều thời gian và chiều không gian
Chiều thời gian, được biểu hiện thông qua việc kiểm soát chu kỳ bùng nổ tài chính củaCSATVM (Borio, 2011) Các chu kỳ bùng nổ tài chính có thể được bắt nguồn từ các chủ thểcung, cầu tín dụng; và hành vi của các định chế tài chính
Khía chiều không gian được thể hiện thông qua các quy định của CSATVM đối với sựtương tác giữa các tổ chức tài chính (TCTC) Để giảm thiểu rủi ro xãy ra các cuộc khủnghoảng tương tự cuộc khủng hoảng 2007-2008 trong tương lại, khuôn khổ Basel III ra đời vớitrọng tâm hướng sự giám sát vào các TCTC trong hệ thống tài chính Với các khoản phụ phívốn ấn định vào các TCTC có tầm quan trọng, khuôn khổ Basel III được kỳ vọng sẽ giảmthiểu các ảnh hưởng ngoại tác bất lợi bắt nguồn từ sự tương tác giữa các TCTD
2.4 Tác động của chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính
2.4.1 Mối quan hệ giữa chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô
Mục tiêu chính của CSTT tại hầu hết các quốc gia là duy trì sự ổn định của giá cả hàng hóa và dịch vụ, nó cũng có thể thực thi các mục tiêu khác như tăng trưởng kinh tế, ổn định lãi suất và tỷ giá, giảm thất nghiệp (Bofinger, 2001) Trong khi đó, nhiệm vụ của CSATVM là duy trì sự ổn định của hệ thống tài chính bằng cách cải thiện sự lành mạnh của hệ thống tài chính, ngăn ngừa và làm giảm nhẹ rủi ro hệ thống, do vậy, nó hỗ trợ vai trò hệ thống tài chính trong việc đảm bảo ổn định môi trường kinh tế vĩ mô
CSTT đóng vai trò ổn định tài chính bằng cách loại bỏ sự bóp méo thị trường, hạ thấpphần bù rủi ro lãi suất, củng cố sự minh bạch và giảm thiểu rủi ro đạo đức (Kogar, 2006) Tuynhiên, thậm chí CSTT thành công trong việc duy trì lạm phát ở mức thấp và ổn định, nó cũng
có thể gây ra tác động bất lợi cho sự ổn định tài chính Ví dụ, nếu duy trì mức lãi suất cơ bảnthấp, nó sẽ khuyến khích tăng trưởng tín dụng cũng như chấp nhận rủi ro quá mức, làm xuấthiện bong bóng giá tài sản đưa hệ thống tài chính đến gần với khủng hoảng (Dell'Ariccia,Laeven và Suare, 2013) Đối với những nền kinh tế nhỏ và mở, sự gia tăng lãi suất có thể sẽ là
Trang 11một giải pháp kiềm chế lạm phát, nhưng nó cũng thu hút dòng vốn quốc tế và dẫn đến sự giàtăng rủi ro hệ thống và mất cân bằng bên ngoài (IMF, 2013a).
2.4.2 Nguyên tắc phối hợp chính sách tiền tệ và chính sách an toàn vĩ mô
Hình 2.1 Tương tác giữa các chính sách vĩ mô và mục tiêu
I -(Nier và Kang, 2016)
Cơ chê tác đông CSTT và CSATVM đên mục tiêu ôn định tai chinh
- Đầu tiên, CSTT có thể có chuỗi “tác động phụ” lên ổn định tài chính Do vậy,CSATVM được xem như là một chính sách bổ sụng để gịảm bớt sự ảnh hưởng của tácđộng phụ và tạo thêm không gịan để CSTT theo đụổị mục tịêụ chính
- Thứ haị, CSATVM có thể làm sụy gịảm sản lượng do vậy ảnh hưởng đến mục tịêụtăng trưởng của CSTT, đây có thể được xem là tác dụng phụ của CSATVM CSTT cóthể hạn chế tác động này bằng cách gịa tăng thích ứng (nớị lỏng) mịễn là khị CSTTvẫn còn hịệụ qụả
- Thứ ba, CSATVM có thể xây dựng một tấm đệm mà tấm đệm này có thể được gịảịphóng trong thờị kỳ căng thẳng tàị chính, nó gịúp kênh trụyền tảị của CSTT hoạt độngmột cách nhịp nhàng, qụa đó gịúp dụy trì tính hịệụ qụả của CSTT trong gịaị đoạn căng
Trang 122.4.3 Các kênh ảnh hưởng của chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính và CSATVM đối ứng để giảm bớt tác động này
Các kênh ảnh hưởng của CSTT đến ổn định tài chính.
Lãi suất tác động kênh tín dụng: Nớị lỏng tịền tệ sẽ thúc đẩy cầụ tín dụng dẫn đến vịệc
ngườị vay vốn gịa tăng sử dụng đòn bẩy tàị chính
Kênh vỡ nợ: Vịệc thắt chặt lãị sụất sẽ gây ra các tác động tịêụ cực cho ngườị đị vay, địềụ
này có thể làm gịa tăng tỷ lệ vỡ nợ và dẫn tớị một cụộc khủng hoảng
Kênh chấp nhận rủi ro: Lãị sụất thấp có thể làm thúc đẩy vịệc tăng tỷ lệ vốn của ngân
hàng, dẫn đến các định chế tàị chính trụng gịan mở rộng bảng cân đốị kế toán, làm tăng tỷ lệđòn bẩy và gịảm nỗ lực gịám sát các khoản vay
Kênh dịch chuyển rủi ro: Vì ngân hàng sử dụng thường sử dụng ngụồn qụỹ ngắn hạn để
cho vay dàị hạn, do vậy, khị lãị sụất địềụ hành tăng lên có thể làm gịảm lợị nhụận của các tổchức tín dụng dẫn đến, ngườị cho vay, đặc bịệt là các tổ chức có vốn hóa nghèo nàn chấpnhận các khoản cho vay nhịềụ rủị ro hơn
Kênh tài sản: Lãị sụất thấp làm tăng gịá tàị sản, bao gồm gịá bất động sản, nó sẽ kích
hoạt sự lạm dụng đòn bẩy và qụa đó tịếp tục đẩy gịá tàị sản tăng lên, tạo ra vòng xoáy tăng gịátàị sản
Kênh tỷ giá hối đoái: Lãi suất tăng có thể dẫn đến những tác động khác biệt với các
nước có nền kinh tế phát triển, cụ thể, lãi suất cao sẽ thu hút luồng vốn từ thị trường quốc tếdẫn đến mất cân đối bên ngoài
Bộ công cụ CSATVM đối ứng để hạn chế tác dụng phụ của CSTT đến ổn định
Trang 13Sự tiến thoái lưỡng nan trong thực thi chính sách xuất hiện do mâu thuẫn giữa CSTT nộiđịa và dòng vốn ngoại, cũng có thể được xử lý thông qua dự trữ bắt buộc ngoại hối, đánh phívào các khoản tín dụng phi lõi bằng ngoại tệ.
2.5 Tổng quan các nghiên cứu trước
2.5.1 Các nghiên cứu về đo lường ổn định tài chính
Bộ chỉ tiêu được xây dựng sớm nhất để đánh giá mức độ ổn định của hệ thống tài chính
là bộ chỉ số Lành mạnh tài chính (Financial soundness indicators - FSI), do IMF phát triển từsau các cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thập niên 80, 90 của thế kỷ trước Bên cạnhchỉ số FSI của IMF, NHTW châu Âu (ECB) cũng khởi xướng bộ chỉ số an toàn vĩ mô Nhưng
bộ chỉ tiêu của IMF và ECB đòi hỏi dữ liệu quá lớn rất khó để thu thập đầy đủ và quá phứctạp để diễn giải, so sánh
Các nhà nghiên cứu nỗ lực xây dựng một chỉ số đơn giản hơn, nhưng có thể chuẩn đoántốt sức khỏe hệ thống tài chính một cách nhanh chóng Kibritẹioglu (2002) với bộ “chỉ sốcăng thẳng tài chính”; Nelson và Perli (2005) xây dựng “chỉ số mỏng manh tài chính”; Vanden End (2006) đã xây dựng “chỉ số điều kiện ổn định tài chính” Năm 2008, Albulescu xâydựng bộ chỉ tiêu “ổn định tài chính tổng hợp bao gồm 20 chỉ tiêu chia làm 4 nhóm chỉ số phụbao gồm: chỉ số phát triển tài chính; chỉ số tính dễ tổn thương tài chính, chỉ số lành mạnh tàichính, chỉ số môi trường kinh tế toàn cầu
2.5.2 Nghiên cứu về tác động của chính sách tiền tệ đến ổn định tài chính
Các nghiên cứu tiêu biểu là Foos, Norden và Weber (2010); Borio, Drehmann,Tsatsaronis (2011); Pan và Wang (2013); Dell’Ariccia, Laeven, và Marquez (2015); Chen vàcộng sự (2017)
2.5.3 Nghiên cứu về chính sách an toàn vĩ mô đến ổn định tài chính
Nabar và Ahuja (2011); Lim và cộng sự (2011); Dell'Ariccia và cộng sự (2012);Claessens va cộng sự (2013); Cerutti và cộng sự (2017a); Cerutti và cộng sự (2017b); Jiménez
và cộng sự (2017); Vandenbussche, Vogel và Detragiache (2015); Kuttner và Shim (2016);Zhang và Zoli (2016); Cerutti và cộng sự (2017b); Akinci và Olmsted- Rumsey (2018);Altunbas, Binici và Gambacorta (2018); Carreras, Davis và Piggott (2018); Akinci vàOlmsted-Rumsey (2018)
Một chủ đề then chốt trong cả các nghiên cứu học thuật và tranh cãi chính sách là sựtương tác giữa CSATVM và CSTT Tuy nhiên, hiện này các nghiên cứu về chủ đề này còn
Trang 14tương đối ít ỏi Theo mức độ khảo lược của tác giả, chỉ có một số ít nghiên cứu cố gắng giảiquyết vấn đề này có thể kể đến như Bruno, Shim và Shin (2017); Gambacorta và Murcia(2019); Zang và Tressel (2017).
Trang 15CHƯƠNG 3:
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU3.1 Phương pháp đo lường ổn định tài chính
3.1.1 Phương pháp chuẩn hóa dữ liệu
3.1.2 Các bộ phận cấu thành ổn định tài chính nhóm nước EAGLEs.
Bảng 3.1 Các yếu tố cấu thành chỉ số đo lường ổn định tài chính
Chỉ số phụ phát triển tài chính (Financial Development Index-FDI)
Chỉ số phụ môi trường kinh tế toàn cầu
Tăng trưởng kinh tế thế giới
WE3
Nguồn: Tổng hợp của tác giả
3.2 Mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
3.2.1 Giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết 1: Tăng trưởng tín dụng ngân hàng (TDNH) cho khu vực tư nhân (KVTN)cao có tác động tiêu cực đến ổn định tài chính
Giả thuyết 2: Các công cụ CSATVM giúp cải thiện ổn định tài chính
Giả thuyết 3: Tăng trưởng cung tiền làm giảm ổn định tài chính
Trang 16Giả thuyết 4: Lãi suất chính sách tiền tệ có quan hệ nghịch chiều với ổn định tàichính.
Giả thuyết 5: CSTT và CSATVM có tác động hỗ trợ nhau trong việc cải thiện ổnđịnh tài chính khi chúng được thực thi cùng hướng
3.2.2 Mô hình nghiên cứu
Dựa trên các giả thuyết nghiên cứu, tác giả đề xuất mô hình nghiên cứu có dạng sau:
FSTỈ i, t = P i MP ix + p 2 MT it + ^MPi' t X MT ị'1 + £i , t (12)
i = 1,2, N;t = 1,2, T với i là quốc gia và t là thời gian
FSTI là biến thể hiện chỉ số ổn định tài chính, MP là vector thể hiện các chiều của
CSATVM, MT là vector đại diện cho các biến thuộc CSTT, MP X MT là biến thể hiện
tương tác giữa CSTT và CSATVM
Bên cạnh đó, để giảm thiểu hiện tượng sự đảo ngược nhân quả (reverse causality) toàn bộ biến độc lập sẽ được lấy trễ 1 lag(t-1)
Bảng 3.2 Các biến trong mô hình
Ký hiệu Tên biến Cách đo lường Kỳ vọngdấu Nguồn
Biến phụ thuộc FSTI Chỉ số ổn định tài
chính Trình bày tại phần 3.1
Tính toán của tác giả Biến độc lập
FC Giới hạn cho vay bằng ngoại tệ
Giá trị “1” được gán cho năm bắt đầu sử dụng công cụ và giá trị
“0” cho trường hợp còn lại
+
Eugenio dataset (2018)
LTV Tỷ lệ khoản vay trên
Trang 17INTER Giới hạn phơi nhiễmhệ thống
Giá trị “1” được gán cho năm bắt đầu sử dụng công cụ và giá trị
“0” cho trường hợp còn lại
+
Eugenio dataset (2018)
RR
DTBB phản chu kỳ hoặc/và DTBB ngoại tệ
Giá trị “1” được gán cho năm bắt đầu sử dụng công cụ và giá trị
“0” cho trường hợp còn lại
+
Eugenio dataset (2018)
SIFI
DTBB tăng thêm đối với TCTD có tầm quan trọng với hệ thống và/hoặc DTBB tiền gửi ngoại tệ
Giá trị “1” được gán cho năm bắt đầu sử dụng công cụ và giá trị
“0” cho trường hợp còn lại
+
Eugenio dataset (2018)
Trong đó, A và B là hai vectơ ngẫu nhiên (random vector)
Với giả định vector dữ liệu y là một mẫu từ một mô hình với vector tham số chưa biết
ớ, mô hình này sẽ được viết lại thông qua hàm hợp lý:
L ( 0;y = f ( y;0 ) = n
ĩ=i f ( y i \0 ) , (9)
Trong đó: f(ỵ i \ớ) là hàm mật độ xác suất của y với 9 cho trước
Với dữ liệu sẵn có, dựa trên quy tắc Bayes, chúng ta có thể suy diễn các đặc tính của
9 với các tham số mô hình 9 là ngẫu nhiên
Phân tích Bayes sẽ được bắt đầu thông qua việc xác định một mô hình hậu nghiệm(posterior), mô hình này là sự kết hợp giữa dữ liệu nghiên cứu thu thập được và thông tintiên nghiệm (prior information) nhằm mô tả phân phối xác suất của các tham số Như vậy,phân phối hậu nghiệm bao gồm hai thành phần: hàm hợp lý chứa đựng các thông tin cáctham số mô hình dựa trên dữ liệu quan sát được và phân phối tiên nghiệm bao hàm cácthông tin sẵn có về các tham số trong mô hình
Trang 18Phân phối hậu nghiệm K Hàm hợp lý X Thông tin tiên nghiệm
Vì y và 0 đều là biến ngẫu nhiên nên ta có thể áp dụng định lý Bayes để tính được
phân phối hậu nghiệm của 9 với biến y cho trước:
v( v ) = p(yỊl))p(0) = f ( y;0 ) n 0 ( ) (10)
Với n(ỳ) = p(y) là phân phối biên (marginal distribution) của y và có dạng như sau:
Trong đó n(y) là phân phối xác suất dự báo hậu nghiệm, f(ỵ; 0) là hàm hợp lý của y
trong điều kiện 9 cho trước, n(9} là phân phối tiên nghiệm của 6.
Như vậy, nhờ kết hợp với thông tin tiên nghiệm mà phân tích Bayes có thể được thựchiện với cỡ mẫu nhỏ Zhang và cộng sự (2007) khẳng định rằng, thông tin tiên nghiệmcung cấp các thông tin vấn đề nghiên cứu tương tự như kỹ thuật “dữ liệu thông tin đanguồn - data pooling” Nhiều nhà nghiên cứu khác thậm chí cho rằng sử dụng thông tintiên nghiệm được xem là một phương thức thay thế của phương pháp phân tích tổng hợp(meta-analysis) (Wolf, 1986; McArdle & Horn, 2004) Thông tin tiên nghiệm sẵn có sẽgiúp các nhà nghiên cứu tạo ra các kiến thức mới và đưa ra những dự báo hợp lý về vấn đềđược quan tâm, hơn thế nữa việc kết hợp với thông tin tiên nghiệm sẽ giúp các mô hìnhnghiên cứu khắc phục được yếu điểm mẫu nhỏ giúp các nhà nghiên cứu thu được các kếtquả cân bằng hơn (Shi và Tong, 2017)
Với mô hình cho từng nước trong nhóm EAGLEs, biến phụ thuộc trong mô hình trên
là biến chỉ số ổn định tài chính (FSTI); biến độc lập bao gồm: CSTT vẫn là biến tăngtrưởng cung tiền (M2) và lãi suất chính sách (IRP); đối với biến đại diện cho CSATVMtác giả chỉ lựa chọn biến tăng trưởng tín dụng (CRE), các biến giả thể hiện công cụCSATVM chỉ được phân tích trong nhóm EAGLEs nhằm xác định công cụ nào hiệu quảđối với việc giữ vững ổn định tài chính và đề xuất các công cụ nên sử dụng, khi phân tíchtác động của CSTT và CSATVM thì các yếu tố này sẽ được loại ra để tránh gây nhiễu; vàbiến tương tác vẫn sẽ là tích số giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng cung tiền Nhưvậy, mô hình nghiên cứu cho từng nước trong nhóm sẽ có dạng:
FSTI ị t = ^ i,ị CRE ị, t+^ 2,i ^ 2
i,t +P- 3,i IRP i,t +R- 4,t MP i't XMT ị, t+£ ị, t
(13)
ĩ = 1,2, N;t = 1,2, T với i là quốc gia và t là thời gian