1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quản lý việc sử dụng internet của học sinh trung học tại bắc kạn, cao bằng và hòa bình

97 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 206,58 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾNGUYỄN MẠNH CƯỜNG QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG

CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG NGHIÊN CỨU

Hà Nội - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

NGUYỄN MẠNH CƯỜNG

QUẢN LÝ VIỆC SỬ DỤNG MẠNG INTERNET CỦA HỌC SINH TRUNG HỌC TẠI CÁC TỈNH

• • •BẮC KẠN, CAO BẰNG VÀ HÒA BÌNH

Chuyên ngành: Quản lý công

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi.Các số liệu, kết luận, nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực vàchính xác Những kết quả của luận văn này chưa từng được công bố trong bất

cứ công trình nào

Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!

Học Viên

Nguyễn Mạnh Cường

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Luận văn này là một phần kết quả học tập, đào tạo tại chương trình Thạc sỹ Quản lý công của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội hợp tác với Trường Đại học Uppsala của Thụy Điển Tác giả xin gửi lời biết

ơn chân thành đến các Thầy, Cô đã dành tâm huyết truyền tải đến các học viên những lý thuyết, phương pháp và tinh thần một cách khoa học, giúp học viên có cơ sở lý thuyết, tư duy phân tích rộng và khoa học

Tác giả cũng xin cảm ơn TS Phạm Vũ Thắng, người đã hướng dẫn nhiệt tình hướng dẫn, những chỉ dẫn đầy kinh nghiệm của thầy giúp em dần từng bước hoàn thiện đề tài của mình.

Tác giả xin cảm ơn PGS.TS Trần Đức Hiệp, chủ tịch hội đồng đánh giá kết quả nghiên cứu sơ bộ, cùng các thành viên hội đồng đã góp ý và giúp tác giả điều chỉnh hướng nghiên cứu của mình.

Tác giả xin cảm ơn gia đình, các anh chị, các bạn đã có góp ý, gửi các tài liệu và hỗ trợ tiến hành các khảo sát rất có giá trị, bên cạnh đó là sự động viên tinh thần, sự hỗ trợ của gia đình đã tạo điều kiện thời gian để hoàn thành luận văn.

Luận văn không thể thực hiện được nếu không có nghiên cứu của các tác giả đi trước, những người mà công trình nghiên cứu về chủ đề khó nhưng

đã làm sáng tỏ một cách rõ ràng, mạch lạc, thể hiện trình độ chuyên môn rất sâu của các tác giả Xin gửi lời biết ơn các tác giả, nghiên cứu này được khởi nguồn và đặt trên nền móng nghiên cứu rất giá trị của các tác giả.

Cuối cùng xin cảm ơn các anh chị Trung tâm Đào tạo và Giáo dục Quốc tế trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia Hà Nội (CITE)) đã tạo điều kiện giúp tôi hoàn thành chương trình đao Thạc sĩ Quản lý công (MPPM).

Trang 5

Một lần nữa em xin chân thành cám ơn!

TÓM TẮT

Thế giới đã bước sang cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, khi mà conngười ngày càng sử dụng nhiều các thiết bị thông minh và kết nối với nhautrên không gian Internet Nhiều khảo sát quốc tế đã cho thấy tỉ lệ người trẻ sửdụng các thiết bị thông minh và tham gia vào mạng xã hội ở Việt Nam rất lớn

Bên cạnh những lợi ích to lớn, nó cũng là môi trường với các mối đedọa cho người sử dụng, đặc biệt với nhóm đối tượng trẻ em trong độ tuổi đếntrường Ngoài những mối nguy hiểm do những kẻ ẩn danh thực hiện như lạmdụng hình ảnh khiêu dâm trẻ em, dụ dỗ trên mạng, đăng tải các văn hóa phẩmđồi trụy, trẻ còn phải đối mặt với hành vi bắt nạt trên mạng do chính nhữngngười mà các em quen biết thực hiện Đã có rất nhiều nghiên cứu trên thế giớiphân tích về những rủi ro này và chỉ ra tầm quan trọng của việc đưa những vấn

đề này vào trong các chương trình nghị sự để xây dựng chính sách quản lýđược hoạt động trên không gian mạng

Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình là ba tỉnh miền núi phía bắc, thuộcnhóm các tỉnh nghèo so với mặt bằng chung cả nước, người dân tộc thiểu sốchiếm đa số Tuy nhiên, trẻ em ở các vùng này cũng đã tiếp cận và tham giavào môi trường Internet khá nhiều và là đối tượng rất dễ bị lừa gạt và dụ dỗ

Do điều kiện kinh tế - xã hội còn hạn chế, đồng thời hiểu biết của cộng đồng

về những mối nguy hại trên không gian mạng cũng rất hạn chế nên các em họcsinh ở đây sẽ phải đối diện với các mối đe dọa mà thiếu vắng đi sự trợ giúp từngười lớn trong cộng đồng

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ phân tích thực trạng Quản lý việc sửdụng mạng Internet của học sinh trung học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng vàHòa bình Từ đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị cho cơ quan quản lý nhànước của ba tỉnh về các can thiệp có thể thực hiện để quản lý vấn đề

Trang 6

này.Nghiên cứu sẽ phân tích thực trạng về hiểu biết và kĩ năng của học sinh tai

ba tỉnh, đồng thời phân tích những yếu tố bối cảnh xung quanh ảnh hưởng đếnviệc định hình hành vi của các em học sinh Từ đó đưa ra các vấn đề tồn tạicần điều chỉnh trong quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trong thời giantới

Trang 7

MỤC LỤC

PHỤ LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

2 GD & ĐT Giáo dục và Đào tạo

3 ISPs Các nhà cung cấp dịch vụ Internet (Internet

Server Providers)

4 LĐTB&XH Lao động, Thương binh và Xã Hội

6 NGOs Các tổ chức Phi chính phủ

7 OECD Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế

8 THCS & THPT Trung học cơ sở và Trung học phổ thông

10 UNESCO Tổ chức giáo dục, khoa học và văn hóa Liên

hợp quốc

11 UNICEF Quỹ Nhi đồng Liên hiệp quốc

12 VNNIC Trung tâm Internet Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC BẢNG

1 Bảng 2.1 Đối tượng tham gia khảo sát 35

2 Bảng 3.1 Tần suất sử dụng internet của học sinh 40

3 Bảng 3.2 Tỉ lệ gặp những chuyện không vui trên mạng 51

4 Bảng 3.3 Thời gian dành cho các hoạt động hàng ngày 56

5 Bảng 3.4 Tỉ lệ và tần suất sử dụng internet cho các mục

6 Bảng 3.5 Trải nghiệm của học sinh trên MXH 63

Trang 10

DANH MỤC HÌNH ẢNH

1 Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng

Trang 11

LỜI MỞ ĐẦU

1

Tính cấp thiết nghiên cứu của đề tài.

Việc nghiên cứu quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung học ởViệt Nam có tính cấp thiết về mặt thực tiễn và lý luận Về mặt thực tiễn, cácmối nguy hại trên môi trường Internet đang là chủ đề được các quốc gia cũngnhư Việt Nam đang phải đối mặt Tại Việt Nam, viêc sử dụng Intnernet ngàycàng trở nên phổ biến, học sinh ngày càng tiếp xúc với Internet nhiều hơn,ngay cả với học sinh người dân tộc thiểu số thuộc các khu vực chưa phát triển

Báo cáo “Digital in 2018 in Vietnam” của Wearesocial (2018) đã thống

kê số người sử dụng Internet và tham gia các hoạt động trên không gian mạngtrên thế giới và của Việt Nam Tính đến tháng 1/2018, thế giới đã có hơn 6 tỉngười dùng, riêng Việt Nam đã có khoảng 64 triệu người sử dụng Internet trêntổng số 94 triệu dân (khoảng 67% dân số) và 55 triệu tài khoản (57% dân số)trên các trang MXH Trong khi đó, theo số liệu từ Cục Dân số năm 2018, ViệtNam có 25,2% dân số là trẻ dưới 15 tuổi, điều này cho thấy đang có rất nhiềuhọc sinh trung học đang sử dụng Internet tại Việt Nam

Nghiên cứu về Digital kids Asia-Pacific: insights into children's digitalcitizenship” của UNESCO (2019) thực hiện khảo sát 1.061 học sinh 15 tuổi tại

20 trường học từ 5 tỉnh thành ở Việt Nam (Lào Cai, Hà Nội, Đà Nẵng, LâmĐồng và Cần Thơ) Kết quả là 42% bắt đầu sử dụng Internet từ khoảng 9 đến

12 tuổi, 28% học sinh bắt đầu sử dụng Internet trong độ tuổi từ 12 đến 15

Việc sử dụng Internet sớm đã tăng thêm nguy cơ gặp phải những rủi rocho các em học sinh Theo báo cáo về “Việc thực hiện chính sách, pháp luật vềphòng, chống xâm hại trẻ em” tháng 1/2020, giai đoạn từ 1/1/2015 đến30/6/2019, toàn quốc phát hiện hơn 7.800 vụ xâm hại trẻ em, với gần 8.600 đốitượng xâm hại và số trẻ em bị xâm hại là gần 8.100 em Trong đó, số trẻ em nữ

Trang 12

bị xâm hại gấp 7 lần số trẻ em nam (1.059 em nam và 7.032 em nữ) Từ năm

2010 - 2018, các cơ quan phát hiện, xử lý 319 vụ xâm hại tình dục trẻ em sửdụng thủ đoạn mạng xã hội, và mỗi ngày, có khoảng 720.000 hình ảnh trẻ em

bị xâm hại đưa lên mạng

Tuy tiếp xúc với Internet sớm nhưng các em không có được nhữnghướng dẫn từ người lớn trong gia đình và nhà trường Theo báo cáo “Đánh giánăng lực bảo vệ trẻ em trực tuyến” của Bộ Lao động- Thương binh và Xã hộinăm 2017, 2/3 phụ huynh không hề kiểm tra hoạt động trên mạng của con cái,

và đa số phụ huynh không hề giới hạn thời gian sử dụng mạng của con mình.Thiếu đi sự quan tâm của phụ huynh, những bạn trẻ đã thiếu đi các kiến thức

về hoạt động trên Internet, không hiểu hết các cách thức quản lý thời gian củabản thân, không có khả năng nhận diện những rủi ro và tự bảo vệ bản thântrước những rủi ro đó Bộ môn tin học trong nhà trường hiện tập trung nhiềuhơn vào việc hướng dẫn học sinh các kĩ năng văn phòng nhưng chưa có các nộidung liên quan đến việc sử dụng Internet và tự bảo vệ mình trên môi trườngnày

Vì vậy, việc quản lý được việc sử dụng Internet của học sinh là một việccấp thiết có thể giúp các em, ngoài việc khai thác được tối đa những tài nguyênsẵn có trên môi trường mạng, còn có thể tự bảo vệ mình trước những mối nguyhại trên môi trường mạng, đặc biệt là trước tình trạng xâm hại tình dục qua môitrường này càng gia tăng

Về mặt lý luận, đã có các nghiên cứu sử dụng internet ở Việt Nam như:

Đề tài ước đầu nghiên cứu về thực trạng nghiện Internet của học sinh trung học cơ sở trên địa bàn quận Hải Quân và Liên Chiểu - thành phố Đà N ng" của Bùi thi Huệ (2016) đã chỉ ra một số tác động tiêu cực của internet đến

giới trẻ hiện nay như: mạng internet dễ dẫn tới sự say mê, lôi cuốn quá đà, ảnhhưởng đến sức khỏe, học tập và có những cách cư xử k lạ, rơi vào chứng bệnh

“nghiện internet” Theo nghiên cứu cho thấy thời gian mà giới trẻ dành cho

Trang 13

internet càng nhiều sẽ gây nên tâm lý lo lắng cho phụ huynh càng lớn Đây làmột tiêu cực xuất hiện kèm với sự phát triển của hình thức truyền thông mớitrên internet, điều này tạo nên những thói quen xấu trong lối sống của giới trẻhiện nay, cụ thể trong nghiên cứu này là học sinh cấp trung học.

Đề tài Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay” của Nguyễn Thị Phương Thảo (2013) đã

mô tả được chân dung của những người chơi game online trong độ tuổi đi học.Đồng thời phân tích những nguyên nhân tác động tới việc lựa chọn và thựchiện hành vi chơi game của những học sinh tại thành phố Ninh Bình trên cáckhía cạnh: thâm niên chơi, mức độ chơi, thời gian chơi, thời điểm chơi, chi phíphải trả Qua đó rút ra được những tác động tích cực và tiêu cực của gameonline đối với vấn đề học tập và nâng cao kiến thức của học sinh trên địa bànthành phố Ninh Bình cũng như một số vấn đề liên quan đến thời gian, tiền bạc,sức khỏe, tâm sinh lý, những sinh hoạt thường ngày không chỉ đối với nhữnghọc sinh này mà còn với gia đỉnh họ

Báo cáo Thanh niên dân tộc thiểu số trong không gian mạng” của tác

giả Đỗ Qu nh anh và Trương Lan Anh (2017) nghiên cứu tại tỉnh Bắc Kạn chobiết, việc sử dụng Internet không còn là điều xa lạ đối với các thanh niên dântộc thiểu số Thế giới internetd đã mở ra cánh cổng mới để họ có thể nhanhchóng tiếp thu những tri thức mới Đồng thời, đó cũng là một phương tiện tốt

để truyền thông về các chính sách pháp luật đến với cộng đồng một cách hiệuquả Tuy nhiên, đi kèm với nó mà những rủi ro trên môi trường mạng mà ngay

cả những thanh niên tại các thành phố lớn, những người sử dụng khá thànhthạo và tiếp xúc thường xuyên, cũng không thể tránh khỏi

Điều này cũng đặt ra thách thức về các cơ chế quản lý cũng như bảo vệ người

sử dụng trên môi trường mạng, đặc biệt là với trẻ em

Trong cuốn sách “Internet: Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc”

của tác giả Nguyễn Thị Phương Châm (2013) Tác giả tập trung phân tích tác

Trang 14

động của bối cảnh xã hội với sự đổi mới toàn diện về kinh tế - xã hội tới thựctrạng và thói quen sử dụng Internet của giới trẻ qua khảo sát nhóm thanh niên(tuổi từ 16 -30) ở Hà Nội, Huế, thành phố Hồ Chí Minh tác giả đi sâu tìm hiểu

lý do giới trẻ thể hiện bản sắc cá nhân và bản sắc nhóm hay nhu cầu kh ng địnhcái tôi nhằm tạo dựng phong cách hiện đại xuất phát từ: đam mê công nghệ, ănngủ cùng Internet, cởi mở và thoáng trong các mối quan hệ, dễ bị chi phối bởitâm lý đám đông, năng động, thực tế, táo bạo, dám thể hiện bản thân, thíchkhám phá, sáng tạo cũng như thử nghiệm những cái mới, cái khác lạ Đặc biệt,Internet và mạng lưới xã hội thực sự mang đến những trải nghiệm đa dạng hóathân vào nhiều vai trò, vị trí, tính cách không có thực như đi vào một thế giới

đa bản sắc, đa phong cách

Công trình này đã khai thác những vấn đề triển vọng cần nghiên cứutrong thời gian tới: Giáo dục qua Internet; Internet và sự trải nghiệm tính hiệnđại; Cuộc sống online: sự hòa nhập và chia rẽ; Biên giới, ranh giới trong khônggian của Internet; Phong cách sử dụng Internet; Quyền lực và Internet; Sự bấtcập trong sử dụng Internet hiện nay; Định hướng về văn hóa cho giới trẻ Qua

đó, đưa ra những cơ sở khoa học cho các nhà hoạch định chính sách về pháttriển, quản lý Internet, những nhà giáo dục và cả xã hội tham khảo để từ đó cócách nhìn khách quan, chính xác hơn về văn hóa mạng góp phần xây dựng vănhóa mạng lành mạnh, phù hợp với xu hướng phát triển của xã hội đương đại

Các nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra các vấn đề của các nước phát triển vàđang phát triển trên thế giới trên đã chỉ ra rất nhiều khía cạnh khác nhau củaviệc sử dụng Internet và các chính sách Trong đó có những báo cáo có dung

dữ liệu tại Việt Nam nhưng chỉ ở mức độ là một dữ liệu để tổng hợp và chỉ ra

xu hướng của của khu vực, cũng đã có những nghiên cứu trong nước về vấn đềnày nhưng độ tuổi tham gia nghiên cứu là từ 15 tuổi trở lên và các nghiên cứuchủ yếu được thực hiện ở các thành phố lớn, những nơi phát triển Với tốc độphát triển của công nghệ hiện nay, Internet và thiết bị thông minh đã phủ đến

Trang 15

cả những vùng khó khăn nhất của Việt Nam Trẻ em hiện nay đã được tiếp xúcvới thiết bị thông minh từ rất sớm, và nhiều em đã sử dụng thành thạo máy tính

từ cấp 2

Như vậy, mặc dù việc sử dụng Internet của học sinh ngày càng phổ biến,trong khi đó, các hình thức tấn công trên mạng Internet ngày càng tinh vi và đadạng, học sinh trở thành đối tượng dễ bị tấn công khi mà các em sử dụngInternet rất nhiều nhưng không hề có sự quản lý từ gia đình, nhà trường và các

cơ quan quản lý nhà nước, hơn nữa, các em không được trang bị kĩ năng tự vệtham gia môi trường Internet, đặc biệt đối với học sinh người dân tộc

Việc nghiên cứu đề tài “Quản lý việc sử dụng Internet của học sinhtrung học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình” trở nên hết sức cầnthiết để đề xuất các chính sách nhằm tạo ra một môi trường Internet an toàncho học sinh và nâng cao nhận thức của học sinh về việc sử dụng Internet, từ

đó có thể nhận diện rủi ro và tự bảo vệ chính mình

Trong nghiên cứu này, tác giả sẽ thực hiện đánh giá kĩ năng và nhậnthức những trẻ từ 11 đến 18 tuổi, trong đó có những trẻ người dân tộc thiểu số

và vấn đề quản lý việc sử dụng Internet của học sinh thuộc ba tỉnh miền núi làBắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình để đánh giá được các vấn đề của quản lý vàđưa ra các kiến nghị để cải thiện vấn đề này

Câu hỏi nghiên cứu.

- Học sinh trung học tại ba tỉnh trên đang sử dụng mạng Internet như thếnào ?

- Thực trạng hoạt động quản lý việc sử dụng Internet của học trung học tại

ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa Bình như thế nào?

- Những hành động can thiệp mà các cơ quan quản lý nhà nước có thểthực hiện ?

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

Đề tài tập trung vào hai mục tiêu chính như sau :

Trang 16

1- Đánh giá việc quản lý sử dụng Internet của học sinh trung học thuộcđịa bàn nghiên cứu tại ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng Và Hòa Bình ở các góc độ :

a Chính sách pháp luật và kết quả thực tế việc quản lý

b Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả hoạt quản lý

c Thực trạng nhận thức của học sinh về việc sử dụng Internet

2 - Đưa ra những khuyến nghị về những can thiệp mà các cơ quan quanquản lý nhà nước tại ba tỉnh như UBND cấp tỉnh/thành phố/huyện, Sở/PhòngGD&ĐT và các phòng GD&ĐT, Phòng VH-TT, Hiệu trưởng các trường trunghọc có thể thực hiện

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.

- Đối tượng nghiên cứu : Các quy định và hoạt động quản lý của UBNDcấp tỉnh/thành phố/huyện, Sở/Phòng GD&ĐT, Sở/Phòng VH-TT, hiệutrưởng các trường THCS & THPT đối với việc sử dụng Internet của họcsinh trung học

4 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết.

+ Phương pháp phân tích lý thuyết: tác giả phân tích các tài liệu, báo cáo

về môi trường Internet, phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý sử dụng Internet của học sinh

+ Phương pháp tổng hợp lý thuyết: Sử dụng các nghiên cứu quốc tế để

có bức tranh toàn cảnh việc quản lý sử dụng Internet của học sinh trên thế giới

và các vấn đề mà Việt Nam sẽ phải đối mặt, từ đó xác định tầm quan trọng của việc quản lý và áp dụng bài học quốc tế cho Việt Nam

- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn.

Trang 17

+ Phương pháp điều tra: tác giả sử dụng phiếu điều tra trên 1920 học

sinh, 25 phụ huynh để đánh giá việc sử dụng Internet của học sinh và quản lý của gia đình

+ Phương pháp quan sát: tác giả quan sát thực tế các bối cảnh xung quanh tác động đến việc sử dụng Internet của trẻ và giải thích được những hạn chế trong quản lý

+ Phương pháp chuyên gia: tác giả phỏng vấn một số giáo viên, hiệu trưởng và các bộ phòng giáo dục, sở giáo dục về hoạt động quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

+ Phương pháp phân tích thông tin: Phân tích các dữ liệu đã thu thập trên

5 Kết cấu của luận văn.

Kết cấu của luận văn gồm 4 chương :

Chương 1 Cơ sở lý thuyết và thực tiễn của đề tài

Chương 2 Phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Thực trạng quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trung

học tại các tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa BìnhChương 4 Khuyến nghị chính sách

và các trường đại học, của người dùng cá nhân và các chính phủ trên toàn cầu

Trang 18

Theo từ điển tiếng Việt, nghĩa của từ sử dụng là lấy làm phương tiện để

phục vụ nhu cầu, mục đích nào đó Theo định nghĩa này, sử dụng mạng Internet có nghĩa là khai thác, tìm kiếm các tài nguyên của mạng Internet để

phục vụ một nhu cầu hay mục đích nào đó, cụ thể như giải trí, học tập, làmvới Trong đề tài này, tác giả xem x t khái niệm sử dụng mạng Internet trêncác khía cạnh mục đích, thời gian sử dụng, địa điểm, cách thức sử dụng, thờigian và tần suất sử dụng

Sự ra đời của Internet đã làm thay đổi cả thế giới với những tiện íchkhổng lồ mà nó mang lại như việc truy cập dữ liệu, tìm kiếm thông tin, liênlạc Với sự phát triển công nghệ, ngày càng có nhiều ứng dụng ra đời giúpcuộc sống trở nên thuận tiện hơn khi chỉ cần ngồi một chỗ có thể thực hiện rấtnhiều hoạt động như làm việc, mua sắm, đọc tin tức ở các vùng địa lý cách trở

Số lượng người dùng Internet cũng vì thế mà ngày càng tăng cao ở nhiều lứatuổi, đặc biệt với nhóm trẻ trong độ tuổi đi học Trong nghiên cứu này, tác giảtập trung vào nhóm đối tượng là trẻ trong độ tuổi đi học tại các trường trunghọc

Cấp trung học tại Việt Nam được chia là hai cấp là Trung học cơ sở(THCS) và Trung học phổ thông (THPT) Trong đó, độ tuổi theo học cấpTHCS là từ 11-15 tuổi (tương ứng từ lớp 6 đến lớp 9) và độ tuổi theo học cấpTHPT là từ 16-18 (tương ứng từ lớp 10 đến lớp 11) Tuy nhiên, có những em đihọc sớm hơn và cũng có những em đi học muộn hơn

Như vậy, học sinh trung học là trẻ đang theo học tại các trường học cấp

THCS và THPT, độ tuổi là từ 11 - 18 tuổi, có thể hơn hoặc kém một chút doviệc học sớm hoặc muộn

Đối với học sinh cấp THCS và THPT thì việc học tập vẫn là hoạt độngchủ đạo, nhưng cũng là giai đoạn các em có sự phát triển về tâm sinh lý Đây

là độ tuổi rất nhanh nhạy với những cái mới Đồng thời các em khao khát

Trang 19

muốn có những quan hệ bình đ ng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộcsống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành vi, tự lập

về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứatuổi trong tập thể phát triển mạnh Chính những đặc điểm tâm sinh lý trên cũng

là điều kiện thuận lợi giúp các em tiếp cận nhanh mới mạng Internet và sửdụng mạng Internet với những mục đích khác nhau

Để có thể quản lý được việc sử dụng Internet của học sinh, cần phải có

sự tham gia của nhiều bên Chủ thể của quản lý trong nghiên cứu này là cácchủ thể của quản lý là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, chính vì vậy, cầnnhìn vấn đề ở góc độ quản lý công

Quản lý công (Pubblic Management) là một cách tiếp cận để điều hànhcác tổ chức dịch vụ công được sử dụng trong các tổ chức và cơ quan dịch vụcông và chính phủ, ở cả cấp địa phương và quốc gia Thuật ngữ này lần đầutiên được giới thiệu bởi các học giả ở Anh và Úc để mô tả các phương phápđược phát triển trong những năm 1980 như là một phần của nỗ lực làm chodịch vụ công trở nên hiệu quả hơn bằng cách sử dụng mô hình quản lý khu vực

tư nhân

Trước đó, thế giới dùng cách tiếp cận Hành chính công (PublicAdministration) để điều hành khu vực công Thuật ngữ “hành chính”(administration) có nghĩa hẹp hơn so với thuật ngữ “quản lý” (management).Trong lĩnh vực công, “hành chính công” và “quản lý công” cũng có ý nghĩakhác nhau Hành chính công đề cập đến thủ tục, quy trình để thực hiện chínhsách đã được hoạch định bởi người khác thành hành động cụ thể trong thực tếquản lý, điều hành Trong khi đó quản lý công được hiểu theo nghĩa rộng hơn,ngoài việc bao gồm quy trình, thủ tục hành chính, quản lý công còn liên hệ tớiviệc xác định ai, tổ chức nào sẽ thực hiện và chịu trách nhiệm về việc đảm bảođạt được mục tiêu, kết quả mà nhà hoạch định chính sách đã đề ra “Trong khihành chính có nghĩa là tuân thủ các quy định thì quản lý có nghĩa là đạt kết quả

Trang 20

và chịu trách nhiệm về việc đó” (Hughes, 2012, Tr 33) Vì vậy, sự thay đổi từ

“hành chính công'” sang “quản lý công” được coi là sự thay đổi lớn về họcthuyết và thực tế trong việc quản lý đối với lĩnh vực công Ngày nay, thuật ngữQuản lý công được sử dụng phổ biến, ngược lại Hành chính công ít được sửdụng hơn

Bozeman và Straussman cho rằng quản lý công thành công “chắc chắnđòi hỏi phải có cảm giác về chiến lược”; quản lý công có phạm vi rộng hơn,thống nhất hơn, và ít được xác định rõ bởi chuyên môn chức năng như hànhchính công Quản lý công “trong một chừng mực nào đó, là việc quản lý môitrường bên ngoài của tổ chức (Bozeman và Straussman, 1990, Tr 214)

Học sinh là những đối tượng nằm ngoài các cơ quan nhà nước, việc sửdụng Interet của học sinh không thể chi phối trực tiếp thông qua các chính sáchpháp luật Việc sử dụng Internet của học sinh bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu tốxung quanh Hiện nay, chưa có khái niệm cụ thể về vấn đề Quản lý việc sửdụng Internet của học sinh Tuy nhiên, nói về quản lý xã hội, theo tác giả ĐỗHoàng Toàn, “Quản lý xã hội là sự tác động liên tục, có tổ chức của chủ thểquản lý xã hội lên xã hội và các khách thể có liên quan, nhằm duy trì và pháttriển xã hội theo các đặc trưng và các mục tiêu mang tính xu thế phát triển

khách quan của xã hội” (Đỗ Hoàng Toàn, 2000, Tr.61)

Với định nghĩa trên, theo tác giả, quản lý việc sử dụng internet của học sinh là quá trình tác động liên tục và phù hợp của các cơ quan quản lý nhà

nước, phụ huynh và nhà trường đến hành vi sử dụng Internet là học sinh nhằmgiáo dục và bảo vệ học sinh khỏi những mối nguy hại trên môi trường Internet;nâng cao kĩ năng và điều chỉnh thái độ của học sinh khi sử dụng Internet phùhợp mục tiêu mà Đảng và nhà nước đề ra

Theo cách hiểu này, đối tượng quản lý là học sinh và chủ thể của hoạtđộng quản lý gồm các cơ quan nhà nước, gia đình, trường học và các tổ chứccung cấp dịch vụ Internet Trong phạm vi ba tỉnh Bắc Kạn, Cao Bằng và Hòa

Trang 21

Bình thì các chủ thể nhà nước bao gồm: UBND cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã;

Sở và phòng LĐTBXD; Phòng Văn hóa và Thông tin; Sở và Phòng GD&DT

1.1.2 Lý thuyết áp dụng

1.1.2.1 Lý thuyết xã hội hóa

Thuyết Xã hội hóa ra đời gắn liền với tư tưởng của các nhà xã hội họcngười Mỹ như: Neil Smelser, Fichter Vai trò của cá nhân khi tham gia vào quátrình xã hội hóa là điểm trung tâm của Lý thuyết xã hội hóa Theo đó, tất cảcác cá nhân đều học cách cách ứng xử, giao tiếp với những người khác để đápứng lại những trông đợi từ cộng đồng mà họ đang sinh sống

Thông qua quá trình xã hội hóa, con người hình thành nên tính cách củamình, học được cách ứng xử trong một xã hội hay một nhóm Nói cách khác,chính là quá trình con người sinh vật học hỏi để trở thành con người xã hội.Như Vậy, xã hội hoá bắt đầu từ khi con người ta sinh ra và chỉ kết thúc khi conngười không còn tồn tại

Như Vậy, xã hội hoá là quá trình tiếp nhận nền văn hóa của xã hội nhờ

đó chúng ta hình thành nên lối tư duy và ứng xử phù hợp với cộng đồng mà tasinh Xã hội hoá cũng được chuyển giao giữa các thế hệ, và đó là cách thức màcác cá nhân hòa nhập với cộng đồng của mình, thể hiện những trải nghiệm củamình và xử sự theo những hành vi mà họ được học từ những người lớn tronggia đình Thông qua quá trình xã hội hoá, con người chấp nhận và thích nghivới những quy tắc của xã hội, sử dụng chúng để quy định hành vi của mình

Thông qua quá trình học hỏi, giáo dục và truyền thông, đã khiến các môitrường xã hội xung quanh có ảnh hưởng quyết định đối với mỗi cá nhân Bàn

về xã hội hoá, các nhà nghiên cứu thường quan tâm đến bốn môi trường xã hộihoá quan trọng sau: Gia đình; Nhà trường, và các tổ chức xã hội; Nhóm xã hội;Các phương tiện truyền thông đại chúng

Môi trường xã hội hoá: Gia đình

Gia đình là nền tảng ban đầu của mỗi cá nhân Ngay từ những năm

Trang 22

tháng đầu tiên của cuộc đời, chúng ta đã học hỏi và bước vào quá trình xã hộihóa, điều này có ảnh hưởng quyết định tới thái độ và hành vi khi đã lớn, chonên gia đình, như là nhóm người hướng dẫn đầu tiên với mỗi cá nhân trongmọi xã hội, nên nó có tầm quan trọng chính yếu.

Mỗi người đều trải qua một quá trình sinh trưởng cùng với gia đìnhtrước khi trở nên độc lập Để trở thành những thành viên xã hội một cách đầy

đủ, gia đình, như một môi trường xã hội đầu tiên là nơi cá nhân tiếp xúc và trảiqua quá trình xã hội hoá của mình, ở đó, mỗi người được học để biết mình là

ai, mình cần trở thành người như thế nào, và phải biết đối xử với người khác rasao

Nhà trường và các t chức xã hội ngoài gia đình

Các tổ chức xã hội, đặc biệt là nhà trường, có tầm quan trọng ngày càngtăng trong quá trình xã hội hoá của mỗi cá nhân Khi một đứa trẻ tới trường,học sinh không chỉ tiếp thu các kiến thức mà cả những quy tắc và những cáchthức quy định hành vi Những quy tắc ứng xử với thầy cô, bạn bè trong nhàtrường

Nhóm xã hội

Bên cạnh gia đình và các tổ chức, các nhóm xã hội (đặc biệt là nhómbạn) cũng là môi trường xã hội hoá quan trọng ảnh hưởng đến sự hình thànhnhân cách của mỗi cá nhân

Khi đến trường, các cá nhân bắt đầu có những mối quan hệ khác trongmạng lưới quan hệ của mình ngoài gia đình, nhân đặc biệt là nhóm tươngđương trong giai đoạn vị thành niên (nhóm bạn bè), vì trong giai đoạn này, cácnhóm vị thành niên tạo điều kiện cho cá nhân chấm dứt sự phụ thuộc vàongười lớn và thiết lập một vị thế xã hội bình đ ng mà từ trước tới giờ mỗi cánhân chưa có được Các nhóm bạn cũng được hình thành theo nhiều cách khácnhau, nhưng nhìn chung, thường bạn bè là ngang tuổi với nhau Trong nhữngnhóm bạn này sẽ hình thành nên những quy tắc và chuẩn mực của nhóm, đồng

Trang 23

thời qua đó các cá nhân học hỏi nhiều từ những người bạn của mình Việt Namcũng có câu thành ngữ hướng dẫn cá nhân vào việc này: “Học thầy không tầyhọc bạn”.

Truyền thông đại chúng

Truyền thông đại chúng ngày càng phát triển đã trở thành một phầnquan trọng trong đời sống xã hội Sự phát triển của truyền thông đã đưa nó trởthành nguồn cung cấp kinh nghiệm cũng như kiến cho cộng đồng và các cánhân

Khi nói đến truyền thông đại chúng, chúng ta thường nghĩ tới một dạngthiết chế dùng để phục vụ sự trao đổi thông tin, giao lưu tư tưởng, giải trí Trên thực tế, những gì mà truyền thông đại chúng mang lại cho chúng ta nhiềuhơn chúng ta tưởng "truyền thông cung cấp cho chúng ta kinh nghiệm giántiếp về các sự kiện và quá trình xẩy ra vượt quá kinh nghiệm xã hội của chúng

ta Chúng ta ngày càng "biết" nhiều hơn, và được khuyến khích để làm nhưvậy thông qua các kinh nghiệm trung gian ở tivi, phim ảnh, radio, báo chí,sách" (Bilton, 1993, Tr.382) Bên cạnh đó một cách có chủ định, truyền thôngđại chúng trở thành một cái chung, một cái để mọi so sánh có thể dựa vào, qua

đó tạo nên sự hiểu biết chung cho mọi người, làm cho mối quan hệ giữa conngười - con người và con người - sự vật trở nên gần gũi với nhau hơn Thực tếnày chỉ cho chúng ta thấy rằng truyền thông đại chúng "không đơn giản cungcấp thông tin phản ánh thế giới xã hội con người, mà đúng ra chúng cấu trúcthế giới đó cho chúng ta, không chỉ bằng cách gia tăng tri thức của chúng ta vềthế giới mà còn giúp chúng ta "có ý thức về nó"" (Bilton, Tr.382)

Đặc biệt trong thời điểm này, các trang mạng xã hội phát triển mạnh mẽ,đem lại cho con người khả năng kết nối rộng lớn và dễ dàng tiếp xúc với thôngtin trên toàn thế giới Thậm chí, MXH còn có thể thay thế chức năng báo chívới các thông tin nóng hổi được đăng lên bởi chính những người sử dụng khác.Các đơn vị truyền thông đại chúng như báo chí và truyền hình hiện nay cũng

Trang 24

đã phát triển mạnh các trang báo mạng và các tài khoản trên MXH để đáp ứngthị hiếu của người dùng và theo kịp sự phát triển của công nghệ.

Ứng dụng lý thuyết xã hội hóa vào lý giải hoạt động sử dụng mạngInternet của học sinh cấp trung học có thể thấy rằng: Các môi trường xã hộihóa đều có những tác động nhất định đến việc sử dụng mạng Internet của họcsinh Trong đó, đặc biệt là các môi trường xã hội hóa nhóm xã hội (nhóm bạnbè) Khi trong nhóm đều có những hoạt động chung như cùng tham giaFacebook, cùng chơi game online thì các các nhân trong nhóm cũng sẽ thamgia hoặc biết về những điều này để tránh sự lạc lõng trong nhóm Thông quaMXH, các cá nhân tiếp thu thông tin theo những cách riêng của mình tu vàohoàn cảnh sống, những khả năng cá nhân, những điều kiện kinh tế - xã hội -chính trị mà họ chịu sự chi phối

Với tiếp thu tri thức, thông tin qua truyền thông đại chúng ngày càng trởnên quan trọng đối với cá nhân trong quá trình xã hội hoá của họ vì sự pháttriển của thông tin hướng tới một xã hội thông tin Trong xã hội thông tin, conngười có xu hướng tiếp xúc với nhau theo cách gián tiếp Khoảng cách vềkhông gian và thời gian được thu hẹp nhưng người ta lại đặt nhiều vấn đề về sựtiếp xúc mặt đối mặt Rõ ràng là kiểu tiếp xúc này có những tác dụng nhất địnhtrong quá trình xã hội hoá nói riêng và trong các sinh hoạt xã hội khác nóichung, nhưng đây dường như lại là một xu hướng tất yếu của xã hội hiện đại

Trang 25

Hành động xã hội trước hết nó là một hành vi cụ thể của cá nhân hoặcnhóm, nhưng hành vi đó mang một ý nghĩa, một giá trị và hướng đến một đốitượng khác, đó chính là lúc hành vi đó đã mang tính xã hội Hành động xã hộimang tính duy lý, tức là cá nhân căn cứ vào các giá trị chuẩn mực xã hội đểđiều chỉnh hay tiếp nhận khi hành động.

Định nghĩa hành động xã hội

“Một hành động xã hội là một hành động của một cá nhân mà có gắnmột ý nghĩa vào hành động ấy, và cá nhân đó tính đến hành vi của người khác,bằng cách như vậy mà định hướng vào chuỗi hành động đó” (theo Bùi ThếCường, 2008) Mọi hành động không tính đến sự tồn tại và những phản ứng cóthể có từ những người khác thì không phảilà hành động xã hội

Phân loại hành động xã hội:

Hành động hợp lý về mục đích: Loại hành động này căn cứ vào nhữngmong đợi của đối tượng bên ngoài và coi đó là phương tiện để đạt được mụcđích Hay đó chính là với người hành động phải suy nghĩ và quyết định xemchọn mục đích nào, phương tiện nào để đạt được mục đích

Hành động hợp lý về giá trị: Là hành động mà chủ thể luôn hướng đếnnhững giá trị xã hội

Hành động hợp lý theo truyền thống: Đó là những hành động tuân thủtheo những theo thói quen, nghi lễ, phong tục, của truyền thống Ví dụ như

tổ chức đám giổ linh đình, mê tín dị đoan

Hành động hợp lý theo cảm xúc: Là hành động tự phát, không có sự cânnhắc, không theo quy luật, không có sự phân tích mà hoàn toàn phụ thuộc vàocảm xúc chủ quan

Weber cho rằng tất cả các loại hành động của con người đều có thể chiavào nhóm một trong bốn loại hành động đã nêu trên Tuy nhiên, một hànhđộng có thể thuộc nhiều hơn một nhóm vì điều này còn phụ thuộc các bối ảnhxung quanh hành động Bốn loại hành động này không phải độc lập với nhau

Trang 26

mà chúng đan xen, bổ trợ và đặc biệt trong thực tiễn ranh giới giữa các hànhđộng không phải lúc nào cũng có thể minh định được.

Khả năng áp dụng lý thuyết hành động xã hội trong nghiên cứu nàyTrên cơ sở những phân tích trên, khi xem lý thuyết hành động xã hội làmột phương pháp luận trong nghiên cứu này chúng ta có thể nhận thấy thực tếvới ứng dụng trong luận giải một số nội dung sau: Một cá nhân khi thực hiệnmột hành động nào đó đều gắn vào hành động đó một ý nghĩa nhất định, mộtmục tiêu nhất định Hành động sử dụng mạng Internet của học sinh cũng làmột hành động xã hội mà thông qua hành động này, mỗi cá nhân mong muốn

sẽ đáp ứng những nhu cầu thiết yếu của họ như nhu cầu tìm kiếm thông tin,giải trí, giao tiếp, trao đổi thông tin Và hơn thế nữa, trong xã hội hiện đại, thìvới sử dụng mạng Internet còn là một việc hiển nhiên Vì vậy, nếu muốnhướng các em sử dụng Internet cho những mục đích tốt, chúng ta không nên cónhững quan điểm tiêu cực như ngăn cấm hay cản trở mà giúp các em học sinh

mà nên coi đó như một hoạt động thông thường trong sinh hoạt hàng ngày

1.1.2.3 Khung phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của học sinh

Để lý giải các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của học sinhtrung học, tác giả lựa chọn lý thuyết xã hội hóa và lý thuyết hành động xã hội.Trong các khung phân tích được áp dụng, khung phân tích về bối cảnh sử dụngInternet của trẻ là phù hợp nhất với hai lý thuyết trên

Khung phân tích này được phát triển bởi Sonia Livingstone và LeslieHaddon (2009) để tổng hợp và giải thích về các yếu tố tác động, sự khác biệtcủa từng quốc gia, ảnh hưởng đến cách tiếp cận và sử dụng các thiết bị côngnghệ của học sinh Mặc dù khung lý thuyết này được áp dụng để giải thích về

sự khác biệt của trẻ em và thanh thiếu niên khi sử dụng Internet giữa các quốcgia tại Châu Âu, tuy nhiên nó cũng tất hữu ích khi áp dụng cho các nước đangphát triển như Việt Nam, ít nhất ở việc là các ví dụ minh họa để thấy các yếu tố

Trang 27

bối cảnh có khả năng định hình những rủi ro mà thanh thiếu niên sẽ gặp phảikhi sử dụng Internet.

Hình 1.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng Internet của trẻ

(Nguồn: EU Kids Online: Final Report)

Việc áp dụng đầy đủ các yếu tố như trong bảng trên nằm ngoài phạm vibài nghiên cứu, hơn nữa, việc thiếu các dữ liệu cũng không cho ph p tác giảđưa ra được các phân tích toàn diện Dưới đây, tác giả lựa chọn các cạnh (bốicảnh kinh tế và công nghệ; giáo dục và văn hóa; pháp lý và chính trị) và cungcấp cái nhìn tổng quan về cách các nhóm trên tác động đến trẻ em ở các vấn đềnhư: việc truy cập và sử dụng Internet; Kĩ năng khi tham gia môi trườngIntenet Có minh họa bằng các bằng chứng từ những nước phát triển

Bối cảnh thị trường

Rủi ro và cơ hội của việc sử dụng Internet được hình thành nhờ sự đadạng về đặc điểm của từng cá thể ở khả năng truy cập và sử dụng các ứng dụngcông nghệ Sự khác nhau này xuất hiện bởi điều kiện kinh tế, xã hội và bốicảnh công nghệ mà cá nhân đang sinh sống trong đó Tình trạng kinh tế đóng

Trang 28

vai trò quyết định trong đánh giá khả năng truy cập và sử dụng Internet, đặcbiệt với các vùng đang phát triển, nơi mà việc truy cập Internet chưa phổ biến.Dựa vào cơ sở hạ tầng và xem x t thống kê vẫn cho thấy những sự khác biệtlớn giữa các châu lục, khu vực và quốc gia khi xem x t khả năng truy cập băngthông rộng (ITU-D, 2009) Mặc dù giá truy cập Internet băng thông rộng vẫnkhá cao ở các nước đang phát triển nhưng trong đó vẫn có Ấn Độ và TrungQuốc đang tiến rất gần với các nước thuộc khối OECD về việc sử dụngInternet và truy cập băng thông rộng Dưới đây là hai ví dụ về chủ đề này:

Sự khác biệt rõ rang nhất giữa quốc gia phát triển và quốc gia đang pháttriển thể hiện ở phương tiện truyền thông kĩ thuật số mà thanh thiếu niên đang

sử dụng Điện thoại di động đã nhanh chóng trở thành công cụ cơ bản tại cácquốc gia đang phát triển, kể cả những quốc gia k m phát triển nhất Thực tế,những nơi có thị trường điện thoại di động phát triển mạnh nhất chính là ở cácquốc gia đang phát triển, đặc biệt là ở Châu Á và Châu Phi (ITU/UNCTAD2007) Sự phát triển của thị trường điện thoại không đi kèm với sự an toàn, ví

dụ như, việc này đã tạo điều kiện phát sinh các hình thức khai thác mới cho tệnạn khiêu dâm trẻ em và hạn chế đi sự kiểm soát của phụ huynh với con emcủa mình

Ngoài ra, các số liệu thống kê cho thấy sự khác biệt quan trọng giữa cácquốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển là mối liên hệ giữa xã hội vànền kinh tế ở góc độ vi mô; thu nhập và địa điểm truy cập Internet Đối vớiphương tây và các nước phát triển ở Châu Á, nhà riêng là nơi có thời lượngtruy cập Internet nhiều và liên tục nhất, lặp đi lặp lại, trong khi đó lại khôngphải nơi được sử dụng nhiều tại các quốc gia đang phát triển Các số liệu hiệntại chưa chỉ ra được bức tranh rõ ràng về vị trí truy cập thường xuyên chungnhất ở các quốc gia đang phát triển Nhưng ở một số quốc gia, như Brazil vàThái Lan, thì thể hiện lượng truy cập cao nhất ở các trung tâm thương mại,trong khi một số khác lại thể hiện người truy cập thường tập trung ở địa điểm

Trang 29

có Internet công cộng hoặc miễn phí khác như trường học và trung tâm cộngđồng (ITU, 2008, Tr19)

Tùy thuộc vào bối cảnh cụ thể, sự khác biệt quan trọng giữa nhữngngười đang cung cấp dịch vụ sử dụng mạng Internet trên thị trường là sự antoàn nói chung và hành vi nói riêng Báo cáo của một số quốc gia đang pháttriển, ví dụ ở Philippine, lại nhấn mạnh vai trò của quán cà phê Internet Theonhư trường hợp nghiên cứu của UNICEF Philippine, người lớn và thanh niênđều đến các quán cà phê Internet để truy cập các nội dung liên quan đến tìnhdục, xu hướng này đã dẫn đến ý tưởng liên kết các bên liên quan nhằm thiếtlập các quán cà phê Internet thân thiện với trẻ em (UNICEF Philippines, 2007,tr.10) Tuy nhiên, cần lưu ý rằng hình thức này sẽ có mặt trái là những người sửdụng Internet tại các địa điểm này sẽ bị giám sát nội dung để đảm bảo tuân thủquy tắc và tập quán địa phương

Bối cảnh Văn hóa và gia đình

Một phần quan trọng thứ hai của ngữ cảnh ở vĩ mô đã định hình kĩ năng

và thái độ của thanh thiếu niên khi sử dụng và truy cập vào Intenet chính là vănhóa và giáo dục Một loạt các yếu tố văn hóa khác cũng sẽ định hình bức tranh

về vấn đề trực tuyến của trẻ Một số yếu tố chung (giới tính và đạo đức) và cáccác quan niệm từ lúc nhỏ sẽ định hình cách người lớn hướng dẫn con mình sửdụng các Internet

Một yếu tố quan trọng cần tính đến khi xem x t việc sử dụng Internet và

sự khác biệt giới tính Thống kê toàn cầu cho thấy tỷ lệ sử dụng Internet củahai giới tính là tương đương nhau trong cả hai nhóm tuổi từ 2-14 tuổi và 15-24tuổi (ITU,2008, tr 23) Tuy nhiên, vẫn có những bằng chứng cho thấy sựchênh lệch về giới sẽ đúng với một số quốc gia đang phát triển Ví dụ, một báocáo quốc gia của Nigeria về việc tiếp cận và sử dụng công nghệ thông tin củaphụ nữ Báo cáo đã chỉ ra các rào cản văn hóa trong gia đình và nhà trường đãảnh hưởng đến chênh lệch giới tính trong giáo dục nói chung và vấn đề giáo

Trang 30

dục về công nghệ thông tin nói riêng Trong một trích dẫn của báo cáo, số liệuđược ghi nhận từ hai quán Internet cho thấy, có chưa đến 20% số người đếnquán và ngồi trước máy tính tại đó là nữ và hầu hết họ ngồi cạnh một bạn nam,

là người sử dụng chính (Josephine Nkiru Alumanah, 2005, Tr 25)

Bối cảnh Giáo dục và trường học

Đã có nhiều nghiên cứu khác nhau chỉ ra mối liên hệ giữa giáo dục vàviệc sử dụng Internet của trẻ em Có một nghiên cứu đã giải thích sự khác nhaucủa việc sử dụng Internet của trẻ nằm ở học vấn, ở nơi có mặt bằng học vấncao hơn thì sẽ có tỉ lệ sử dụng Internet cao hơn (Livingstone và Haddon, 2009,Tr.21)

Việc sử dụng Internet và ứng dụng công nghệ kĩ thuật số thực tế trongtrường học cũng sẽ ảnh hưởng đến kĩ năng sử dụng Internet của trẻ, nhưng có

sự khác biệt lớn giữa các quốc gia Mặc dù chưa có nhiều dữ liệu về ứng dụngCNTT tại các trường học, nhưng chúng ta vẫn có thể kết luận về sự khác biệt

về vấn đề này giữa các quốc gia phát triển và đang phát triển, và giữa các quốcgia đang phát triển với nhau Ở một số quốc gia Châu Âu, báo cáo thể hiệnviệc học sinh không được ph p sử dụng Internet tại trường khi không có ngườihướng dẫn, nó được áp dụng như môn học ngoại khóa cho học sinh, tuy nhiên,việc cung cấp các khóa tập huấn về nâng cao nhận thức và an toàn khi sử dụngInternet chưa được cung cấp nhiều mặc dù sáng kiến này đang được lan rộng(Livingstone và Haddon, 2009, Tr 21)

Bối cảnh Chính sách và pháp luật

Chính sách và pháp luật thường bao hàm nhiều khía cạnh và khó để đolường được mức độ ảnh hưởng của nó đến các điều kiện và mô hình sử dụngInternet; thái độ và kĩ năng sử dụng Internet Nhưng trong các nghiên cứu quốcgia về tình hình trực tuyến của trẻ em ở Châu Âu lại cho thấy một mối

quan hệ giữa mức độ phổ cập của Internet với nhận thức về các rủi ro thôngqua việc quan sát các quốc gia có Internet phổ biến, dường như các sáng kiến

Trang 31

để phổ cập kiến thức và nhận diện rủi ro trên môi trường Internet lại được ưutiên trong các chương trình chính sách (Livingstone và Haddon, 2009, Tr 21).Các truyền thống pháp lý, cách tiếp cận, kỹ thuật pháp lý và việc thực thi phápluật trong thực tế cũng sẽ là bối cảnh định hình lên bức tranh về vấn đề an toàntrên mạng với trẻ em Theo một nghiên cứu tại Châu Âu, các quốc gia có cáchtiếp cận vấn đề một cách tự do hơn, tức là ít có can thiệp của chính sách hơnlại là môi trường có nhiều rủi ro hơn với trẻ (Livingstone và Leslie Haddon, Tr.21).

Tầm quan trọng của việc xây dựng nhận thức như là một phần củachương trình nghị sự chính sách công được mô tả một cách mẫu mực trongmột báo cáo khu vực về hình ảnh lạm dụng tình dục trẻ em ở Belarus,Moldova, Nga và Ukraine Nghiên cứu tóm tắt như sau: Các quốc gia đượcnghiên cứu đang phải đối mặt sự gia tăng nhanh chóng các công nghệ thông tin

và truyền thông được hỗ trợ bởi các chính sách của chính phủ đang tích cựcthúc đẩy sự phát triển đáng kể của Internet trên toàn quốc và đặc biệt là trongcác lĩnh vực giáo dục Do đó, ngày càng nhiều trẻ em sử dụng Internet, tạo ranhững cơ hội mới để học hỏi và chia sẻ thông tin hoặc giao tiếp trên toàn thếgiới Tuy nhiên, điều này cũng dẫn đến ngày càng có nhiều trường hợp tấncông tình duc, đặc biệt là các biện pháp phòng ngừa và bảo vệ không được đưavào một cách có hệ thống ở các quốc gia được nghiên cứu ở giai đoạn đầu pháttriển CNTT (ECPAT International, 2008, Tr.8)

1.1.3 Các yếu tố tác động đến Quản lý việc sử dụng Internet của học sinh.

Báo cáo “Children in Digital world” của UNICEF (2017) đã chỉ ra vấn

đề sử dụng Internet của trẻ em các nước đang phát triển ở Châu Á và Châu Phicũng không còn là điều gì quá mới mẻ, tuy một số nơi có điều kiện k m về cơ

sở hạ tầng và cơ sở vật chất, kinh tế còn chưa phát triển nên trẻ em không cócác thiết bị thông minh và không có nhiều cơ hội sử dụng Internet nhưng việc

Trang 32

tiếp cận với nó là điều tất yếu và hầu như các em đều đã biết đến và được tiếpxúc Báo cáo này cũng chỉ ra những nguy hiểm các em sẽ đối mặt, từ đó đưa ra

hệ thống giải pháp đề suất dành cho các quốc gia, trong đó quan trọng hàngđầu vẫn là các chính sách giáo dục các em để trẻ có thể tự bảo vệ mình, bêncạnh vai trò của nhà nước và các tổ chức

Trong cuốn sách “Children, risk and safety on the Internet: research andpolicy challenges in comparative perspective” của Sonia Livingstone, LeslieHaddon và Anke Gorzig Bristol (2012) Các tác giả đã nghiên cứu trên 25,000trẻ em ở Châu Âu, từ đó chỉ ra những trải nghiệm tiêu cực và những vấn đềmới mà các đang gặp phải trên môi trường Intenet Nhìn chung, trẻ dù đượctiếp xúc với Internet khá sớm nhưng cũng vẫn thiếu khá nhiều kĩ năng để tựbảo vệ mình trong bối cảnh thời điểm đó và những hình thái khác trong tươnglai Từ đó chỉ ra những vấn đề về chính sách và những lỗ hổng trong quy trìnhbảo vệ trẻ em trên môi trường mạng, đồng thời đề xuất những điều chỉnh ápdụng trên toàn Châu Âu và từng quốc gia và đánh giá lại hiệu quả các chínhsách đã có để chuẩn bị cho tương lai khi vấn đề này ngày càng phát triển hơn.Trong cuốn “Working Towards a Deeper Understanding of Digital Safetyfor Children and Young People in Developing Nations” của các tác giả UrsGasser, Colin Maclay, John Palfrey (2010) Việc bảo vệ trẻ em trên môi trườngmạng không còn chỉ là giáo viên hay phụ huynh phải suy nghĩ mà ngay cảnhững nhà nghiên cứu chính sách, những người xây dựng chính sách cũng cầnphải quan tâm vì sự phát triển trong tương lai của quốc gia Những mối nguyhiểm trên môi trường mạng sẽ là thách thức chung mà cả thế giới phải đối mặt,đặc biệt là với những quốc gia đang phát triển

Báo cáo “EU Kids Online” của tác giả Sonia Livingstone and LeslieHaddon (2009), nhóm tác giả đã chỉ ra mối tương quan của bối cảnh xã hội ở

vĩ mô ảnh hưởng đến nhận thức và hành vi sử dụng của trẻ em tại các nướcChâu Âu Trong đó, vai trò của nhà nước trong việc ban hành chính sách và

Trang 33

đưa vấn đề này vào trong các chương trình nghị sự xây dựng chính sách côngnên được ưu tiên đặc biệt với các nước đang phát triển trong bối cảnh sự pháttriển của phương tiện truyền thông kỹ thuật số.

Trong nghiên cứu “Securing the next generation: enhancing e-safetyawareness among young people” của tác giả Megan, Egan, Bare, Young vàElizabeth (2009) thực hiện tại mỹ, kết quả cho thấy: “Tất cả các nhóm đã chọnphụ huynh làm ứng cử viên tốt nhất để dạy về an toàn trên internet Trong sốcác giáo viên, 97% xếp hạng phụ huynh là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên của

họ và 3% xếp giáo viên là lựa chọn đầu tiên Trong số các bác sĩ, 97% phụhuynh xếp hạng là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên và 3% xếp hạng giáo viên làlựa chọn đầu tiên Trong số các phụ huynh, 96% tự xếp mình là ứng cử viênlựa chọn đầu tiên và 4% xếp hạng giáo viên là lựa chọn đầu tiên Trong sốthanh thiếu niên, có nhiều câu trả lời hơn Hầu hết thanh thiếu niên, có 74,7%xếp phụ huynh là ứng cử viên lựa chọn đầu tiên, 13,8% giáo viên xếp hạng làlựa chọn đầu tiên, 5,7% xếp hạng thực thi pháp luật là lựa chọn đầu tiên, 1,5%cộng đồng xếp hạng là lựa chọn đầu tiên, 3% xếp nhà thờ là lựa chọn đầu tiên

và 3% được viết trong câu trả lời về việc làm một bộ phim liên quan đến antoàn trên mạng hoặc tạo ra một bài thuyết trình về an toàn trên mạng” Nhưvậy, nghiên cứu kết luận rằng phụ huynh là đối tượng tốt nhất để quản lý vàdạy học sinh về Internet

Dựa vào cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu đã có, tác giả nhận định cácyếu tố tác động đến vấn đề quản lý việc sử dụng Internet của học sinh trunghọc bao gồm:

- Thái độ và nhận thức của học sinh: học sinh tiếp xúc với Internet dễ

dàng thông qua các thiết bị thông minh Trong hoàn cảnh các phụ huynh bậnrộn với công việc và cũng là những người mới trong môi trường này, học sinhthường tự học và trải nghiệm hoặc qua hướng dẫn từ bạn bè Việc quản lý đượccác em phụ thuộc nhiều vào thái độ của học sinh đối với môi trường này và

Trang 34

thái độ của các em trước các quy định quản lý Theo Lý thuyết hành động xãhội thì thái độ này lại liên quan đến quá trình trải nghiệm của học sinh, chính

vì những trải nghiệm và cảm nghĩ của học sinh về Internet sẽ ảnh hưởng đếnviệc tuân thủ các quy định quản lý và ý thức áp dụng những gì được học

- Giáo dục từ gia đình và nhà trường: đây là hai môi trường mà các em

tiếp xúc nhiều nhất, để học sinh có nhận thức tốt thì cần sự hướng dẫn từgia đình và nhà trường, từ đó học sinh hiểu được vấn đề trên môi trườngInternet Từ đó mà các em sẽ thay đổi dần thái độ và hành vi của mình

để tự bảo vệ bản thân trên loại môi trường này

- Nhận thức của cộng đồng: Theo Lý thuyết xã hội, hành vi của học sinh

sẽ hình thành dựa trên cộng đồng xung quanh học sinh rất nhiều Nhậnthức của các cán bộ quản lý, phụ huynh, giáo viên, chủ đơn vị kinhdoanh dịch vụ Internet đều có tác động đến hành vi sử dụng Internet củatrẻ, vì vậy mà muốn quản lý được vấn đề này, các đối tượng trên cũngcần hiểu được tầm quan trọng của vấn đề quản lý và đồng hành thựchiện khi có các hoạt động liên quan

- Chính sách và pháp luật: quản lý việc sử dụng Internet của học sinh

trung học trên môi trường mạng làm vấn đề cần được ở cấp độ quốc gia.Các chính sách về vấn đề này cần được xây dựng để đưa vào luật pháp;các cơ quan quản lý nhà nước có liên quan cần triển khai hoạt động đểquản lý thông qua các trung gian từ cộng đồng Vì vậy cần có hoạt độngtuyên truyền liên tục và trên diện rộng để đảm bảo cả cộng đồng nhậnthức được tầm quan trọng của vấn đề quản lý việc sử dụng Internet củahọc sinh và chung tay tham gia

1.2 Cơ sở thực tiễn

Đã có khá nhiều những nghiên cứu, báo cáo học thuật để nói về nhữngnguy hiểm mà trẻ em sẽ phải đối mặt trên môi trường Internet trong một thếgiới phát triển, đặc biệt là ở thời đại 4.0 như hiện nay, và cũng có những

Trang 35

nghiên cứu khác đã đưa ra những giải pháp, hành động hoặc những kiến nghị

cụ thể để bảo vệ trẻ em trên môi trường Internet Có nhiều những phương phápkhác nhau được đề xuất, có những nghiên cứu chỉ tập trung vào một loại mối

đe dọa trên Internet nên chỉ đưa ra cách thức nhận diện và bảo vệ trẻ khỏi mốinguy hại đó, có những nghiên cứu sẽ chỉ ra tất cả các mối đe dọa và phát hiện

ra những hành động có thể dẫn đến những nguy hiểm trên mạng Có một sốnghiên cứu khác sẽ tập trung vào sự can thiệp của chính phủ, trong khi một sốkhác lại đề cao vai trò của những doanh nghiệp cung cấp dịch vụ mạngInternet

Dưới đây là các ví dụ về những can thiệp được áp dụng tại các quốc giađang phát triển để chúng ta có thế so sánh các cách tiếp cận khác nhau tùy bốicảnh của từng quốc gia Có rất nhiều chính sách và phương thức khác nhauđược áp dụng trên thế giới, tuy nhiên ở đây tác giả muốn lấy ra ba ví dụ vềphương thức và cách tiếp cận đã được thực hiện và thành công, quan trọng hơn

là chỉ ra tầm quan trọng của việc xác định chính xác bối cảnh để có thể tìm raphương án phù hợp

1.2.1 Brazil.

Chính phủ Brazil đã có một biện pháp khắc phục để xử lý vấn đề các nộidung khiêu dâm trẻ em trên Internet Các tổ chức phi chính phủ đã làm việcvới các cơ quan pháp lý và các công tố viên liên bang để thu thập các dữ liệu

và hành động để chống lại tội phám ấu dâm, và một ủy ban đặc biệt của quốchội đã nỗ lực phối hợp để thuyết phục các ISPs hợp tác cùng với chính quyềnđịa phương và tiến tới xa hơn là có các hợp đồng hợp tác Trong năm 2008,một thỏa thuận quan trọng đã được ký kết giữa công tố viên Liên bang của SaoPaulo và Google, chủ của một ứng dụng mạng xã hội Orkut rất phổ biến tạiBrazil, để loại bỏ các nội dung khiêu dâm Thỏa thuận hợp tác này đã đặt ramột số lượng lớn các nghĩa vụ, trong đó có một số như sau (Martins,2009):

• Lưu trữ dữ liệu bao gồm Email đăng nhập, địa chỉ đăng nhập, nhật ký

Trang 36

truy cập, dữ liệu và thời gian kết nối của 180 ngày;

• Xóa các dữ liệu có nội dung bất hợp pháp trên Orkut trong vòng 72 giờ;

• Có các hoạt động nâng cao nhận thức;

• Cung cấp các công cụ liên hệ trong trường hợp cần liên hệ khẩn cấp vềtội phạm kỹ thuật số giữa các công tố liên bang và công ty;

• Hợp tác cùng Safenet, một NGO của Brazil, để phát hiện các nội dungkhiêu dâm trẻ em;

• Sử dụng công nghệ lọc để phát hiện các hình ảnh khiêu dâm trẻ em;

• Có các cuộc họp 6 tháng với các cơ quan thực thi pháp luật

Một số thỏa thuận tương tự cũng đã được đưa vào một số đạo luật về tội phạm mạng đang gây tranh cãi (đạo luật Lei Azeledo) (Azeredo, 2009), đạo luật này đang được quốc hội xem x t và đang là chủ đề tranh luận sôi nổi giữa hai nhóm ủng hộ quyền riêng tư và các học giả nghiên cứu về tội phạm mạng (Global Voices, 2009)

1.2.2 Malaysia.

Malaysia đã thực hiện “Chương trình nâng cao nhận thức toàn dân về bảomật trên mạng” (CyberSAFE) để giải quyết các vấn đề an toàn không gianmạng

Đây là một sáng kiến của CyberSecurity Malaysia (một cơ quan của BộKhoa học, Công nghệ và Đổi mới) tìm cách nâng cao nhận thức của côngchúng về công nghệ và các vấn đề xã hội mà người dùng Internet phải đối mặt,đặc biệt là về những rủi ro mà họ gặp phải khi trực tuyến Các nhiệm vụ củachương trình CyberSAFE là định hướng truyền đạt kiến thức thực tế về an toànmạng và cung cấp thông tin và tài nguyên cần thiết cho nhiều cộng đồng đểđảm bảo trải nghiệm trực tuyến của họ là tích cực và an toàn (CyberSecurityMalaysia, 2016)

Trong các hoạt động của chương trình CyberSAFE, có một chương trình

Trang 37

thực hiện tại trường học, đây là một nỗ lưc hợp tác của đơn vị cung cấp dịch vụviễn thông chính tại Malaysia là Digiv cùng với Childline Malaysia, Ủy bantruyền thông đại chúng và đa phương tiện Malaysia (MCMC), Bộ Giáo DụcMalaysia và CyberSecurity Malaysia Chương trình CyberSAFE sẽ lựa chọn

và tập huấn cho những học sinh tại một số trường về an toàn kĩ thuật số.Chương trình tiếp cận nhà trường với nhiều cách khác nhau như tổ chức cáchoạt động tại trường học có xuất hiện của các diện CyberSAFE hay cácchương trình tập huấn dành cho giáo viên

Trong năm 2014, chương trình đã mở rộng phạm vi hoạt động thông quasáu hội thảo thí điểm, đào tạo hơn 130 giáo viên CNTT và có sự tham gia với38.000 sinh viên và hơn 4.100 giáo viên trường học (MCMC, 2015) Ngoài ra,vào năm 2014, chương trình CyberSAFE in School đã tiến hành chuyên sâunghiên cứu khảo sát hành vi liên quan đến Internet của gần 14.000 học sinh tạicác trường học ở Malaysia Chương trình CyberSAFE đã xuất bản nhiều loạisách như quyển “Hướng dẫn về mạng di động an toàn trên Internet” và đã sảnxuất video (có sẵn trên YouTube) xử lý các vấn đề như bắt nạt trên mạng, theodõi trên mạng và dụ dỗ Chương trình cũng duy trì một trang web tương tác màtrẻ em có thể đăng ký và tìm hiểu về an toàn mạng thông qua các cuộc thi, tròchơi và video Sự hợp tác giữa chính phủ và Digi trong chương trìnhCyberSAFE tại trường học Chương trình là một ví dụ tốt về cách khu vựccông có thể khai thác khu vực tư nhân hợp tác về các sáng kiến để thúc đẩy lợiích chung

1.2.3 Mauritius.

Là một phần trong chiến lược bảo vệ thông tin cấp quốc gia, Ban Máytính quốc gia (National Computer Board) của nước Mauritius đã thành lập Ủyban về an toàn trên mạng cho trẻ em, chịu trách nhiệm phát triển kế hoạchhành động về an toàn mạng cho trẻ em Ủy ban bao gồm các công chức nhànước, công an, đại diện của các tổ chức hoặc cộng đồng có hoạt đông liên quan

Trang 38

đến Internet đã được thành lập và có nhiệm vụ tìm ra những giải pháp để biếnmôi trường Internet trở thành một nơi an toàn hơn cho trẻ em tại Mauritiusnhưng không làm giảm đi sự hứng thú của trẻ với những lợi ích mà Internetmang lại (National Computer Board, 2009) Kế hoạch hành động được tiếnhành bắt đầu từ tháng 1 năm 2009, dựa trên báo cáo về tình trạng An toàn trênmạng của trẻ em ở Mauritius tại thời điểm đó, tập trung vào các báo cáo củanhững cơ quan quan thực thi pháp luật và các cơ quan nhà nước khác có liênquan, chiểu theo các quy định pháp luật của Mauritius và khảo sát quốc tế trênlĩnh vực này Các phân tích trên đã giúp Ủy ban đưa ra một số khuyến nghị,được ngắn gọn dưới đây:

• Chiến dịch về nâng cao nhận thức cộng đồng (Tổ chức các Ngày Antoàn trên mạng; lập kênh An toàn trên mạng cho trẻ cả trên truyền hình

và truyền thanh; Cuộc thi thiết kế logo về an toàn trên mạng; các tiết họcnâng cáo kiến thức tại trường học; chương trình tại trung tâm phụ nữ vàcộng đồng; website );

• Các thước đo về an toàn dành cho các điểm truy cập Internet công cộng

và tại trường học (Bao gồm các chính sách bảo vệ thông tin; công cụlọc; các quy tắc ứng xử tại trường học; yêu cầu sử dụng “công nghệthích hợp để từ chối các truy cập các website không thích hợp” tại cácđiểm truy cập Internet công cộng và quán cà phê);

• Những thói quen tốt nhất cho ISPs (khuyến khích các ISPs cung cấpcông cụ lọc cho khách hàng; tuân thủ tự nguyện các quy tắc ứng xử);

• Luật pháp nhằm tăng cường an toàn trên mạng cho trẻ (dựa trên mẫuluật phát triển bởi Trung tâm quốc tế về trẻ em mất tích và bị bóc lột);

• Biện pháp thực thi và báo cáo (cơ chế báo cáo những quan ngại củacông chúng; thiết lập đội tuần tra trên không gian mạng);

• Hợp tác quốc tế (cảnh sát quốc tế; phê chuẩn các hiệp ước phù hợp từ

Trang 39

bị đưa vào danh sách chặn truy cập trên máy của người sử dụng.

Các công ty phải tuân thủ nghiêm ngặt và cập nhật thường xuyên các danhsách web bị cấm này, đặc biệt là với những web có nội dung khiêu dâm Cáccông ty sử dụng phần mềm này hợp tác với viện nghiên cứu thuộc bộ công an

về công nghệ nhận diện hình ảnh để giới hạn các nội dung có tính khiêu dâm

Phầm mềm Green Dam không chỉ đạt được kết quả về việc bảo vệ trẻ

em khỏi những mối nguy hại Các cuộc thử nghiệm phần mềm thực hiện bởicác nghiên cứu độc lập cho thấy nó còn vượt xa cả việc kiểm soát nội dung.Phần mềm được thiết kế không chỉ để khóa các truy cập một website dựa trênviệc kiểm duyệt từ khóa và hình ảnh (bao gồm phim khiêu dâm, game, nộidung về đồng tính, tôn giáo, chính trị), mà còn có thể kiểm tra được hành vi sửdụng trên máy tính cá nhân Kết quả cho thấy, các chương trình soạn thảo văn

Trang 40

bản và email cũng có thể bị dừng lại đột ngột nếu thuật toán phát hiện ra nhữngnội dung không được ph p trong đó Các nhà nghiên cứu kết luận rằng, cácchức năng của phần mềm Green Dam đã vượt xa nhưng gì cần thiết để bảo vệtrẻ em trên môi trường mạng, cung cấp cha mẹ một chút kiểm soát với conmình, nó cũng đem lại một vài nguy cơ khác về bảo mật đối với người sử dụng(Faris, Roberts và Wang, 2009, Tr 20) Trước sự phê phán và áp lực lớn vềchính trị cũng như của ngành công nghiệp, và sự bất đồng trong nội bộ về vấn

đề này, tháng 8 năm 2009, Bộ Công nghiệp và Công nghệ thông tin đã thôngbáo các công ty máy tính không cần bắt buộc cài đặt phần mềm này trong cácmáy tính cá nhân và tại doanh nghiệp, nhưng các trường học, tiệm Internet vàcác máy tính công cộng vẫn bắt buộc phải cài đặt phần mềm này

Ngày đăng: 23/06/2021, 15:02

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đặng Quốc Bảo, 1999. Kế hoạch tổ chức quản lý: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn. Hà Nội: Nxb Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch tổ chức quản lý: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Nhà XB: Nxb Thống kê
2. Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc (1998). Đại cương về quản lý, Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đại cương về quản lý
Tác giả: Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 1998
3. Nguyễn Thị Phương Châm, 2013. ‘Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘Mạng lưới xã hội và sự thể hiện bản sắc
4. Đoàn Thùy Dương, 2014, Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh viên và mạng xã hội Facebook: Một phân tích về sự tiến triển vốn xã hội
14. Nguyễn Thị Phương Thảo, 2013. ‘‘Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Tác động của Game online đối với việc học tập và nâng cao kiến thức của học sinh đô thị hiện nay
16. Đỗ Hoàng Toàn, 2000. Quản lý xã hội, NX KHKT.Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý xã hội, NX KHKT
18. Barry Wellman, 1996. ‘‘Computer Networks As Social Networks: Collaborative work. Telework and Virtual community” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘Computer Networks As Social Networks: "Collaborative work. Telework and Virtual community
20. Bilton, T. Bonnett, 1993. Nhập môn xã hội học. Nhà xuất bản Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhập môn xã hội học
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học Xã hội
21. Bourdieu, P. (1986). The Forms of Capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education (pp. 241- 258). New York: Greenwood Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Forms of Capital. In J. G. Richardson (Ed.), Handbook of Theory and Research for the Sociology of Education
Tác giả: Bourdieu, P
Năm: 1986
22. Bozeman và Straussman, 1990. Handbook of American Public Administration” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Handbook of American Public Administration
25. Eduardo Azeredo, 2009. The 2009 Status of razil's legislation on the fight against cybercrime, Council of Europe Conference on Cooperation against Cybercrime, Strasbourg 10-11 March 2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 2009 Status of razil's legislation on the fight against cybercrime, Council of Europe Conference on Cooperation against Cybercrime
27. Graham T. Allison , 1980. ““Public and Private Management: Are They Fundamentally Alike in All Unimportant Respects?” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ““Public and Private Management: Are They Fundamentally Alike in All Unimportant Respects
28. Hood, Christopher (1 March 1991). "A Public Management for all Seasons?". Public Administration. 69 (1): 3-19. doi : 10.1111/j.1467- 9299.1991.tb00779.x . and Hood and Jackson 1991 Sách, tạp chí
Tiêu đề: A Public Management for all Seasons
29. Isabelle Michelet, 2003. Our Children at Risk Online: The Example of Thailand, in: A Survey Report, Our Children at Risk Online, The Example of Thailand, ECPAT International 2003.30. ISTT report, p. 5 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Our Children at Risk Online: The Example of Thailand, in: A Survey Report, Our Children at Risk Online, The Example of Thailand, ECPAT International 2003
33. International telecommunication Union (ITU-D), 2009. The World in 2009:ICT Facts and Figures Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World in 2009
36. Marie-Laure, 2006. Lemineur Retana: El Combate Contra La Pornografia Infantil en Internet: El caso de Costa Rica, International LaborOrganization/International Program for the Eradication of Child Labor Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lemineur Retana: El Combate Contra La Pornografia Infantil en Internet: El caso de Costa Rica, International Labor
40. Petter Bae Bradtzaeg, 2012, ‘‘social Networking Sites: Their Users and Social Implications- A longitudinal Study” Sách, tạp chí
Tiêu đề: ‘‘social Networking Sites: Their Users and Social Implications- A longitudinal Study
44. UNESCO, 2016. A policy review: Building digital citizenship in Asia- Pacific through safe, effective and responsible use of ICT” Sách, tạp chí
Tiêu đề: A policy review: Building digital citizenship in Asia- Pacific through safe, effective and responsible use of ICT
52. CyberSecurity Malaysia, 2016. CyberSAFEMalaysia. http://www.cybersafe.my/about.html (Accessed 10 June 2016.) Link
61. Vinasearch.net , 2018. Báo Cáo Nghiên Cứu Thói Quen Sử Dụng Mạng Xã Hội Của Người Việt Nam 2018, https://vinaresearch.net/public/news/2201-bao-cao-nghien-cuu-thoi- quen-su-dung-mang-xa-hoi-cua-nguoi-viet-nam-2018.vnrs Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w