Mekala Mary Selwyn 2014 “Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing cho các sản phẩm bảo hiểm” đã xem xét các triển vọng khác nhau của các kênh phân phối và cho rằng phạm vi tăng trưởn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THẾ LAM
HOẠT ĐỘNG MARKETING
• • SẢN PHẨM BẢO HIỂM DU LỊCH QUỐC TẾ CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
• •
Trang 2Hà Nội - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
PHẠM THẾ LAM
HOẠT ĐỘNG MARKETING
• • SẢN PHẨM BẢO HIỂM DU LỊCH QUỐC TẾ
CỦA TỔNG CÔNG TY CỔ PHẦN BẢO HIỂM BƯU ĐIỆN
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Trang 3Hà Nội - 2020 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Hoạt động Marketing sản phẩm bảo hiểm du
lịch quốc tế của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện” là công trình nghiên
cứu độc lập của bản thân với sự giúp đỡ của giáo viên hướng dẫn Các số liệu đưa ratrong luận văn là trung thực, khách quan
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THẾ LAM
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới: Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia
Hà Nội, Khoa Quản trị kinh doanh Trường Đại học Kinh tế - Đại học quốc gia HàNội, Tổng công ty cổ phần Bảo hiểm bưu điện đã tạo điều kiện giúp đỡ để tôi hoànthành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Vũ Thị Minh Hiền đã trực tiếp hướng dẫn, tậntình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn TS Vũ Thị MinhHiền đã giúp tôi có khả năng tổng hợp những tri thức khoa học, những kiến thứcthực tiễn quản lý và phương pháp nghiên cứu khoa học Tiến sỹ đã góp ý, chỉ bảo tôitrong việc định hướng và hoàn thiện luận văn
Tôi xin cảm ơn gia đình và các đồng nghiệp của tôi tại Tổng công ty cổ phầnBảo hiểm bưu điện đã tạo điều kiện hỗ trợ, động viên và giúp đỡ tôi trong suốt quátrình học tập và nghiên cứu
Xin trân trọng cảm ơn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHẠM THẾ LAM
Trang 5MỤC LỤC
PHỤ LỤC 1
Trang 77 Bảng 3.4 Số lượng lao động tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện PTI 69
Trang 8DANH MỤC HÌNH
ST
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
ST
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Hiện nay, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, một ngành
công nghiệp “không ống khói” mang lại lợi nhuận cao trên toàn thế giới Thông qua du
lịch, một đất nước có thể đồng thời có thể giới thiệu nền văn hoá nước mình với dukhách đến từ các nước trên thế giới Thế giới đang ngày một phát triển, cuộc sống củacon người ngày càng ấm no đầy đủ dẫn tới nhu cầu vui chơi, tham quan giải trí, du lịchtrong cuộc sống kéo theo cơ hội phát triển một số dịch vụ bổ trợ Trong đó có sản phẩmbảo hiểm du lịch quốc tế Do đó, một chiến lược marketing toàn diện và đúng đắn sẽ làchìa khoá giúp các doanh nghiệp đi đến thành công Các hoạt động marketing khôngnhững tìm kiếm khách hàng cho doanh nghiệp mà còn đẩy mạnh việc tiêu thụ các sảnphẩm và dịch vụ, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong môitrường cạnh tranh gay gắt hiện nay Đối với Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện,Bảo hiểm du lịch quốc tế là một sản phẩm có tính hiệu quả cao và đem lại lợi nhuận lớncho Công ty Sản phẩm du lịch quốc tế là sản phẩm có tiềm năng phát triển và đặt trọngtâm phát triển trong tương lai của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện Hiện nay,tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện cũng đang áp dụng rất nhiều hoạt độngMarketing đối với sản phẩm bảo hiểm du lịch quốc tế cũng như nghiên cứu tình hình củathị trường bảo hiểm du lịch, quảng cáo, tiếp thị, phát tờ rơi du lịch Tuy nhiên, các hoạtđộng này của Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện chưa thực sự đem lại hiệu quảkhi theo thống kê của Hiệp hội Bảo hiểm Việt Nam 2019, PTI đang đứng thứ 3 trên thịtrường bảo hiểm phi nhân thọ về thị phần bảo hiểm gốc Bên cạnh đó, trong bối cảnh thịtrường cạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt, ngày càng có nhiều công ty trong và ngoàinước tham gia vào thì trường này với chất lượng dịch vụ tốt hơn, giá cả cạnh tranhhơn , yêu cầu về chất lượng sản phẩm dịch vụ của khách hàng ngày một cao Do đó, bàitoán ở đây là làm như thế nào để duy trì và mở hoạt động kinh doanh, giữ vững thị phần,nâng cao khả năng cạnh tranh so với đối thủ Chính vì những lý do trên, tác giả chọn đềtài nghiên cứu về “Hoạt động marketing sản phẩm bảo hiểm du lịch quốc tế tại TổngCông ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện” làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm đánh giá thựctrạng triển khai thực hiện hoạt động marketing đối với sản phẩm BH du lịch quốc tế tại
Trang 11Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện hiện nay và đề xuất một số giải pháp nhằmđẩy mạnh hoạt động marketing đối với BH du lịch quốc tế tại Tổng công ty cổ phần bảohiểm Bưu Điện trong tương lai.
2 Câu hỏi nghiên cứu
Giải pháp nào để đẩy mạnh hoạt động marketing sản phẩm bảo hiểm du lịch quốc
tế tại PTI ?
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1 Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn này là khái quát hóa hệ thống lí luận cơ bản về
BH du lịch quốc tế và hoạt động marketing Đồng thời đi sâu vào phân tích, đánh giáthực trạng hoạt động Marketing đối với Sản phẩm BH du lịch quốc tế tại PTI Trên cơ sởphân tích, đánh giá thực trạng, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạtđộng Marketing đối với Sản phẩm BH du lịch quốc tế tại PTI trong thời gian sắp tới
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để hoàn thành mục đích đặt ra, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ cơ bảnsau:
- Làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về BH du lịch quốc tế và hoạt động Marketing
- Phân tích, đánh giá thực trạng triển khai thực hiện hoạt động marketing đối vớisản phẩm BH du lịch quốc tế tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
- Đề xuất một số giải pháp nhằm đẩy mạnh hoạt động marketing đối với BH du lịchquốc tế tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động marketing (Marketing - mix / 7P) đối với sản phẩm BH du lịch quốc tếtại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu Điện
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nội dung: Marketing mix / 7P
Phạm vi không gian: Tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện (PTI)
Phạm vi thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu, dữ liệu từ năm 2017 đến
2019 và đề xuất giải pháp đến năm 2022
5 Ý nghĩa của luận văn
Trang 12-Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện.
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, danh mục bảng biểu, danh mục viết tắt,danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung của luận văn được kết cấu gồm 04chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về marketing bảo
hiểm du lịch quốc tế
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng hoạt động marketing sản phẩm Bảo hiểm du lịch quốc tế
tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện
Chương 4: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động marketing sản phẩm BH Du
lịch quốc tế tại Tổng công ty cổ phần bảo hiểm Bưu điện
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ MARKETING SẢN PHẨM BẢO HIỂM DU LỊCH QUỐC TẾ
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1 Nghiên cứu nước ngoài
Mony, S.V (2013), “Chính sách marketing của các Công ty bảo hiểm trên thị
trường Ấn Độ” Nghiên cứu cho rằng marketing trực tiếp sẽ tiếp tục đóng một vai trò
quan trọng trong việc thúc đẩy việc bán các sản phẩm bảo hiểm Các kênh khác, như liênminh với các ngân hàng và các cơ quan khác, sẽ giúp chiếm lĩnh thị trường Tác giả chorằng công nghệ đóng một vai trò tích cực trong việc thiết kế và quản lý các sản phẩm bảohiểm Đồng thời, tác giải cũng nhấn mạnh sự cần thiết phải nâng cao năng lực của độingũ nhân viên
Trang 13Ziaudeen, A (2013), “Hoạt động Marketing đối Dịch vụ bảo hiểm nhân thọ của
Tập đoàn bảo hiểm nhân thọ Ấn Độ tại Thanjavur” Nghiên cứu đã thảo luận về các khía
cạnh khác nhau liên quan đến dòng sản phẩm, quy trình phát triển sản phẩm, cơ sở vậtchất cung cấp cho các chủ hợp đồng, khả năng tiếp cận các dịch vụ của Công ty Bảohiểm Nhân thọ tại Thanjavur Đồng thời nhấn mạnh công đào tạo, tạo động lực cho nhânviên và các vấn đề liên quan Tác giả cho rằng mức độ nhận thức của người tiêu dùngphải được cải thiện để khai thác thị trường hoàn toàn
Mekala Mary Selwyn (2014) “Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing
cho các sản phẩm bảo hiểm” đã xem xét các triển vọng khác nhau của các kênh phân
phối và cho rằng phạm vi tăng trưởng tiềm năng của thị trường bảo hiểm phi nhân thọ bịảnh hưởng bởi sự thay đổi trong nhân khẩu học, mức độ nhận thức bảo hiểm thấp, tăngtrưởng kinh tế và thay đổi xã hội hành vi văn hóa của người dân Theo tác giả, yếu tố ảnhhưởng đến hoạt động marketing cho các sản phẩm bảo hiểm là thiết kế sản phẩm, liênkết với các sản phẩm cho vay, đặc biệt là phương pháp bán hàng hỗ trợ công nghệ thôngtin, đào tạo bán hàng theo kế hoạch cho nhân viên ngân hàng, và các chương trìnhkhuyến khích nhân viên đặc biệt để thúc đẩy nhân viên
Ranjan Kumar và Koushal Vaidya (2014) “Chiến lược marketing của các công ty
bảo hiểm để phân biệt sản phẩm và dịch vụ của họ với các đối thủ cạnh tranh” đã thảo
luận về các chiến lược khác nhau sẽ được các công ty bảo hiểm áp dụng để phân biệt sảnphẩm và dịch vụ của họ với các đối thủ cạnh tranh Các tác giả cho rằng những đổi mới
có thể nên được thực hiện về mặt sản phẩm, dịch vụ khách hàng và mạng lưới phân phối.Nhu cầu thâm nhập thị trường nông thôn, xây dựng hình ảnh thương hiệu và tăng cáchoạt động quảng cáo bán hàng cũng được nhấn mạnh
Mushtaq Ahmad và Obaid-Ur-Rehman (2016), “Đánh giá các chiến lược tiếp thị
internet trong các công ty bảo hiểm nhân thọ ở Ukraine” Các tác giả cho rằng dịch vụ
bảo hiểm trong thời gian số hóa phải đối mặt với các kịch bản triển khai trong chiến lượctiếp thị thành phần trực tuyến Thách thức chính đối với các công ty bảo hiểm nhân thọUkraine so với thực tiễn thế giới là tình trạng không bắt buộc của loại hợp đồng bảohiểm đó Các tác giải kết luận các vấn đề chính ảnh hưởng đến hoạt động marketing của
Trang 14các doanh nghiệp này là chi phí vận hành, áp lực pháp lý và cơ sở hạ tầng công nghệkhông linh hoạt Đồng thời sự gia tăng mức độ cạnh tranh khiến bảo hiểm nhân thọ buộcphải cạnh tranh với các quỹ hưu trí, ngân hàng và các tổ chức tài chính khác để bảo vệthị phần của họ Các tác giả trình bày các chiến lược tiếp thị khác nhau được đưa vào cácdịch vụ bảo hiểm nhân thọ theo dõi môi trường bên ngoài và bên trong của công ty.
Prashant S Rajurkar (2012), “Chiến lược tiếp thị của LIC trong các công ty bảo
hiểm phi nhân thọ” Tác giả nghiên cứu cho rằng thay vì chỉ tập trung vào việc cải thiện
sự đa dạng của các sản phẩm thì công ty cần tập trung vào nhắm mục tiêu vào các phânkhúc mới và thực hiện các chiến lược đổi mới để đạt được sự tăng trưởng bền vững vàđảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp Công ty cũng nên tiến hành nghiên cứu thị trườngsâu rộng hơn trước khi giới thiệu các sản phẩm bảo hiểm nhắm vào các phân khúc dân số
cụ thể để bảo hiểm có thể trở nên có ý nghĩa hơn và giá cả phải chăng cho người dân
Tóm lại, các nhà nghiên cứu đã đề cập tới Marketing từ nhiều khía cạnh khác
nhau: xây dựng mô hình kế hoạch và triển khai Marketing, phân tích vai trò của nội dungtrong Marketing, phân tích và so sánh chi phí ngân sách Marketing Như vậy, từ lý thuyếttới “thực thi” lại là sự lúng túng cho bất cứ doanh nghiệp nào đã và đang quan tâm tớinhững giá trị và hiệu quả mà Marketing mang lại Nói cách khác, các nghiên cứu nàychưa làm rõ các công cụ liên quan, cách thức vận dụng thực tế trong doanh nghiệp
1.1.2 Nghiên cứu trong nước
Tô Thị Xuân (2016), “Giải pháp marketing dịch vụ bảo hiểm xe cơ giới tại Công
ty Bảo hiểm Dầu khí khu vực Tây Nguyên”, luận văn thạc sĩ trường ĐH Đà Nẵng Nghiên
cứu kết luận về tình hình hoạt động marketing đối với sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới tạiCông ty trên các khía cạnh về mục tiêu marketing, ảnh hưởng của các yếu tố môi trường
vĩ mô và vi mô đến hoạt động marketing của doanh nghiệp, thị trường mục tiêu và định
vị Từ việc phân tích các chính sách marketing đối với sản phẩm bảo hiểm xe cơ giới củaCông ty, tác giả đưa ra một số giải pháp về mặt nhân sự, sản phẩm và giá cho công ty
Ngô Văn Hạ (2011), “Chiến lược marketing bảo hiểm phi nhân thọ tại Công ty
Bảo Minh Kon Tum”, luận văn thạc sĩ trường ĐH Đà Nẵng Nghiên cứu đã đánh giá các
giải pháp hỗ trợ để thực hiện chiến lược là nâng cao chất lượng chuyên môn của đội ngũnhân viên, điều chính cơ cấu tổ chức để pháp triển và nâng cao chất lượng hệ thống
Trang 15thông tin Bên cạnh đó, tác giả cũng đề xuất các giải pháp cụ thể cho chính sáchmarketing - mix, các giải pháp về tài chính và giải pháp đối với công tác giám sát và điềutra.
Nguyễn Thị Thanh Thảo (2014), “Chiến lược marketing dịch vụ bảo hiểm phi
nhân thọ tại Công ty Bảo hiểm Bảo Việt, chi nhánh Đà Nẵng”, luận văn thạc sĩ trường
ĐH Đà Nẵng Nghiên cứu đã hẹ thống hóa mọt cách đầy đủ và khoa học các vấn đề lýluạn về khái niẹm marketing, quy trình xây dựng chiến luợc marketing và phân tích tìnhhình hoạt đọng sản xuất kinh doanh và chiến luợc marketing hiẹn tại của công ty, dựavào co sở phát triển của thị truờng bảo hiểm phi nhân thọ tại Đà Nẵng và sử dụng cácphuong pháp nghiên cứu, phân tích thực tiễn, để xây dựng chiến luợc marketing cho sảnphẩm bảo hiểm phi nhân thọ của công ty đến nam 2020 Tác giải đề xuất để thực hiẹnthành công chiến luợc marketing cho sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cần nhạn định mọt
số nọi dung về đặc điểm thị trường, đối thủ cạnh tranh đồng thời công ty cần chỉnh đốn,cải thiẹn các điểm yếu của công ty và phát huy các điểm mạnh mở rọng đến phân khúcthị truờng tiềm nang để khai thác và đón đầu các co họi của thị truờng nhằm phục vụ vàđáp ứng nhu cầu thị truờng
Lại Mạnh Quân (2010), “Hoàn thiện chính sách sản phẩm của Công ty Cổ phần
Bảo hiểm Toàn Cầu”, luận văn thạc sĩ trường ĐH Kinh Tế - ĐH Quốc Gia Hà Nội.
Nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận cơ bản về chính sách sản phẩm đối vớidoanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm Tìm hiểu kinh nghiệm của một số hãng đã thànhcông trong việc lựa chọn chính sách sản phẩm phù hợp Từ đó tác giả đưa ra các giảipháp hoàn thiện chính sách sản phẩm nhằm làm cho chính sách sản phẩm trở thành công
cụ đắc lực cho việc thực hiện mục tiêu kinh doanh của Công ty
Lã Thị Vân Anh (2007), “Giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh
của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam”, luận văn thạc sĩ trường ĐH Kinh Tế
-ĐH Quốc Gia Hà Nội Nghiên cứu đã chỉ ra những định hướng cơ bản mà nhà quản trịmarketing cần quan tâm trong quá trình hoạch định chính sách marketing Đồng thời, tácgiải phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động marketing và ảnh hưởng của nó đến sứccạnh tranh của các Công ty bảo hiểm phi nhân thọ Việt Nam và các hạn chế và nguyênnhân Từ đó, tác giải đề xuất một số giải pháp marketing nhằm nâng cao sức cạnh tranh
Trang 16của các doanh nghiệm này.
Sau khi tiến hành nghiên cứu các nghiên cứu trong nước, tác giả nhận thấy hoạtđộng Marketing còn rất mới mẻ đối với các sản phẩm bảo hiểm và các công ty bảo hiểm,đặc biệt chưa có nghiên cứu nào đề cập tới Marketing cho một sản phẩm bảo hiểm cụthể Các nghiên cứu chủ yếu nhận định tầm quan trọng của Marketing trong bối cảnhhiện đại, nhưng phần lớn phân tích từ khía cạnh quan hệ khách hàng
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Có thể thấy, đã có rất nhiều nghiên cứu của các tác giả trong nước và nước ngoàihầu như đều tập trung vào hoạt động bảo hiểm phi nhân thọ và bảo hiểm nhân thọ nóichung Hầu hết các nghiên cứu này đã hẹ thống hóa mọt cách đầy đủ và khoa học cácvấn đề lý luạn về khái niẹm marketing, quy trình xây dựng chiến luợc marketing và phântích tình hình hoạt đọng sản xuất kinh doanh và chiến luợc marketing Đề xuất để thựchiẹn thành công chiến luợc marketing cho sản phẩm bảo hiểm phi nhân thọ cần nhạnđịnh mọt số nọi dung về đặc điểm thị trường, đối thủ cạnh tranh đồng thời công ty cầnchỉnh đốn, cải thiẹn các điểm yếu của công ty và phát huy các điểm mạnh mở rọng đếnphân khúc thị tru ờng tiềm nang để khai thác và đón đầu các co họi của thị truờng nhằmphục vụ và đáp ứng nhu cầu thị truờng
Tuy nhiên, hiện nay, có rất ít nghiên cứu bàn về hoạt động marketing đối với mộtloại hình bảo hiểm cụ thể Bên cạnh đó, đối với loại hình bảo hiểm du lịch quốc tế, chưa
có tác giả nào tiến hành nghiên cứu cụ thể Ngoài ra, tại PTI hiện nay, cũng chưa có mộtnghiên cứu liên quan nào về marketing cho sản phẩm BH du lịch quốc tế Đây chính làkhoảng trống nghiên cứu để tác giả tiến hành thực hiện đề tài của mình
1.2 Những vấn đề cơ bản về marketing
1.2.1 Khái niệm và đặc điểm
1.2.1.1 Khái niệm marketing
Nhiều người bao gồm các nhà quản trị kinh doanh thường cho rằng marketing làbán hàng, quảng cáo hoặc nghiên cứu thị trường Những công việc này là những việc cụthể của marketing, chưa bao hàm toàn bộ hoạt động marketing Giáo trình Quản trịmarketing của trường Đại học Kinh tế quốc dân đưa ra định nghĩa như sau: “Marketing
là tập hợp các hoạt động của doanh nghiệp nhằm thỏa mãn nhu cầu của thị trường mụctiêu thông qua quá trình trao đổi, giúp doanh nghiệp đạt mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận”
Trang 17Theo định nghĩa này, marketing là tất cả các hoạt động trên thị trường của doanh nghiệp.
Theo Philip Kotler, (2009): “Marketing là hoạt động của con người hướng tới sự
thỏa mãn nhu cầu và ước muốn thông qua tiến trình trao đổi” Hiệp hội marketing Mỹ đưa ra định nghĩa : ”Marketing là chức năng quản trị của doanh nghiệp, là quá trình tạo ra, truyền thông, chuyển giao giá trị cho khách hàng và là quá trình quản lý quan hệ khách hàng theo cách đảm bảo lợi ích cho doanh nghiệp và các cổ đông”.
Các khái niệm nêu trên đã chỉ ra hai nhóm hoạt động cơ bản của marketing:nghiên cứu, phát hiện, phân tích và đánh giá nhu cầu của khách hàng và các đối tác liênquan và thỏa mãn các nhu cầu đó bằng sản phẩm/dịch vụ, làm cho khách hàng hài lòng.Như vậy, một cách tổng quát, có thể hiểu marketing là: Quá trình tập hợp các phươngpháp và phương tiện của một tổ chức nhằm tìm hiểu, xác định nhu cầu của khách hàng,thiết kế, cung ứng các sản phẩm/dịch vụ nhằm thoả mãn những nhu cầu đó (thoả mãnkhách hàng tốt hơn so với các đối thủ cạnh tranh) và đảm bảo thực hiện các mục tiêu củadoanh nghiệp/ tổ chức một cách có hiệu quả nhất
Bên cạnh đó, cũng cần chú ý một số khái niệm mở rộng về marketing Cụ thể:Marketing nội bộ (internal marketing): marketing nội bộ là những hoạt động diễn
ra trong doanh nghiệp, mối quan hệ giữa lãnh đạo và nhân viên, giữa các bộ phận chứcnăng, giữa nhân viên với nhân viên được giải quyết theo quan điểm của marketing Điềunày có nghĩa là mọi người trong doanh nghiệp đều là khách hàng của nhau Doanhnghiệp được coi là thị trường nội bộ Marketing nội bộ thể hiện ở sự phối hợp giữa các
bộ phận khác nhau trong chức năng marketing (phát triển sản phẩm, quản lý hệ thốngphân phối, lực lượng bán hàng, v.v.) và thể hiện ở sự phối hợp hoạt động giữa các phòngban chức năng khác nhau theo định hướng khách hàng Như vậy, Marketing không chỉ làviệc của nhóm người làm marketing trong doanh nghiệp Mà mỗi một thành viên trongdoanh nghiệp nên thực hiện công việc như một người làm marketing
Marketing quan hệ (Relationship marketing): Mục tiêu của marketing quan hệ làxây dựng mối quan hệ lâu dài với các khách hàng quan trọng - nhà cung ứng, nhà phânphối, người tiêu dùng và các đối tác khác trong hoạt động marketing- nhằm thỏa mãn lợiích của tất cả các bên tham gia vào hoạt động marketing Marketing quan hệ sẽ xây dựng
sự gắn kết chặt chẽ về kinh tế, kỹ thuật, xã hội giữa các bên Điều này tạo điều kiện cho
Trang 18doanh nghiệp duy trì và phát triển kinh doanh Xu hướng mới trong quản trị marketingchính là quản trị quan hệ khách hàng Tuy nhiên, muốn làm được điều này, doanh nghiệpcần phải có chiến lược, kế hoạch, chính sách Doanh nghiệp cần phải có đầy đủ hồ sơ vềkhách hàng, theo dõi thường xuyên, hỗ trợ khách hàng trong quá trình mua hàng và sửdụng sản phẩm, thường xuyên thăm hỏi khách hàng, v.v
Marketing quốc tế: hoạt động marketing được thực hiện bên ngoài quốc gia Hoạtđộng marketing quốc tế tuân theo nguyên tắc của hoạt động marketing trên một quốc gianhưng xem xét tới khía cạnh khác biệt của thị trường: văn hóa, đặc điểm khách hàng, v.v
- Marketing internet: đây là xu hướng hiện nay, đặc biệt là trong môi trường số hóa và sựphát triển nhanh của công nghệ Internet marketing sẽ giúp giảm chi phí (chi phí thuêđiểm bán, giảm lực lượng bán hàng), tăng hiệu quả của hoạt động marketing
Marketing trách nhiệm xã hội: marketing xã hội quan tâm đến cả những vấn đề vềđạo đức, môi trường, luật pháp, v.v Điều này có nghĩa là hoạt động marketing được thựchiện trong bối cảnh giải quyết các vấn đề xã hội Trách nhiệm xã hội đòi hòi người làmmarketing phải quan tâm tới vai trò của họ trong việc đảm bảo lợi ích của cộng đồng và
xã hội nói chung
1.2.1.2 Đặc điểm của hoạt động marketing
Marketing có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, marketing là một quy trình xã hội: Khi tiến hành một hoạt độngmarketing, công ty cần quan tâm đến những ảnh hưởng xã hội của nó như sức khoẻ củangười tiêu dùng, nhu cầu của người tiêu dùng và vấn đề xã hội khác Để đạt được thànhcông, một chương trình marketing phải gắn kết chặt chẽ với khách hàng và các vấn đề xãhội liên quan đến khách hàng của công ty Nếu như hoạt động marketing của công ty gâyảnh hưởng không tốt đến các vấn đề xã hội này thì hiệu quả cũng như khả năng thànhcông của hoạt động sẽ giảm
Thứ hai, marketing là một quy trình quản lý: Marketing là một quy trình quản lý
và trong quá trình đó, khách hàng và công ty nhận đều nhận được lợi ích Khi thực hiệncác hoạt động marketing, các kiến thức quản lý đóng một vai trò quan trọng trong sựthành bại của chiến dịch marketing Nói cách khác, marketing sẽ hiệu quả hơn khi nóđược quản lý chặt chẽ bởi người quản lý Theo đó, người quản lý sẽ giám sát chặt chẽcác khâu trong hoạt động marketing để đảm bảo tuân thủ theo đúng quy định và mục tiêu
Trang 19đã đề ra.
Thứ ba, marketing được thực hiện dựa trên sự trao đổi: Vấn đề cơ bản củamarketing là "trao đổi" có nghĩa là sự thỏa mãn mong muốn và nhu cầu của người tiêudùng và đổi lại là doanh số và lợi nhuận cho doanh nghiệp Marketing là quá trình traođổi thương mại liên tục Trao đổi này cũng có nghĩa là công nghệ, trao đổi thông tin vàtrao đổi ý tưởng hoặc trao đổi nhu cầu và sự hài lòng của người tiêu dùng
Thứ tư, marketing định hướng người tiêu dùng: Các chủ doanh nghiệp thực hiệnchiến dịch marketing của họ bằng cách tập trung vào nhu cầu của người tiêu dùng Cóhai loại quy trình có sẵn để định hướng người tiêu dùng trên các sản phẩm kinh doanh.Đầu tiên, các doanh nghiệp sẽ tạo ra các sản phẩm và sau đó họ sẽ tìm cách tạo ra nhucầu cho người tiêu dùng Quy trình này được gọi là marketing thị trường đẩy Lựa chọnthứ hai là xác định nhu cầu của người tiêu dùng sau đó tạo ra sản phẩm theo nhu cầu củangười tiêu dùng Tùy chọn thứ hai được gọi là mô hình marketing 'thị trường kéo
Thứ năm, marketing tạo ra lợi nhuận cho doanh nghiệp: Mục tiêu chính của mọi
tổ chức kinh doanh là kiếm lợi nhuận Marketing đảm bảo sự hài lòng của khách hàngvới giá trị sản phẩm được bán Do vậy, marketing giúp tăng hiệu suất bán sản phẩm đểkiếm lợi nhuận theo nhu cầu của khách hàng
Thứ sáu, marketing là một quy trình động: Marketing là một quá trình liên tục tạo
ra giá trị cho khách hàng cá nhân và chia sẻ giá trị và kiếm lợi nhuận Nó tạo ra mối quan
hệ tốt giữa chủ sở hữu của doanh nghiệp và người tiêu dùng Do vậy, marketing là quátrình năng động, liên tục vì lợi ích của cả hai bên
1.2.2 Vai trò và chức năng
1.2.2.1 Vai trò
Một là, marketing có vai trò là cầu nối trung gian giữa hoạt động của doanh
nghiệp và thị trường, đảm bảo cho hoạt động của doanh nghiệp hướng đến thị trường, lấythị trường làm mục tiêu kinh doanh Nói cách khác, Marketing có nhiệm vụ tạo ra kháchhàng cho doanh nghiệp Sử dụng Marketing trong công tác kế lập hoạch kinh doanh sẽgiúp cho doanh nghiệp thực hiện phương châm kế hoạch phải xuất phát từ thị trường
Hai là, marketing quyết định và điều phối sự kết nối các hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp với thị trường, đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh
Trang 20nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường, nhu cầu và ước muốn của khách hànglàm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh.
Ba là, marketing liên kết giữa người sản xuất và người tiêu dùng Do có sự cách
biệt về không gian và thời gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng nên các nhà sảnxuất, kinh doanh không thể nắm bắt được những thông tin về sự thay đổi của nhu cầutiêu dùng nếu như không có sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống thông tin Marketing
Bốn là, nhờ các hoạt động Marketing mà những quyết định kinh doanh có cơ sở
khoa học hơn, đồng thời giúp các công ty có điều kiện thu thập và xử lý thông tin mộtcách hiệu quả nhất nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng
Năm là, marketing giúp khắc phục sự không hài lòng từ phía người tiêu dùng
thông qua việc nghiên cứu hành vi sau mua của khách hàng Marketing sẽ giúp cho cáccông ty thương mại tìm ra những phương pháp toàn diện để giải quyết, khắc phục nhữnglời phàn nàn của khách hàng đồng thời hoàn thiện hơn về mặt hàng kinh doanh củamình
Cuối cùng, marketing khuyến khích sự phát triển và đưa ra những cái mới Với
những thay đổi nhanh chóng trong thị hiếu, công nghệ, cạnh tranh, mỗi công ty thươngmại chẳng thể chỉ kinh doanh những mặt hàng hiện có của mình Khách hàng luôn mongmuốn và chờ đợi những mặt hàng mới và hoàn thiện hơn Do đó, Marketing chính là mộtcông cụ hướng theo thị trường, liên kết khách hàng đảm bảo sự phát triển tài chính đắclực để công ty triển khai phát triển và tung ra thị trường mục tiêu các mặt hàng mới.Bằng việc áp dụng hợp lý ngân sách, nguồn lực cho Marketing, doanh nghiệp có thểnâng cao khả năng cạnh tranh cũng như nâng cao nhận biết dịch vụ, chất lượng dịch vụ
Từ đó Marketing có thể đem lại những lợi ích, cơ hội về mặt tài chính cho doanh nghiệp
1.2.2.2 Chức năng
Chức năng Marketing được xác đinh tùy thuộc vào đặc điểm về sản xuất kinhdoanh và sản phẩm của doanh nghiệp Có 4 chức năng chủ yếu sau:
Một là, Chức năng thích ứng: Là chức năng làm sản phẩm thích ứng với nhu cầu
khách hàng, của thị trường Với chức năng này, Marketing vừa nghiên cứu, thăm dò nhucầu thị trường để vừa thỏa mãn tối đa nhu cầu; đồng thời tạo ra nhu cầu mới, làm thayđổi cơ cấu nhu cầu giúp cho doanh nghiệp thu được lợi nhuận ngày càng nhiều hơn Đểthực hiện chức năng thích ứng, bộ phận Marketing phải phân tích môi trường và nghiên
Trang 21cứu thị trường nhằm dự báo và thích ứng với các yếu tố môi trường có ảnh hưởng đến sựthành công hay thất bại của doanh nghiệp, tập hợp thông tin để quyết định các vấn đềMarketing đảm trách.
Hai là, Chức năng phân phối: Là chức năng tổ chức quá trình vận động hàng hóa
sau khi sản xuất đến giao cho người tiêu dùng, nhằm giải quyết trở ngại ách tắc, làm choquá trình lưu thông suốt
Ba là, Chức năng tiêu thu : là chức năng rất quan trọng của maketing Nó giúp
doanh nghiệp đẩy nhanh vòng xoay của vốn, hạn chế rủi ro Chức năng tiêu thụ đựocthực hiện thông qua hoạt động kiểm soát giá cả, các phương pháp nghiệp vụ và nghệthuật bán hàng
Bốn là, Chức năng yểm trợ : là chức năng kích thích, tác động và thúc đẩy tiêu
thụ.Chức năng yểm trợ bao gồm các hoạt động tổ chức, thực hiện, kiểm soát và đánh giácác chiến lược truyền thông thích hợp, chương trình kích thích tiêu thụ đảm bảo chấtlượng toàn diện
Hệ thống Maketing đựợc ứng dụng trong đa số các công ty truyền thông bao gồmmột vài chức năng có liên quan đến :
- Phát hiện và thực hiện các đơn đặt hàng, cung ứng sản phẩm mới
- Phát triển nhận thức về khả năng sinh lời và mở rộng thị trường của dòng sảnphẩm hiện có
- Quản lý mối quan hệ giữa khách hàng và công ty bao gồm các chiến lược và hoạtđộng đồng thời giữa các bộ phận khấch hàng, bán hàng, quảng cáo tín dụng vàthanh toán để đạt được các mục tiêu Marketing
- Phát triển và thực hiện các chiên lược đã được xây dựng để thực hiện các , mụctiêu định tính cụ thể có liên quan đến thị phần , các tính năng của sản
phẩm , khả năng sinh lợi hoặc xâm nhập thị trường
- Nhận thức vị thế cạnh tranh hiện tại của công ty và đưa ra các xu hướng tương lai,các định hướng và các mục trong tương lai dựa trên những sở phân tích
1.3 Marketing sản phẩm bảo hiểm du lịch quốc tế
1.3.1 Khái quát về bảo hiểm du lịch quốc tế
Bảo hiểm du lịch quốc tế là phương án bảo vệ sức khoẻ và tài chính của người
Trang 22mua và gia đình khi đi du lịch hoặc công tác ở nước ngoài Một số đặc điểm của gói bảohiểm du lịch đi quốc tế như sau:
Vùng 2 ASEAN: Brunei, Cam-pu-chia, Indonesia, Lào, Malaysia,
Myanmar, Philippines, Singapore và Thái Lan
Vùng 3 Châu Á - Thái Bình Dương: bao gồm các nước ở Vùng 2 và
các nước sau đây: Australia (Úc), Trung Quốc đại lục, đảo Guam, HongKong, Nhật Bản, Hàn Quốc, Macao, New Zealand, đảo Saipan, Đài Loan và đảo Tinian
Vùng 4 Toàn thế giới trừ Việt Nam
(Nguồn: Ban Bảo hiểm con người PTI)
Nếu một chuyến đi bao gồm nhiều hơn một vùng - khu vực rộng nhất sẽ được ápdụng để tính phí bảo hiểm (ví dụ, nếu chuyến đi đến hai địa điểm là Trung Quốc (Vùng3) và Mỹ (Vùng 4) sẽ tính phí bảo hiểm theo phí Vùng 4 - phạm vi toàn thế giới)
Giới hạn độ tuổi
Căn cứ theo giới hạn độ tuổi mà bảo hiểm DLQT được triển khai theo quy địnhnhư sau:
Bảng 1.2: Giới hạn độ tuổi
Người lớn Những người có độ tuổi từ 17-85
Trẻ em Những người có độ tuổi từ 6 tháng tuổi đến 16 tuổi
(Nguồn: Ban Bảo hiểm con người PTI)
Trẻ em có độ tuổi từ 11 trở xuống phải được một người được bảo hiểm là ngườilớn đi kèm và được bảo hiểm cùng với người đó
Trẻ em có độ tuổi từ 12 đến 16 đi du lịch một mình cũng sẽ được chấp nhận bảohiểm theo chương trình này chỉ khi tính phí bảo hiểm theo bảng phí chuẩn của người lớn.Với những trường hợp này, chỉ chi trả các quyền lợi cho chương trình trẻ em
Quyền lợi bảo hiểm (Xem phụ lục 1)
1.3.2 Nội dung cơ bản về Marketing sản phẩm bảo hiểm du lịch quốc tế -7P
Marketing Mix là một công cụ đắc lực trong việc xây dựng chiến lược marketing
Trang 23Cụ thể, Marketing Mix bao gồm:
Hình 1.1 Mô hình 7P trong marketing
Nguồn: Giáo trình Marketing Căn bản Nội dung marketing mix sản phẩm bảo hiểm (7Ps)
P1: Sản phẩm
Chính sách sản phẩm bảo hiểm DLQT bao gồm một hệ thống các chủ trương,đường lối và các giải pháp lớn, các quyết định quan trọng liên quan đến sản phẩm nângcao uy tín và khả năng tiêu thụ sản phẩm của bảo hiểm, tăng cường Khả năng cạnh tranh
và hiệu quả kinh doanh
Đổi mới sản phẩm là công việc có ý nghĩa cực kỳ quan trọng, quyết định sự tồntại và phát triển của các công ty bảo hiểm
Quá trình đổi mới sản phẩm bảo hiểm DLQT bao gồm nhiều giai đoạn, từ khônggian của thị trường, lập kế hoạch đổi mới, đến việc thiết kế sản phẩm, tiến hành thửnghiệm thị trường và tung sản phẩm mới vào thị trường
Sau khi tung sản phẩm mới ra thị trường, các công ty bảo hiểm cần theo dõi sựphát triển của sản phẩm mới thông qua mức độ chấp nhận và những phản ứng từ phíakhách hàng , Để có những giải pháp điều chỉnh và xử lý nhằm hoàn thiện sản phẩm
Các hoạt động nâng cao uy tín cho sản phẩm bảo hiểm:
Trong nền kinh tế thị trường, tạo lập và nâng cao uy tín trong kinh doanh là vấn
Trang 24đề sống còn của bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào, trong đó có các công ty bảo hiểm.
Uy tín của các công ty bảo hiểm trước hết phụ thuộc vào uy tín của sản phẩm bảo hiểm.Đây là vấn đề then chốt nhất để xác lập uy tín trong kinh doanh Xu hướng chung tronghoạt động này là phải tạo ra xung quanh sản phẩm bảo hiểm bầu tâm lý tích cực, thu hút
sự chú ý của khách hàng, đẩy mạnh tiêu thụ
Trên thị trường, sản phẩm bảo hiểm DLQT có lợi thế với khách hàng là một sảnphẩm có những đặc tính thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của họ Vì vậy, khi thiết kế sản phẩmbảo hiểm cần coi trọng hoạt động nghiên cứu thị trường và phân tích đánh giá nhu cầucủa các nhóm khách hàng ở các vùng thị trường khác nhau
Chất lượng của một sản phẩm bảo hiểm DLQT được quyết định bởi yếu tố cơ bảncần phải đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, Khả năng thích ứng của sản phẩm, hệ thống dịch vụ
hỗ trợ, ở đây ngoài việc quan tâm đến các đặc tính có khả năng thỏa mãn nhu cầu riêng,nhu cầu tiêu dùng cao nhất, các công ty bảo hiểm cần hết sức chú ý đến khả năng thíchứng của sản phẩm bảo hiểm DLQT
Một trong những yếu tố có ảnh hưởng rất mạnh mẽ đến việc tạm giữ uy tín chosản phẩm bảo hiểm DLQT là hệ thống dịch vụ bao quanh sản phẩm Hệ thống dịch vụnày bao gồm ba nhóm: dịch vụ trước, trong và sau bán hàng Các dịch vụ trước bán hàngtập trung vào các hoạt động tuyên truyền quảng cáo cho sản phẩm bảo hiểm DLQT, dịch
vụ tư vấn và hướng dẫn khách hàng lựa chọn sản phẩm cho phù hợp Dịch vụ trong bánhàng bao gồm các hoạt động của công ty đảm bảo những hỗ trợ cần thiết cho khách hàngtiếp cận và ký kết hợp đồng bảo hiểm Dịch vụ sau bán hàng là nhóm dịch vụ phong phúnhất của sản phẩm bảo hiểm DLQT, đồng thời là vũ khí cạnh tranh rất sắc bén trên thịtrường bảo hiểm hiện nay Dịch vụ sau bán hàng bao gồm các dịch vụ cung cấp thôngtin, dịch vụ chăm sóc khách hàng, dịch vụ thanh toán và chi trả, các dịch vụ hỗ trợ để đềphòng rủi ro cho khách hàng (dịch vụ cấp cứu, hỗ trợ an toàn giao thông
P2: Giá (phí bảo hiểm)
Phí của sản phẩm bảo hiểm DLQT chính là mức giá của sản phẩm bảo hiểm Đó
là lượng tiền mà khách hàng chi trả để đươc đảm bảo một mức bồi thường về mặt tài chính, được quy định cụ thể trong hợp đồng bảo hiểm Đặc điểm chung của phí bảo hiểmlà:
Trang 25Phí gắn liền với sản phẩm bảo hiểm DLQT theo kiểu chào giá thông qua việc đưa qua mẫu biểu phí cho khách hàng lựa chọn
Phí bảo hiểm thường là nhỏ hơn rất nhiều với mức độ tài chính mà công ty bảo hiểm bồi thường cho khách hàng
Phí bảo hiểm chịu sự điều tiết và quản lý vĩ mô của nhà nước
Giữa phí bảo hiểm DLQT và chi trả bồi thường của các công ty bảo hiểm có một ranh giới tương đối Khách hàng phải đóng phí khi tham gia bảo hiểm, xong họ có thể sẽ không nhận được chi trả bồi thường từ phía các công ty bảo hiểm nếu không xảy ra sự cốrủi ro Đồng thời, từ lúc mua đến lúc tiêu dùng sản phẩm bảo hiểm DLQT có thể là một khoảng thời gian rất dài
Chiến lược phí trong kinh doanh bảo hiểm có một vai trò rất quan trọng, đòi hỏi các công ty bảo hiểm phải đặc biệt quan tâm Trong chiến lược phí bảo hiểm có hai vấn
đề mẫu chốt là định ra các mức phí cho phù hợp và đưa ra những ứng xử vì phí linh hoạt,kích thích tiêu thụ, phù hợp với mục tiêu trong từng giai đoạn kinh doanh Có thể thấy rõvai trò chiến lược phí trong kinh doanh bảo hiểm trên những phương diện cơ bản sau đây:
- Chiến lược phí có ảnh hưởng trực tiếp đến lượng cầu về sản phẩm bảo hiểm,như vậy có ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển thị trường trong kinh doanh
- Chiến lược phí có ảnh hưởng đến thu nhập và lợi nhuận của công ty bảo
hiểm, đảm bảo thực hiện mục tiêu an toàn và phát triển bền vững
- Chiến lược vì có ảnh hưởng đến vòng đời của sản phẩm bảo hiểm
Ngày nay, chiến lược thì cũng là thứ vũ khí cạnh tranh rất sắc bén trên thị trường bảo hiểm, đặc biệt là những vùng thị trường có khả năng thanh toán thấp
Trong nền kinh tế thị trường, có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới phí bảo hiểm DLQT Nhìn một cách khái quát các yếu tố này được chia thành hai nhóm các yếu tố bêntrong và yếu tố bên ngoài
Các yếu tố bên ngoài:
Trang 26- Mục tiêu chính sách Các - Áp lực giá cạnh
- Tâm lý khách hàng
Hình 1.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến các quyết định chi phí
(Nguồn: Giáo trình Marketing Căn bản, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân 2003)
Trong quá trình cạnh tranh thị trường, chiến lược về phí sản phẩm bảo hiểm đượcxem là những ứng xử rất linh hoạt, mang tính nghệ thuật cao của các công ty bảo hiểm.Tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể của kinh doanh và thị trường những ứng xử nàycũng hoàn toàn khác nhau Nhìn chung khi định mức phí cho một sản phẩm bảo hiểmcác công ty có thể lựa chọn một trong ba loại chiến lược sau đây:
*Chiến lược định phí cao
Mục đích của chiến lược định vị cao là nhằm giúp cho công ty bảo hiểm thu hồivốn một cách nhanh chóng, gia tăng mức lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, tạo cơ sở để đổimới sản phẩm Mặt khác, trong một số trường hợp định mức phí cao còn tác động mạnh
mẽ đến tâm lý của khách hàng và kích thích tiêu thụ
Định phí cao thường được áp dụng thành công trong các trường hợp:
Sản phẩm mới có những đặc tính khác biệt với các sản phẩm hiện có trên thịtrường
Khách hàng mục tiêu của sản phẩm cũng có những đặc điểm và tâm lý tiêu dùngđặc biệt
Sản phẩm có sự hỗ trợ đắc lực của hệ thống phân phối các dịch vụ sản phẩm tháiquan hệ công chúng
Công ty bảo hiểm có khả năng đổi mới sản phẩm liên tục
*Chiến lược định phí thấp
Chiến lược định phí thấp hơn phí của sản phẩm bảo hiểm cùng loại được áp dụngkhi công ty bảo hiểm muốn nhanh chóng xâm nhập thị trường, tăng cường khả năng cạnh
Trang 27tranh hoặc sản phẩm đã bước vào giai đoạn bão hòa cần phải có giải pháp: kích cầu quađịnh phí thấp
Những điều kiện cơ bản khi sử dụng chiến lược định vị sản phẩm thấp là:
Tìêm năng tiêu thụ sản phẩm lớn, sản phẩm bảo hiểm thuộc loại có độ đàn hồicao
Khách hàng mục tiêu của sản phẩm bảo hiểm thuộc diện có thu nhập và khả năngthanh toán thấp
Chi phí kinh doanh giảm mạnh khi lượng sản phẩm tiêu thụ gia tăng
Các công ty bảo hiểm phải làm chủ được thị trường và có giải pháp hữu hiệu đểphòng sự trả đũa từ phía các đối thủ cạnh tranh
*Chiến lược tính phí ngang bằng
Loại chiến lược này được sử dụng phổ biến trên thị trường cạnh tranh, áp dụng tớivới các sản phẩm bảo hiểm khi ra đời đã có nhiều sản phẩm cùng loại xuất hiện trên thịtrường.Khi thực hiện chiến lược này, các công ty bảo hiểm cần chú ý tới những vấn đềsau đây: cần có những giải pháp tích cực để đảm bảo tiết kiệm các chi phí sản xuất kinhdoanh Điều đó không chỉ giúp các công ty đảm bảo được lợi ích của mình mà còn tránhtình trạng giảm thấp các tiêu chuẩn và điều kiện trong dịch vụ sản phẩm, dịch vụ kháchhàng
Để gia tăng khả năng cạnh tranh và thuyết phục khách hàng, các công ty bảo hiểmcần nhấn mạnh tới các yếu tố cạnh tranh Phi giá cả Đặc biệt là các dịch vụ chăm sóckhách hàng Khi định phí ngang bằng thị trường, các công ty bảo hiểm cần phải cónhững nỗ lực đẩy mạnh khối lượng sản phẩm bán ra Vì vậy, cần hết sức chú ý tới cácgiải pháp marketing nhằm kích thích tiêu thụ như: tuyên truyền, quảng cáo các hoạt độngkhuyến mại hỗ trợ khách hàng
P3 Xúc tiến - quảng bá
Xúc tiến quảng bá là hoạt động marketing đặc biệt, có chủ đích được định hướngvào việc chào hàng chiều khách và xác lập mối quan hệ thuận lợi nhất giữa các công tyvới các đối tác và tạo tập khách hàng tiềm năng trọng điểm nhầm triển khai các chươngtrình kinh doanh đã lựa chọn Bản chất của xúc tiến là quá trình giao tiếp để cung cấpthông tin và thuyết phục khách hàng trên thị trường mục tiêu bởi vậy cần biết sử dụng
Trang 28hợp lý công cụ giao tiếp và cung cấp thông tin phù hợp cho khách hàng Khi sử dụng cáccông cụ giao tiếp ta chú ý các nội dung cơ bản như sau quảng cáo, xúc tiến bán hàng,quan hệ công chúng và chào bán hàng cá nhân và marketing trực tiếp.
Quảng cáo bao gồm các hoạt động truyền tải thông tin về sản phẩm bảo hiểm, vềhình ảnh và cách thức kinh doanh của công ty bảo hiểm đến với khách hàng nhằm kíchthích khách hàng tiêu thụ sản phẩm, nâng cao uy tín của công ty và tăng cường khả năngcạnh tranh thị trường
Trong chiến lược marketing, quảng cáo là hoạt động quan trọng nhất Kĩ thuậtquảng cáo được xem là một trong những công cụ marketing đắc lực nhất của nhà kinhdoanh để thúc đẩy bán hàng Xét về mặt chi phí, chi phí cho quảng cáo của các công tychiếm tỷ lệ khá cao và là chi phí Maketing lớn nhất Vì vậy các công ty bảo hiểm cần cótrọng việc xây dựng, triển khai, kiểm soát và đánh giá đúng hiệu quả của các chươngtrình quảng cáo
Chương trình quảng cáo cần phải quán triệt ba chức năng cơ bản sau:
- Thu hút sự chú ý của khách hàng
- Thuyết phục khách hàng: đây là chức năng quan trọng nhất của chương trình quảng cáo Vì vậy khi quảng cáo cần hết sức coi trọng nội dung của các thông tin quảng cáo như lợi ích, sự hấp dẫn, tính cạnh tranh, tính dân tộc
- Hướng dẫn giáo dục tiêu dùng: chương trình quảng cáo cần định hướng cho sự phát triển tư duy và tâm lý tiêu dùng, hướng dẫn khách hàng lựa chọn sản phẩm bảo hiểm cho phù hợp
Xúc tiến bán hàng là hoạt động của công ty bảo hiểm được thực hiện trong mộtphạm vi không gian và thời gian nhất định nhằm thu hút sự chú ý của khách hàng và kíchthích tiêu thụ Các kĩ thuật xuất hiện tiền bán hàng rất đa dạng, phong phú và linh hoạt
Có thể giới thiệu một số kĩ thuật chủ yếu sau đây:
- Tài trợ các hoạt động xã hội (văn hóa, thể thao )
- Chế độ ưu đãi với khách hàng (giảm phí có thời hạn dịch vụ chăm sóc )
- Nghệ thuật bán hàng của nhân viên và đại lý
Trang 29Quan hệ công chúng bao gồm các hoạt động nhằm duy trì mối quan hệ giữa các công ty bảo hiểm với các tầng lớp công chúng được tổ chức một cách thường xuyên, có
hệ thống, nhằm tranh thủ sự ủng hộ của họ để nâng cao thanh thế và uy tín của công ty trên thị trường
Marketing trực tiếp được hiểu là hệ thống tương tác của hoạt động marketing sử dụng một hoặc nhiều phương tiện quảng cáo nhằm gây ảnh hưởng tới phản ứng của bất
cứ địa dư nào Mục đích của nó là thiết lập và mở rộng đối thoại giữa các nhà cung cấp dịch vụ với khách hàng, đưa ra những lợi ích tiềm tàng trong sản phẩm nhằm:
- Phân đoạn thị trường hiệu quả hơn
- Tránh được sự theo dõi của các đối thủ
Các công cụ của marketing trực tiếp trong dịch vụ bảo hiểm như: gửi thư trực tiếp, các loại tờ rơi, tờ gấp đính kèm mẫu hồ sơ gửi lên giới thiệu tới nhà, giải đáp qua điện thoại
P4: Phân phối
Đối với các công ty bảo hiểm, để thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm, mở rộng thị trường và tăng cường khả năng cạnh tranh, ngoài việc thiết kế ra những sản phẩm có khả năng thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng cao nhất, xác lập một chiến lược phí phù hợp và kích thích tiêu thụ, còn phải tổ chức tốt quá trình vận động và di chuyển của sản phẩm
Tổ chức phân phối sản phẩm hợp lý không chỉ đảm bảo cho quá trình tiêu thụ sản phẩm diễn ra suôn sẻ, mà còn đảm bảo sự an toàn trong kinh doanh cho các công ty bảo hiểm, tăng cường được khả năng liên kết hợp tác kinh doanh và giảm thiểu được khả năng cạnh tranh thị trường
Những mục tiêu cơ bản là chiến lược phân phối của các công ty bảo hiểm cần phải đạt được bao gồm:
Trang 30- Khối lượng sản phẩm cần phải tiêu thụ
- Thị phần của từng sản phẩm cần đạt được trong mỗi thời kỳ
- Chi phí sản xuất kinh doanh của công ty và hoa hồng dành cho các trung gian phân phối
- Số lượng và chất lượng của hệ thống đại lý, môi giới và điểm giao dịch
- Lợi nhuận cần đạt được cho các công ty và lợi nhuận cần san sẻ cho các trung gian phân phối
Trong kinh doanh bảo hiểm, để tiêu thụ sản phẩm của mình các công ty thường sửdụng hai loại kênh phân phối là: kênh phân phối trực tiếp và kênh phân phối gián tiếp
Kênh phân phối trực tiếp:
Đây là phương thức bán hàng trực tiếp của các công ty bảo hiểm Hiện nayphương thức bán hàng trực tiếp cũng được sử dụng rất đa dạng và phong phú như bạn tạivăn phòng công ty, bán tại các văn phòng đại diện, bạn qua bưu điện, bán qua mạng vitính Vo'i kênh phân phối trực tiếp còn giúp cho các công ty bảo hiểm giám sát được cácchi phí trong khai thác và tiêu thụ sản phẩm, tăng cường khả năng cạnh tranh thị trường
Tuy nhiên, kinh phân phối trực tiếp là làm gia tăng đáng kể số lượng nhân viên vàvăn phòng đại diện của các công ty Đồng thời, cách thức bán hàng này không tạo ra sứchấp dẫn voi khách hàng, so voi việc sử dụng đại lý khả năng cạnh tranh về dịch vụ kháchhàng của công ty bảo hiểm thấp Kênh phân phối trực tiếp không cho phép các công tythực hiện mục tiêu mở rộng và phát triển thị trường cũng như tốc độ tiêu thụ sản phẩm ởmức độ cao nhất ( Đặc biệt đối voi những sản phẩm đặc thù trong hoạt động kinh doanhbảo hiểm)
Kênh phân phối gián tiếp:
Là hình thức bán hàng có hệ thống đại lý của mình Cách thức phân phối này đảmbảo sự phân phối các sản phẩm bảo hiểm một cách rộng rãi trên thị trường, sức đẩy trongquá trình tiêu thụ sản phẩm mạnh mẽ hơn Mặt khác, đây cũng là cách bán hàng trở nênhấp dẫn hơn bán hàng tại công ty Thông qua sự hoạt động tích cực của các đại lý, cáccông ty bảo hiểm không chỉ làm tốt hơn các dịch vụ chăm sóc khách hàng, mà còn thựchiện được mục tiêu phát triển và mở rộng thị trường của mình
P5: Con người (People)
Thành phần con người trong Marketing - Mix chính là tất cả đối tượng con người
Trang 31tham gia vào quá trình cung ứng và sử dụng dịch vụ, cụ thể bao gồm: nhân viên củadoanh nghiệp, khách hàng sử dụng dịch vụ và các khách hàng khác.
- Đội ngũ nhân viên: họ là đại diện của doanh nghiệp trong việc cung ứng dịch vụđến khách hàng bằng trao đổi, tư vấn, cung ứng giải pháp cho khách hàng và đồng hànhcùng họ trong việc đưa ra quyết định cuối cùng Vì vậy các yếu tố như: cách thức tuyểndụng, chương trình đào tạo, huấn luyện, chính sách thưởng - phạt của công ty sẽ ảnhhưởng đáng kể đến khách hàng trong cách cảm nhận dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp
- Khách hàng: những người sử dụng dịch vụ với sự khác biệt về cảm nhận, trình độ
sẽ có những phản ứng khác nhau với dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp Ngoài ra bảnthân khách hàng cũng có những tương tác với các khách hàng khác trong môi trườngdịch vụ nên điều này cũng tác động đến sự cảm nhận của họ về chất lượng dịch vụ Do
đó, doanh nghiệp cần chú trọng đến việc cung cấp thông tin, tư vấn, hướng dẫn và thái
độ phục vụ khách hàng để tối đa hóa mức độ thỏa mãn của khách hàng khi sử dụng dịch
vụ của doanh nghiệp
Những cái nhìn đầu tiên mà khách hàng có về công ty có thể hình thành từ sự tươngtác của những nhân viên của công ty với khách hàng Bên cạnh đó với các sản phẩm dịch
vụ, nhân viên công ty là người trực tiếp cung cấp giải pháp cho khách hàng để họ đưa raquyết định mua hàng của doanh nghiệp nên việc đầu tư vào yếu tố đào tạo nhân viên kháquan trọng Cụ thể: tuyển đúng ngqời, đào tạo tay nghề, hỗ trợ khi cần thiết và giữ lạinhân viên tốt
- Tuyển đúng người: dựa trên đặc tính công việc, nguồn lao động trên thị trườngnhư bằng cấp hoặc kỹ năng, kinh nghiệm của ứng viên để tạo một chiến lqợc tiếpthị thu hút lao động giỏi Bên cạnh đó cần xây dựng một hình ảnh tốt về công ty
để thu hút lao động chất lượng tìm đến
- Đào tạo tay nghề: khi đã tuyển được đúng người, công ty nên có chương trình đàotạo với các nhân viên để đảm bảo có một đội ngũ lao động lành nghề
- Hỗ trợ khi cần thiết: việc cung cấp các hỗ trợ trong nội bộ doanh nghiệp tạo điềukiện cho nhân viên chăm sóc khách hàng tốt hơn Các hệ thống bao gồm: quytrình nội bộ hướng đến dịch vụ, hệ thống đo lường chất lượng, các thiết bị hỗ trợ
kỹ thuật
Trang 32- Giữ lại nhân viên tốt: sau khi tuyển đqợc nhân viên giỏi, đào tạo và hỗ trợ họ trongcông việc, doanh nghiệp cần có chính sách để khuyến khích họ ở lại, cam kết vàgắn bó với doanh nghiệp.
P6: Yếu tố hữu hình (Physical evidence)
Yếu tố hữu hình trong Marketing - Mix là môi trường nơi mà khách hàng trảinghiệm dịch vụ của doanh nghiệp Nó bao gồm các yếu tố: cách thiết kế phòng ốc, trangthiết bị, hệ thống cửa hàng, bãi đỗ xe Các yếu tố này góp phần tạo nên tính đặc trưng
và sự chuyên nghiệp của dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp và trên hết là thỏa mãn đượcmong muốn và độ hài lòng của khách hàng
Các yếu tố hữu hình để đánh giá mức độ hài lòng với sản phẩm mà họ sử dụng Vàđặc biệt trong thời đại Internet như hiện nay yếu tố website của doanh nghiệp cũng phầnnào phản ánh mức độ quy mô của doanh đó trong tâm trí khách hàng Cụ thể nó ảnhhưởng đến mức độ thỏa mãn của khách hàng của dịch vụ, mức độ cam kết, gắn bó trongviệc sử dụng sản phẩm Vì thế các nhà marketing của công ty cần chú ý đến các yếu tốhữu hình này bao gồm:
- Nhận biết được mức độ ảnh hưởng của các yếu tố hữu hình: doanh nghiệp cần đolường một cách chính xác mức độ đóng góp của các yếu tố hữu hình trong sự trải nghiệmcủa khách hàng để lên kế hoạch thiết kế các yếu tố hữu hình này một cách hợp lý
- Thiết kế chi tiết yếu tố hữu hình: mỗi nhân viên trong tổ chức cần nhận thức đqợc
sự ảnh hưởng của các yếu tố hữu hình này và có những phản hồi từ khách hàng để công
ty có thể bố trí các yếu tố này thích hợp
- Cập nhật yếu tố hữu hình ngày càng hiện đại hóa: khi công nghệ ngày càng cậpnhật và đổi mới thì các yếu tố hữu hình nên được thay đổi để phù hợp với nhu cầuthực tế nhqng vẫn đảm bảo tuân theo chiến lược và kế hoạch chung của công ty
P7: Quy trình (Process)
Quy trình là dòng hoạt động bao gồm các bqớc cung ứng dịch vụ mà khách hàng có thể trải nghiệm Do đó, quy trình trở thành cơ sở để khách hàng đánh giá quá trình cung ứng dịch vụ của doanh nghiệp có chuyên nghiệp và đáp ứng đqợc nhu cầu của họ không.Tùy theo tính chất của loại hình dịch vụ mà doanh nghiệp cung cấp mà tính chất của quy trình có thể thay đổi theo từ đơn giản đến phức tạp, từ tiêu chuẩn hóa 30 đến điều
Trang 33chỉnh Do đó, cách cảm nhận của khách hàng về sản phẩm phụ thuộc vào các yếu tố sautrong quy trình:
- Tính chất quy trình: quy trình đqợc thực hiện theo tiêu chuẩn hóa chung hay có sự tùy chỉnh theo đối tqợng khách hàng
- Số bước trong quy trình: ít bước (đơn giản), nhiều bước (phức tạp)
- Phạm độ liên quan đến quy trình của khách hàng
Đề cập đến cách thức mà doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho khách hàng Tùy theo loại hình dịch vụ mà tính chất quy trình có thể đơn giản hoặc phức tạp Tuy nhiên để cung ứng một dịch vụ tốt cho khách hàng doanh nghiệp cần lưu ý đến các điểm sau trongquy trình phục vụ:
- Đồng nhất về chất lượng dịch vụ: cần đảm bảo sự đồng nhất về chất lượng dịch vụ giữa các cơ sở, địa điểm phân phối khác nhau đối với cùng một gói dịch vụ cung cấp giúp xây dựng niềm tin và gia tăng sự gắn bó với khách hàng
- Điều chỉnh linh hoạt: bên cạnh áp dụng những tiêu chuẩn dịch vụ chung cho đại đa
số khách hàng thì nên điều chỉnh linh hoạt trong việc phục vụ những đối tượng khách hàng cao cấp nếu họ có yêu cầu
1.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động marketing của doanh nghiệp
1.3.3.1 Các yếu tố bên ngoài
❖ Môi trường vĩ mô
Yếu tố kinh tế
Các yếu tố kinh tế chủ yếu gồm: tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP), tăng trưởngCPI, tình trạng lạm phát, thất nghiệp, lãi suất ngân hàng, tốc độ đầu tư, Một nền kinh tếtăng trưởng, GDP cao, thu nhập quốc dân tăng lên, mức sống của người dân được nânglên thì họ muốn tiêu dùng những hàng hóa chất lượng tốt hơn, kiểu dáng, mẫu mã đẹphơn và chấp nhận thanh toán với giá cao hơn và ngược lại
Do đó nhà quản trị Marketing phải xem xét tác động của tất cả các yếu tố này khilàm các quyết định từ chiến lược đến các biện pháp marketing cụ thể Sự thay đổi củacác yếu tố này ảnh hưởng đến hoạt động của tất cả các doanh nghiệp
Yếu tố chính trị - pháp luật
Bao gồm các quy định về pháp luật mà các yếu tố này tác động lên kết quả kinh
Trang 34doanh của các doanh nghiệp như: Luật doanh nghiệp, chính sách, các công cụ điều tiếtkinh tế của chính phủ Các yếu tố này có thể tạo ra cơ hội hay nguy cơ cho các doanhnghiệp.
Các quy định về pháp luật, đường lối chính sách của chính phủ; hệ thống quản lýhành chính; hoạt động của các tổ chức bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng; có thể cảntrở hoặc tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động marketing hoặc tạo ra cơ hội hay nguy
cơ cho các doanh nghiệp
Yếu tố xã hội
Môi trường văn hóa có ảnh hưởng lớn đến hoạt động marketing của doanh nghiệpbao gồm: Thể chế xã hội, giá trị xã hội, lối sống, nghề nghiệp, dân số, tôn giáo, quanniệm về đạo đức, phong tục tập quán, Các yếu tố văn hóa xã hội chi phối hành vi tiêudùng và hành vi kinh doanh
Yếu tố tự nhiên
Các vấn đề chủ yếu cần nghiên cứu về môi trường tự nhiên phục vụ chomarketing: Xu hướng bảo vệ môi trường; Sự thiếu hụt nguồn nguyên liệu; Sự gia tăngchi phí năng lượng; Các quy định của chính phủ về vệ sinh công nghiệp
Yếu tố tự nhiên có ảnh hưởng đến nguồn lực đầu vào cần thiết cho hoạt động củadoanh nghiệp Các yếu tố này vừa là cơ hội để doanh nghiệp khai thác vừa là nguy cơ màdoanh nghiệp phải tìm cách đối phó và thích nghi
Yếu tố công nghệ
Yếu tố khoa học công nghệ tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanhnghiệp Vừa là cơ hội để doanh nghiệp ứng dụng và nâng cao chất lượng sản phẩm, tăngnăng suất vừa là nguy cơ khi mà yêu cầu của khách hàng về sản phẩm ngày khắt khe.Các doanh nghiệp cần phải chú ý đầu tư nghiên cứu để phát triển sản phẩm mới, ứngdụng những công nghệ mới vào sản xuất Nhờ đó, doanh nghiệp có được những sảnphẩm mới thay thế và sức cạnh tranh mới về giá bán
Đối thủ cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh là yếu tố tác động trực tiếp khả năng cạnh tranh của sản phẩmdoanh nghiệp, cạnh tranh trên thị trường là tất yếu khách quan, động lực để phát triển
Trang 35Để phát triển được chiến lược và kế hoạch marketing hiệu quả, doanh nghiệp phảinghiên cứu các đối thủ cạnh tranh như một căn cứ trực tiếp Để tạo được một chiến lượccạnh tranh tốt các doanh nghiệp buộc phải bỏ ra khá nhiều chi phí cho các hoạt động:Phân tích môi trường, phân tích đối thủ cạnh tranh, chiến lược quảng cáo, khuyến mãi, Doanh nghiệp cần xác định rõ mình phải cạnh tranh với những đối thủ nào? Từ đó, nhậndạng chính xác và nắm bắt được chiến lược, mục tiêu phát triển, nguồn lực của đối thủcạnh tranh trực tiếp.
Khách hàng
Khách hàng là đối tượng mà doanh nghiệp phục vụ và là yếu tố quyết định sựthành công hay thất bại của doanh nghiệp Bởi vì khách hàng tạo ra sản phẩm và thịtrường Quy mô khách hàng sẽ ảnh hưởng đến nguồn hàng của nhà cung cấp
Khách hàng là người tiêu dùng: các cá nhân, hộ gia đình có nhu cầu mua hànghóa phục vụ cho mục đích tiêu dùng
Khách hàng là các nhà bán buôn, bán lẻ: các tổ chức, cá nhân mua hàng hóa chomục đích bán lại để kiếm lời
Trang 36làm việc với nhiều nhà cung cấp khác nhau, để tránh tình trạng bị nhà cung cấp gây áplực và lợi cho mình.
Trung gian Marketing
Trung gian marketing là các tổ chức kinh doanh độc lập tham gia hỗ trợ cho doanhnghiệp trong các khâu khác nhau trong chuỗi giá trị của doanh nghiệp Các trung giannày rất quan trọng Do vậy doanh nghiệp phải biết lựa chọn các trung gian phù hợp vàxây dựng mối quan hệ lâu dài với họ
1.3.3.2 Các yếu tố bên trong
Mọi tổ chức đều có những điểm mạnh và yếu trong các lĩnh vực kinh doanh.Những điểm mạnh và điểm yếu bên trong cùng với những cơ hội và nguy cơ bên ngoài lànhững điểm cơ bản cần quan tâm khi thiết lập các mục tiêu và chiến lược Do đó, việcphân tích môi trường nội bộ (môi trường bên trong) là vô cùng cần thiết đối với Công ty.Qua phân tích sẽ giúp xác định rõ các ưu điểm và nhược điểm của mình Từ đó đưa racác biện pháp nhằm giảm bớt nhược điểm và phát huy ưu điểm để đạt được lợi thế tối đa.Đây cũng là cơ sở để Công ty đề ra được những chiến lược tối ưu để tận dụng cơ hội vàđối phó với những nguy cơ từ bên ngoài Môi trường bên trong bao gồm các nguồn lực
về nhân lực, tài chính, sản xuất, nghiên cứu và phát triển, hệ thống thông tin, marketing của Công ty
Nguồn nhân lực
Nhân lực được hiểu là tất cả những người tham gia vào hoạt động sản xuất kinhdoanh của doanh nghiệp mà bất kể họ làm việc gì, ở cương vị nào Con người là yếu tốđầu vào vô cùng quan trọng quyết định sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp.Nguồn lực con người được chia thành các cấp: các quản trị viên cấp cao, quản trị viêncấp trung và đội ngũ công nhân viên Để giúp doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinhdoanh có hiệu quả lâu dài thì các quản trị viên cấp cao phải là những người có kinhnghiệm công tác, phong cách quản lý, khả năng ra quyết định, khả năng xây dựng e-kipquản lý, am hiểu về lĩnh vực kinh doanh, nhanh nhạy trong các hợp đồng kinh tế và hay
có những ý tưởng chiến lược sáng tạo
Các nhà quản trị viên là người đứng đầu doanh nghiệp nếu có tầm nhìn xa, xác
Trang 37định đúng hướng đi cho doanh nghiệp về sản phẩm khi đưa ra thị trường, lựa chọn cácchiến lược và giải pháp marketing phù hợp với từng đoạn thị trường thì chắc chắn doanhnghiệp sẽ thắng được đối thủ Bên cạnh đó số lượng và chất lượng đội ngũ công nhânviên cũng góp phần tạo nên khả năng cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Việc phân tích và đánh giá nguồn nhân lực của doanh nghiệp cần tập trung vào:
số lượng, trình độ tay nghề, kỹ năng chuyên môn, ý thức trách nhiệm, kỷ luật lao động,đạo đức nghề nghiệp, vì các yếu tố này chi phối việc nâng cao chất lượng sản phẩm, hạgiá thành cũng như tạo thêm tính ưu việt độc đáo mới của sản phẩm
Sản xuất
Hoạt động sản xuất bao gồm các hoạt động biến đổi tất cả các yếu tố đầu vàothành yếu tố đầu ra Quá trình quản trị sản xuất bao gồm: quy trình, công suất, hàng tồnkho, lực lượng lao động, chất lượng sản phẩm Những điểm mạnh và điểm yếu của hoạtđộng sản xuất đồng nghĩa với sự thành công hay thất bại của tổ chức
Nghiên cứu và phát triển
Để nghiên cứu môi trường bên trong của một doanh nghiệp thì hoạt động nghiêncứu và phát triển (R&D) được xem là hoạt động khá quan trọng Vì môi trường kinhdoanh ngày càng cạnh tranh khốc liệt thì việc liên tục tạo ra những sản phẩm và dịch vụmới là một lợi thế cạnh tranh hết sức cần thiết và là yếu tố sống còn của mọi tổ chức.Hoạt động nghiên cứu và phát triển nhằm phát triển sản phẩm mới trước đối thủ cạnhtranh, nâng cao chất lượng sản phẩm, kiểm soát tốt giá thành hay cải tiến quy trình sảnxuất để giảm chi phí Chất lượng của các nỗ lực nghiên cứu phát triển có thể giúp Công
ty giữ vững đi đầu hoặc làm tụt hậu so với các đối thủ trong ngành
Trang 38Để đánh giá mặt mạnh, mặt yếu của hoạt động này người ta thường dựa vào chi phí dành cho chúng Có bốn phương pháp thường được sử dụng để xác định chi phí nghiên cứu và phát triển:
- Đầu tư cho càng nhiều dự án càng tốt;
- Sử dụng phương pháp tính theo phần trăm doanh số bán hàng;
- So sánh với chi phí nghiên cứu và phát triển của đối thủ cạnh tranh;
- Xác định xem sản phẩm mới thành công như thế nào và sau đó tính ngược trở lại
để xác định nhu cầu đầu tư cho nghiên cứu và phát triển
Hệ thống thông tin
Thông tin có vai trò quan trọng trong mọi tổ chức, là cầu nối gắn kết giữa các bộphận vì nó tiếp cận dữ liệu thô từ cả môi trường bên ngoài và bên trong của tổ chức.Giúp theo dõi các thay đổi của môi trường, nhận ra những mối đe dọa trong cạnh tranh
và hỗ trợ cho việc thực hiện, đánh giá và kiểm soát chiến lược Với việc tin học hóa đãgóp phần làm cho hệ thống thông tin được truyền đạt một cách nhanh chóng và thôngsuốt Ngày nay phần lớn các tập đoàn, các doanh nghiệp đều có bộ phận chuyên tráchquản lý hệ thống mạng tin học kết nối giữa các bộ phận
Ngoài ra hệ thống thông tin hiệu quả cho phép doanh nghiệp có khả năng đặc biệt trong các lĩnh vực khác như: chi phí thấp, dịch vụ làm hài lòng người tiêu dùng
Trang 39Tiểu kết chương 1
Trong chương 1, Tác giả đã trình bày lý luận từ những nghiên cứu trong vàngoài nước đề cập tới Marketing, vẫn còn những hạn chế và khoảng trống nghiên cứuđối với Marketing cho các công ty bảo hiểm nói chung và PTI nói riêng Tác giả đã trìnhbày các vấn đề cơ bản về lý thuyết marketing như khái niệm, vai trò, đặc điểmmarketing, đặc biệt là Marketing Mix Đây là cơ sở mang tính lý luận sẽ được tác giảứng dụng để phân tích thực trạng hoạt động Marketing cho sảm phẩm bảo hiểm du lịchtại PTI sẽ được tác giả trình bày trong chương 3
Trang 40CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Quy trình nghiên cứu
Quy trình nghiên cứu được tác giả tự thực hiện trong luận văn này như sau:
Hình 2.1 Quy trình nghiên cứu
(Nguồn: Tác giả xây dựng) Bước 1: Xác định vấn đề và hình thành mục tiêu nghiên cứu (Problem
identification)
Xác định nhiệm vụ nghiên cứu, mục tiêu và mục đích nghiên cứu, các vấn đề cụ thể cần nghiên cứu hoặc các câu hỏi nghiên cứu cần được trả lời, đối tượng khảo sát và phạm vi nghiên cứu
Bước 2: Xây dựng cơ sở lý luận (Review the literature)
Dựa trên các lý thuyết, các công trình nghiên cứu đã có, các nguồn thông tin, tư liệu để xây dựng cơ sở lý luận về vấn đề Đây là chổ dựa về mặt lý luận của công trình nghiên cứu
Bước 3: Thu thập dữ liệu (Data collection)
Thu thập các thông tin định tính theo các phương án đã chọn
Bước 4: Xử lý dữ liệu và phân tích (Data analysis and interpretation)
Từ các thông tin thu thập được, sử dụng các công cụ thống kê để xử lý và phân