Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh” làm luận văn cao học nhằm góp phần giảm bớt những nguy
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-HOÀNG CÔNG QUANG
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
KHO BẠC NHÀ NƯỚC BẮC NINH
LUẬN VĂN THẠC SỸ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
Hà Nội - 2020
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-HOÀNG CÔNG QUANG
HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI
KHO BẠC NHÀ NƯỚC BẮC NINH
Chuyên ngành: Tài chính - Ngân hàng
Trang 3Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sốliệu, kết luận nghiên cứu trình bày trong luận văn này là trung thực và chính xác.Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình!
Hà Nội, tháng năm 2021
rp / _ *21 _
Tác giả luận văn
Trang 4MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC BẢNG ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài 4
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 4
1.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 5
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu 6
1.2 Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ 7
1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ 7
1.2.2 Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) 8
1.2.3 Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ 19
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 32
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 33
2.1 Thiết kế nghiên cứu 33
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu 33
2.1.2 Xây dựng thang đo và thiết kế bảng câu hỏi 36
2.2 Thực hiện nghiên cứu định lượng 38
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 40
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC BẮC NINH 41
3.1 Sự hình thành và phát triển của Kho bạc nhà nước và Kho bạc nhà nước Bắc Ninh 41
3.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Kho bạc Nhà nước 41
3.1.2 Lịch sử hình thành và phát triển của Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh 42
3.2 Khảo sát thực nghiệm và đánh giá hệ thống kiểm soát nội bộ tại kho bạc nhà nước Bắc Ninh 46
3.2.1 Nhân tố môi trường kiểm soát 46
3.2.2 Nhân tố đánh giá rủi ro 51
3.2.3 Nhân tố hoạt động kiểm soát 57
3.2.4 Nhân tố hoạt động thông tin truyền thông 61
3.2.5 Nhân tố hoạt động giám sát 64 3.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA ảnh hưởng đến hoạt động kiểm soát nội bộ tại
Trang 5kho bạc nhà nước Bắc Ninh 66
3.4 Phân tích mô hình hồi quy tuyến tính đa biến 71
3.4.1 Mô tả các nhân tố đo lường 71
3.4.2 Phân tích tương quan hệ số Pearson 71
3.4.3 Phân tích hồi quy đa biến 73
3.4.4 Kiểm tra các giả định của mô hình hồi quy 76
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ TẠI KHO BẠC NHÀ NƯỚC BẮC NINH 79
4.1 Quan điểm và mục tiêu hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh 79
4.1.1 Quan điểm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh 79
4.1.2 Mục tiêu hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh 80
4.2 Một số giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh 80 4.2.1 Hoàn thiện nhân tố giám sát 81
4.2.2 Hoàn thiện nhân tố môi trường kiểm soát 82
4.2.3 Hoàn thiện nhân tố Thông tin và truyền thông 84
4.2.4 Hoàn thiện yếu tố kiểm soát 86
4.2.5 Hoàn thiện nhân tố Đánh giá rủi ro 86
TÓM TẮT CHƯƠNG 4 89
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91 PHỤ LỤC
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
ASB Ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Hoa kỳ
COSO Ủy ban Chống gian lận khi lập Báo cáo tài chính
thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ
HTKSNB Hệ thống kiểm soát nội bộ
Trang 7DANH MỤC BẢNG
1 Bảng 2.1 Tình hình thu thập dữ liệu nghiên cứu định lượng 392
Bảng 3.1 Hệ số KMO và kiểm định Barlett các thành phần
3 Bảng 3.2 Bảng phương sai trích lần thứ nhất 684
Bảng 3.3 Hệ số KMO và kiểm định Barlett các thành phần
5 Bảng 3.4 Bảng phương sai trích lần thứ nhất 69
7 Bảng 3.6 Bảng thống kê Hệ số tương quan Pearson 72
8 Bảng 3.7 Bảng đánh giá độ phù hợp của mô hình 73
9 Bảng 3.8 Bảng đánh giá độ phù hợp của mô hình 7410
Bảng 3.9 Thông số thống kê trong mô hình hồi qui bằng
11 Bảng 4.1 Bảng xắp sếp thứ tự quan trọng theo hệ số Beta của các nhân tố 80
2
Trang 8DANH MỤC SƠ ĐỒ HÌNH VẼ
1 Hình 1.1 Năm yếu tố cấu thành hệ thống KSNB 21
2 Hình 1.2 Mô hình lý thuyết về đánh giá HTKSNB 30
Trang 9PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB) đóng vai trò to lớn trong việc giảm bớtnguy cơ rủi ro tiềm ẩn trong quản lý quỹ ngân sách, bảo vệ tài sản khỏi bị hư hỏng,mất mát, hao hụt, gian lận, lừa gạt, trộm cắp Bên cạnh đó, HTKSNB đảm bảo mọiCBCC tuân thủ nội quy, quy chế của ngành cũng như các quy định của pháp luậtnhằm hoàn thành nhiệm vụ chính trị được giao
Đã có rất nhiều nghiên cứu về HTKSNB trong các doanh nghiệp, công ty, tuynhiên tại các đơn vị sử dụng ngân sách nhà nước vấn đề này chưa được nghiên cứuhoặc chỉ nghiên cứu một hoặc một vài bộ phận trong hệ thống
Kho bạc Nhà nước là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính, thực hiện chức năngtham mưu, giúp Bộ trưởng Bộ Tài chính quản lý nhà nước về quỹ ngân sách nhànước, các quỹ tài chính nhà nước và các quỹ khác của Nhà nước được giao quản lý;quản lý ngân quỹ; tổng kế toán nhà nước; thực hiện việc huy động vốn cho ngânsách nhà nước và cho đầu tư phát triển thông qua hình thức phát hành trái phiếuChính phủ theo quy định của pháp luật Chính vì vậy, việc KSNB tại Kho bạc Nhànước nói chung và Kho bạc Nhà nước Bắc Ninh nói riêng là vô cùng quan trọng.Tuy nhiên, qua quá trình nghiên cứu, tìm hiểu, em nhận thấy việc KSNB tại Kho bạcNhà nước Bắc Ninh còn nhiều bất cập, còn để nhiều sai sót, gian lận xảy ra trong quátrình hoạt động của Kho bạc
Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề trên, tôi chọn đề tài “Hoàn thiện
hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh” làm luận văn cao học
nhằm góp phần giảm bớt những nguy cơ, rủi ro thất thoát trong công tác quản lý nhànước về quỹ Ngân sách nhà nước, các quỹ Tài chính nhà nước và các quỹ khác củanhà nước được giao quản lý Đồng thời nâng cao chất lượng công tác kiểm tra,KSNB hệ thống trên các lĩnh vực hoạt động nghiệp vụ và quản lý nội bộ; phục vụcho công tác kiểm tra, kiểm soát để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh và ngăn ngừa cácsai phạm đảm bảo ổn định hệ thống KBNN nói chung và Kho bạc nhà nước BắcNinh nói riêng
1
Trang 102 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiệnHTKSNB tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, đề tài cần tập trung giải quyết các nhiệm
vụ sau:
- Hệ thống hóa lý luận HTKSNB trong lĩnh vực tài chính công.
- Phân tích, đánh giá thực trạng HTKSNB tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh.
- Đưa ra những tồn tại và giải pháp góp phần hoàn thiện HTKSNB tại Kho bạc
nhà nước Bắc Ninh
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng hoạt động của HTKSNB tại Kho bạc nhà nước BắcNinh
- Thời gian thực hiện nghiên cứu: Dữ liệu thứ cấp được thu thập trong giaiđoạn từ 2016-2018; Dữ liệu sơ cấp được thu thập trong tháng 9/2020
- Nội dung nghiên cứu: Khảo sát các yếu tố của hệ thống KSNB tại Kho bạcnhà nước Bắc Ninh Tiếp cận HTKSNB theo 5 bộ phận cấu thành chứ không theotừng chu trình nghiệp vụ nên HTKSNB được thể hiện dưới góc nhìn chung nhất
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Dữ liệu dùng cho nghiên cứu
Nghiên cứu này sử dụng nhiều nguồn dữ liệu, gồm:
Dữ liệu thứ cấp: Luật ngân sách, các quyết định, các thông tư, các công văn,các báo cáo, các kế hoạch của Bộ Tài Chính (BTC) các phòng, ban tại Kho bạc
Dữ liệu sơ cấp: các bảng điều tra khảo sát, thu thập từ các chuyên gia để thựchiện nghiên cứu định lượng
4.2 Phương pháp nghiên cứu
Dựa trên các tài liệu đã nghiên cứu của các chuyên gia và kế thừa các nghiêncứu khảo sát về HTKSNB để rút ra các nhân tố cơ bản Từ đó xây dựng bảng câu hỏikhảo sát và chọn mẫu
Thực hiện phỏng vấn nhóm chuyên gia, bao gồm 30 CBNV đang làm việc tạiKho bạc nhà nước Bắc Ninh
2
Trang 11Sau khi nghiên cứu định tính, tác giả tiến hành nghiên cứu định lượng là dùngphương pháp thống kê mô tả, tổng hợp bảng câu hỏi khảo sát để nghiên cứu vềnhững quan điểm nhận thức của CBCC ở các kho bạc nhà nước (KBNN) để đưa rakết luận cần thiết.
Bảng câu hỏi được thiết kế dựa trên thang đo Likert 5 mức độ nhằm đánh giámức độ quan trọng của các nhân tố ảnh hưởng đến “HTKSNB”
5 Đóng góp của luận văn
Đề tài xác định được ý nghĩa quan trọng trong công tác kiểm tra kiểm soátthông qua việc phân tích những cơ sở lý luận về HTKSNB, những mặt hạn chế, cácnhân tố ảnh hưởng, các thủ tục và trình tự KSNB tại các Kho bạc
Đề tài nêu được thực tế những mặt đã đạt được, những vấn đề còn tồn tại củacông tác KSNB tại các đơn vị Kho bạc nhà nước, từ đó đề xuất những giải phápnhằm giảm thiểu những sai sót, gian lận để góp phần vào sự phát triển trong tươnglai của KBNN Bắc Ninh
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được chia thành 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về HTKSNB.Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng và kết quả nghiên cứu hệ thống KSNB tại các Kho bạc.Chương 4: Các giải pháp hoàn thiện hệ thống KSNB tại các Kho bạc
3
Trang 12CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ
LUẬN VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
1.1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, giai đoạn từ năm 1980 đến 1988, các cơ quan của Hoa Kỳ đãban hành một loạt hướng dẫn có liên quan đến KSNB Năm 1985, Ủy ban Quốc giaPhòng chống gian lận trong BCTC đã ban hành thêm nhiều quy tắc đạo đức và làm
rõ chức năng của KSNB Đến năm 1988, ủy ban Chuẩn mực Kiểm toán Hoa kỳ(ASB) đã ban hành thêm Bản điều chỉnh về Chuẩn mực kiểm toán về đánh giáHTKSNB Tuy nhiên, các văn bản trên có nhiều điểm chưa thực sự đồng nhất Vìvậy đặt ra yêu cầu phải thống nhất giữa các tổ chức kể trên với nhau, để ban hành cácvăn bản pháp lý hướng dẫn có tính khoa học có tính hiệu lực, mang tính chuẩn mực
về KSNB
Năm 1992, tại Hoa Kỳ, Uỷ ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việcchống gian lận về BCTC đã cho ra đời báo cáo COSO đầu tiên về HTKSNB đã tạonên một khởi đầu và tiếng nói chung cho các doanh nghiệp và tổ chức Tháng 5 năm
2013 Ủy ban COSO đã ban hành chính thức bản cập nhập Báo cáo COSO 1992 tuynhiên định nghĩa KSNB và 5 bộ phận hợp thành theo báo cáo COSO 1992 vẫn giữnguyên Năm 2002, Chính phủ Hoa Kỳ ban hành Luật SARBANES- OXLEY theo
đó quy định triển khai HTKSNB cho tất cả các công ty niêm yết trên sàn giao dịchchứng khoán, làm mở màn cho giai đoạn phát triển HTKSNB tại quốc gia này và lantruyền trên thế giới Báo cáo COSO gồm 5 thành phần: Môi trường kiểm soát, đánhgiá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, hệ thống thông tin và truyền thông, và các hoạtđộng giám sát
Từ nền tảng lý luận cơ bản trên, đã có nhiều công trình nghiên cứu về KSNBđược mở rộng và phát triển trên nhiều lĩnh vực Học viện KSNB ICI ra đời tại Hoa
Kỳ đã chi tiết các công cụ phương pháp nhằm hoàn chỉnh hệ thống KSNB
Năm 2012, viện FMIT đã chính thức hợp tác với viện KSNB ICI là đối tác độcquyền khai thác hệ thống KSNB tại Việt Nam
Trang 131.1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Đề tài “Hệ thống KSNB tại KBNN Quận 10- TP HCM - thực trạng và giải
pháp hoàn thiện, năm 2005, của thạc sĩ Nguyễn Thanh Huyền” Luận văn đã nêu lên
thực trạng hệ thống KSNB tại KBNN Quận 10 và đã đưa ra một số giải pháp nhằmhoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Quận 10 Đây cũng là đề tài nghiên cứu có nộidung gần giống với đề tài nghiên cứu của học viên, là nền tảng quan trọng giúp họcviên đưa ra phương pháp nghiên cứu cho đề tài này Tuy nhiên đề tài chỉ đưa ranhững giải pháp KSNN của đơn vị KBNN cấp Quận, huyện trực thuộc tỉnh, thànhphố không mang tính chất phổ quát cho đơn vị cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trungương
Đề tài “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi đầu tư xây dựng cơ bản qua kho bạc nhà nước huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên, luận văn thạc sĩ Ngô Thành Linh (2014)” Luận văn nghiên cứu việc hoàn thiện công tác kiểm soát chi vốn đầu tư
XDCB qua Kho bạc Nhà nước huyện Phú Lương, đưa ra những lý luận cơ bản vềkiểm soát chi vốn đầu tư XDCB, phân tích thực trạng và đưa ra những giải phápnhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát chi vốn đầu tư XDCB tại Kho bạc Nhà nướchuyện Phú Lương Luận văn chủ yếu tập trung vào công tác kiểm soát thanh, quyếttoán vốn đầu tư XDCB trên địa bàn huyện
Đề tài “Kiểm soát nội bộ hoạt động tín dụng tại ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam (BIDV), chi nhánh Bắc Quảng Bình năm 2015 của thạc sỹ Nguyễn Thị Hoài Giang” đề tài đã phân tích, đánh giá tình hình kiểm soát nội bộ tại Ngân
hàng thương mại, nêu ra những thành tựu hạn chế trong công tác KSNN tại ngânhàng từ đó đưa ra các giải pháp để hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại ngânhàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), chi nhánh Bắc Quảng Bình Tuy nhiên
đề tài mới đưa ra phân tích, đánh giá tình hình kiểm soát nội bộ tại ngân hàng thươngmại chưa đề cập đến tình hình kiểm soát nội bộ tại các đơn vị trong lĩnh vực công
Đề tài luận văn thạc sĩ “Hoàn thiện công tác kiểm soát chi vốn đầu tư xây
dựng cơ bản tại Kho bạc Nhà nước Định Quán tỉnh Đồng Nai, luận văn thạc sĩ Văn Cao (2016)” Luận văn đã hệ thống hóa công tác kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng
cơ bản Nội dung đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơ
Trang 14bản quan Kho bạc Nhà nước Phân tích đánh giá thực trạng công tác kiểm soát chiđầu tư xây dựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước Định Quán tỉnh Đồng Nai Đồng thờirút ra những ưu điểm, nhược điểm công tác kiểm soát chi vốn đầu tư xây dựng cơbản và đề xuất một số giải pháp để hoàn thiện công tác kiểm soát chi vốn đầu tư xâydựng cơ bản qua Kho bạc Nhà nước Định Quán tỉnh Đồng Nai Tác giả Luận vănchủ yếu tập trung vào công tác kiểm soát thanh, quyết toán vốn đầu tư XDCB trênđịa bàn huyện.
Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Tổng công ty Tài chính Cổ
phần Dầu khí Việt Nam của thạc sĩ Hoàng Thị Thanh Thủy, năm 2011” Luận văn đã
phân tích đánh giá tình hình triển khai hoạt động KSNB, nêu ra những thành tựu hạnchế trong công tác KSNB và đề ra những giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống KSNBtại Tổng công ty Tài chính Cổ phần Dầu khí Việt Nam Tuy nhiên đề tài mới đưa raphân tích, đánh giá tình hình kiểm soát nội bộ tại doanh nghiệp nhưng chưa đề cậpđến tình hình kiểm soát nội bộ tại các đơn vị trong lĩnh vực công
1.1.3 Khoảng trống nghiên cứu
Các công trình nghiên cứu trên đã nghiên cứu các vấn đề chủ yếu sau: Thựctrạng đến công tác quản lý và kiểm soát chi ngân sách của các cấp chính quyền địaphương và kho bạc, kiểm soát thu, chi ngân sách tại đơn vị, thực trạng kiểm soát nội
bộ tại tác công ty, doanh nghiệp, các ngân hàng thương mại, nhận thấy mặt tồn tạicủa đơn vị từ đó đề ra các giải pháp để hoàn thiện Tuy nhiêny tác giả đề xuất nhữnggiải pháp về KSNB trong các công trình này là những đề xuất mang tính chất chungcho các đơn vị hành chính sự nghiệp, các doanh nghiệp và công ty, ngân hàngthương mại mà chưa đưa ra được những giải pháp thiết thực để các đơn vị vận dụngnhằm đóng góp nhất định vào việc hạn chế rủi ro, ngăn ngừa đến mức thấp nhấtnhững sai sót có thể xảy ra trong tương lai
Mặc dù có nhiều luận văn nghiên cứu về KSNB đã công bố nhưng hiện naychưa có công trình nào nghiên cứu về KSNB tại Bắc Ninh Vì vậy, tác giả đã thực
hiện đề tài: “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại Kho bạc nhà nước Bắc Ninh” nhằm góp phần nâng cao chất lượng kiểm soát nội bộ và tăng tính hiệu quả
trong việc quản lý an toàn tiền và tài sản Nhà nước
Trang 151.2 Cơ sở lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.2.1 Lịch sử ra đời và phát triển hệ thống lý luận về kiểm soát nội bộ
Kiểm soát nội bộ đã tồn tại từ thời cổ đại Khi Hy Lạp có chính quyền kép,với việc phân chia trách nhiệm thu thuế và giám sát việc thu thuế
Đến những năm đầu thế kỉ 20 khi nền kinh tế bắt đầu phát triển mạnh mẽ, cáckênh cung cấp vốn cũng phát triển kịp thời để đáp ứng nhu cầu mở rộng quy mô củadoanh nghiệp Từ đó đưa đến nhu cầu tăng cường quản lý vốn và kiểm tra thông tin
về sử dụng vốn Thuật ngữ “kiểm soát nội bộ” bắt đầu xuất hiện từ giai đoạn này.Hình thức ban đầu của kiểm soát nội bộ là kiểm soát tiền và kiểm tra thông tin vềviệc sử dụng vốn
Năm 1905, Robert Montgomery, đưa ra ý kiến về một số vấn đề liên quan đếnKSNB trong tác phẩm lý thuyết và thực hành kiểm toán Mặt dù ý kiến này khôngphải là nguyên tắc chi phối cuộc kiểm toán mà là cơ sở về các thủ tục mà kiểm toánviên cần thực hiện
Năm 1929, thuận ngữ KSNB chính thức được đề cập chính thức trong mộtcông bố của Cục Dự trữ liên bang Hoa Kỳ Theo đó, KSNB được định nghĩa là mộtcông cụ bảo vệ tiền và các tài sản khác, đồng thời thúc đẩy nâng cao hiệu quả hoạtđộng, và đây là một cơ sở để phục vụ cho việc lấy mẫu thử nghiệm của kiểm toánviên
Đến năm 1936, khái niệm kiểm soát nội bộ đã được mở rộng hơn trong mộtcông bố của Hiệp hội kế toán viên công chứng Hoa Kỳ (AICPA): kiểm soát nội bộ làcác biện pháp và cách thức được chấp nhận và được thực hiện trong một tổ chức đểbảo vệ tiền và tài sản khác, cũng như kiểm tra sự chính xác trong ghi chép sổ sách
Theo thời gian việc nghiên cứu và đánh giá về kiểm soát nội bộ ngày càngđược chú trọng Năm 1949, AICPA công bố công trình nghiên cứu “kiểm soát nội bộ,các nhân tố cấu thành và tầm quan trọng đối với việc quản trị doanh nghiệp và đốivới kiểm toán viên độc lập” Trong công trình nghiên cứu này, AICPA đã mở rộngkiểm soát nội bộ là “cơ cấu tổ chức và các biện pháp, cách thức liên quan được chấpnhận và thực hiện trong một tổ chức để bảo vệ tài sản, kiểm tra sự chính xác và đángtin cậy của số liệu kế toán, thúc đẩy hoạt động có hiệu quả, khuyến khích sự tuân thủ
Trang 16các chính sách của nhà quản lý.”
Năm 1958, Ủy ban thủ tục kiểm toán (CAP) trực thuộc AICPA ban hành báocáo về thủ tục kiểm toán số 29: “Phạm vi xem xét kiểm soát nội bộ của kiểm toánviên độc lập”
Đến năm 1973, AICPA ban hành chuẩn mực kế toán 1 đã đưa ra các địnhnghĩa về kiểm soát quản lý và kiểm soát kế toán
Sau rất nhiều vụ gian lận gây tổn thất cho nền kinh tế, ủy ban chứng khoánHoa Kỳ đưa ra đòi hỏi bắt buộc các đơn vị phải báo cáo về kiểm soát nội bộ đối vớicông tác kế toán ở đơn vị mình cho công chúng Theo đó, cần phải có những tiêuchuẩn đánh giá tính hữu hiệu của kiểm soát nội bộ Năm 1985, ủy ban Coso thuộcHội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận trên các báo cáo tài chính được thànhlập dưới sự bảo trợ của 5 tổ chức nghề nghiệp bao gồm Hiệp hội kế toán viên côngchứng Hoa Kỳ, Hiệp hội kế toán Hoa Kỳ, Hiệp hội các nhà quản trị tài chính, Hiệphội Kiểm toán viên nội bộ, Hiệp hội Kế toán viên quản trị
Năm 1992, Coso phát hành báo cáo Đây là tài liệu đầu tiên trên thế giới đưa
ra khuôn mẫu về lý thuyết kiểm soát nội bộ một cách đầy đủ và có hệ thống, với năm
bộ phận của kiểm soát nội bộ bao gồm môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạtđộng kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Báo cáo Coso năm 1992 đã làtiền đề cho hàng loạt các nghiên cứu phát triển về kiểm soát nội bộ ở nhiều lĩnh vực
ra đời sau nay
1.2.2 Khái quát về hệ thống kiểm soát nội bộ (HTKSNB)
1.2.2.1 Khái niệm cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ
Khái niệm KSNB bắt đầu được sử dụng vào đầu thế kỷ 20 trong các tài liệu vềkiểm toán
Lúc đó KSNB được hiểu như là một biện pháp để bảo vệ tiền không bị cácnhân viên gian lận Sau đó trong nhiều năm khái niệm này dần được mở rộng: Người
ta cho rằng KSNB không chỉ bảo vệ tài sản (không chỉ có tiền) mà còn nhằm bảođảm việc ghi chép kế toán chính xác, nâng cao hiệu quả hoạt động và khuyến khíchtuân thủ các chính sách của nhà quản lý Tuy nhiên tại báo cáo COSO 1992 vàCOSO 2013 sau này, KSNB vẫn chỉ dừng lại là một phương tiện phục vụ cho các
Trang 17kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán báo cáo tài chính.
Theo chuẩn mực đánh giá rủi ro và KSNB IAS 400, HTKSNB là toàn bộnhững chính sách và thủ tục kiểm soát do ban giám đốc của đơn vị thiết lập nhằmđảm bảo việc quản lý chặt chẽ và hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể.Điều này chứng tỏ HTKSNB là công cụ hữu ích để ban giám đốc kiểm soát được tất
cả các công việc trong đơn vị
Bên cạnh đó văn bản hướng dẫn kiểm toán quốc tế số 6 được Hội đồng Liênhiệp các nhà kế toán Malaysia (MACPA) và Viện kế toán Malaysia (MIA) đưa ranhư sau: “HTKSNB là cơ cấu tổ chức cộng với những biện pháp, thủ tục do Banquản trị của một tổ chức thực thể chấp nhận, nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của Banquản trị đảm bảo tăng khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và cóhiệu quả bao gồm: tuyệt đối tuân theo đường lối của ban quản trị, bảo vệ tài sản,ngăn chăn và phát hiện gian lận, sai lầm, đảm bảo tính chính xác, hoàn thiện số liệuhạch toán, xử lý kịp thời và đáng tin cậy số liệu thông tin tài chính Phạm vi củaHTKSNB còn vượt ra ngoài những vấn đề có liên quan trực tiếp với chức năng của
hệ thố ng kế toán Mọi nguyên lý riêng của HTKSNB được xem như hoạt động của
hệ thống và được hiểu là KSNB” Ta thấy nội dung công viêm của HTKSNB màMACPA và MIA đưa ra gần giống với nội dung mà IAS đã nêu bên trên
Theo Hội kế toán Anh quốc (EAA) định nghĩa về HTKSNB như sau: “Một hệthống kiểm soát toàn diện có kinh nghiệm tài chính và các lĩnh vực khác nhau đượcthành lập bởi Ban quản lý nhằm:
- Tiến hành kinh doanh của đơn vị trong trật tự và có hiệu quả;
- Đảm bảo tuân thủ tuyệt đối đường lối kinh doanh của Ban quản trị;
- Giữ an toàn tài sản;
- Đảm bảo tính toàn diện và chính xác của số liệu hạch toán, những thành phầnriêng lẻ của HTKSNB được coi là hoạt động kiểm tra hoặc hoạt động kiểm tranội bộ”
Hay là Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (AICPA) định nghĩa KSNB như sau:
“KSNB bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương pháp phối hợp và đolường được thừa nhận trong danh nghiệp để bảo đảm an toàn tài sản có của họ, kiểmtra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán, tăng cường tính hiệu quả của hoạt
Trang 18động và khuyến khích việc thực hiện các chính sách quản lý lâu dài” Theo nội dungcủa AICPA đưa ra, KSNB chuỗi các phương pháp được đưa vào đơn vị để kiểm soáttài sản, kiểm soát tài liệu, dữ liệu tăng cường hiệu quả hoạt động.
Hoặc là theo Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC) thì: “HTKSNB là kế hoạch củađơn vị và toàn bộ các phương pháp, các bước công việc mà các nhà quản lý doanhnghiệp tuân theo HTKSNB trợ giúp cho các nhà quản lý đạt được mục tiêu một cáchchắc chắn theo trình tự và kinh doanh có hiệu quả kể cả việc tôn trọng các quy chếquản lý; giữ an toàn tài sản, ngăn chặn, phát hiện sai phạm và gian lận; ghi chép kếtoán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tài chính kịp thời, đáng tin cậy” Nội dung nàyđược hiểu như phần nào mà IFAC đã trình bày ở trên
Còn theo tập 2 Giáo trình Đại học Kế toán chuyên nghiệp Canada: “HTKSNBđược định nghĩa là hệ thống những quy định tài chính và quy định không tài chính
Hệ thống này do các nhà quản lý doanh nghiệp lập ra để điều hành quản lý kinhdoanh theo trình tự và có hiệu quả Đảm bảo tôn trọng mọi quy chế quản lý, giữ antoàn cho tài sản, duy trì chế độ ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác, lập báo cáo tàichính đúng thời hạn”
Theo chuẩn mực kiểm toán VN số 315: KSNB là quy trình do Ban quản trị, Ban
Giám đốc và các cá nhân khác trong đơn vị thiết kế, thực hiện và duy trì để tạo ra sựđảm bảo hợp lý về khả năng đạt được mục tiêu của đơn vị trong việc đảm bảo độ tincậy của báo cáo tài chính, đảm bảo hiệu quả, hiệu suất hoạt động, tuân thủ pháp luật
và các quy định có liên quan
Theo Luật Kế toán Việt Nam 2015, Điều 39 nêu rõ: KSNB là việc thiết lập và tổ
chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quyđịnh nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, pháthiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra
Tóm lại, có rất nhiều định nghĩa về HTKSNB nhưng nhìn chung đều chứngmình rằng HTKSNB là quá trình công việc được ban giám đốc đề ra và yêu cầu tất
cả các bộ phận phải thực hiện theo nhằm đảm bảo hiệu quả hoạt động của tổ chức
1.2.2.2 Giới thiệu về COSO
Năm 1985 Ủy ban COSO (Committee of Sponsoring Organizations) là Ủy ban
Trang 19thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về việc chống gian lận về báo cáo tài chính đượcthành lập COSO được thành lập nhằm nghiên cứu về kiểm soát nội bội, cụ thể lànhằm thống nhất định nghĩa về kiểm soát nội bộ để phục vụ cho nhu cầu của các đốitượng khác nhau và đưa các bộ phận cấu thành để giúp các đơn vị có thể xây dựngmột hệ thống kiểm soát nội bộ hữu hiệu Đây là Ủy ban các Tổ bảo trợ của Ủy banTreadway (COSO), là một sáng kiến chung của năm tổ chức khu vực tư nhân đượcliệt kê ở bên trái và được dành riêng để cung cấp cho lãnh đạo tư tưởng thông qua sựphát triển của các khuôn khổ và hướng dẫn về quản lý rủi ro doanh nghiệp, kiểm soátnội bộ và gian lận răn đe.
Báo cáo Committee of Sponsoring Organizations - COSO 1992 là kết quả củamột quá trình nghiên cứu của Ủy ban các tổ chức đồng bảo trợ cho Hội đồng Quốcgia Hoa Kỳ về chống gian lận báo cáo tài chính (BCTC) Báo cáo này gồm 353trang, chia làm 4 phần:
- Tóm tắt dành cho nhà quản lý
- Khuôn khổ chung của KSNB
- Báo cáo cho bên ngoài
- Các công cụ đánh giá KSNB
Báo cáo COSO 1992 là tài liệu đầu tiên trên thế giới nghiên cứu và định nghĩa
về KSNB một cách đầy đủ và có hệ thống Đặc điểm nổi bật của nó là một tầm nhìnrộng và mang tính quản trị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quanđến báo cáo tài chính mà được mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ.Báo cáo COSO mở đầu cho hàng loạt các công trình nghiên cứu và ứng dụng
về KSNB dưới nhiều góc độ khác nhau:
Dưới góc độ phục vụ cho quản trị doanh nghiệp, nhiều công trình tiếp tục pháttriển các kỹ thuật đánh giá hệ thống KSNB để hạn chế rủi ro Nhiều công ty tư vấn
đã phát triển các dịch vụ tư vấn về KSNB Gần đây, COSO xúc tiến việc xây dựngKhuôn khổ Đánh giá rủi ro doanh nghiệp (Enterprise Risk Management Franmework
- viết tắt ERM) trên cơ sở của báo cáo COSO 1992 Bản dự thảo đã hình thành vàcông bố vào tháng 7.2003
Tháng 5 năm 2013 Ủy ban COSO đã ban hành chính thức bản cập nhập báo
Trang 20cáo COSO 1992, đây là sự thay đổi lớn nhất kể từ lần đầu tiên ban hành tuy nhiêntrong khuôn mẫu báo cáo COSO 2013, định nghĩa KSNB và 5 bộ phận hợp thànhtheo báo cáo COSO 1992 vẫn giữ nguyên
Dưới góc độ KSNB trong môi trường máy tính, năm 1996 Hiệp hội Kiểm soát
và Kiểm toán Thông tin (Information System Audit and Control Association - viết tắtIACA) đã đưa ra các mục tiêu kiểm soát cho công nghệ thông tin và các kỹ thuật liênquan (Control Objection and Related Technology - gọi tắt là CoBIT)
Ngoài ra, tổ chức nghề nghiệp ở một số quốc gia đã xây dựng và ban hành cácKhuôn khổ về KSNB, trong đó nổi bật là Báo cáo COSO 1995 (Criteria of ControlBoard of Canadian Institute of Chartered Accountants) của Hiệp hội Kế toán viênCông chứng Canada
Báo cáo COSO năm 2013 định nghĩa KSNB và 5 bộ phận hợp thành bao gồm:môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, các hoạt động kiểm soát, thông tin và giámsát
Đặc điểm nổi bậc của báo cáo COSO là một tầm nhìn rộng và mang tính quảntrị, trong đó KSNB không còn chỉ là một vấn đề liên quan đến báo cáo tài chính màđược mở rộng ra cho các lĩnh vực hoạt động và tuân thủ
1.2.2.3 Định nghĩa hệ thống kiểm soát nội bộ theo COSO
Định nghĩa KSNB do COSO đưa ra năm 2013: KSNB là một quá trình bị chiphối bởi người quản lý, hội đồng quản trị và các nhân viên của đơn vị, nó được thiếtlập để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm thực hiện mục tiêu dưới đây:
- Báo cáo tài chính đáng tin cậy
- Các luật lệ và quy định được tuân thủ
- Hoạt động hữu hiệu càng hiệu quả
Trong đó, hiểu theo cách khai quát nhất là:
KSNB là một quá trình, bởi: HTKSNB không chỉ là một thủ tục hay một chínhsách được thực hiện ở một vài thời điểm nhất định mà được vận hành liên tục ở tất cảmọi cấp độ trong doanh nghiệp
KSNB được thiết kế và vận hành bởi con người: Vì KSNB không chỉ là nhữngchính sách, thủ tục, biểu mẫu đơn điệu, độc lập mà phải bao gồm cả yếu tố con
Trang 21người - Hội đồng quản trị, ban giám đốc, nhân viên của tổ chức Chính con ngườiđịnh ra mục tiêu kiểm soát và thiết lập nên cơ chế kiểm soát và vận hành chúng Cụthể: hội đồng quản trị và các nhà quản trị cấp cao chịu trách nhiệm cho việc thiết lậpmột văn hóa phù hợp nhằm hỗ trợ cho quy trình KSNB hiệu quả, giám sát tính hiệuquả của hệ thống này một cách liên tục Tất cả các thành viên của tổ chức để thamgia vào quy trình này.
Bên cạnh đó, không thể yêu cầu tuyệt đối thực hiện được các mục tiêu đối vớiKSNB mà chỉ có thể yêu cầu cung cấp một sự đảm bảo hợp lý trong việc thực hiệnmục tiêu Nguyên nhân bởi luôn có khả năng tồn tại những yếu kém xuất phát từ sailầm của con người khi vận hành hệ thống kiểm soát, dẫn đến việc không thực hiệnđược mục tiêu Việc KSNB có thể làm là ngăn chặn và phát hiện sai phạm nhưngkhông thể đảm bảo chắc chắn sẽ không xảy ra sai phạm nữa
Bên cạnh đó, quyết định của KSNB còn tùy thuộc vào nguyên tắc cơ bản: sựđánh đổi lợi ích chi phí, chi phí kiểm soát không được vượt quá lợi ích mong đ ợi từquá trình kiểm soát Vì vậy, KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý, chứ khôngđảm bảo tuyệt đối là các mục tiêu sẽ được thực hiện
Mỗi đơn vị thường có các mục tiêu kiểm soát cần đạt được để từ đó xác địnhcác chiến lược cần thực hiện Đó có thể là mục tiêu chung của toàn đơn vị hay mụctiêu cụ thể cho từng hoạt động, từng bộ phận trong đơn vị Một hệ thống kiểm soátnội bộ hữu hiệu có thể cung cấp sự đảm bảo hợp lý đạt được các mục tiêu liên quannhư tính đáng tin cậy của báo cáo tài chính, sự tuân thủ pháp luật và các quy định
Để đạt được các mục tiêu này, cần dự trên cơ sở các chuẩn mực đã được thiết lập.Kết quả đạt được phụ thuộc vào môi trường kiểm soát, cách thức đánh giá rủi ro, cáchoạt động kiểm soát của đơn vị, hệ thống thông tin trường thông và vấn đề giám sát
1.2.2.4 Khái niệm kiểm soát nội bộ trong đơn vị công
Hướng dẫn chuẩn mực của KSNB của INTOSAI 1992 đưa ra định nghĩa vềKSNB như sau: Theo Báo cáo INTOSAI (1992) KSNB là cơ cấu của một tổ chức,bao gồm nhận thức, phương pháp, quy trình và các biện pháp của người lãnh đạonhằm bảo đảm sự hợp lý để đạt được các mục tiêu của tổ chức:
- Thúc đẩy các hoạt động hữu hiệu, hiệu quả và có kỷ cương cũng như chấtlượng của sản phẩm, dịch vụ phù hợp với nhiệm vụ của tổ chức
Trang 22- Bảo vệ các nguồn lực không bị thất thoát, lạm dụng, lãng phí, tham ô và viphạm pháp luật.
- Khuyến khích tuân thủ pháp luật, quy định của Nhà nước và nội bộ
- Xây dựng và duy trì các dữ liệu tài chính và hoạt động và lập báo cáo đúngđắn và kịp thời
Ngoài ra, tài liệu hướng dẫn của INTOSAI 1992 được cập nhật thêm vàonăm 2013, đưa ra những quy tắc và quy định cho các mục tiêu về KSNB như sau:
- Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh
tế, hiệu quả và thích hợp
- Thực hiện đúng trách nhiệm
- Tuân thủ theo luật pháp hiện hành và các nguyên tắc, quy định
- Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất
- Thực hiện kiểm soát những hành vi sai phạm trong thực thi công vụ, chốngtham nhũng, tiêu cực trong bộ máy, giảm thiểu những sai phạm nghiêm trọng và gâythất thoát tài sản của Nhà nước
So với định nghĩa của báo cáo COSO 2013, khía cạnh giá trị đạo đức tronghoạt động được thêm vào INTOSAI Mục tiêu của KSNB được nhấn mạnh thêm, đóchính là tầm quan trọng của hành vi đạo đức cũng như sự ngăn chặn và phát hiện sựgian lận, không trung thực và tham nhũng trong khu vực công
Ngân sách của Nhà nước được phân bố rộng rãi, chính vì vậy cần có các kiểmsoát nhằm đảm bảo ngân sách được sử dụng đúng mục đích, các tài sản không bị thấtthoát hay lãng phí Vì vậy, việc bảo vệ nguồn lực cần được nhấn mạnh thêm tầmquan trọng trong KSNB đối với khu vực công
1.2.2.5 Hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam
Nhìn chung, về cơ bản, hệ thống lý luận về KSNB ở Việt Nam gắn liền với sự
ra đời, phát triển của hoạt động kiểm toán độc lập tại Việt Nam trong thời gian qua.Cuối những năm 1980, khi Nhà nước từng bước chuyển nền kinh tế từ bao cấpsang nền kinh tế thị trường, đặc biệt là khi có sự xuất hiện của các nhà đầu tư nướcngoài thì hoạt động kiểm toán mới được chú trọng Chính nhu cầu minh bạch thôngtin của các nhà đầu tư đã tạo nên nhu cầu về loại hình kiểm toán độc lập BCTC
Trang 23Sự thành lập của Công ty kiểm toán đầu tiên của Việt Nam (VACO & AASC)vào tháng 5/1991 đã đánh dấu một bước ngoặt lớn đối với công tác kiểm tra kế toántại Việt Nam.
Sau đó, với sự thành lập của nhiều công ty kiểm toán khác như: các công tyhợp danh, công ty liên doanh và các công ty kiểm toán quốc tế tại Việt Nam đã tạonhiều cơ hội thuận lợị để kiểm toán Việt Nam phát triển và hội nhập với nền kinh tếthế giới Có thể tóm tắt quá trình phát triển của các lý luận cho hoạt động kiểm toán
và KSNB như sau:
- Tháng 1/1994, Chính phủ đã ban hành Quy chế kiểm toán độc lập
- Tháng 7/1994, Nhà nước thành lập Cơ quan kiểm toán Nhà nước trực thuộcChính phủ
- Tháng 10/1994, Bộ Tài chính đã chính thức ban hành Quy chế Kiểm toán nội
bộ được áp dụng cho các doanh nghiệp Nhà nước
- Tháng 9/1999, Bộ Tài chính ban hành 04 chuẩn mực kiểm toán Việt Nam(VSA) đầu tiên Lần lượt các năm 2000, 2001, 2003, 2005, 2012 và 2015 Bộ Tàichính đã ban hành thêm các chuẩn mực
Năm 2001 theo Quyết định số 143/2001/QĐ-BTC tại chuẩn mực kiểm toánVSA 400 “Đánh giá rủi ro và KSNB”, Bộ Tài chính cũng đã đưa ra định nghĩa về Hệthống KSNB như sau: “KSNB là các quy định và các thủ tục kiểm soát do đơn vịđược kiểm toán xây dựng và áp dụng nhằm bảo đảm cho đơn vị tuân thủ pháp luật vàcác quy định, để kiểm tra, kiểm soát, ngăn ngừa và phát hiện gian lận, sai sót; giúpBCTC được lập trung thực và hợp lý; nhằm bảo vệ, quản lý và sử dụng có hiệu quảtài sản của đơn vị” Năm 2012 Bộ Tài chính ban hành Thông tư 214/2014/TT-BTCtrong đó có VSA 315 “xác định và đánh giá rủi ro trọng yếu thông qua hiểu biết vềđơn vị được kiểm toán và môi trường kiểm soát của đơn vị” thay thế VSA 400
Nhìn chung, ở Việt Nam, lý luận về KSNB vẫn còn chưa đầy đủ KSNB chủyếu vẫn chỉ được xem là công cụ quan trọng hỗ trợ kiểm toán viên độc lập trong quátrình thực hiện kiểm toán Chức năng KSNB chưa thực sự tách rời hoàn toàn khỏikiểm toán nội bộ và KSNB chưa được xem là công cụ hữu hiệu, giúp ích cho quátrình quản lý hoạt động trong doanh nghiệp
Trang 241.2.1.6 Mục tiêu kiểm soát nội bộ trong đơn vị công
Luật Kiểm toán Nhà nước đã xác định hoạt động kiểm toán nhà nước là: Việckiểm tra, đánh giá, xác nhận tính đúng đắn, trung thực của báo cáo tài chính; Việctuân thủ pháp luật; Tính kinh tế, hiệu lực và hiệu quả trong quản lý, sử dụng ngânsách, tiền và tài sản nhà nước Do đó hoạt động kiểm toán nhà nước là một hình thứchậu kiểm phục vụ cho việc kiểm tra, giám sát của Nhà nước, từ việc kiểm tra, nhữngsai phạm hoặc yếu kém sẽ được phát hiện góp phần ngày càng nâng cao chất lượng,hiệu quả của Nhà nước, trong đó chủ yếu là các đơn vị thuộc khu vực công Tuynhiên, nhìn từ dưới góc độ chủ động phòng ngừa, ngăn chặn sai phạm và yếu kém,một hệ thống tiền kiểm cũng không kém phần quan trọng cho việc nâng cao chấtlượng, hiệu quả hoạt động của Nhà nước Đó chính là hệ thống KSNB trong các đơn
vị thuộc khu vực công
Trong khu vực công, hướng dẫn về KSNB của Tổ chức quốc tế các cơ quankiểm toán tối cao (INTOSAI) đã được ban hành năm 1992 và cập nhật năm 2001,đưa ra các quan điểm và hướng dẫn về KSNB trong các đơn vị thuộc khu vực công.Tại Hoa Kỳ, Chuẩn mực về kiểm soát nội bộ trong chính quyền liên bang được Cơquan Kiểm toán Nhà nước (GAO) ban hành năm 1999 Nhìn chung, các chuẩn mực
về KSNB trong khu vực công hiện nay đặt trên nền tảng của Báo cáo COSO 1992 và2003
Trong khu vực công tại Việt Nam hiện nay, các nhà quản lý trong khu vực côngthường dựa trên các quy định của pháp luật, kinh nghiệm cá nhân để hành xử hơn làmột cái nhìn tổng quát và có hệ thống về công tác kiểm soát Ngoài ra, việc thiếumột kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đến các hoạt động kiểm soát sẽ dẫn đến tổnhao nguồn lực vào những thủ tục kiểm soát không cần thiết trong khi lại bỏ sótnhững rủi ro quan trọng
1.2.2.7 Đặc điểm tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong đơn vị công
Dịch vụ công ở các nước trên thế giới rất đa dạng và phong phú Nếu xem xétđến nguồn kinh phí để duy trì hoạt động thường xuyên thì có một điểm cơ bản giốngnhau là các đơn vị đều có sử dụng nguồn vốn NSNN cấp và một phần tự thu, chi chohoạt động của đơn vị đó Vì vậy chức năng cơ bản của đơn vị có hoạt động dịch vụcông là vừa thực hiện một số nhiệm vụ chuyên môn, chính trị của Nhà nước giao vừa
Trang 25tự hoạt động trên nguồn lực sẵn có, phù hợp với chức năng nhiệm vụ của mình đểphục vụ công ích xã hội.
Tuy nhiên, đơn vị dịch vụ công ở mỗi nước cũng có những đặc thù khác nhautùy thuộc vào thể chế chính trị của từng quốc gia và cơ chế hoạt động tài chính côngcủa từng quốc gia Ở Việt Nam, Nhà nước ban hành quy định rất cụ thể từng loạihình đơn vị sự nghiệp, dựa vào khả năng tự chủ về kinh phí của đơn vị để xây dựngcác tiêu thức phân loại, đơn vị nào có khả năng tự đảm bảo kinh phí hoạt động nhiềuhơn thì được giao quyền tự chủ nhiều hơn
Đa số các đơn vị sự nghiệp công sử dụng NSNN là chính, phần tự chủ tàichính của đơn vị thường nhỏ hơn, điều này là do các đơn vị phải tập trung vào thựchiện nhiệm vụ công ích xã hội của Nhà nước giao Mặc dù nguồn tài chính ở đơn vịdịch vụ công có cơ cấu thu chi khác nhau, nhưng có điểm chung là các khoản chi tiêuđều phải tuân thủ chế độ chính sách, phù hợp với dự toán và tình hình thực tế củađơn vị, nhất là các hoạt động được ngân sách Nhà nước cấp
Gần đây, ở Việt Nam đã thực hiện việc khoán chi hành chính, giao quyền tựchủ về kinh phí cho các đơn vị sự nghiệp công, điều này đã khuyến khích các đơn vịtiết kiệm chi phí hành chính, đổi mới cơ chế quản lý sao cho hiệu quả, đẩy mạnhcông tác tự kiểm tra tài chính để phòng ngừa các rủi ro, giảm các hành vi gian lận,lãng phí, lành mạnh hoá các quan hệ tài chính
1.2.2.8 Sự cần thiết xây dựng và hoàn thiện KSNB trong lĩnh vực hoạt động công và Kho bạc
Hệ thống KSNB giúp hoạt động nghiệp vụ Kho bạc Nhà nước nói chung và cáccán bộ nghiệp vụ, bộ phận nghiệp vụ tự kiểm tra việc tổ chức và thực hiện nhiệm vụđược giao nhằm đảm bảo việc thực hiện đúng chính sách, chế độ, quy trình nghiệp
vụ Kiểm tra hoạt động nội bộ của đơn vị được thực hiện theo các văn bản hướng dẫnriêng của Bộ Tài chính, của KBNN Tạo ý thức chấp hành thường xuyên chính sách,chế độ, quy trình nghiệp vụ trong công việc của mỗi CBCC Từ đó góp phần nângcao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho CBCC, hạn chế những rủi ro trong quá trìnhthực thi nhiệm vụ Hệ thống KSNB nó đánh giá chất lượng hoạt động, tình hình chấphành chính sách, chế độ và quy trình nghiệp vụ, từ đó kịp thời phát hiện và chấn
Trang 26chỉnh các sai sót, tồn tại trong hoạt động nghiệp vụ của từng cán bộ, từng bộ phậnnghiệp vụ, để có biện pháp khắc phục hạn chế thấp nhất những rủi ro có thể xảy ra.Một hệ thống KSNB hữu hiệu chỉ có thể hạn chế tối đa các sai phạm chứ khôngthể đảm bảo rủi ro và gian lận, sai sót không xảy ra Những hạn chế vốn có của hệthống KSNB, chủ yếu xuất phát từ những nguyên nhân sau:
- Những hạn chế xuất phát từ bản thân con người như sự hạn chế về nhận thức
và tiếp thu khi đọc, hiểu các văn bản, chế độ, sự bất cẩn vô ý, đánh giá, ước lượngsai, hiểu sai sự chỉ dẫn của cấp trên hoặc báo cáo của cấp dưới
- Khả năng đánh lừa và lẩn tránh của nhân viên thông qua sự thông đồng vớinhau hay với các bộ phận bên ngoài đơn vị
- Hoạt động kiểm soát thường chỉ nhắm vào các nghiệp vụ thường xuyên phátsinh, mà ít chú ý đến những nghiệp vụ ít phát sinh nên những sai phạm trong cáctrường hợp này thường sẽ bỏ qua không kiểm soát được
- Một số cá nhân có trách nhiệm kiểm soát đã lạm dụng quyền hạn của mìnhnhằm phục vụ cho những lợi ích riêng của bản thân Điều kiện hoạt động của đơn vịthay đổi nhiều nên dẫn đến những thủ tục kiểm soát sẽ không còn phù hợp
Tóm lại hệ thống KSNB chỉ cung cấp một sự đảm bảo hợp lý chứ không phảibảo đảm tuyệt đối các mục tiêu được thực hiện Kiểm soát nội bộ chỉ có thể ngănngừa, phát hiện những sai sót và gian lận nhưng không thể đảm bảo là chúng khôngxảy ra Vì vậy một hệ thống KSNB dù hữu hiệu đến đâu cũng đều tồn tại những rủi
ro nhất định Vấn đề là người quản lý đã nhận biết và đánh giá, giới hạn chúng trongmức độ có thể chấp nhận được
Trong khu vực công tại Việt Nam hiện nay, khái niệm KSNB còn rất mới mẻ.Các nhà quản lý trong khu vực công thường dựa trên các quy định của pháp luật vàkinh nghiệm cá nhân để hành xử, hơn là một cái nhìn tổng quát và có hệ thống vềcông tác kiểm soát Ngoài ra việc thiếu một kỹ năng phân tích từ mục tiêu, rủi ro đếncác hoạt động kiểm soát sẽ dẫn đến tổn hao rất nhiều nguồn lực vào những thủ tụckiểm soát không cần thiết trong khi lại bỏ qua những rủi ro quan trọng
Nghiên cứu lý thuyết về KSNB và thực trạng hệ thống KSNB tại KBNN BắcNinh là để nhận dạng phân tích và đánh giá hệ thống KSNB hiện hành xem nó đang
Trang 27ở trạng thái nào, có những ưu nhược điểm gì đang tồn tại và từ đó đề xuất các giảipháp hoàn thiện hệ thống KSNB đạt đến tính hữu hiệu và hiệu quả nhằm cung cấpđảm bảo sự hợp lý để đạt được các mục tiêu đề ra.
Vì vậy xây dựng và hoàn thiện KSNB trong khu vực công và Kho bạc nhànước góp phần nâng cao chất lượng hiệu quả hoạt động của Nhà nước
1.2.3 Các yếu tố cấu thành của hệ thống kiểm soát nội bộ
Tương tự như Báo cáo COSO, KSNB trong đơn vị công mà cụ thể là INTOSAI(2013) đưa ra năm yếu tố của cấu trúc KSNB bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánhgiá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, giám sát Đây là kết quảlàm việc của Ban soạn thảo sau rất nhiều cân nhắc và xem xét ý kiến đóng góp từnhiều nguồn khác nhau và hình 2.1 thể hiện rõ những yếu tố cơ bản đã trình bày, mà
+ Các hoạt động kiểm soát bao gồm các phương thức cần thiết để kiểm soátnhư xét duyệt, phân quyền, kiểm tra, phân tích rà soát trong từng hoạt động cụ thểcủa đơn vị
+ Thông tin và truyền thông liên quan đến việc tạo lập một hệ thống thông tin
và truyền đạt thông tin hữu hiệu trong toàn tổ chức, phục vụ cho việc thực hiện tất cảcác mục tiêu KSNB Trong điều kiện tin học hóa, hệ thống thông tin còn bao gồm cảviệc nhận thức, phát triển và duy trì hệ thống phù hợp với đơn vị
+ Giám sát bao gồm các hoạt động kiểm tra và đánh giá thường xuyên và định
kỳ nhằm không ngừng cải thiện KSNB, kể cả việc hình thành và duy trì công tácKSNB
Trang 28CÁC BỘ
PHẬN HỢP THÀNH
HỆ
•
THỐNG KIỂM SOÁT TOÀN BỘ
1.2.3.1 Môi trường kiểm soát
MTKS lànền tảng ý thức,
là văn hóa của
tổ chức tácđộng đến ý thứckiểm soát củatoàn bộ thànhviên trong tổchức Hay nóicách khác,MTKS đượcxem là nền tảngcho tất cả các yếu tố khác trong KSNB nhằm xây dựng những nguyên tắc và cơ cấu
Hình 1.1 Năm yếu tố cấu thành hệ thống KSNB
Trang 29hoạt động phù hợp , tạo lập một nền nếp kỷ cương, đạo đức và cơ cấu cho tổ chức
Nó thể hiên thông qua tính kỷ luật, cơ cấu tổ chức, giá trị đạo đức, tính trung thực,triết lý quản lý, phong cách điều hành
> Tính trung thực, giá trị đạo đức và năng lực làm việc của nhân viên trong công ty:
Sự phát triển của một công ty luôn gắn liền với đội ngũ nhân viên Mỗi nhânviên là một chi tiết cấu thành nên bộ máy của công ty Vì vậy, tính trung thực và đạođức của nhân viên cao sẽ tạo môi trường thuận lợi để liên kết và phát huy sức mạnhtập thể giúp công ty hoàn thành kế hoạch, đạt được mục tiêu của mình Đội ngũ nhânviên là chủ thế trực tiếp thực hiện mọi thủ tục kiểm soát trong hoạt động của công ty,nếu nhân viên có năng lực, tin cậy, học vấn cao, đáng tin cậy nhiều quá trình kiểmsoát có thể không được thực hiện thì vẫn đảm bảo được các mục tiêu đề ra củaKSNB Bên cạnh đó, mặc dù doanh nghiệp có thiết kế và vận dụng các chính sách,thủ tục kiểm soát chặt chẽ nhưng với đội ngũ nhân viên kém năng lực trong côngviệc và thiếu trung thực về phẩm chất đạo đức thì HTKSNB không thể phát huy hiệuquả
Để có được một đội ngũ nhân viên tốt, các nhà quản lý Doanh nghiệp cần cónhững chính sách cụ thể và rõ ràng về tuyển dụng, đào tạo, sắp xếp, đề bạt, khenthưởng, kỷ luật nhân viên Một chính sách nhân sự tốt là một nhân tố đảm bảo choMTKS hoạt động hiệu quả
> Triết lý quản lý và phong cách điều hành:
Tư cách đạo đức, hành vi ứng xử và hiệu quả công việc của lãnh đạo Bộ máycủa công ty hoạt động tùy thuộc vào phong cách, triết lý quản lý, điều hành của Bangiám đốc, nó ảnh hưởng rất lớn đến MTKS của tổ chức, bao gồm khả năng nhận thức
và giám sát được rủi ro trong kinh doanh
Đặc thù về quản lý là quan điểm khác nhau của nhà quản lý đơn vị đối với báocáo tài chính cũng như đối với rủi ro kinh doanh Nếu nhà quản lý có quan điểm kinhdoanh trung thực, cạnh tranh lành mạnh, họ có xu hướng coi trọng tính trung thựccủa báo cáo tài chính đồng thời có những biện pháp để hạn chế tối đa rủi ro kinh
Trang 30doanh MTKS sẽ hoạt động hiệu quả do ý muốn thiết lập các thủ tục kiểm soát chặtchẽ để thực hiện các mục tiêu đã đề ra của nhà quản lý Ngược lại nếu nhà quản lý có
tư tưởng gian lận, không lành mạnh thì rất có thể báo cáo tài chính sẽ ẩn chứa các saiphạm và từ đó MTKS sẽ không mạnh và có thể yếu kém
Nhận thức của Ban giám đốc về tầm quan trọng của liêm chính và đạo đứcnghề nghiệp, về việc cần tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phân công, ủy nhiệm,giao việc rõ ràng, về việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trìnhsản xuất kinh doanh Tất cả tạo ra một môi trường mà trong đó toàn bộ thành viêncông ty nhận thức được tầm quan trọng của HTKSNB tốt hơn, tạo sự phát triển bềnvững cho công ty
> Cách thức thiết lập quyền lực và trách nhiệm cũng như việc tổ chức và phát triển công việc trong tổ chức:
Mỗi người phải nhận thức được công việc của mình có ảnh hưởng như thế nàotrong việc góp phần hoàn thành mục tiêu của đơn vị Cơ cấu tổ chức của một đơn vịthực chất là sự phân chia quyền hạn, trách nhiệm giữa các thành viên trong đơn vị
Cơ cấu tổ chức được xây dựng hợp lý trong công ty sẽ góp phần tạo ra MTKS tốt
Cơ cấu tổ chức hợp lý đảm bảo một hệ thống xuyên suốt từ trên xuống dư ới trongviệc ban hành các quyết định, triển khai các quyết định đó cũng như việc giám sátthực hiện các quyết định đó trong toàn bộ công ty Một cơ cấu tổ chức hợp lý còngóp phần ngăn ngừa có hiệu quả các hành vi gian lận và sai soát trong hoạt động tàichính kế toán của công ty
> Những chỉ đạo hướng dẫn của Ban giám đốc:
Các nhà quản lý luôn muốn thiết lập MTKS hiệu quả và cách thức điều hànhđúng theo các chính sách của công ty đặt ra
Ví dụ những chỉ đạo, hướng dẫn của Ban giám đốc về hệ thống kế hoạch và
dự toán, bao gồm các kế hoạch sản xuất, tiêu thụ, thu chi quỹ, kế hoạch dự toán đầu
tư, sửa chữa tài sản cố định, đặc biệt là kế hoạch tài chính là những nhân tố quantrọng của quá trình kiểm soát Nếu công tác kế hoạch được tiến hành một cách khoahọc và nghiêm túc, nó sẽ trở thành một công cụ kiểm soát hữu hiệu Vì vậy, trong
Trang 31thực tế các nhà quản lý thường quan tâm xem xét tiến độ thực hiện kế hoạch, theodõi những nhân tố ảnh hưởng đến kế hoạch đã lập nhằm phát hiện kịp thời nhữngvấn đề bất thường và từ đó xử lý, điều chỉnh kế hoạch.
Tóm lại, MTKS có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của các thủ tục kiểm soát.MTKS mạnh sẽ là nền tảng cho sự hoạt động hiệu quả của HTKSNB Tuy nhiênMTKS mạnh không đồng nghĩa là HTKSNB mạnh MTKS mạnh tự nó chưa đủ đảmbảo tính hiệu quả của toàn HTKSNB
1.2.3.2 Đánh giá rủi ro
Đánh giá rủi ro là việc nhận dạng, phân tích và quản lý các rủi ro có thể đe dọađến việc đạt được các mục tiêu của tổ chức, như mục tiêu bán hàng, sản xuấtmarketing, tài chính và các hoạt động khác sao cho tổ chức đạt được mục tiêu chung
và các mục tiêu cụ thể cho từng hoạt động Hay nói khác hơn, đánh giá rủi ro là phảinhận thức được và đối phó với các rủi ro mà tổ chức có thể gặp phải
Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị trí địa lý, bất kỳ tổ chức,doanh nghiệp nào trong quá trình sản xuất kinh doanh đều phải đối mặt với rủi ro.Những rủi ro này có thể do bản thân doanh nghiệp hay từ môi trường kinh tế, chínhtrị, xã hội bên ngoài tác động
Rủi ro bên trong doanh nghiệp thường do các nguyên nhân: Mâu thuẫn về mụcđích hoạt động, các chiến lược của doanh nghiệp đưa ra cản trở việc thực hiện cácmục tiêu Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo đức nghề nghiệp Chấtlượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy tính, của trang thiết bị, hạ tầng
cơ sở Tổ chức và cơ sở hạ tầng không thay đổi kịp với sự thay đổi, mở rộng của sảnxuất Chi phí cho quản lý và trả lương cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợphoặc do xa Công ty mẹ hoặc do thiếu quan tâm
Bên cạnh đó, các yếu tố bên ngoài như thay đổi công nghệ làm thay đổi quytrình vận hành, thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụhiện hành bị lỗi thời, hoặc xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác độngđến giá cả và thị phần, hay sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới ảnhhưởng đến hoạt động của tổ chức
Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu trên, tổ chức cần thường xuyên: xác
Trang 32định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn Phân tích ảnh hưởng của chúng kể cả tần suất xuấthiện và xác định c ác biện pháp để quản lý và giảm thiểu tác hại của chúng.
Quy trình đánh giá rủi ro qua các giai đoạn như sau: Trước hết muốn đánh giá
được rủi ro, kiểm soát viên cần phải xác định được đối tượng cần kiểm soát, đốitượng cần kiểm soát có thể được xác định dựa trên yêu cầu của lãnh đạo cấp caotrong doanh nghiệp Sau khi đã xác định được đối tượng cần kiểm soát, đánh giá rủi
ro, kiểm soát viên cần phải tìm hiểu rõ về đối tượng đó, tìm hiểu các nhân tố ảnhhưởng tới rủi ro của từng đối tượng Đây là bước vô cù ng quan trọng và không thểthiếu được trong quy trình đánh giá rủi ro, vì khi đã nắm rõ được các nhân tố ảnhhưởng tới rủi ro của đối tượng, các kiểm toán viên có thể đưa ra những nhận địnhhay kiến nghị chính xác hơn Sau khi xác định được các nhân tố ảnh hưởng đến rủi
ro của từng đối tượng, kiểm soát viên sẽ nhận dạng rủi ro đó Đây là quá trình xácđịnh liên tục và có hệ thống các rủi ro trong hoạt động của doanh nghiệp Nhận dạngrủi ro bao gồm các công việc như theo dõi, xem xét các hoạt động, môi trường hoạtđộng của doanh nghiệp nhằm thống kê được những rủi ro đã và đang xảy ra, bêncạnh đó có thể dự báo được những rủi ro có thể xảy ra, trên cơ sở đó đưa ra đánh giárủi ro và các giải pháp kiểm soát rủi ro thích hợp
Trên cơ sở những rủi ro có thể xảy ra, bộ phận HTKSNB lựa chọn các nhân tốchủ yếu và sắp xếp theo thứ tự ưu tiên để làm cơ sở đánh giá Do có nhiều rủi ro nênkiểm toán viên cần lựa chọn những rủi ro quan trọng nhất (thường xếp theo bậc từ 5đến 10) để xem xét Công việc này thực hiện dựa trên kinh nghiệm của kiểm toánviên đối với đối tượng cần đánh giá rủi ro, kết hợp với thông tin tham khảo từ banquản lý và các nguồn khác Chẳng hạn đối với hoạt động huy động vốn từ ngân hành,cần đánh giá ra rủi ro về biến động lãi suất, rủi ro môi trường trong và ngoài nước,rủi ro đạo đức của cán bộ huy động
1.2.3.3 Hoạt động kiểm soát
Hoạt động kiểm soát là những chính sách, và thủ tục kiểm soát để đảm bảo chocác chỉ thị của nhà quản lý được thực hiện nhằm đạt được các mục tiêu và nó diễn ra
ở mọi cấp độ của và mỗi hoạt động của tổ chức
Hoạt động kiểm soát bao gồm có chính sách kiểm soát và thủ tục kiểm soát
Trang 33Chính sách kiểm soát là những nguyên tắc cần làm, là cơ sở cho việc thực hiện cácthủ tục kiểm soát Còn thủ tục kiểm soát là những quy định cụ thể để thực thi chínhsách kiểm soát Chính sách kiểm soát có thể được tài liệu hóa một cách đầy đủ và có
hệ thống hoặc được lưu hành theo kiểu truyền miệng Điều quan trọng là chính sáchkiểm soát cần được áp dụng một cách nhất quán với sự nhận thức đầy đủ của những
cá nhân thực hiện chính sách hơn là hình thức lưu trữ của bản thân chính sách đó
Có rất nhiều loại hoạt động kiểm soát khác nhau mà tổ chức có thể thiết kế và
áp dụng như kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện, kiểm soát bù đắp, hay kiểmsoát thủ công, kiểm soát trông môi trường máy tính và kiểm soát quản lý Tuy nhiên,trên thực tế, xét về mục đích thì người ta thường chia hoạt động kiểm soát thành 3loại: kiểm soát phòng ngừa, kiểm soát phát hiện và kiểm soát bù đắp Cụ thể, kiểmsoát phòng ngừa là hoạt động kiểm soát ngăn ngừa, giảm thiểu khả năng xảy ra saixót và gian lận, ảnh hưởng đến việc đạt mục tiêu của tổ chức Trong khi đó, kiểmsoát phát hiện là hoạt động nhằm phát hiện kịp thời ra các hành vi sai xót hoặc gianlận đã được thực hiện Cuối cùng, sau khi phát hiện sai xót, gian lận thì tổ chức phảithay thế các hoạt động kiểm soát đã bị “qua mặt” này bằng những hoạt động kiểmsoát khác hữu hiệu hơn và đó cũng là kiểm soát bù đắp
1.2.3.4 Thông tin và truyền thông
Các thông tin cần thiết phải được nhận dạng, thu thập và trao đổi trong tổ chứcdưới các hình thức và thời gian thích hợp, sao cho nó giúp mọi thành viên trong tổchức thực hiện được nhiệm vụ của mình Thông tin và truyền thông tạo ra các báocáo, cung cấp các thông tin cần thiết cho việc quản lý và kiểm soát tổ chức
Sự trao đổi thông tin hữu hiệu đòi hỏi phải diễn ra theo nhiều hướng: từ cấptrên xuống cấp dưới, từ dưới lên trên và giữa các cấp với nhau Mỗi cá nhân cần hiểu
rõ vai trò của mình trong kiểm soát nội bộ cũng như hoạt động của từng cá nhân cótác động tới công việc của người khác ra sao Ngoài ra cũng cần có sự trao đổi thôngtin hữu hiệu với các đối tượng bên ngoài như khách hàng, nhà cung cấp, cơ quanquản lý Thông tin và truyền thông cần thiết để thực hiện mục tiêu của KSNB.Thông tin: Mọi bộ phận, cá nhân trong doanh nghiệp đều phải có những thôngtin cần thiết giúp thực hiện trách nhiệm của mình Điều kiện đầu tiên đảm bảo thông
Trang 34tin thích hợp và đáng tin cậy là thông tin phải được ghi chép kịp thời, phân loại đúngđắn các nghiệp vụ và sự kiện, được chuyển đi dưới những biểu mẫu và lộ trình bảođảm nhân viên thực hiện chức năng trong KSNB Do đó, HTKSNB đòi hỏi tất cả cácnghiệp vụ phải lập các chứng từ đầy đủ Khả năng ra quyết định của các nhà lãnh đạo
bị ảnh hưởng bởi chất lượng của những thông tin như tính thích hợp, tính kịp thời,cập nhật, chính xác và có thể sử dụng được Mọi hệ thống thông tin thích hợp phảitạo ra các báo cáo về hoạt động, tài chính, những vấn đề tuân thủ hỗ trợ cho việc điềuhành và kiểm soát những hoạt động Nó không chỉ bao gồm những dữ liệu bên trong
mà còn xem xét các thông tin bên ngoài, những điều kiện và hoạt động cần thiết raquyết định và báo cáo
Một hệ thống thông tin tốt cần phải có những đặc điểm cơ bản như sau:
- Có thể thu thập thông tin cần thiết từ bên ngoài và bên trong chuyển đếnngười quản lý bằng các báo cáo thích hợp
- Bảo đảm thông tin được cung cấp đúng chỗ, đủ chi tiết trình bày thích hợp vàkịp thời
- Rà soát và phát triển hệ thống thông tin trên cơ sở một chiến lược dài hạn
- Sự hậu thuẫn mạnh mẽ của người quản lý đối với việc phát triển hệ thốngthông tin
Chính vì vậy, khi thiết kế hệ thống, phải tính đến những yêu cầu trên và thôngtin cần được điều chỉnh để ngày càng hoàn thiện hơn, phục vụ cho nhà quản lý vàcác cá nhân trong tổ chức, doanh nghiệp
Truyền thông là thuộc tính của hệ thống thông tin, đó là việc trao đổi và truyềnđạt các thông tin, cần thiết tới các bên có liên quan cả trong và ngoài doanh nghiệp.Bản thân mỗi hệ thống thông tin đều có chức năng truyền thông, bởi có như vậy thìnhững thông đã được thu thập và xử lý mới có thể đến được với các đối tượng có nhucầu để giúp họ thực hiện được trách nhiệm của mình Truyền thông hữu hiệu là việccung cấp thông tin từ cấp trên xuống cấp dưới hoặc từ cấp dưới lên cấp trên hoặcngang hàng giữa các bộ phận, thông tin xuyên suốt toàn bộ tổ chức Các cá nhânnhận được thông báo rõ ràng từ nhà lãnh đạo cấp cao về trách nhiệm của bản thân họtrong KSNB Họ phải hiểu được vai trò của bản thân đối với hệ thống KSNB, đối với
Trang 35các thành viên khác trong tổ chức Ngoài ra cũng cần có sự truyền thông hiệu quả từbên ngoài tổ chức Truyền thông có tính hiệu quả phải có những đặc điểm cơ bản nhưsau:
- Duy trì sự truyền thông hữu hiệu về trách nhiệm về nghĩa vụ của mỗi thànhviên
- Thiết lập các kênh thông tin ghi nhận các hạn chế hay yếu kém trong hoạt động
- Xem xét và chấp nhận những kiến nghị của nhân viên trong việc cải tiến hoạtđộng
- Đảm bảo truyền thông giữa các bộ phận
- Mở rộng truyền thông với bên ngoài
- Phổ biến cho các đối tác về các tiêu chuẩn đạo đức của đơn vị
- Theo dõi phản hồi thông tin
Xuất phát từ mối quan hệ không thể tách rời giữa thông tin và truyền thông nênhai khái niệm này được trình bày chung cấu thành một bộ phận của hệ thống kiểmsoát nội bộ thông tin và truyền thông phải đảm bảo “phủ sóng” đến mọi bộ phận,phòng ban, cá nhân trong từng doanh nghiệp cũng như các đối tượng có liên quan.Với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trên tất cả các lĩnh vực, thông tin và truyềnthông có vai trò ngày càng quan trọng trong việc giúp doanh nghiệp đạt được cácmục tiêu của mình để tồn tại và phát triển
1.2.3.5 Giám sát
Việc giám sát nội bộ được thực hiện thường xuyên, được xây dựng trong cáchoạt động điều hành bình thường, thường xuyên của một thực tế, nó bao gồm cáchoạt động quản lý và giám sát thường xuyên và các hoạt động khác Các hoạt độnggiám sát đang thực hiện bao gồm các bộ phận KSNB và bao gồm hành động chốnglại các hệ thống KSNB không hiệu quả, phi đạo đức, phi kinh tế, kém hiệu quả vàkhông hiệu quả
Giám sát là quá trình mà người quản lý đánh giá chất lượng của hệ thốngKSNB Xác định KSNB có vận hành đúng như thiết kế hay không và có cần sửa đổicho phù hợp với từng thời kỳ hay không Giám sát thường xuyên tiếp cận các ý kiếngóp ý từ khách hàng, nhà cung cấp, các biến động bất thường hay định kỳ các
Trang 36cuộc kiểm toán định kỳ do kiểm toán viên nội bộ, hoặc do kiểm toán viên độc lậpthực hiện Hệ thống KSNB cần được giám sát để đánh giá chất lượng hoạt động của
hệ thống qua thời gian Việc giám sát được thực hiện thường xuyên, định kỳ hoặc kếthợp cả hai
Giám sát thường xuyên KSNB được thiết lập cho những hoạt động thôngthường và lặp lại của tổ chức bao gồm cả những hoạt động giám sát và quản lý mangtính chất định kỳ ngay trong quá trình thực hiện của các nhân viên trong công việchàng ngày Giám sát thường xuyên được thực hiện trên tất cả các yếu tố của KSNB
và liên quan đến việc ngăn chặn và phát hiện tất cả những hiện tượng vi phạm luật lệ,không tiết kiệm, không hiệu quả, hữu hiệu của hệ thống Việc KSNB đang diễn ratrong quá trình hoạt động thường xuyên, lặp lại một tổ chức, nó được thực hiện liêntục và trên cơ sở thời gian thực, phản ứng tự động với các điều kiện thay đổi và được
ăn sâu trong hoạt động của thực thể
Phạm vi và tần suất giám sát định kỳ phụ thuộc vào sự đánh giá mức độ rủi ro
và hiệu quả của thủ tục giám sát thường xuyên Giám sát định kỳ bao phủ toàn bộ sựđánh giá sự hữu hiệu hệ thống KSNB và đảm bảo KSNB đạt kết quả như mongmuốn dựa trên các phương pháp và thủ tục
Những yếu kém của hệ thống KSNB phải được thông báo cho lãnh đạo cấpcao, giám sát này bao gồm cả việc xem xét các phát hiện kiểm toán và các kiến nghịcủa kiểm toán viên để chúng thực hiện được trong thực tế một cách hữu hiệu hiệucủa toàn hệ thống Đó chính là sự đánh giá hệ thống định kỳ, mặt khác giám sát định
kỳ còn giúp đánh giá tính hữu hiệu của việc giám sát thường xuyên
Tóm lại, giám sát thường xuyên được thực hiện ngay trong các hoạt động hàngngày và thường xuyên lặp đi lặp lại Hay nói khác hơn, giám sát thường xuyên đượctiến hành ngay trong các hoạt động thường nhật, do vậy sẽ hiệu quả cao hơn so vớigiám sát định kỳ Lý do là giám sát định kỳ được thực hiện sau khi sự việc đã xảy ranên các vấn đề phát sinh thường được phát hiện nhanh chóng hơn trong giám sátthường xuyên Nếu tổ chức hay doanh nghiệp thực hiện việc giám sát thường xuyênthì thậm chí không cần giám sát định kỳ hay có thể thực hiện vài năm một lần vàngược lại
1.2.4 Mô hình lý thuyết của nghiên cứu
Trang 37Sau khi nghiên cứu lý thuyết và thảo luận với các chuyên gia làm việc tạiKBNN Bắc Ninh, mô hình lý thuyết được thống nhất để thực hiện nghiên cứu dựatrên nền tảng các yếu tố cấu thành HTKSNB trong bảng báo cáo COSO năm 2013.
Và các giả thuyết của các yếu tố được đặt ra như sau:
Hình 1.2: Mô hình lý thuyết về đánh giá HTKSNB
Mô hình trên có năm yếu tố tác động đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại kho bạc nhà nước Bắc ninh
Môi trường kiểm soát tác động đến sự hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bắc Ninh.
Đánh giá rủi ro tác động đến sự hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bắc Ninh.
Giám sát tác động đến sự hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bắc Ninh Thông tin và truyền thông tác đến sự hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bắc Ninh.
Hoạt động giám sát tác động đến sự hoàn thiện hệ thống KSNB tại KBNN Bắc Ninh.
Trang 38TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Nội dung chương 1 đã tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước,trình bày rõ khái niệm HTKSNB và Ủy Ban COSO cũng như các yếu tố cấu thànhHTKSNB Qua đó, HTKSNB được tác giả giải thích rõ qua 5 yếu tố cơ bản: môitrường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin truyền thông vàgiám sát Năm yếu tố này có mối quan hệ mật thiết và không tách rời nhau mà cóquan hệ chặt chẽ với nhau Nhà quản lý cần đánh giá các rủi ro có thể đe dọa đếnviệc đạt được các mục tiêu Hoạt động kiểm soát được tiến hành nhằm đảm bảo rằngcác chỉ thị của nhà quản lý rủi ro được thực hiện trong thực tế Trong khi đó, cácthông tin thích hợp cần phải được thu thập và quá trình trao đổi thông tin phải diễn
ra thông suốt trong toàn bộ tổ chức Quá trình trên cần được giám sát để điều chỉnhlại hệ thống kiểm soát nội bộ khi cần thiết
Trang 39CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
2.1.1 Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp gồm: (1) Nghiên cứu địnhtính và (2) Nghiên cứu định lượng Đối tượng nghiên cứu là KBNN Bắc Ninh
Nghiên cứu định tính: là một dạng nghiên cứu khám phá trong đó dữ liệu đượcthu thập ở dạng định tính Nghiên cứu định tính được thực hiện thông qua phươngpháp thảo luận nhóm tập trung với các lãnh đạo, cán bộ công chức, các chuyên viêntại KBNN Bắc Ninh, tham khảo ý kiến các giảng viên, thu thập tài liệu từ sổ điềuchỉnh, sổ từ chối khách hàng, bài viết trên diễn đàn KBNN Bắc Ninh nhằm khámphá ra các nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ để hoàn thiện hơn hệ thống kiểmsoát nội bộ tại các tại KBNN Bắc Ninh
Trên cơ sở các thông tin có được sau khi thảo luận nhóm, các biến của thang đođược kiểm định và bổ sung phù hợp với điều kiện hoạt động KSNB tại kho bạc Từ
đó, hình thành bảng hỏi và bảng hỏi này được xây dựng dựa trên cơ sở mô hìnhnghiên cứu của đề tài nhằm thu thập thông tin đưa vào phân tích và kiểm định cácgiả thuyết nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng: được thực hiện thông qua số liệu thu thập từ bảng câuhỏi được phát trực tiếp cho các lãnh đạo phỏng vấn Các lãnh đạo là giám đốc, phógiám đốc, trưởng phòng, phó phòng và nhân viên có chuyên môn sâu trong từngnghiệp vụ ảnh hưởng đến HTKSNB Các câu hỏi được đo lường dựa trên thang đoLikert 5 mức độ Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng phương pháp lấy mẫu địnhmức kết hợp với thuận tiện Lý do tác giả chọn phương pháp lấy mẫu phi xác suấtnày là nhằm tiết kiệm thời gian và chi phí, đồng thời mẫu vẫn có thể đại diện chođám đông nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện vào tháng 9 năm 2020 với số lượng mẫu là khoảng
125 Thang đo được kiểm định sơ bộ bằng công cụ thống kê mô tả, hệ số tin cậyCronbach's Alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA) với phần mềm SPSS phiên bản
Trang 4020.0 Phân tích tương quan, hồi quy tuyến tính được sử dụng để kiểm định mô hình
và các giả thuyết nghiên cứu
Phương pháp xử lý dữ liệu: dữ liệu nghiên cứu được tiến hành xử lý theo cácbước sau:
(1) Đánh giá độ tin cậy và giá trị của thang đo thông qua hệ số Cronbach'sAlpha (a) Qua đó, các biến có hệ số tương quan biến - tổng nhỏ hơn 0.3
sẽ bị loại và thang đo sẽ được chấp nhận khi hệ số Alpha lớn hơn 0.60
(Theo Nunnally & Bernstein, 1994).
(2) Phân tích nhân tố EFA chỉ sử dụng khi hệ số KMO
(Kaiser-Meyer-Olkin) phải lớn hơn 0.50 (trích Nguyễn Đình Thọ, 2011, trang 397) Sau
khi phân tích nhân tố, tiến hành loại các biến có trọng số EFA nhỏ; kiểmtra nhân tố trích và phương sai trích
(3) Những nhân tố nào tồn tại sẽ được đưa vào phân tích tương quan đểkiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến Sau đó, tác giả tiến hành phân tíchhồi quy và kiểm định giả thuyết nghiên cứu
(4) Xây dựng mô hình có dạng: Y = po + P1.X1+ 02.X2 + 03.X3 + 04.X4 +
p5.X5
Dùng số liệu quan sát để ước lượng ảnh hưởng của biến độc lập lên giá trị trungbình của biến phụ thuộc Từ các tham số ước lượng được các tác động ảnh hưởng,thực hiện các dự báo và đưa ra các khuyến nghị về giải pháp hoàn thiện