Xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố vụ án hình sự
Quy định pháp luật hiện hành
Vật chứng đóng vai trò quan trọng trong việc làm sáng tỏ sự thật khách quan của vụ án, được ghi nhận là một trong những nguồn chứng cứ truyền thống theo Bộ luật Tố tụng hình sự Theo quy định hiện hành, vật chứng bao gồm các công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, đối tượng của tội phạm, tiền hoặc vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội, góp phần quan trọng trong việc giải quyết vụ án.
Quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 vẫn giữ nguyên khái niệm về vật chứng như trong Điều 74 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, tuy nhiên đã loại bỏ từ "bạc" trong cụm "tiền bạc" và bổ sung thêm cụm từ "hoặc có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án".
“có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội”.
Nội dung khái niệm vật chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 chỉ đề cập chung chung về ngoại diên của vật chứng mà chưa làm rõ nội hàm của khái niệm này Để hiểu rõ hơn, khái niệm "vật" cần được xem xét, trong đó "vật" được định nghĩa là "cái có hình khối và có thể nhận biết được" Điều này cho thấy rằng các vật có hình dạng, kích thước và trọng lượng mà con người có thể cảm nhận qua các giác quan như thị giác và xúc giác đều thuộc về khái niệm "vật", và có khả năng trở thành vật chứng trong vụ án hình sự.
2 Viện Ngôn ngữ học (2010), Từ điển tiếng việt, Nxb Từ điển bách khoa, Hà Nội, tr.872.
Khái niệm về vật chứng tại Điều 89 BLTTHS 2015 cần được bổ sung nội hàm, trong đó vật chứng được định nghĩa là những vật thu thập theo quy trình pháp luật tố tụng hình sự, chứa thông tin có giá trị chứng minh tội phạm, người phạm tội và các tình tiết liên quan Vật chứng bao gồm công cụ, phương tiện phạm tội, vật mang dấu vết tội phạm, và đối tượng của tội phạm như tiền và các tài sản khác có giá trị chứng minh.
Thẩm quyền xử lý vật chứng được quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS
Theo quy định năm 2015, việc xử lý vật chứng trong các vụ án được xác định bởi từng cơ quan có thẩm quyền: Cơ quan điều tra sẽ xử lý nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra; Viện kiểm sát quyết định trong giai đoạn truy tố; Chánh án Tòa án có quyền quyết định khi vụ án đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử; và Hội đồng xét xử sẽ quyết định nếu vụ án đã được đưa ra xét xử.
Tùy thuộc vào tính chất của vật chứng và giai đoạn tố tụng, vụ án có thể bị đình chỉ, và thẩm quyền xử lý vật chứng thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án Trong giai đoạn điều tra và truy tố, thẩm quyền xử lý vật chứng được xác định cụ thể để đảm bảo tính chính xác và hiệu quả trong quá trình tố tụng.
Nếu vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn điều tra hoặc việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án, Cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra sẽ ra quyết định xử lý vật chứng.
Nếu vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn truy tố hoặc việc xử lý vật chứng không ảnh hưởng đến kết quả vụ án, Viện kiểm sát sẽ có quyền quyết định về việc xử lý vật chứng.
Quy định về thẩm quyền xử lý vật chứng trong BLTTHS 2015 tương tự như khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2003, nhưng có sự bổ sung thẩm quyền cho các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra Việc này phù hợp với thực tiễn tố tụng, khi các cơ quan này có khả năng khởi tố vụ án và điều tra trong một số trường hợp theo luật định Nếu vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn điều tra, các cơ quan này sẽ thực hiện xử lý vật chứng đã thu giữ Nhờ quy định mới, việc xử lý vật chứng của các cơ quan này sẽ thuận lợi hơn và đảm bảo tính pháp lý trong mọi hoạt động tố tụng.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, khi vụ án bị đình chỉ, cơ quan thụ lý vụ án có trách nhiệm xử lý vật chứng Thông thường, việc xử lý vật chứng sẽ được nêu rõ trong quyết định đình chỉ vụ án của các cơ quan này.
Quy định về các hình thức xử lý vật chứng được thực hiện theo khoản 2 và khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015, bao gồm các hình thức như sau:
- Nếu vật chứng là công cụ, phương tiện phạm tội, vật cấm tàng trữ, lưu hành thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước hoặc tiêu hủy;
- Nếu vật chứng là tiền bạc hoặc tài sản do phạm tội mà có thì bị tịch thu, nộp ngân sách nhà nước;
- Nếu vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được thì bị tịch thu và tiêu hủy.
Trong quá trình điều tra và truy tố, các cơ quan và người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát được phép thực hiện một số hoạt động điều tra cần thiết.
- Trả lại ngay tài sản đã thu giữ, tạm giữ nhưng không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp tài sản đó;
Trả lại ngay vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp nếu việc này không ảnh hưởng đến quá trình xử lý vụ án và thi hành án.
- Vật chứng thuộc loại mau hỏng hoặc khó bảo quản thì có thể được bán theo quy định của pháp luật; trường hợp không bán được thì tiêu hủy;
Vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai cần được giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền ngay sau khi có kết luận giám định, nhằm xử lý theo quy định của pháp luật.
Điều 47 BLHS 2015 quy định về biện pháp tư pháp đối với tài sản liên quan đến tội phạm, điều chỉnh việc xử lý vật chứng trong các vụ án hình sự Cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng biện pháp tịch thu sung vào ngân sách nhà nước hoặc tịch thu tiêu hủy tùy thuộc vào từng trường hợp cụ thể.
-Công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội;
-Vật hoặc tiền do phạm tội hoặc do mua bán, đổi chác những thứ ấy mà có; khoản thu lợi bất chính từ việc phạm tội;
Vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ và lưu hành sẽ không được tịch thu nếu đó là tài sản bị người phạm tội chiếm đoạt hoặc sử dụng trái phép; thay vào đó, chúng sẽ được trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Tuy nhiên, nếu tài sản đó thuộc về người khác và người này có lỗi trong việc để cho người phạm tội sử dụng vào hành vi phạm tội, tài sản đó có thể bị tịch thu.
Thực tiễn xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra, truy tố
Trong giai đoạn điều tra và truy tố, việc xử lý vật chứng được thực hiện đúng theo quy định của BLTTHS, BLHS, TTLT số 06/1998 và các văn bản hướng dẫn liên quan Các cơ quan có thẩm quyền chú trọng đến hoạt động này, đảm bảo xử lý nhanh chóng, kịp thời, đúng thẩm quyền và thủ tục pháp lý Mặc dù có một số sai sót nhỏ trong xử lý vật chứng, nhưng chúng không phổ biến trong thực tiễn Việc xử lý vật chứng đóng góp quan trọng vào việc bảo vệ lợi ích vật chất của Nhà nước và xã hội, đồng thời đáp ứng nguyện vọng của người bị hại trong các vụ án hình sự.
Trong thực tiễn, hoạt động xử lý vật chứng của các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn gặp phải một số sai sót nhất định.
-Cơ quan tiến hành tố tụng không thực hiện việc xử lý vật chứng của vụ án.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 76 BLTTHS 2003 và khoản 1 Điều 106 BLTTHS 2015, khi vụ án bị đình chỉ, cơ quan giải quyết hồ sơ phải ra quyết định xử lý vật chứng Tuy nhiên, thực tế cho thấy có trường hợp Viện Kiểm sát (VKS) đã đình chỉ vụ án nhưng không xử lý vật chứng, như trong vụ án “đánh bạc” liên quan đến 17 con bạc bị bắt tại Hòa Bình Mặc dù CQĐT đã thu giữ 8,4 triệu đồng cùng tang vật nhưng VKSND huyện Lương Sơn không ra quyết định xử lý vật chứng, dẫn đến việc số tiền này không được tịch thu và các tang vật không được tiêu hủy Sau khi vụ việc bị phát hiện, VKSND huyện Lương Sơn mới tiến hành xử lý vật chứng và số tiền này đã được nộp vào quỹ công.
- Vật chứng bị bán không đúng quy định của pháp luật.
Theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 thì chỉ vật
- Việc xử lý tang vật trong các vụ án hình sự chỉ được thực hiện khi có sự đồng ý của cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền, đặc biệt là đối với các chứng cứ dễ hỏng hoặc khó bảo quản.- Quyết định xử lý vật chứng phải được CQĐT và VKS đưa ra nếu vụ án đã bị đình chỉ trong giai đoạn điều tra hoặc truy tố.- Tuy nhiên, có trường hợp CQĐT và VKS lại quyết định bán tang vật dù vụ án vẫn đang trong giai đoạn tố tụng, gây khó khăn cho quá trình xét xử của Tòa án cấp sơ thẩm.
Công ty TNHH TM Ngọc Hưng, có trụ sở tại thị trấn Lao Bảo, Quảng Trị, do bà Trần Thị Dung làm giám đốc và ông Trương Huy Liệu làm phó giám đốc, đã thực hiện nhập khẩu hơn 535 m³ gỗ trắc từ Lào vào Việt Nam vào ngày 17-12-2011 Sau đó, công ty tiếp tục xuất khẩu toàn bộ lô gỗ này sang Hong Kong qua cửa khẩu cảng Cửa Việt.
Ngày 30-12-2011, Tổng cục Hải quan (TCHQ) gửi công văn hỏa tốc cho Cục Hải quan TP Đà Nẵng và Hải quan Quảng Trị yêu cầu dừng làm thủ tục thông quan đối với lô hàng nêu trên Đồng thời, TCHQ giao hồ sơ cho Cục Điều tra chống buôn lậu (đơn vị trực thuộc của TCHQ) tổ chức khám xét, điều tra, xử lý Hơn ba tháng sau, Cục Điều tra chống buôn lậu ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và tạm giữ lô gỗ làm tang vật vụ án Sau đó, TCHQ chuyển hồ sơ vụ án cho Cơ quan CSĐT
Bộ Công an (gọi tắt là C44).
Vào ngày 31-7-2013, trong quá trình điều tra vụ án, cơ quan CSĐT đã quyết định xử lý vật chứng bằng cách tổ chức bán đấu giá lô gỗ, thu về gần 64 tỉ đồng, sau khi trừ chi phí còn lại 60,8 tỉ đồng Quyết định xử lý vật chứng dựa trên Điều 34 và Điều 76 BLTTHS năm 2003, trong đó Điều 34 cho phép thủ trưởng và phó thủ trưởng CQĐT có quyền xử lý vật chứng, còn Điều 76 quy định rằng việc xử lý vật chứng do CQĐT quyết định nếu vụ án được đình chỉ trong giai đoạn điều tra.
CQĐT chỉ có quyền xử lý vật chứng khi vụ án đã bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra Nếu vụ án vẫn đang tiến hành tố tụng mà CQĐT ra quyết định xử lý vật chứng, thì đó là hành vi không đúng quy định pháp luật Hơn nữa, vật chứng là gỗ, không thể xem là hàng hóa mau hỏng hoặc khó bảo quản.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã bác bỏ cáo trạng và khẳng định mình vô tội HĐXX TAND TP Đà Nẵng quyết định hoãn xử và yêu cầu điều tra bổ sung để làm rõ nhiều vấn đề trong vụ án, bao gồm việc giám định lại lô gỗ nhằm xác định chính xác khối lượng, cũng như làm rõ dấu búa của cơ quan kiểm lâm Tòa cũng yêu cầu xác minh tính hợp pháp của việc bán lô gỗ vật chứng Tuy nhiên, do lô gỗ đã được bán, việc xác định khối lượng và dấu búa kiểm soát trở nên khó khăn.
- Viện kiểm sát đề nghị xử lý vật chứng trái quy định pháp luật
Các cơ quan tố tụng cần căn cứ vào văn bản pháp luật chuyên ngành để xử lý vật chứng cấm như vũ khí quân dụng và vật liệu nổ Tuy nhiên, nhiều Kiểm sát viên không nghiên cứu kỹ các quy định về phân loại và xử lý vật chứng, dẫn đến việc đề nghị xử lý không đúng pháp luật trong Bản cáo trạng Công tác kiểm tra của Lãnh đạo Viện cũng chưa hiệu quả, thể hiện sự qua loa, thiếu sót trong việc phát hiện vi phạm Một ví dụ điển hình là vụ án sau đây:
Vào khoảng 05 giờ sáng ngày 11/4/2014, tại Quốc lộ 1A, thuộc tổ 63, khu 6, phường Hà Khẩu, thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh, lực lượng chức năng đã bắt quả tang Nguyễn Thị Thanh T đang điều khiển xe mô tô chở theo thuốc nổ và kíp nổ điện được chứa trong hộp xốp và bao dứa Tại hiện trường, cơ quan chức năng đã thu giữ 350 thỏi thuốc nổ hình trụ màu nâu.
Cơ quan điều tra đã phát hiện một lô hàng chứa 70kg thuốc nổ AMÔNIT, cùng với 50 ống kim loại hình trụ tròn màu vàng dài 5,5cm và 50 ống kim loại màu trắng dài 4,5cm, tất cả đều có kíp nổ điện còn giá trị sử dụng Ngoài ra, còn có một xe mô tô và một điện thoại di động liên quan đến vụ việc.
Trong quá trình truy tố, kiểm sát viên đã đề xuất xử lý vật chứng bằng cách tịch thu và sung công quỹ Nhà nước 68 kg thuốc nổ cùng 45 kíp nổ bằng nhôm.
Việc xử lý 45 kíp nổ điện bằng đồng không tuân thủ quy định pháp luật, cụ thể là Nghị định số 26/2012/NĐ-CP ngày 05/4/2012 của Chính phủ Theo Điều 6, tất cả vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ phải được chuyển giao cho cơ quan Quân sự hoặc Công an để xử lý Sau khi phân loại, những vật liệu nổ còn giá trị sử dụng sẽ được đưa vào sử dụng theo quy định Điều 8 của Nghị định này cũng quy định rõ về thẩm quyền tiếp nhận, thu gom, phân loại, thanh lý và tiêu hủy các loại vũ khí và vật liệu nổ.
1 Tiếp nhận, thu gom, phân loại: a) Cơ quan Quân sự, Công an, Ủy ban nhân dân cấp xã trở lên có thẩm quyền tiếp nhận, thu gom vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ. b) Cơ quan Quân sự, Công an huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây viết gọn là cấp huyện), cấp Trung đoàn trở lên có trách nhiệm phân loại vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ…
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Dựa trên việc nhận diện các hạn chế trong quy trình xử lý vật chứng ở giai đoạn điều tra và truy tố, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả áp dụng pháp luật.
Cần ban hành văn bản hướng dẫn rõ ràng về tiêu chí và cách xác định vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được, cũng như vật chứng dễ hỏng hoặc khó bảo quản Điều này nhằm đảm bảo áp dụng thống nhất trong thực tiễn, tránh những quan điểm khác nhau từ những người tiến hành tố tụng, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan trong vụ án.
Cần nâng cao trình độ chuyên môn và ý thức trách nhiệm trong hoạt động xử lý vật chứng của những người thực thi công vụ Việc tổ chức thường xuyên các lớp tập huấn và đào tạo sẽ giúp nâng cao kỹ năng để ứng phó hiệu quả với các tình huống thực tế Đào tạo cán bộ chuyên trách có trình độ và năng lực cao là cần thiết Đồng thời, cần rà soát và đánh giá chuyên môn của tất cả cán bộ để giảm dần số lượng cán bộ yếu kém và thiếu tinh thần trách nhiệm trong công việc, nhằm đảm bảo tính hiệu quả và nghiêm túc trong công tác.
8 Nguồn: https://plo.vn/phap-luat/ban-lo-go-vat-chung-truoc-khi-toa-xu-628408.html
Ba là, xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật của những người
Để đảm bảo tính minh bạch và hiệu quả trong quá trình xử lý vật chứng, các hành vi vi phạm pháp luật của những người thực hiện hoạt động tố tụng cần được giải quyết triệt để Nếu không, sẽ dẫn đến việc gia tăng vi phạm pháp luật và ảnh hưởng tiêu cực đến quyền lợi của các cá nhân, tổ chức liên quan Mọi thông tin về vi phạm pháp luật trong quá trình này cần được điều tra và xác minh kịp thời Thủ trưởng cơ quan phải chỉ đạo xác minh và báo cáo lên cấp trên, đồng thời thông báo cho cơ quan có thẩm quyền nếu phát hiện dấu hiệu phạm tội Cần kiên quyết không bao che cho những hành vi vi phạm và xử lý kỷ luật phải đúng quy định, tương xứng với mức độ sai phạm.
Để nâng cao hiệu quả trong xử lý vật chứng, cần tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan THTT cũng như giữa các cấp quản lý Khi vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra hoặc truy tố, VKS cần kiểm tra kỹ các quyết định liên quan đến vật chứng nhằm tránh tình trạng quên hoặc xử lý sai quy định pháp luật Nếu gặp vướng mắc trong việc xử lý vật chứng có thể ảnh hưởng đến chứng minh vụ án, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phối hợp chặt chẽ để đưa ra quyết định chính xác.
Theo Điều 106 khoản 1 BLTTHS năm 2015, việc xử lý vật chứng thuộc về Cơ quan điều tra nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn điều tra, còn nếu vụ án đình chỉ ở giai đoạn truy tố thì Viện kiểm sát sẽ quyết định Hiện nay, quy định pháp luật về xử lý vật chứng đã được sửa đổi và bổ sung một cách tương đối hoàn chỉnh.
Trong những năm qua, việc xử lý vật chứng trong giai đoạn điều tra và truy tố vẫn gặp nhiều sai sót, bao gồm việc cơ quan điều tra không thực hiện xử lý vật chứng đúng quy định, bán vật chứng trái pháp luật, và đề nghị xử lý vật chứng không đúng quy định Ngoài ra, còn có sai sót trong việc xử lý vật chứng không có giá trị hoặc giá trị sử dụng thấp, cùng với việc không trả lại tài sản không phải là vật chứng Nguyên nhân chính của những sai sót này là do quy định pháp luật về xử lý vật chứng chưa rõ ràng, cùng với hạn chế về trình độ chuyên môn và trách nhiệm của các cơ quan tố tụng, cũng như sự thiếu hụt trong cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan liên quan.
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như ban hành văn bản hướng dẫn rõ ràng về tiêu chí và cách xác định vật chứng không có giá trị hoặc không sử dụng được, cũng như vật chứng dễ hỏng hoặc khó bảo quản Cần xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật của những người thực thi nhiệm vụ liên quan đến xử lý vật chứng, đồng thời tăng cường cơ chế giám sát và phối hợp giữa các cơ quan thực thi và giữa các cấp trong hoạt động này.
Xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự
Quy định pháp luật hiện hành
Thẩm quyền xử lý vật chứng của Tòa án cũng được quy định tại khoản 1 Điều
Theo quy định tại Điều 106 BLTTHS 2015, việc xử lý vật chứng trong một vụ án được thực hiện như sau: nếu vụ án bị đình chỉ ở giai đoạn chuẩn bị xét xử, Chánh án Tòa án sẽ quyết định về việc này; trong trường hợp vụ án đã được đưa ra xét xử, Hội đồng xét xử sẽ là cơ quan đưa ra quyết định.
Trong giai đoạn xét xử, Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 quy định rõ ràng việc xử lý vật chứng, phân chia thành hai giai đoạn: chuẩn bị xét xử và xét xử Cụ thể, trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu vụ án bị đình chỉ, Chánh án Tòa án sẽ có thẩm quyền xử lý vật chứng; ngược lại, khi vụ án đã được đưa ra xét xử, thẩm quyền này sẽ thuộc về Hội đồng xét xử.
- Thẩm quyền xử lý vật chứng của Chánh án Tòa án
Cơ sở pháp lý quy định thẩm quyền xử lý vật chứng của Chánh án Tòa án được nêu tại điểm a khoản 2 Điều 44 và khoản 1 Điều 106 BLTTHS 2015 Khi Chánh án vắng mặt, Phó Chánh án sẽ thực hiện việc xử lý vật chứng (khoản 3 Điều 44 BLTTHS 2015) Theo Điều 268 BLTTHS 2015, các Tòa án cấp huyện, TAQS khu vực, TAND cấp tỉnh và TAQS cấp quân khu có thẩm quyền xét xử sơ thẩm, do đó Chánh án hoặc Phó Chánh án có quyền xử lý vật chứng trước phiên tòa Pháp luật không quy định cụ thể về thời điểm xử lý vật chứng trước hoặc trong phiên tòa, mà phụ thuộc vào đánh giá của Tòa án Theo điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS, việc xử lý vật chứng có thể bao gồm việc trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu vật chứng là hàng hóa mau hỏng, Chánh án có thể tổ chức bán và chuyển tiền vào tài khoản tạm giữ, hoặc tiêu hủy nếu không bán được Đối với vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai, Chánh án phải giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành ngay sau khi có kết luận giám định (điểm d khoản 3 Điều 106 BLTTHS 2015).
Thẩm quyền xử lý vật chứng của Chánh án hoặc Phó Chánh án Tòa án trong trường hợp vụ án không bị đình chỉ là khá hạn chế Theo quy định của BLTTHS 2015, việc xử lý vật chứng chỉ được thực hiện dưới bốn hình thức: trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp, tổ chức bán một số vật chứng nhất định theo quy định của pháp luật, tiêu hủy các loại vật chứng không thể bán, hoặc giao cho cơ quan quản lý chuyên ngành có thẩm quyền để xử lý đối với vật chứng là động vật hoang dã và thực vật ngoại lai.
Hội đồng xét xử có thẩm quyền xử lý vật chứng trong các vụ án đủ điều kiện đưa ra xét xử Theo quy định tại khoản 3 Điều 277 BLTTHS 2015, Thẩm phán được phân công phải ra quyết định đưa vụ án ra xét xử trong thời hạn 15 ngày, không quá 30 ngày nếu kéo dài Tòa án phải mở phiên tòa để xét xử vụ án, và việc xử lý vật chứng sẽ do Hội đồng xét xử thực hiện theo khoản 1 Điều 106 BLTTHS.
Việc giải quyết vụ án thông qua phiên tòa công khai và minh bạch giúp HĐXX xem xét toàn diện các chứng cứ và ý kiến của các bên liên quan, từ đó đưa ra phán quyết phù hợp và triệt để Khác với xử lý vật chứng của CQĐT và VKS, HĐXX thực hiện việc này một cách toàn diện nhất, sử dụng đầy đủ các phương thức xử lý vật chứng theo quy định của BLTTHS 2015.
- Thẩm quyền xử lý vật chứng khi vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm, khi không còn căn cứ để tiếp tục, vụ án cần được đình chỉ theo quy định pháp luật Việc đình chỉ có thể diễn ra trong giai đoạn chuẩn bị xét xử hoặc tại phiên tòa Khi vụ án kết thúc bằng quyết định đình chỉ, việc chứng minh không còn cần thiết, do đó vật chứng không được khai thác và phải được xử lý theo quy định pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 106, chỉ có Chánh án Tòa án mới có thẩm quyền xử lý vật chứng khi vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, trong khi Thẩm phán được phân công không có quyền xử lý Chánh án sẽ ra Quyết định xử lý vật chứng độc lập, không được đề cập trong Quyết định đình chỉ vụ án của Thẩm phán Điều này khác biệt so với quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự 2003, khi Thẩm phán được phân công có quyền xử lý vật chứng ngay trong Quyết định đình chỉ vụ án.
Theo tác giả, quy định tại BLTTHS năm 2015 về thẩm quyền xử lý vật chứng chỉ thuộc về Chánh án Tòa án khi vụ án được đình chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử là không phù hợp Mặc dù BLTTHS năm 2015 đã trao quyền nhiều hơn cho Thẩm phán, tác giả nhấn mạnh rằng quy định này có tính bắt buộc Do đó, các Tòa án cần nghiêm túc thực hiện quy định này, theo đó chỉ Chánh án hoặc Phó Chánh án được ủy quyền mới có quyền xử lý vật chứng Việc xử lý vật chứng bởi các chủ thể khác trong giai đoạn này, dù là quyết định độc lập hay trong quyết định đình chỉ vụ án, đều không đúng thẩm quyền.
Khi vụ án bị đình chỉ trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Chánh án Tòa án hoặc Phó Chánh án được ủy quyền có thẩm quyền xử lý vật chứng Việc xử lý vật chứng phải được thực hiện một cách triệt để và toàn diện, với các phương thức xử lý được quy định bởi Bộ luật Tố tụng hình sự.
Thực tiễn xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử
Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, việc xử lý vật chứng gặp nhiều hạn chế và vướng mắc, ảnh hưởng đến chất lượng giải quyết án và giá trị pháp lý của bản án, quyết định của Tòa án.
- Tạm giữ tài sản không phải là vật chứng sai quy định
Theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, cơ quan có thẩm quyền phải trả lại ngay tài sản không phải là vật chứng cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp Tuy nhiên, vẫn có trường hợp Tòa án quyết định tạm giữ tài sản không phải là vật chứng, mặc dù Viện Kiểm sát đề nghị trả lại cho chủ sở hữu, điều này vi phạm quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 Dưới đây là một số trường hợp tiêu biểu.
Vào tối ngày 17/7/2018, Trương Mậu Hiếu và Vũ Văn Toan đã sử dụng xe mô tô Exciter BKS F1-146.28 của mẹ Hiếu, bà Bùi Thị Hoa, để đi chơi Trên đường trở về, họ đã gặp anh Nguyễn Văn Thu đang đi bộ ra quán bia và đã mời anh Thu đi cùng.
Vào khoảng 23h, sau khi uống bia, Vũ Văn Toan và Trương Mậu Hiếu đã ép anh Nguyễn Văn Thu phải trả 195.000đ tiền bia Khi anh Thu không đồng ý, Hiếu và Toan đã sử dụng vũ lực để buộc anh phải thanh toán Trong lúc Hiếu giữ chặt cổ anh Thu, Toan đã lấy ví và điện thoại của anh Do ví không có tiền, Toan đã ném lại, còn điện thoại thì cả hai mang đi Sự việc được phát hiện sau đó và Hiếu đã bỏ trốn.
Tại phiên tòa sơ thẩm, VKSND huyện Thanh Miện đã đề nghị Tòa án trả lại xe mô tô cho bà Hoa do chiếc xe không phải là vật chứng trong vụ án.
Bản án hình sự sơ thẩm số 47/2018/HSST của TAND huyện Thanh Miện vào ngày 31/10/2018 tuyên bố Vũ Văn Toan phạm tội Cướp tài sản HĐXX quyết định tiếp tục quản lý xe môtô Exciter BKS 34 F1-146.28 tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Miện để phục vụ điều tra, và sẽ xem xét vật chứng cùng vụ án khi bắt được Trương Mậu Hiếu.
Quyết định xử lý vật chứng của HĐXX TAND huyện Thanh Miện đã bị kháng nghị, và tại phiên tòa phúc thẩm TAND tỉnh Hải Dương, quyết định này được xác định là trái pháp luật Do đó, TAND tỉnh Hải Dương đã chấp nhận kháng nghị.
Chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng trong vụ án hình sự liên quan đến chiếc xe mô tô Eciter BKS 34 F1-146.28 TAND Tỉnh Hải Dương đã mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án cướp tài sản do Vũ Văn Toan thực hiện Bà Bùi Thị Hoa, chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe, đã kháng cáo đề nghị trả lại xe, và Viện kiểm sát đã xác định bà không có lỗi trong việc sử dụng xe vào mục đích phạm tội Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, HĐXX đã quyết định sửa bản án sơ thẩm, trả lại chiếc xe cho bà Hoa nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của bà.
Trong vụ án, xe môtô Exciter BKS 34 F1-146.28 của bà Bùi Thị Hoa không phải là phương tiện được sử dụng để thực hiện tội phạm, nên không được coi là vật chứng Theo Điều 106 BLTTHS 2015, cơ quan có thẩm quyền phải trả lại ngay tài sản cho bà Hoa Tuy nhiên, quyết định của HĐXX cấp sơ thẩm về việc tiếp tục tạm giữ phương tiện này đã vi phạm quy định trên, gây thiệt hại cho bà Hoa.
Vào khoảng 09 giờ 20 phút ngày 07/8/2018, Lê Văn Phong điều khiển xe công nông chở bìa gỗ trên đường liên thôn tại xã Đức Lạng, huyện Đức Thọ, có anh Võ Đức Tuất ngồi nhờ bên ghế phụ Khi đến khu vực Đập Trạ, Phong không giảm tốc độ khi thấy đoạn đường vòng, dẫn đến việc xe trượt khỏi đường và lật nghiêng, gây ra tai nạn nghiêm trọng Hậu quả, anh Tuất đã tử vong do bị đè lên người, với nguyên nhân là sức ép lồng ngực, chấn thương bụng và đa chấn thương.
Tại Bản án sơ thẩm số 18/2018/HSST, TAND huyện Đức Thọ đã xử phạt Lê Văn Phong 03 năm tù cho hưởng án treo về tội vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ Tòa cũng quyết định tịch thu một chiếc xe công nông tự chế và tiêu hủy 30 thanh bìa gỗ theo quy định của pháp luật.
10 Nguồn https://kiemsat.vn/chap-nhan-khang-nghi-cua-vien-kiem-sat-ve-viec-xu-ly-vat-chung-51832.html
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã kháng nghị bản án sơ thẩm, cho rằng HĐXX sơ thẩm đã áp dụng sai điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS khi tuyên tịch thu tiêu hủy 30 thanh bìa gỗ của bị cáo Lê Văn Phong Số bìa gỗ này không phải là vật chứng của vụ án, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và thuộc quyền sở hữu của bị cáo Do đó, Tòa án cần áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS để trả lại số bìa gỗ cho bị cáo Lê Văn Phong.
Hành vi của bị cáo liên quan đến tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ với phương tiện là chiếc xe công nông tự chế, do đó, việc Tòa án tuyên tịch thu chiếc xe này là hợp lý theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 BLTTHS Tuy nhiên, 30 thanh bìa gỗ của bị cáo không phải là phương tiện hay công cụ phạm tội và không được sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội, do đó không được coi là vật chứng trong vụ án Việc HĐXX sơ thẩm áp dụng biện pháp tịch thu tiêu hủy các thanh gỗ này là không đúng quy định pháp luật, gây thiệt hại về tài sản cho bị cáo.
Việc HĐXX cấp sơ thẩm ra quyết định xử lý vật chứng không đúng quy định pháp luật xuất phát từ sai lầm trong nhận thức của các thành viên HĐXX, dẫn đến ảnh hưởng tiêu cực đến quyền và lợi ích hợp pháp của người bị áp dụng, đồng thời xâm phạm quyền sở hữu tài sản của họ.
- Vướng mắc trong việc xử lý vật chứng là tài sản chung của vợ chồng
Theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, vật chứng liên quan đến tội phạm sẽ bị tịch thu hoặc tiêu hủy Tuy nhiên, nếu công cụ phạm tội là tài sản chung của vợ chồng mà một bên không có lỗi, việc xử lý tài sản này vẫn gây tranh cãi.
11 Nguồn: https://baomoi.com/toa-ap-dung-sai-khung-hinh-phat-va-xu-ly-vat-chung-vien-kiem- sat-khang- nghi/c/28961174.epi
Một số kiến nghị nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật
Dựa trên việc nhận diện các hạn chế trong quá trình xử lý vật chứng tại giai đoạn xét xử, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm cải thiện hiệu quả áp dụng pháp luật.
Quy định về xử lý tài sản chung của vợ chồng khi một trong hai người sử dụng làm công cụ thực hiện tội phạm cần được làm rõ Theo tác giả, vật chứng nên được tịch thu sung quỹ nhà nước với giá trị tài sản chung tại thời điểm phát mãi Mỗi người có quyền sở hữu phần tài sản chung, do đó, phần của người phạm tội sẽ nộp ngân sách Nhà nước, trong khi phần còn lại sẽ được trả lại cho vợ/chồng Nếu người kia muốn giữ tài sản chung, họ có thể tiếp tục sở hữu nếu nộp ngân sách nhà nước với giá trị tài sản đã được định giá Biện pháp này đảm bảo quyền lợi cho các bên và thuận lợi cho việc thi hành án.
Hướng dẫn xử lý vật chứng trong trường hợp tài sản có giá trị bị chiếm đoạt hoặc hư hỏng bởi người phạm tội, nhưng đã được bồi thường đầy đủ cho chủ sở hữu, cho thấy rằng việc bồi thường này được coi là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Mặc dù người phạm tội hoặc người thân đã bồi thường, vật chứng vẫn cần được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 BLTTHS năm 2015 Vấn đề xử lý tài sản sẽ được các bên tự thỏa thuận và quyết định theo khía cạnh dân sự.
Để nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ có thẩm quyền xử lý vật chứng của Tòa án, cần chuẩn hóa đội ngũ cán bộ đầu vào, phấn đấu 100% cán bộ chuyên môn và thẩm phán mới được tuyển dụng có trình độ cử nhân Luật chính quy Bên cạnh đó, cần nâng cao năng lực chuyên môn thông qua việc cải thiện khả năng nhận thức và ứng dụng pháp luật vào thực tiễn xét xử.
Để nâng cao hiệu quả trong công tác xét xử, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như tăng cường kiểm tra và giám sát, phối hợp chặt chẽ với các cơ quan tố tụng liên quan trong quá trình giải quyết vụ án Đồng thời, cần xử lý nghiêm minh các vi phạm liên quan đến việc xử lý vật chứng, với yêu cầu cán bộ Tòa án phải bồi thường thiệt hại nếu có vi phạm xảy ra.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 106 BLTTHS năm 2015, việc xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử được chia thành hai giai đoạn: giai đoạn chuẩn bị xét xử và giai đoạn xét xử chính thức Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, nếu vụ án bị đình chỉ, Chánh án Tòa án sẽ có thẩm quyền xử lý vật chứng Ngược lại, nếu vụ án đã được đưa ra xét xử, thẩm quyền xử lý sẽ thuộc về Hội đồng xét xử.
Trong quá trình xử lý vật chứng trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, vẫn tồn tại nhiều hạn chế và vướng mắc, bao gồm việc tạm giữ tài sản không phải là vật chứng, khó khăn trong việc xử lý vật chứng là tài sản chung của vợ chồng, và việc bỏ sót vật chứng Ngoài ra, còn có sự không thống nhất trong xử lý vật chứng có giá trị bị chiếm đoạt hoặc hủy hoại, đặc biệt khi người phạm tội đã bồi thường cho chủ sở hữu Nguyên nhân của những vấn đề này chủ yếu do quy định pháp luật tố tụng hình sự về xử lý vật chứng còn bất cập, cùng với trình độ và trách nhiệm của những người có thẩm quyền xử lý vật chứng chưa đáp ứng yêu cầu.
Tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý vật chứng tại giai đoạn xét xử, bao gồm: quy định rõ về hướng xử lý khi vật chứng là tài sản chung của vợ chồng và một bên đã sử dụng để thực hiện tội phạm mà bên kia không hay biết; hướng dẫn cụ thể về xử lý vật chứng là tài sản có giá trị bị chiếm đoạt, sử dụng trái phép, hoặc hủy hoại, nhưng tội phạm đã bồi thường đầy đủ cho chủ sở hữu; và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ có thẩm quyền xử lý vật chứng tại Tòa án.
Hoạt động xử lý vật chứng là một yếu tố quan trọng trong tố tụng hình sự, ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các cá nhân, tổ chức liên quan Việc thực hiện nhanh chóng và đúng quy định pháp luật giúp nâng cao hiệu quả trong quá trình điều tra Theo Điều 106 BLTTHS năm 2015, thẩm quyền xử lý vật chứng phụ thuộc vào tính chất của vật chứng và giai đoạn tố tụng, có thể thuộc về Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.
Quy định về xử lý vật chứng trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 đã tương đối toàn diện nhưng vẫn chưa bao quát hết các tình huống thực tế Hoạt động này trong những năm qua còn tồn tại nhiều hạn chế, vướng mắc, ảnh hưởng đến chất lượng tố tụng hình sự và xâm phạm quyền sở hữu tài sản của cá nhân, tổ chức liên quan Ngoài những hạn chế về mặt pháp luật, một nguyên nhân quan trọng dẫn đến thực trạng này là do trình độ chuyên môn yếu kém và thiếu trách nhiệm của những người thực hiện tố tụng.
Để nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật trong xử lý vật chứng, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp như hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nâng cao trình độ chuyên môn của những người tiến hành tố tụng Đồng thời, cần xử lý nghiêm minh các vi phạm pháp luật của những người này, nhằm củng cố lòng tin của nhân dân đối với cơ quan tố tụng và Đảng, Nhà nước, từ đó góp phần ổn định trật tự, an toàn xã hội và bảo đảm công lý, công bằng trong xã hội.
2 Bộ luật Hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009)
3 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi bổ sung năm 2017)
4 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003
5 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015
6 Bộ luật Dân sự năm 2005
7 Bộ luật Dân sự năm 2015
8 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết số 08/NQ-TW ngày 02/01/2002.
9 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết số 48/NQ-TW ngày 24/5/2005.
10 Bộ Chính trị Ban chấp hành Trung ương Đảng (2005), Nghị quyết số 49/NQ-TW ngày 02/6/2005.
11 Nghị quyết số 04/2004/NQ-HĐTP ngày 05/11/2004 của hội đồng thẩm phán toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong phần thứ ba “xét xử sơ thẩm” của bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Hà Nội.
12 TTLT số 06/1998/TTLT- TANDTC-VKSNDTC-BTC-BTP hướng dẫn bảo quản và xử lý tài sản là vật chứng, tài sản bị kê biên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự
13 Quyết định số 29/2000/QĐ-BTC quy định về quy chế quản lý và xử lý tài sản được xác lập quyền sở hữu của Nhà nước
14 Thông tư số 90/2008/TT-BNN của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn hướng dẫn xử lý tang vật là động vật rừng sau khi tịch thu ở các vụ xử phạt vi phạm hành chính
15 Nguyễn Phương Anh, “Xử lý vật chứng hình sự là tài sản thế chấp”, tạp học, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013.
17 Thái Chí Bình (2012), “Hoàn thiện quy định về vật chứng theo pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam ”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 17/2012.
18 Bộ Tư pháp, Viện khoa học pháp lý (2006), Từ điển Luật học, nxb Từ điển Bách khoa - nxb Tư pháp
19 Nguyễn Mai Bộ (năm 2016), Kỹ năng áp dụng biện pháp tư pháp trong vụ án hình sự, Tập bài giảng khóa 3 - Kỹ năng giải quyết vụ án hình sư, Học viện Tòa án, nxb Công an nhân dân.