1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

237 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xác Định Tuổi Của Người Bị Buộc Tội, Người Bị Hại Dưới 18 Tuổi Theo Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Thanh Hương
Người hướng dẫn TS. Lê Nguyên Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 237
Dung lượng 31,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CĂN CỨ VÀ TRƯỜNG HỢP CẦN BỔ SUNG TÀI LIỆU ĐỂ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (17)
    • 1.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh (17)
      • 1.1.1. Khái niệm người bị buộc tội, bị hại và cách xác định tuổi (17)
      • 1.1.2. Quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, thủ tục cấp các giấy tờ hộ tịch dùng làm căn cứ xác định tuổi (18)
      • 1.1.3. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong trường hợp có căn cứ (20)
      • 1.1.4. Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh, theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự 14 1.2. Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; nguyên nhân của thực trạng (21)
      • 1.2.1. Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi (24)
      • 1.2.2. Nguyên nhân của thực trạng xác định tuổi người bị buộc tội, người bị hại dưới (31)
    • 1.3. Các giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ (34)
    • 2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ để xác định (38)
      • 2.1.1. Các trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự (38)
      • 2.1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trưng cầu giám định tuổi (41)
    • 2.2. Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi (42)
      • 2.2.1. Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ xác định (42)
      • 2.2.2. Giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi khi không có căn cứ xác định (47)

Nội dung

XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI TRONG TRƯỜNG HỢP CÓ CĂN CỨ VÀ TRƯỜNG HỢP CẦN BỔ SUNG TÀI LIỆU ĐỂ CHỨNG MINH THEO QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về xác định tuổi của người bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh

bị buộc tội, bị hại là người dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu để chứng minh

1.1.1 Khái niệm người bị buộc tội, bị hại và cách xác định tuổi

Người bị buộc tội là cá nhân bị các cơ quan tố tụng nghi ngờ thực hiện hành vi phạm tội dựa trên tài liệu và chứng cứ hợp pháp Họ có thể đang trong tình trạng bị bắt, tạm giữ, khởi tố bị can hoặc bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử theo quy định của pháp luật Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, nhóm người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo.

Người bị hại là thuật ngữ pháp lý chỉ cá nhân chịu thiệt hại về sức khỏe, tính mạng hoặc tài sản do tội phạm gây ra Theo từ điển tiếng Việt, người bị hại được định nghĩa là “người bị thiệt hại về thể chất, vật chất hoặc tinh thần do tội phạm gây ra” Theo quy định tại khoản 1 Điều 62 BLTTHS năm 2015, bị hại là cá nhân trực tiếp bị thiệt hại hoặc cơ quan, tổ chức bị thiệt hại về tài sản, uy tín do tội phạm gây ra hoặc đe dọa Tuy nhiên, trong trường hợp xác định tuổi theo Điều 417 BLTTHS, người bị hại chỉ là cá nhân, không bao gồm cơ quan, tổ chức.

15 Điểm đ Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự 2015.

16 Từ điển tiếng Việt, Nxb Đà Nẵng năm 2004, tr 698.

17 Trường Đại học Luật Hà Nội (1999), Từ điển giải thích thuật ngữ luật học, Nxb Công an nhân dân, tr.198.

- Bị hại là cá nhân;

Bị hại là cá nhân chịu tổn thất về thể chất, tinh thần hoặc tài sản, và những thiệt hại này là kết quả của hành vi phạm tội hoặc mối đe dọa từ tội phạm.

- Việc xác định cá nhân nào là Bị hại thuộc thẩm quyền của Cơ quan tiến hành tố tụng.

Để xác định tuổi của người bị buộc tội hoặc bị hại dưới 18 tuổi, cần hiểu rõ khái niệm "Tuổi" theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) Theo Từ điển tiếng Việt, "Tuổi" được định nghĩa là số năm đã sống kể từ khi sinh ra Do đó, tuổi của một cá nhân được xác định dựa trên số năm sống từ ngày sinh Việc xác định tuổi cần dựa vào ngày, tháng, năm sinh của cá nhân đó.

Theo Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi năm 2017, tuổi của người bị buộc tội và người bị hại được xác định thông qua thuật ngữ pháp lý “từ đủ” Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định trách nhiệm hình sự và quyền lợi của các bên liên quan trong vụ án.

1 Điều 12 quy định người nào từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm về mọi tội phạm, hoặc Điều 90; điểm a, b khoản 2 Điều 91 hoặc Điều

144 tội cưỡng dâm người “từ đủ” 13 tuổi đến dưới 16 tuổi Xác định người từ đủ

Để xác định độ tuổi hợp pháp, cần tính đủ ngày, tháng và năm sinh Ví dụ, nếu A sinh ngày 01/01/2000, thì A sẽ đủ 18 tuổi vào ngày 01/01/2018.

1.1.2 Quy định của pháp luật về thủ tục đăng ký, thủ tục cấp các giấy tờ hộ tịch dùng làm căn cứ xác định tuổi

Trong tố tụng hình sự, việc xác định tuổi của người bị buộc tội hoặc bị hại dưới 18 tuổi phải được thực hiện bởi cơ quan có thẩm quyền theo quy định pháp luật Thông tin để xác định tuổi được lấy từ các giấy tờ như Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu hoặc Hộ chiếu Theo Luật hộ tịch, ngày tháng năm sinh được xác định theo dương lịch.

18 Từ điển tiếng Việt, nxb Văn hóa thông tin năm 2005, tr.2028.

19 Khoản 1 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BTP-BLĐTBXH, ban hành ngày 21/12/2018, quy định về việc phối hợp giữa Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ tư pháp, và Bộ lao động thương binh & xã hội trong việc thực hiện các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự liên quan đến thủ tục tố tụng đối với người dưới 18 tuổi Thông tư này nhằm đảm bảo quyền lợi và bảo vệ lợi ích hợp pháp cho trẻ em trong quá trình tố tụng.

Giấy chứng sinh được cấp bởi cơ sở y tế có thẩm quyền theo mẫu quy định của Bộ Y tế Nếu trẻ được sinh ra tại nhà hoặc nơi không phải cơ sở y tế, người thân cần đề nghị trạm y tế xã, phường cấp Giấy chứng sinh Nội dung giấy chứng sinh bao gồm thông tin về người mẹ (hoặc người nuôi dưỡng), thời gian và địa điểm sinh, giới tính của trẻ, cùng thông tin về người đỡ đẻ.

Giấy khai sinh là văn bản do UBND cấp xã nơi cư trú của cha hoặc mẹ cấp cho cá nhân khi đăng ký khai sinh, bao gồm các thông tin cơ bản như họ, chữ đệm, tên, giới tính, ngày tháng năm sinh, nơi sinh, quê quán, dân tộc và quốc tịch Việc đăng ký khai sinh phải được thực hiện bởi cha, mẹ hoặc người thân trong vòng 60 ngày kể từ ngày sinh; nếu muộn hơn, sẽ được coi là đăng ký khai sinh trễ hạn.

Để đăng ký khai sinh, người yêu cầu cần nộp bản chính Giấy chứng sinh Nếu không có giấy chứng sinh, cần có văn bản xác nhận từ người làm chứng hoặc giấy cam đoan về việc sinh Đối với trẻ em bị bỏ rơi, cần có biên bản xác nhận từ cơ quan có thẩm quyền Trong trường hợp trẻ em sinh ra do mang thai hộ, cần có văn bản chứng minh theo quy định pháp luật Thông tin về ngày tháng năm sinh của trẻ được xác định thông qua các tài liệu như giấy chứng sinh, văn bản xác nhận của người làm chứng, giấy cam đoan và biên bản xác nhận trẻ bị bỏ rơi.

Chứng minh nhân dân và thẻ căn cước công dân là giấy tờ tùy thân quan trọng của công dân Việt Nam, được cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, xác nhận các đặc điểm căn cước và lai lịch của người sở hữu.

21 Khoản 1 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT, ngày 24/10/2012 quy định về cấp và sử dụng giấy chứng sinh.

22 Khoản 2 Điều 2 Thông tư số 17/2012/TT-BYT, ngày 24/10/2012 quy định về cấp và sử dụng giấy chứng sinh.

23 Giấy chứng sinh theo mẫu BYT/CS-2018, ban hành kèm theo Thông tư số 17/2012/TT-BYT.

24 Khoản 6 Điều 4 Luật hộ tịch 2014.

26 Khoản 1 Điều 14 Luật hộ tịch 2014.

27 Khoản 1 Điều 15 Luật hộ tịch 2014.

28 Khoản 1 Điều 16 Luật hộ tịch 2014 và khoản 2 Điều 2 Nghị định số 123/2015/NĐ-CP, ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch.

Thẻ Căn cước công dân là giấy tờ quan trọng của công dân Việt Nam, có giá trị xác minh danh tính và được sử dụng cho các giao dịch trong nước Tất cả công dân từ 14 tuổi trở lên đều đủ điều kiện nhận thẻ này Thẻ Căn cước công dân bao gồm thông tin cá nhân như họ tên, ngày sinh, giới tính, quốc tịch, quê quán và nơi cư trú.

Sổ hộ khẩu là tài liệu xác nhận nơi thường trú của công dân, được cấp bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của Luật cư trú Đối với trẻ em chưa thành niên, nơi cư trú được xác định theo nơi cư trú của cha mẹ, và khi đăng ký thường trú cho trẻ, cần có giấy khai sinh để đảm bảo thông tin về ngày tháng năm sinh được chính xác trong sổ hộ khẩu.

Hộ chiếu là giấy tờ tùy thân cần thiết cho công dân Việt Nam khi xuất cảnh và nhập cảnh qua các cửa khẩu Trẻ em dưới 14 tuổi sẽ được cấp hộ chiếu chung với hộ chiếu của cha hoặc mẹ, có thời hạn không quá 5 năm và không được gia hạn Để đề nghị cấp hộ chiếu cho trẻ em dưới 14 tuổi, ngoài các thủ tục chung, cần có bản sao giấy khai sinh.

1.1.3 Xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự trong trường hợp có căn cứ

Các giải pháp hoàn thiện quy định xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp có căn cứ và trường hợp cần bổ

bổ sung tài liệu để chứng minh

Giấy chứng sinh là tài liệu quan trọng do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp, giúp cha mẹ hoặc người thân thực hiện việc đăng ký khai sinh cho trẻ em theo quy định của luật hộ tịch Tài liệu này không chỉ là giấy tờ gốc mà còn có giá trị xác định chính xác ngày sinh của người dưới 18 tuổi, đảm bảo tính chính xác trong việc ghi nhận thông tin ngày tháng năm sinh của cá nhân.

Giấy khai sinh được đăng ký đúng hạn và kèm theo giấy chứng sinh là tài liệu quan trọng chứng minh ngày tháng năm sinh của người dưới 18 tuổi Theo Nghị định số 23, Giấy khai sinh là giấy tờ hộ tịch gốc, mọi tài liệu khác mâu thuẫn với giấy khai sinh sẽ không được chấp nhận Việc áp dụng các tài liệu khác để xác định tuổi như Thông tư liên tịch số 06/2018 là không hợp lý, vì các tài liệu như sổ hộ khẩu, giấy chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công an, và hộ chiếu đều dựa trên thông tin từ giấy khai sinh Hơn nữa, những tài liệu này chỉ được lập khi người dưới 18 tuổi đã từ 15 tuổi trở lên, do đó nếu thông tin trên giấy khai sinh không chính xác, thì không có tài liệu nào khác có thể thay thế với giá trị pháp lý và tính khách quan cao hơn.

Giấy chứng sinh và giấy khai sinh là hai tài liệu chính xác định tuổi trực tiếp, trong khi chứng minh nhân dân, căn cước công dân, sổ hộ khẩu và hộ chiếu chỉ xác định tuổi gián tiếp dựa trên thông tin từ giấy khai sinh Do đó, cần có các giải pháp hoàn thiện quy định về xác định tuổi cho người bị buộc tội và bị hại dưới 18 tuổi.

Kiến nghị sửa đổi quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018, cụ thể là việc xác định tuổi của người bị buộc tội và bị hại dưới 18 tuổi cần dựa vào một trong hai loại giấy tờ: Giấy chứng sinh hoặc Giấy khai sinh được đăng ký đúng hạn.

Sửa đổi khoản 2 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định rằng, trong trường hợp không thể thu thập Giấy chứng sinh hoặc Giấy đăng ký khai sinh trễ hạn, Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng cần lấy lời khai và xác minh thông tin từ những người thân thích cùng các cá nhân có liên quan Việc này nhằm làm rõ thời gian, địa điểm nơi người dưới 18 tuổi đã sinh ra, học tập, lao động và sinh hoạt, từ đó chứng minh tuổi của họ.

Kiến nghị Bộ Y tế bổ sung Giấy chứng sinh vào danh mục hồ sơ tài liệu y tế cần lưu trữ, với thời gian lưu trữ vĩnh viễn.

Thông tư số 53 46 của Bộ Y tế quy định thời gian lưu trữ bệnh án nội trú và ngoại trú thông thường là 10 năm, trong đó Giấy chứng sinh, tài liệu quan trọng trong hồ sơ bệnh án nội trú, cũng có thời gian lưu trữ 10 năm Giấy chứng sinh là tài liệu gốc, có độ tin cậy cao nhất để xác định tuổi của cá nhân, đặc biệt là người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự Do đó, để thuận lợi cho việc quản lý hộ tịch và lý lịch tư pháp, cần tách Giấy chứng sinh ra khỏi hồ sơ bệnh án thông thường và quy định thời hạn bảo quản là vĩnh viễn.

Thứ ba, việc quản lý nhà nước về công tác hộ tịch cần được triển khai hiệu quả thông qua việc xây dựng và khai thác Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư.

Bộ Y tế, Bộ Tư pháp và Bộ Công an cần triển khai Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để khai thác thông tin hộ tịch trong hoạt động tố tụng Việc liên thông cấp giấy chứng sinh từ cơ sở y tế đến UBND cấp xã sẽ giúp người dân đăng ký khai sinh nhanh chóng và hạn chế tình trạng đăng ký muộn Cơ sở dữ liệu này cũng sẽ hỗ trợ công an trong việc quản lý dân cư và nâng cao hiệu quả công tác quản lý hành chính của nhà nước.

46 Thông tư số 53/2017/TT-BYT, ngày 29/12/2017 của Bộ Y tế quy định về thời hạn bảo quản hồ sơ, tài liệu chuyên môn nghiệp vụ Ngành y tế.

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự đã được quy định rõ ràng từ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 và Thông tư liên tịch số 01/2011 cho đến Bộ luật tố tụng hình sự 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 Tuy nhiên, trong thực tiễn, vẫn tồn tại một số vướng mắc khi các cơ quan tố tụng áp dụng những quy định này, gây khó khăn trong việc chứng minh và thu thập tài liệu cần thiết.

Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 quy định 06 loại tài liệu hộ tịch có giá trị pháp lý như nhau trong việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi, trong đó chỉ cần sử dụng một trong số đó Tuy nhiên, chỉ có Giấy chứng sinh và Giấy khai sinh là tài liệu hộ tịch gốc, còn lại 04 loại tài liệu như Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, và Hộ chiếu được cấp dựa trên thông tin từ Giấy khai sinh Nếu thông tin ngày tháng năm sinh trên Giấy khai sinh không chính xác, các tài liệu hộ tịch khác cũng không có giá trị xác định tuổi Do đó, việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi chỉ cần dựa vào Giấy chứng sinh và Giấy khai sinh được đăng ký đúng thời hạn và theo quy định của pháp luật.

Thông tư liên tịch số 06/2018 yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xác minh và thu thập tài liệu chứng minh tuổi của người dưới 18 tuổi khi có mâu thuẫn giữa các tài liệu hộ tịch như Giấy chứng sinh, Giấy khai sinh, Chứng minh nhân dân, Thẻ căn cước công dân, Sổ hộ khẩu, và Hộ chiếu Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy ít xảy ra tình huống này do Giấy khai sinh thường được coi là tài liệu gốc Theo Nghị định số 123/NĐ-CP, Giấy khai sinh sẽ được ưu tiên sử dụng trong trường hợp có mâu thuẫn giữa các giấy tờ hộ tịch mà không cần thu thập thêm tài liệu chứng minh độ tuổi Do đó, quy định trong Thông tư liên tịch số 06/2018 về việc xác minh khi có tài liệu hộ tịch mâu thuẫn được cho là chưa hợp lý và không phù hợp với Luật hộ tịch.

Việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi gặp khó khăn khi Cơ quan tiến hành tố tụng nghi ngờ tính hợp pháp của tài liệu hộ tịch, đặc biệt là “giấy khai sinh được đăng ký trễ hạn” Tuy nhiên, căn cứ này không được coi là hợp pháp theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, vì văn bản này không quy định việc sử dụng giấy khai sinh trễ hạn để xác minh tuổi Hơn nữa, cả Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018 đều không đưa ra quy định rõ ràng về việc này.

Cơ quan có thẩm quyền cần kiểm tra và xác minh tính hợp pháp của Giấy tờ hộ tịch để xác định tuổi, do thực tế quản lý hộ tịch còn nhiều trường hợp trẻ em khai sinh trễ, sinh bên ngoài cơ sở y tế hoặc bị bỏ rơi Hiện tại, không có quy định rõ ràng về tài liệu cần thu thập trong quá trình xác minh tuổi của người dưới 18 tuổi, dẫn đến sự khác biệt và chủ quan trong việc lựa chọn căn cứ chứng minh giữa các địa phương Do đó, cần quy định cụ thể về các căn cứ nghi ngờ thông tin ngày tháng năm sinh trên tài liệu hộ tịch và xác định tài liệu có giá trị pháp lý cần thu thập, đồng thời lưu trữ vĩnh viễn giấy chứng sinh trong quá trình xác minh.

Phương pháp quản lý dân cư trong thủ tục hành chính về tư pháp hộ tịch hiện nay còn thủ công, thiếu sự liên thông giữa các cơ quan cấp giấy tờ hộ tịch như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng minh nhân dân, thẻ căn cước công dân, sổ hộ khẩu và hộ chiếu, dẫn đến tình trạng đăng ký trễ hạn và thông tin hộ tịch mâu thuẫn Để khắc phục tình trạng này, cần thiết phải thực hiện liên thông và số hóa thông tin hộ tịch của công dân trên toàn quốc, nhằm đáp ứng nhanh chóng và chính xác các hoạt động quản lý nhà nước về dân cư cũng như trong hoạt động tố tụng hình sự.

CHƯƠNG 2 XÁC ĐỊNH TUỔI CỦA NGƯỜI BỊ BUỘC TỘI, NGƯỜI BỊ HẠI DƯỚI 18 TUỔI, TRONG TRƯỜNG HỢP KHÔNG CÓ CĂN CỨ XÁC ĐỊNH THEO

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về việc xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ để xác định

2.1.1 Các trường hợp không có căn cứ để xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự

Bộ luật tố tụng hình sự 2003 không quy định việc xác định tuổi của người dưới

Việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi trong tố tụng hình sự gặp nhiều vướng mắc, ảnh hưởng đến năng lực chịu trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội và bị hại Thông tư liên tịch số 01/2011 đã hướng dẫn quy định về việc xác định tuổi cho người chưa thành niên, nhưng áp dụng vẫn chưa thống nhất do quy định chưa đầy đủ Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 đã pháp điển hóa nội dung này tại Điều 417, quy định rõ ràng cách xác định tuổi cho người dưới 18 tuổi Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng sẽ thực hiện việc xác định tuổi, và nếu không xác định chính xác, sẽ áp dụng các quy tắc cụ thể về ngày sinh dựa trên thông tin có sẵn.

Theo Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, việc xác định tuổi của người bị buộc tội và người bị hại dưới 18 tuổi được quy định thống nhất, nhằm bảo đảm quyền lợi hợp pháp của họ Trong trường hợp không xác định được năm sinh, cần tiến hành giám định để xác định tuổi, phù hợp với hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 01/2011 Điều này đảm bảo lợi ích tốt nhất cho người chưa thành niên theo khoản 1 Điều 414 của cùng bộ luật.

Theo quy định tại Điều 6 và Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2011, Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, và Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018, việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi được chia thành ba trường hợp: có căn cứ định tuổi, có căn cứ nhưng cần bổ sung tài liệu, và không có căn cứ xác định tuổi Để phân biệt giữa trường hợp không có căn cứ và trường hợp cần bổ sung tài liệu, cần chú ý đến các đặc điểm riêng của trường hợp không có căn cứ xác định tuổi.

- Thứ nhất: tính có căn cứ của tài liệu hộ tịch và việc không thể xác định năm sinh của người dưới 18 tuổi.

Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền sử dụng tài liệu hộ tịch để xác định tuổi của người dưới 18 tuổi Nếu người này có tài liệu hộ tịch theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 nhưng tài liệu không đủ điều kiện làm căn cứ xác định ngày tháng năm sinh, cơ quan phải thực hiện các biện pháp hợp pháp để xác định chính xác năm sinh.

Trẻ em được nhận làm con nuôi từ nhỏ có thể gặp khó khăn trong việc xác định danh tính khi giấy tờ hộ tịch không dựa trên thông tin gốc Tại một số địa phương, đặc biệt ở khu vực nông thôn, việc đăng ký khai sinh không tuân thủ quy định pháp luật dẫn đến việc hồ sơ hộ tịch không ghi nhận tình trạng con nuôi Khi xảy ra vụ án hình sự, cơ quan điều tra phát hiện rằng đối tượng cần xác định tuổi là con nuôi, với thông tin về ngày tháng năm sinh do người khai sinh cung cấp.

33 cho cán bộ hộ tịch mà không có giấy chứng sinh hoặc không có các thủ tục nhận nuôi con nuôi theo quy định.

Trong vụ án xâm hại tình dục xảy ra tại ấp Phước Thạnh, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang vào năm 2018, bị hại Trần Ngọc Hậu, sinh ngày 25/5/1997, đã bị cha nuôi Trần Văn Hải xâm hại nhiều lần từ khi Hậu học lớp 6 Cơ quan CSĐT công an huyện Châu Thành đã thu thập giấy khai sinh của Hậu, xác nhận ông Hải là cha ruột Tuy nhiên, qua lời khai, cả Hậu và vợ chồng ông Hải đều thừa nhận Hậu được nhận nuôi khi khoảng 7 tuổi, và ngày tháng năm sinh là do ông Hải tự khai báo để đăng ký giấy khai sinh cho Hậu nhằm mục đích cho Hậu đi học.

Trong trường hợp xác định tuổi cho người dưới 18 tuổi mà không có đầy đủ tài liệu hộ tịch, thường gặp ở trẻ bị bỏ rơi, trẻ mồ côi hoặc trẻ em sống lang thang từ nhỏ không còn người thân, việc này trở nên cần thiết để đảm bảo quyền lợi và sự bảo vệ cho các em.

Ông Q ở huyện Đại Từ, Thái Nguyên đang nuôi cháu nội sinh năm 2009, nhưng cháu không có giấy khai sinh để đi học do bố mẹ không đăng ký kết hôn và mẹ bỏ đi Mặc dù cán bộ Trung tâm Công tác xã hội đã hướng dẫn ông làm thủ tục đăng ký khai sinh tại UBND xã, ông vẫn chưa thực hiện Tương tự, vợ chồng anh C ở huyện Yên Dũng, Bắc Giang nhận nuôi một bé trai 2 ngày tuổi bị bỏ rơi tại bệnh viện vào tháng 1/2016, nhưng khi đến UBND xã trình báo, họ không thể làm giấy khai sinh và thẻ BHYT cho trẻ vì không có thông tin rõ ràng về người cho trẻ.

48 Vụ án số 26/VKS-HCT/HS/2018 do Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thụ lý.

49 Vân Khánh, Trẻ thiệt thòi vì không được làm giấy khai sinh, https://baomoi.com/tre-thiet-thoi-vi-khong- duoc-lam-giay-khai-sinh/c/24823727.epi, 15/3/2020.

Theo Thông tư liên tịch số 01/2011 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, khi không có căn cứ xác định tuổi của người dưới 18 tuổi, Cơ quan tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp theo quy định nhưng vẫn không thu thập được tài liệu chính xác về năm sinh Trong trường hợp này, để xác định tuổi của người bị buộc tội hoặc bị hại dưới 18 tuổi, Cơ quan tiến hành tố tụng cần thực hiện trưng cầu giám định để có kết quả chính xác.

2.1.2 Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về trưng cầu giám định tuổi

Hoạt động thu thập chứng cứ trong tố tụng hình sự của Cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền bao gồm nhiều hoạt động, trong đó có việc trưng cầu giám định tư pháp Đối với các vụ án liên quan đến người dưới 18 tuổi, việc trưng cầu giám định tư pháp về độ tuổi của bị can, bị cáo, hoặc bị hại được thực hiện khi không có tài liệu xác định chính xác tuổi hoặc khi có nghi ngờ về tính xác thực của tài liệu hiện có Theo quy định tại Điều 206 BLTTHS 2015, trưng cầu giám định pháp y về độ tuổi của người dưới 18 tuổi thuộc một trong sáu trường hợp bắt buộc phải thực hiện.

Luật giám tư pháp năm 2012 quy định việc giám định pháp y về độ tuổi được thực hiện bởi các tổ chức giám định tư pháp công lập như Viện pháp y quốc gia, Trung tâm pháp y cấp tỉnh, Viện pháp y quân đội và Trung tâm pháp y thuộc Viện khoa học hình sự Thời hạn giám định xác định tuổi không quá 09 ngày Nếu kết luận giám định chưa rõ hoặc có vấn đề mới phát sinh, cơ quan tiến hành tố tụng có thể yêu cầu giám định bổ sung Trong trường hợp nghi ngờ về tính chính xác của kết luận giám định ban đầu, có thể yêu cầu giám định lại, và nếu có sự khác biệt giữa hai kết luận, sẽ thực hiện giám định lại lần thứ hai do Hội đồng giám định.

2015 và Luật giám định tư pháp năm 2012 còn quy định việc giám định lại trong trường hợp đặc biệt được quyết định bởi Viện trưởng viện kiểm

50 Khoản 2 Điều 206 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

51 Khoản 2 Điều 12 Luật giám định tư pháp năm 2012.

52 Điểm c khoản 1 Điều 208 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.

Trong vụ án 53, vai trò của 35 sát nhân dân tối cao và Chánh án tòa án nhân dân tối cao rất quan trọng, cùng với kết luận giám định lại được sử dụng để đưa ra quyết định cuối cùng.

Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi

18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ xác định theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và giải pháp

2.2.1 Thực trạng xác định tuổi của người bị buộc tội, người bị hại dưới 18 tuổi trong trường hợp không có căn cứ xác định

Việc xác định tuổi của người bị buộc tội và bị hại dưới 18 tuổi khi không có căn cứ rõ ràng được thực hiện theo quy định tại khoản 5 Điều 6 và khoản 5 Điều 12 Thông tư liên tịch số 01/2011, cũng như khoản 3 Điều 417 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và khoản 3 Điều 6 Thông tư liên tịch số 06/2018 Nếu Cơ quan tiến hành tố tụng đã áp dụng mọi biện pháp mà vẫn không xác định được năm sinh, thì sẽ tiến hành giám định để xác định tuổi Tuy nhiên, trong thực tiễn, có những trường hợp Cơ quan tiến hành tố tụng đã thực hiện giám định nhưng vẫn không thể xác định được tuổi của người dưới 18 tuổi.

Theo Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Thông tư liên tịch số 06/2018, chưa có quy định rõ ràng về cách xác định tuổi của người dưới 18 tuổi Một ví dụ điển hình là trường hợp xác định tuổi của bị hại Trần Ngọc Hậu trong vụ án xâm hại tình dục xảy ra vào năm 2018 tại ấp Phước Thạnh, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang.

Ngày 06 tháng 3 năm 2018, Cơ quan CSĐT công an huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tiếp nhận tố giác của Trần Ngọc Hậu, sinh ngày 25/5/1997, đăng ký thường trú số 238, ấp Phước Thạnh, xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, tố giác cha nuôi là Trần Văn Hải, sinh năm 1962, ngụ cùng địa chỉ đã có hành vi xâm hại tình dục đối với Hậu nhiều lần kể từ khi Hậu học lớp 6 đến đầu năm

Vào năm 2018, ông Trần Văn Hải bị tố cáo đã quan hệ tình dục với Hậu, dẫn đến việc Hậu mang thai khi còn học lớp 9 Trong quá trình điều tra, ông Hải thừa nhận đã thực hiện hành vi dâm ô với Hậu từ lớp 6 đến lớp 9, nhưng không có đủ chứng cứ để chứng minh hành vi giao cấu Cơ quan điều tra đã khởi tố vụ án và bị can đối với ông Hải về tội dâm ô với trẻ em theo quy định tại khoản 2 Điều 116 BLHS năm 1999.

53 Điều 212 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; khoản 2 Điều 30 Luật giám định tư pháp năm 2012.

54 Vụ án số 26/VKS-HCT/HS/2018 do Viện kiểm sát nhân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang thụ lý.

Quá trình điều tra vụ việc của Trần Ngọc Hậu liên quan đến việc xác định tuổi của Hậu tại thời điểm bị xâm hại để làm cơ sở xác định tội danh đối với Trần Văn Hải Giấy khai sinh của Hậu, được đăng ký vào ngày 25/8/2003 tại UBND xã Đông Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Cần Thơ, ghi nhận Hậu sinh ngày 25/5/1997 và là con ruột của Trần Văn Hải Mặc dù Hậu và vợ chồng Hải khẳng định Hậu là con nuôi từ năm 7 tuổi, không có giấy chứng sinh và thông tin về cha mẹ ruột, nhưng các tài liệu như chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu đều xác nhận ngày sinh trùng khớp với giấy khai sinh, cùng với sổ học bạ tiểu học thể hiện năm học 2003.

Năm 2004, Hậu bắt đầu học lớp 1 và được nhận làm con nuôi của Hải Thời điểm đó, Hậu cao khoảng 1,2m, nặng khoảng 25kg, có tóc ngắn, làn da đen và thể trạng tương đương với trẻ em 7 tuổi.

Cơ quan CSĐT huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện trưng cầu giám định độ tuổi của Trần Ngọc Hậu do không có căn cứ xác định năm sinh Kết luận giám định pháp y số 2881/C54B, ngày 17/7/2018 cho thấy tại thời điểm giám định, Trần Ngọc Hậu có thể chất và hệ răng xương phát triển hoàn thiện như người trưởng thành, với độ tuổi trên 19 năm Tuy nhiên, không đủ cơ sở để xác định chính xác độ tuổi của Trần Ngọc Hậu.

Cơ quan tố tụng huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã xem xét lời khai của Trần Văn Hải, người nhận nuôi Trần Ngọc Hậu, cùng với các chứng cứ liên quan để xác định rằng vào tháng 8 năm 2003, Trần Ngọc Hậu, 7 tuổi, được Hải nhận làm con nuôi Từ đó, cơ quan chức năng xác định rằng Hậu đã bị xâm hại tình dục trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2012, khi chưa đủ 16 tuổi Ngày 21/11/2018, TAND huyện Châu Thành đã tuyên án số 36/2018/HS-ST, xử phạt Trần Văn Hải 02 năm tù về tội Dâm ô với trẻ em theo quy định tại Điều 116 BLHS năm 1999.

Qua nghiên cứu vụ án trên, chúng ta có thể thấy rằng trong thực tiễn tố tụng

Cơ quan tiến hành tố tụng không tự động dựa vào thông tin ngày tháng năm sinh trong tài liệu hộ tịch để xác định độ tuổi của người dưới 18 tuổi, như trong vụ án Trần Ngọc.

Quá trình giải quyết vụ án liên quan đến tài liệu hộ tịch không có sự mâu thuẫn, tuy nhiên, BLTTHS không quy định rõ ràng về việc kiểm tra tính có căn cứ của tài liệu này Đặc biệt, trong trường hợp không xác định được tuổi của người dưới 18 tuổi, kể cả khi đã thực hiện giám định pháp y, BLTTHS năm 2015 vẫn chưa nêu rõ cơ sở nào để Cơ quan tiến hành tố tụng dựa vào trong việc xác định tuổi của bị hại hoặc người bị buộc tội khi hành vi phạm tội xảy ra khi họ dưới 18 tuổi, nhưng vào thời điểm xử lý thì đã trên 18 tuổi.

Việc xác định tuổi của người dưới 18 tuổi gặp nhiều khó khăn do Luật giám định pháp y không quy định rõ kết luận giám định nào có giá trị cao nhất Hiện tại, có bốn tổ chức giám định tư pháp công lập về pháp y có thẩm quyền thực hiện giám định tuổi, bao gồm Viện pháp y quốc gia, Trung tâm pháp y cấp tỉnh, Viện pháp y quân đội và Trung tâm giám định pháp y thuộc Viện khoa học hình sự Các cơ quan tiến hành tố tụng có quyền lựa chọn một trong bốn tổ chức này, và kết luận giám định của chúng có giá trị pháp lý ngang nhau Ngoài ra, theo quy định của BLTTHS năm 2015 và Luật giám định tư pháp, việc giám định lại có thể thực hiện nếu có căn cứ cho rằng kết luận ban đầu không chính xác, tuy nhiên, việc đánh giá tính chính xác này thuộc thẩm quyền của cơ quan có thẩm quyền.

Cơ quan tiến hành tố tụng đã trưng cầu giám định, nhưng điều này không phù hợp vì kết luận giám định tư pháp yêu cầu chuyên môn cao mà các cơ quan này không có Việc không quy định rõ kết luận giám định nào có giá trị cao nhất đã dẫn đến sự "lúng túng" trong quyết định của cơ quan tố tụng Một ví dụ điển hình là vụ án của Lê Mỹ Duyên, người bị cáo buộc giết người tại huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng vào năm 2013.

Vào ngày 05/07/2013, tại ấp Cảng, thị trấn Trần Đề, huyện Trần Đề, tỉnh Sóc Trăng, đã xảy ra 55 vụ án giết người do Lê Mỹ Duyên và Phan Thị Kim Xuyến thực hiện.

Nội dung tóm tắt như sau:

Vào lúc 22 giờ 20 phút ngày 10/5/2012, công an phường Vĩnh Bảo, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang nhận được tin báo từ Lê Mỹ Duyên, sinh ngày 28/4/2000, về việc bị Trần Hải Minh Luân, sinh năm 1993, hiếp dâm vào khoảng tháng 3 năm 2012 Qua xác minh, Luân và Duyên có mối quan hệ tình cảm và vào tháng 4/2012, Luân đã dẫn Duyên về nhà và thực hiện hành vi xâm hại tình dục Cơ quan CSĐT công an thành phố Rạch Giá đã thu thập tài liệu để xác định độ tuổi của Duyên, bao gồm giấy khai sinh (đăng ký quá hạn).

Vào ngày 07/5/2001, UBND phường Vĩnh Lạc, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đã cấp giấy chứng nhận cho Lê Mỹ Duyên, sinh ngày 28/4/2000 Đơn đăng ký khai sinh của Lê Mỹ Duyên đã quá hạn và được bà Nguyễn Thị Ngọc Nga đứng khai Thông tin trong sổ hộ khẩu xác nhận Lê Mỹ Duyên sinh ngày 28/4/2000 Kết luận giám định pháp y số 78.PY/2012/K của Trung tâm pháp y tỉnh Kiên Giang cho biết vào tháng 4/2012, Lê Mỹ Duyên có độ tuổi từ 16 năm 3 tháng đến 16 năm 6 tháng.

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:49

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w