Thực tiễn, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp trong tố tụng hình sự vẫn còn bộc lộnhiều hạn chế, bất cập nhất định ở tất cả các giai đoạn tố tụng, trong
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Tr-ờng đại học luật tp Hồ chí minh
Bùi văn h-ng
Thực hành quyền công tố
Trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Chuyên ngành: Luật hình sự Mã số : 60.38.40
Luận văn thạc sĩ luật học
Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: PGS TS Trần Văn Độ
TP Hồ Chí Minh, năm 2006
Trang 2Những chữ viết tắt trong luận văn
1 Tính cấp thiết của đề tài
Hoàn thiện BLTTHS, nâng cao chất l-ợng hoạt động của các cơ quant-pháp là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng ta trong giai đoạnhiện nay Trong đó, việc nâng cao chất l-ợng hoạt động của VKSND cáccấp đ-ợc Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 02-01-2002 của Bộ Chính trị vềmột số nhiệm vụ trong tâm công tác t- pháp trong thời gian tới x²c định:
“Viện kiểm s²t nhân dân các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động t- pháp Hoạt động công tố phải
đ-ợc thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằmbảo đảm không bỏ lọt tội phạm và ng-ời phạm tội, không làm oan ng-ời vô tội
… Nâng cao chất l-ợng công tố của KSV tại phiên toà, bảo đảm tranh tụngdân chủ với Luật s-, ngời b¯o chửa v¯ nhửng ngời tham gia tố túng kh²c”
Trên tinh thần đó, BLTTHS năm 2003 đã có những sửa đổi, bổ sung theoh-ớng quy định rõ hơn về nguyên tắc, trình tự, thủ tục tố tụng cũng nh-về chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của VKS trong tố tụng hình sự với mục đích: VKSthực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong
Trang 3tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải đ-ợc xử lýkịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đúng ng-ời,
đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ng-ời phạm tội, khônglàm oan ng-ời vô tội (Điều 23) Với quy định có tính nguyên tắc nh- vậy,
có thể xác định vai trò của VKS có một ý nghĩa xuyên suốt và rất quantrọng trong các giai đoạn tố tụng hình sự và góp phần vào hoạt động đấutranh chống tội phạm một cách có hiệu quả của các cơ quan t- pháp Trongnhững năm qua, chất l-ợng công tác thực hành quyền công tố và kiểm sátcác hoạt động t- pháp trong tố tụng hình sự của VKS đã đ-ợc nâng lên từngb-ớc Với vai trò chủ động, tích cực của đa số KSV của VKS các cấp trongquá trình giải quyết vụ án, do đó đã khắc phục đ-ợc tình trạng bỏ lọt tộiphạm và ng-ời phạm tội, cũng nh- việc không làm oan ng-ời vô tội
Tuy nhiên, đó mới chỉ là những kết quả đạt đ-ợc b-ớc đầu của VKS nóiriêng và của các cơ quan t- pháp nói chung trong công cuộc cải cách t- pháp của
Đảng ta trong giai đoạn hiện nay Thực tiễn, hoạt động thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp trong tố tụng hình sự vẫn còn bộc lộnhiều hạn chế, bất cập nhất định ở tất cả các giai đoạn tố tụng, trong đó cóhoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự - hoạt
động trung tâm và có tính quyết định của VKS Một số KSV thực hànhquyền công tố tại phiên toà vẫn còn ch-a nhận thức đúng đắn về vai trònhiệm vụ, quyền hạn của mình trong quá trình giải quyết vụ án, do đó cònchủ quan, ch-a chủ động, tích cực tham gia vào việc làm sáng tỏ sự thậtkhách quan của vụ án Bên cạnh đó, một số quy định của pháp luật tố tụnghình sự hiện hành không thực sự tạo cho KSV có đ-ợc vai trò chủ động trongviệc chứng minh tội phạm và ng-ời phạm tội nên đã ảnh h-ởng không nhỏ tớichất l-ợng công tác thực hành quyền công tố của VKS, các vụ án có bị cáo bịToà án tuyên không phạm tội hàng năm vẫn còn xảy ra v.v
Tr-ớc thực trạng trên, Nghị quyết 49-NQ/TW, ngày 02-6-2005 của BộChính trị về chiến l-ợc cải cách t- pháp đến năm 2020 đã xác định các nhiệm
Trang 4vú: “Sớm ho¯n thiện hệ thống pháp luật liên quan đến lĩnh vực t- pháp phùhợp với mục tiêu của chiến l-ợc xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.Coi trọng việc hoàn thiện chính sách hình sự và tố tụng t- pháp … Đổi mớiviệc tổ chức phiên toà xét xử, xác định rõ hơn vị trí, quyền hạn, tráchnhiệm của ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời tham gia tố tụng theo h-ớng bảo
đảm tính công khai, dân chủ, nghiêm minh; nâng cao chất l-ợng tranh tụng tại các phiên toà xét xử, coi đây là khâu đột phá của hoạt động t- pháp”.
Từ những lý do trên, để nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công
tố của VKS trong tố tụng hình sự nói chung và trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự nói riêng góp phần hiệu quả vào quá trình đấu tranh chống tội phạm của các cơ quan t- pháp, cho thấy việc nghiên cứu làm rõ về mặt lý luận cũng nh-thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự là một yêu cầu cần thiết.
2 Tình hình nghiên cứu
Thời gian qua, vấn đề quyền công tố và thực hành quyền công tố trong
tố tụng hình sự đ-ợc nhiều nhà khoa học Luật cũng nh- những ng-ời làm côngtác thực tiễn quan tâm nghiên cứu hoặc đề cập trên các ph-ơng diện khácnhau nh: Luận văn Th³c sỹ Luật hóc năm 1998 “Một số vấn đề lý luận v¯ thứctiễn về quyền công tố cða Viện kiểm s²t nhân dân trong tố túng hình sứ”của tác giả Nguyễn Xuân Thanh; Luận văn Th³c sỹ Luật hóc năm 2005 “Thứch¯nh quyền công tố theo Bộ luật tố túng hình sứ năm 2003” cða t²c gi° Phan
Vủ Trang; Đề t¯i khoa hóc cấp Bộ năm 1999 “Nhửng vấn đề lý luận về quyềncông tố và thực tiễn hoạt động công tố Việt Nam từ năm 1945 đến nay” do TS
Lê Hữu Thể làm chủ nhiệm Đáng chú ý là chuyên khảo “Thức h¯nh quyềncông tố v¯ kiểm s²t c²c ho³t động t ph²p trong giai đo³n điều tra” (năm 2005)của TS Lê Hữu Thể Bên cạnh đó, còn nhiều bài viết, bài nghiên cứu của cáctác giả và các nhà nghiên cứu trên những tạp chí khoa học về vấn đề quyềncông tố và thực hành quyền công tố Tuy nhiên, có tác giả đi sâu nghiên
Trang 5cứu về quyền công tố và thực hành quyền công tố; song cũng có tác giả chỉ
đề cập tới những vấn đề này một cách khái quát trong phạm vi bài viết củamình để nghiên cứu vấn đề tố tụng hình sự khác có liên quan Cho đến nay,ch-a có một công trình chuyên khảo nào nghiên cứu sâu về hoạt động thựchành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, nên ch-a đ-a ra đ-ợcnhững giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự và nângcao chất l-ợng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Từ những lý do trên, tiếp thu kết quả nghiên cứu của các tác giả đi tr-ớc, kết hợp với kinh nghiệm thực tiễn của mình trong quá trình công tác nghiệp vụ, chuyên môn tại ngành Kiểm sát, tác giả mạnh dạn lựa
chọn Đề t¯i: “Thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ
án hình sự” cho luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu một số vấn đề lý luận về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, thực trạng hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự nhằm đ-a ra các giải pháp nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ nghiên cứu: Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn cónhiệm vụ nghiên cứu là: phân tích những quan điểm lý luận chung về quyềncông tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự, thông qua đó xâydựng quan điểm khoa học về quyền công tố và thực hành quyền công tố;làm rõ những hoạt động thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ ánhình sự; đánh giá thực trạng cũng nh- những bất cập, hạn chế trong thực hànhquyền công tố của VKS trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, tìm ra các nguyênnhân của những bất cập và hạn chế đó, đ-a ra các giải pháp nhằm nâng caochất l-ợng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
4 Cơ sở ph-ơng pháp luận và ph-ơng pháp nghiên cứu
Trang 6- Luận văn đ-ợc thực hiện trên cơ sở ph-ơng pháp luận Duy vật biện chứng, Duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, Nhà n-ớc ta về cải cách bộ máy nhà n-ớc và cải cách t- pháp trong giai đoạn hiện nay.
- Các ph-ơng pháp nghiên cứu đ-ợc sử dụng là ph-ơng pháp thống
kê, ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp, ph-ơng pháp so sánh, khảo sát thực tiễn và tham khảo chuyên gia.
5 ý nghĩa của việc nghiên cứu:
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn thực hành quyềncông tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Trên cơ sở đó, đ-a ra các giải pháphoàn thiện các quy định của BLTTHS về thực hành quyền công tố trong xét
xử sơ thẩm vụ án hình sự và nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công tốcủa VKS trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự Bên cạnh đó, Luận văn
có thể đ-ợc dùng làm tài liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu, họctập cũng nh- phục vụ cho những hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ liên quan tớivấn đề thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự của VKSND
6 Cơ cấu của Luận văn:
Ngoài Phần mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm có 2 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Một số vấn đề lý luận chung về quyền công tố và thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự.
Ch-ơng 2: Thực trạng và giải pháp nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công tố trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự.
Trang 7Ch-ơng 1 MộT Số VấN Đề Lý LUậN CHUNG Về QUYềN CÔNG Tố
Và THựC HàNH QUYềN CÔNG Tố TRONG Tố TụNG HìNH Sự
1.1 Quyền công tố trong tố tụng hình sự
1.1.1 Khái niệm quyền công tố:
Điều 138 của Hiến pháp năm 1980 n-ớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa ViệtNam quy định: “ Viện kiểm s²t nhân dân tối cao nớc Cộng ho¯ x± hội chủnghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật…, thực hành quyền công
tố, bảo đảm cho pháp luật đ-ợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất
Các Viện kiểm sát nhân dân địa ph-ơng, các viện kiểm sát quân sựkiểm sát tuân theo pháp luật, thực hành quyền công tố trong phạm vi tráchnhiệm cða mình” Nh vậy, thuật ngử “thức h¯nh quyền công tố” lần đầu tiên
đ-ợc ghi nhận trong một văn bản pháp lý cao nhất của Nhà n-ớc Trên tinh thần
đó, Luật Tổ chức VKSND và BLTTHS cũng có những quy định về thực hànhquyền công tố trong tố tụng hình sự Từ đó đến nay, thuật ngử “quyền côngtố” v¯ “thức h¯nh quyền công tố” vẫn v¯ đang cõ tính thời sứ, đợc c²c t²c gi°
Trang 8cũng nh- các nhà khoa học đề cập tới trong các công trình nghiên cứu, các tạp chí khoa học khác nhau Tuy nhiên, xung quanh khái niệm quyền công tố và thực hành quyền công tố vẫn là vấn đề còn nhiều tranh luận, ch-a đ-ợc nhận thức thống nhất chung, thậm chí có những quan điểm hoàn toàn trái ng-ợc nhau.
Nghiên cữu ho¯n thiện kh²i niệm “quyền công tố” v¯ “thức h¯nhquyền công tố” l¯ vấn đề cõ ý nghĩa rất quan tróng cho việc nhận thữc
đũng vị trí, vai trò và chức năng của VKSND trong giai đoạn hiện nay.Qua đó, góp phần nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công tố trong tốtụng hình sự nhằm đấu tranh phòng chống tội phạm có hiệu quả bảo đảmtrật tự an ninh, an toàn xã hội Để làm rõ vấn đề nêu trên, tr-ớc hết chúng tôixin khái quát một số quan điểm của các tác giả về quyền công tố nh- sau:
Quan điểm thứ nhất, đồng nhất khái niệm quyền công tố với hoạt động
kiểm sát tuân theo pháp luật của VKSND Có thể thấy rõ quan điểm này đãxuất phát từ chức năng của VKSND để xem xét quyền công tố Theo quan
điểm này, thì tất cả các hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật đều làthực hành quyền công tố Điều đó có nghĩa là, ngay cả khi VKS kiến nghịyêu cầu các cơ quan nhà n-ớc sửa chữa những vi phạm pháp luật của mìnhtrong lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội (một thời chúng ta gọi là kiểm sátchung) cũng là thực hành quyền công tố Và bởi vậy, có nhiều n-ớc gọi VKS là
Viện công tố Theo quan điểm này, công tố không phải là một chức năng độc lập của Viện kiểm sát, mà chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [38,tr.10].
Có thể nói đây là quan điểm khá phổ biến, đặc biệt tồn tại trong ngànhKiểm sát từ tr-ớc đến nay Những ng-ời theo quan điểm này, chủ yếu lập luậndựa trên cơ sở các nội dung các điều luật đ-ợc quy định trong Luật Tổ chứcVKSND năm 1981 và 1992, các Điều 137, 138 Hiến pháp năm 1992 và một số
điều trong BLTTHS năm 1988 Điều 3 Luật Tổ chức VKSND năm 1992
Trang 9quy định: “VKSND thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
và thực hành quyền công tố bằng 6 công tác Đó là, công tác kiểm sát tuân theo pháp luật trên lĩnh vực hành chính, kinh tế, xã hội; công tác kiểm sát
điều tra; công tác kiểm sát xét xử, công tác kiểm sát giam, gữ và cải tạo; công tác kiểm sát thi hàh án và công tác điều tra tội phạm” Chúng tôi thấy rằng, hiểu khái niệm quyền công tố nh- vậy là ch-a chính xác, có phạm vi
và nội dung quá rộng, có phần nào không phù hợp với Hiến pháp và các Luậtkhác Theo quy định của pháp luật hiện hành thì VKSND có hai chức năngrất cụ thể, đó là chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năngthực hành quyền công tố Trong quá trình thực hiện, giữa hai chức năngnày có một số nội dung đan xen, liên hệ và tác động qua lại với nhau, nh-ngchúng tôi thấy rằng không thể phủ nhận đ-ợc tính độc lập cả về phạm vi
và nội dung của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật và chức năngthực hành quyền công tố Do đó, không thể đồng nhất hai chức năng nàyvới nhau nh- cách hiểu nêu trên
Quan điểm thứ hai cho rằng, quyền công tố là quyền của Nhà n-ớc giao cho VKS truy tố kẻ phạm tội ra tr-ớc Toà án, thực hiện sự buộc
tội tại phiên toà (thực hành quyền công tố) [38,tr.11] Quan điểm này nhấn mạnh duy nhất chỉ có VKS mới có quyền này, nó chỉ diễn ra trong một lĩnh vực duy nhất là Tố tụng hình sự và cũng chỉ ở một giai đoạn duy nhất của tố tụng hình sự là giai đoạn xét xử sơ thẩm.
Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này đã quá thu hẹp khái niệm, nội dung
và phạm vi quyền công tố Trên thực tế, hoạt động buộc tội tại phiên toà chỉ làmột trong những nội dung của việc thực hành quyền công tố Hay nói rõ hơn,
đó chỉ là một trong những quyền hạn của VKS khi thực hành quyền công tố
Quan điểm thứ ba cho rằng, quyền công tố là quyền đại diện cho Nhà
n-ớc để đ-a các vụ việc vi phạm trật tự pháp luật thống trị ra cơ quan xét xử
để bảo vệ lợi ích của nhà n-ớc, bảo vệ trật tự pháp luật Đây là quan điểm từ
Trang 10tr-ớc đến nay của ngành Kiểm sát nhân dân, đ-ợc đ-a vào giảng dạy chínhthức của Tr-ờng Cao đẳng Kiểm sát Hà Nội Và th-ờng xuyên đ-ợc nhắc đếntrong các văn bản h-ớng dẫn nghiệp vụ, các chuyên đề h-ớng dẫn của ngành
Kiểm sát Những ng-ời theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố xuất hiện từ khi có Nhà n-ớc và pháp luật, đ-ợc thể hiện đầu tiên trong lĩnh vực hình sự, tố tụng hình sự, cùng với sự phát triển của xã hội, của các ngành luật, quyền công tố đ-ợc mở rộng sang lĩnh vực dân sự, tố tụng dân sự và ngày nay tiếp tục mở rộng sang các lĩnh tố tụng t- pháp khác [38,tr.12].
Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này đã quá mở rộng khái niệm, phạm vi của quyền công tố Cách hiểu này đã dẫn đến sự xoá nhoà ranh giới, đặc thù giữa tố tụng hình sự và các lĩnh vực tố tụng t- pháp khác Cũng nh- vậy, quan điểm này đã đồng nhất khái niệm quyền công tố với khái niệm thẩm quyền của VKS trong quá trình giải quyết các vụ án dân sự, hành chính, kinh tế và lao động.
Quan điểm thứ t- cho rằng, quyền công tố là quyền Nhà n-ớc giao cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự và
áp dụng các chế tài hình sự đối với ng-ời phạm tội Nói cách khác, quyềncông tố do các cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện trong quá trình khởi tố,
điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự và thi hành án hình sự Đó là hoạt
động tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên và những ng-ời khác đ-ợc luậtquy định có trách nhiệm xác định kẻ phạm tội cũng nh- căn cứ để kết tội
và áp dụng các hình phạt đối với ng-ời phạm tội [38,tr.12]
Những ng-ời không đồng ý với quan điểm này cho rằng, hiểu khái niệmquyền công tố nh- trên là ch-a chính xác, đã có sự đồng nhất giữa quyềncông tố với nguyên tắc công tố Theo đó, mọi tội phạm xảy ra đều xâm phạm
đến lợi ích chung của toàn xã hội, do đó ng-ời phạm tội phải bị truy cứu tráchnhiệm hình sự và phải bị trừng phạt bằng các chế tài hình sự Việc truy cứutrách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với ng-ời phạm tội đ-ợc thực
Trang 11hiện bởi các cơ quan nhà n-ớc có thẩm quyền nh-: cơ quan điều tra, cơquan công tố, cơ quan xét xử và cơ quan thi hành án Nh- vậy, hiểu kháiniệm quyền công tố theo quan điểm trên là quá rộng, làm xoá nhoà ranhgiới giữa các chức năng cơ bản trong tố tụng hình sự nh-: chức năng buộc tội,chức năng bào chữa và chức năng xét xử Mỗi chức năng cơ bản này đ-ợcthực hiện bởi một hoặc một số chủ thể nhất định, tuỳ thuộc vào từng giai
đoạn cụ thể của quá trình tố tụng hình sự Theo quan điểm này, thìkhông chỉ cơ quan điều tra, cơ quan công tố mà cả cơ quan xét xử và cơquan thi hành án cũng đều là chủ thể thực hành quyền công tố
Trên đây là một số quan điểm khác nhau về khái niệm quyền công tố Chúng tôi thấy rằng, mỗi quan điểm trên đều dựa trên những cơ sở lập luận riêng có và chứa đựng các yếu tố hợp lý của nó Tuy nhiên, có thể thấy ở các quan điểm nêu trên có những bất cập và hạn chế nhất định xuất phát từ các khía cạnh nh-: các quy định của pháp luật, khoa học và thực tiễn hoạt động của các cơ quan t- pháp.
Sự bất cập thể hiện ở chỗ: có quan điểm đã đồng nhất quyền công tố vớichức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKS, dẫn đến tình trạng mởrộng phạm vi quyền công tố sang các lĩnh vực tố tụng t- pháp khác là tố tụng dân
sự, tố tụng kinh tế, tố tụng hành chính, lao động; hoặc là có quan điểm coiquyền công tố chỉ là một quyền năng, một hình thức thực hiện chức năng kiểmsát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự, do đó xem nhẹ bản chất củaquyền công tố nh- là một hoạt động độc lập của VKS; hoặc có quan điểm quáthu hẹp phạm vi quyền công tố, coi quyền công tố là quyền của VKS truy tố ng-ờiphạm tội ra Toà và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà hình sự sơ thẩm
Còn những hạn chế có thể thấy ở chỗ: họ không thấy rõ đ-ợc khái niệm,nội dung, phạm vi quyền công tố; cũng nh- sự phân biệt giữa hoạt động thựchành quyền công tố và hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật Đa số cáctác giả đều cho rằng, hai chức năng công tố và chức năng kiểm sát việc tuântheo pháp luật của VKS vừa có tính độc lập t-ơng đối, vừa liên hệ chặt
Trang 12chẽ, tác động qua lại với nhau, đan xen lẫn nhau, giữa chúng có những nội dung xâm nhập vào nhau, đan xen lẫn nhau không thể tách rời nhau, tạo nên sự thống nhất trong chức năng của VKS [16,tr.27].
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, để làm rõ khái niệm quyềncông tố, phải xuất phát từ lịch sử Nhà n-ớc và pháp luật thế giới nói chung vàlịch sử Nhà n-ớc và pháp luật Việt Nam nói riêng Bởi lẽ, Nhà n-ớc ra đời và tồntại dù thế nào đi chăng nữa cũng luôn luôn đại diện chính thức cho xã hội.Trong xã hội có giai cấp, bất kể xã hội nào trong lòng nó cũng tồn tại nhiều loạiquan hệ xã hội, song có thể xem đến hai nhóm quan hệ xã hội cơ bản nh-:nhóm quan hệ thể hiện lợi ích công cộng và nhóm quan hệ thể hiện lợi íchcủa từng công dân Trong các nhóm quan hệ đó, Nhà n-ớc luôn có trách nhiệmbảo vệ các quan hệ xã hội liên quan đến lợi ích chung, đến trật tự xã hộichung và trừng phạt những hành vi vi phạm các quan hệ có tính lợi ích chungnày Chúng ta đều biết rằng, việc phân chia pháp luật thành công pháp và t-pháp đã đ-ợc ghi nhận ở pháp luật của Nhà n-ớc La Mã cổ đại và các nhà n-ớc t-sản hiện đại Công pháp là luật pháp có liên quan tới lợi ích chung của toàn xãhội, còn t- pháp là luật pháp liên quan tới lợi ích của từng công dân Việc phânchia công pháp và t- pháp dựa vào tính chất của lợi ích mà pháp luật bảo vệ.Các quy phạm của công pháp bảo vệ lợi ích của Nhà n-ớc - lợi ích chung củatoàn xã hội, còn các quy phạm của t- pháp bảo vệ lợi ích của công dân Vàtrong đó, nguyên tắc đặc tr-ng của công pháp là các quy phạm công phápmang tính bắt buộc, không bị thay đổi hoặc thoả thuận bởi ý chí vànguyện vọng của các bên; còn t- pháp đặc tr-ng của nó là nguyên tắc các bên
tự định đoạt theo ý chí đã thoả thuận Do có sự phân chia pháp luật nh- vậy,nên hoạt động xét xử các vi phạm pháp luật t-ơng ứng cũng đ-ợc chia thành cáchoạt động xét xử những vi phạm lợi ích Nhà n-ớc, xã hội và các hoạt động xét xửnhững vi phạm các lợi ích của công dân Pháp luật khi đó đã có sự phân biệt t-
ơng đối rõ ràng các hành vi là phạm tội với vi phạm dân sự, án hình sự với ándân sự, tố tụng hình sự và tố tụng dân sự
Trang 13Dựa vào sự phân chia trên, các tác giả theo quan điểm này cho rằng,
quyền công tố nh- bất kỳ một quyền (hay nhóm quyền) nào của VKS luôn luôn phải đ-ợc xem xét trong mối liên hệ với tính đặc thù của một lĩnh vực pháp luật cụ thể nào đó trong hoạt động của VKS Và quyền công tố chỉ có thể đ-ợc xem xét trong mối liên hệ với lĩnh vực pháp luật mà cội nguồn lịch sử
của nó đã gắn liền, không thể tách rời với việc nhân danh Nhà n-ớc chống lạihình thức vi phạm pháp luật nghiêm trọng, đó là tội phạm [38,tr.17,18]
Từ những phân tích trên, chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng,
quyền công tố là quyền của Nhà n-ớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với
ng-ời phạm tội [38,tr.20] Tuy nhiên, cần bổ sung cho đầy đủ hơn, bởi nếu coi quyền công tố chỉ là quyền truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời phạm
tội thì ch-a thể phân hoá đ-ợc rõ ràng vai trò, chức năng của VKS với mỗi cơquan tố tụng (cơ quan điều tra, cơ quan xét xử) Theo Đại từ điển Tiếng Việt
thì: “Truy cứu là tìm hiểu đầy đủ các cứ liệu, tình tiết của một vụ phạm pháp” [48,tr.1733] Theo quy định của pháp luật tố tụng n-ớc ta, nghĩa vụ
chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng Trong thực tiễn
đấu tranh chống tội phạm, không chỉ có Cơ quan điều tra có trách nhiệm
điều tra, thu thập các chứng cứ chứng minh tội phạm và ng-ời phạm tội nhằmtruy cứu trách nhiệm hình sự đối với họ, mà VKS cũng phải có trách nhiệm bảo
đảm cho các chứng cứ đó đ-ợc thu thập một cách khách quan, toàn diện và
đầy đủ, bảo đảm các chứng cứ phải thể hiện đ-ợc sự liên quan, khách quan vàhợp pháp để khẳng định việc truy cứu trách nhiệm ng-ời phạm tội của mình
là có cơ sở và có căn cứ pháp luật Cũng nh- vậy, khi vụ án đ-ợc chuyển sangToà án bằng bản cáo trạng để đề nghị xét xử bị can, Toà án có trách nhiệmxem xét đầy đủ cơ sở pháp lý và căn cứ pháp luật có trong hồ sơ vụ án đểquyết định có đ-a vụ án ra xét xử hay không Quyết định đ-a vụ án ra xét
xử, có phải là việc Toà án tiếp tục xem xét trách nhiệm hình sự của bị cáobằng hoạt động xét xử tại phiên toà hay không? Nh- vậy, có thể thấy rằng, đểphát huy vai trò chức năng của mình có hiệu quả, đ-ơng nhiên mỗi cơ quan
Trang 14tiến hành tố tụng phải tìm hiểu đầy đủ về diễn biến, nội dung vụ án, xác định
đ-ợc các chứng cứ có tội, các chứng cứ gỡ tội… bảo đảm cho việc kết luận về tộiphạm và ng-ời phạm tội là có căn cứ, đúng ng-ời, đúng tội và đúng pháp luật bảo
đảm việc xử lý tội phạm và ng-ời phạm tội của mình là đúng đắn
Nh- vậy, theo chúng tôi nên bổ sung vào khái niệm quyền công tố nêu
trên một số điểm cụ thể nh- sau: Thứ nhất, quyền công tố là quyền của Nhà
n-ớc, nh-ng tuỳ từng thời kỳ lịch sử nhất định Nhà n-ớc giao cho một cơ quan
nào đó trong bộ máy nhà n-ớc thực hiện Thứ hai, quyền công tố là quyền của
Nhà n-ớc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời phạm tội, nên quyền công
tố chỉ tồn tại trong lĩnh vực tố tụng hình sự Th- ba, cần thể hiện rõ trong
khái niệm vấn đề, để truy cứu trách nhiệm hình sự ng-ời phạm tội cơ quancông tố phải đảm bảo việc điều tra, thu thập các chứng cứ có tội và các chứng
cứ gỡ tội để xác định tội phạm và ng-ời phạm tội, qua đó truy tố bị can ra tr-ớc
Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó tr-ớc phiên toà.
Do vậy, theo ý kiến của chúng tôi thì quyền công tố là quyền của Nhà n-ớc giao cho một cơ quan nhất định thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời phạm tội nhằm đ-a ng-ời đó ra xét xử tr-ớc Toà án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên toà.
1.1.2 Nội dung, phạm vi quyền công tố
Trong thực tiễn khoa học pháp lý, để chứng minh cho quan điểm
về quyền công tố mỗi tác giả đều có lý lẽ riêng của mình để đ-a ra quan điểm về nội dung và phạm vi của quyền công tố Có thể nói, có bao nhiêu quan điểm khác nhau về quyền công tố thì cũng có bấy nhiêu cách hiểu khác nhau về nội dung và phạm vi của quyền công tố.
* Về nội dung quyền công tố
Khi đề cập tới vấn đề nội dung quyền công tố có nhiều quan điểm khácnhau Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng, nội dung quyền công tố là bao gồm
Trang 15các quyền do Luật quy định cho VKS đ-ợc thực hiện trong các giai đoạn của
tố tụng hình sự Theo đó, nội dung quyền công tố bao gồm các quyền: khởi
tố, bắt tạm giam, trả tự do cho ng-ời bị tạm giam oan, đình chỉ điều tra…[29,tr.8] Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này đã có sự nhầm lẫn giữa nộidung quyền công tố với nội dung hoạt động thực hành quyền công tố của VKS
Trên cơ sở quan niệm về quyền công tố là quyền của Nhà n-ớc giao cho một cơ quan nhất định thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời phạm tội nhằm đ-a ng-ời đó ra xét xử tr-ớc Toà án
và bảo vệ sự buộc tội tại phiên toà Chúng tôi đồng ý với quan điểm
cho rằng, nội dung quyền công tố là sự buộc tội đối với ng-ời phạm tội.
dân sự, tố tụng hành chính, tố tụng kinh tế, tố tụng lao động [38,tr.23].
Nhóm quan điểm trên dựa vào quy định của Luật Tổ chức VKSND năm
1992, khi kiểm sát việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh
tế, lao động…, VKS có quyền khởi tố vụ án theo quy định của pháp luật (khoản
3 Điều 20) khi có vi phạm pháp luật Do đó, họ đã mở rộng phạm vi quyền công tốsang cả lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế và lao động, bởi vì họ coikhởi tố vụ án nh- một quyền năng thuộc nội dung quyền công tố và việc khởi tố vụ
án nh- vậy cho dù là vụ án hình sự hay vụ án dân sự cũng đều là biểu hiện củaquyền công tố Chúng tôi thấy rằng, hiểu phạm vi quyền công tố nh- vậy là quárộng dẫn tới sự xoá nhoà ranh giới giữa các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự vàhành chính Hơn nữa, theo quy định của pháp luật hiện hành, cụ thể là Luật
Tổ chức VKSND năm 2002 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2004 thì VKSNDkhông còn quyền khởi tố vụ án dân sự nữa, nên
Trang 16không thể coi VKSND khởi tố vụ án dân sự là thực hành quyền công tố Vì thế, cũng không thể quan niệm phạm vi quyền công tố là có cả trong lĩnh vực tố tụng dân sự, hành chính, kinh tế và lao động đ-ợc.
Nhóm thứ hai, những ng-ời theo quan điểm này cho rằng, quyền công tố
chỉ có trong lĩnh vực tố tụng hình sự, không tồn tại trong lĩnh vực tố tụng dân
sự, tố tụng kinh tế, tố tụng hành chính, tố tụng lao động Chúng tôi chia sẻ vớiquan điểm này, bởi vì quyền công tố là quyền của Nhà n-ớc giao cho một cơquan nhất định thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ng-ời phạmtội, đ-a ng-ời đó ra xét xử tr-ớc Toà án và bảo vệ sự buộc tội tại phiên toà Từ đó,phạm vi quyền công tố chỉ giới hạn trong lĩnh vực tố tụng hình sự
Tuy nhiên, xung quanh vấn đề phạm vi quyền công tố trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng lại có nhiều quan điểm khác nhau, chẳng hạn:
Quan điểm thứ nhất cho rằng, phạm vi quyền công tố rất rộng, không chỉ thuộc về VKS mà nó còn đ-ợc thực hiện bởi nhiều cơ quan nhà
n-ớc khác nhau nh-: Cơ quan điều tra, VKS, Toà án và một số cơ quan khác
đ-ợc giao quyền khởi tố vụ án và nó xuất hiện từ khi có hành vi phạm tội xảy
ra [16,tr.28] Quan điểm này lại mở rộng phạm vi quyền công tố không chỉgiới hạn ở cơ quan công tố mà cả các cơ quan điều tra, cơ quan xét xử vàngay cả cơ quan khác đ-ợc giao quyền khởi tố vụ án Chúng tôi thấy rằng,quan điểm này đã có sự nhầm lẫn giữa quyền công tố với nguyên tắc công
tố dẫn tới việc xoá nhoà ranh giới giữa các chức năng cơ bản trong tố tụnghình sự Ví dụ, trong tr-ờng hợp HĐXX ra quyết định khởi tố vụ án cũngthuộc phạm vi quyền công tố, phải chăng Toà án đã thực hiện chức năngbuộc tội trong khi đó chức năng cơ bản của Toà án là xét xử
Quan điểm thứ hai cho rằng, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì phạm vi quyền
công tố đ-ợc giới hạn từ sau khi kết thúc việc điều tra tội phạm, vụ án hình sự đ-ợcchuyển sang VKS để truy tố tr-ớc Toà án và chấm dứt sau khi Toà án xét xử xongtuyên một bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật Nh- vậy, phạm vi
Trang 17quyền công tố chỉ bao gồm hai giai đoạn của hoạt động t- pháp hình
sự, đó là truy tố bị can ra Toà và buộc tội bị cáo tại phiên toà [2,tr.15] Chúng tôi thấy rằng, quan điểm này không những thu hẹp cả nội dung
mà cả phạm vi của quyền công tố Nếu hiểu phạm vi quyền công tố vậy, thì những hoạt động khác tr-ớc khi kết thúc điều tra chẳng hạn nh-: quyết định khởi tố vụ án, quyết định khởi tố bị can thuộc quyền gì? Theo ý kiến chúng tôi, truy tố ng-ời phạm tội ra Toà và thực hiện việc buộc tội tại phiên toà chỉ là một số quyền năng thuộc nội dung quyền công tố, không thể coi là phạm vi quyền công tố đ-ợc.
nh-Chúng tôi cho rằng, khi một hành vi phạm tội đ-ợc thực hiện, thì sẽlàm phát sinh quyền của cơ quan công tố, đó là phát hiện ng-ời phạm tội,xác minh các căn cứ liên quan đến tội phạm và ng-ời phạm tội để kết luận
đối với họ xem có hay không hành vi phạm tội đã đ-ợc thực hiện để truy tố
ra tr-ớc Toà án Còn trong thực tiễn, cơ quan công tố có phát hiện, điều trakịp thời tội phạm và ng-ời phạm tội hay không thuộc về lý do khách quanchứ không phải là chủ quan của cơ quan công tố không muốn phát hiện tội
phạm Với cách hiểu nh- vậy, chúng tôi cho rằng, phạm vi quyền công tố từ khi tội phạm xảy ra và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật Đây cũng là quan điểm của một số tác giả và thực tiễn khoa học pháp lý [7,tr.10].
1.1.3 Phân biệt quyền công tố với quyền t- tố
Tìm hiểu lịch sử nh¯ nớc v¯ ph²p luật trên thế giới cho thấy “quyền công tố” v¯ “quyền t- tố” l¯ nhửng kh²i niệm ph²p lý xuất hiện tụ rất sớm Việc phân biệt “quyền công tố” với “quyền t- tố” cũng đ-ợc hình thành từ đó trong
một số nhà ớc cổ đại và ở các nhà ớc t- sản hiện đại Chẳng hạn, ở Nhà
n-ớc chiếm hữu nô lệ Hy Lạp cổ đại vào thế kỷ thứ V tr-n-ớc Công nguyên đã tồn tạihai hình thức tố tụng, đó là: hình thức tố tụng công tố đ-ợc hiểu là hoạt động
tố tụng đối với các vụ án mà trong đó đụng chạm trực tiếp hay gián tiếp đếncác lợi ích của Nhà n-ớc khi mà đại diện của nó bị thiệt hại do sự vi
Trang 18phạm pháp luật; còn hình thức tố tụng t- tố đ-ợc hiểu là hoạt động tố tụng đối với các vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai
đó Nhà n-ớc La Mã cổ đại trong thời kỳ tan rã của nền dân chủ quân
sự và hình thành nhà n-ớc chiếm hữu nô lệ, thì công tố đã đ-ợc hình thành đối với các vụ án quan trọng nhất và trực tiếp xâm hại hoặc đe doạ nghiêm trọng trật tự xã hội, các lợi ích công cộng, khác với các vụ án
đụng chạm đến các lợi ích t- nhân - nó thuộc về t- tố [2,tr.13].
Sự ra đời của chế định t- tố trong pháp luật cổ đại tr-ớc hết xuất phát từquan niệm của ng-ời x-a cho rằng, vịêc bảo vệ các quyền và lợi ích của cánhân bị ng-ời khác xâm hại là việc riêng t- của mỗi ng-ời Nhà n-ớc không cầnphải can thiệp vào những việc có tính chất riêng t- liên quan đến mỗi cá nhânvới nhau Bên cạnh đó, một nguyên nhân dẫn đến sự ra đời của khái niệm t- tố
là do xuất phát từ sự non kém của nhà n-ớc và pháp luật ở thời điểm ấy Do
đó, quyền công tố chỉ đ-ợc sử dụng trong một phạm vi hẹp nhằm bảo vệnhững lợi ích liên quan trực tiếp tới Nhà n-ớc và của cộng đồng xã hội Tuynhiên, trong thực tiễn hoạt động tố tụng việc sử dụng quyền t- tố của ng-ời bịhại rất ít đ-ợc sử dụng, bởi vì để giải quyết một vụ án hình sự đối với ng-ời bịhại trong tr-ờng hợp chỉ liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ không phải làvấn đề đơn giản, không phải ai cũng có đủ điều kiện để thực hiện Ví dụnh-: sự đảm bảo về tài chính, về mặt thời gian, việc thu thập chứng cứ cho
đến việc có mặt tại phiên toà của các nhân chứng, cũng nh- việc thực hiệnbuộc tội tr-ớc Toà án đối với những ng-ời nghèo là rất khó thực hiện Đồng thời,việc pháp luật cho phép cá nhân ng-ời bị hại có quyền hoà giải, thoả thuận vớing-ời phạm tội, điều đó đã dẫn đến tình trạng nhiều vụ án nghiêm trọngkhông bị xét xử và không thể trừng phạt đ-ợc đối với nguời phạm tội Vì vậy,làm cho pháp luật không đ-ợc chấp hành triệt để, công bằng xã hội không đ-ợcbảo vệ trên thực tế Từ thực tế trên, Nhà n-ớc dần dần thấy cần phải có sự canthiệp vào quá trình giải quyết vụ án t- tố kể cả trong tr-ờng hợp ng-ời bị hạikhông muốn thực hiện quyền t- tố với mục đích là bảo vệ lợi ích
Trang 19công, lợi ích của cộng đồng xã hội Cùng với sự vận động và phát triển của xãhội, trong hoạt động t- pháp hình sự đã có sự thay đổi theo h-ớng từ chỗ, hoạt
động tố tụng hình sự dựa vào quyền t- tố là chính đã chuyển sang tố tụnghình sự thực hiện quyền công tố là chính Sự thay đổi đó đã làm cho vai tròcủa Công tố viên quan trọng trong việc giải quyết các vụ án hình sự Khi thamgia vào các vụ án t- tố, Công tố viên vừa đại diện cho công quyền - nhân danhNhà n-ớc, vừa thay mặt ng-ời bị hại để buộc tội bị cáo Công tố viên hoạt
động vì xã hội và bảo vệ không chỉ lợi ích của nhà n-ớc mà cả lợi ích của cánhân và lợi ích của cộng đồng nhằm đảm bảo cho công bằng xã hội
Cho đến ngày nay, ở hầu hết các quốc gia trên thế giới t- tố vẫn tồn tại song song với công tố Nh-ng vai trò và phạm vi áp dụng của nó bị thu hẹp và chuyển xuống hàng thứ yếu sau công tố Nội dung của quyền t- tố cũng dần dần thu hẹp lại và thông th-ờng chỉ bao gồm quyền yêu cầu khởi tố vụ án, cung cấp chứng cứ, yêu cầu bồi th-ờng thiệt hại và thực hiện việc buộc tội bị cáo tr-ớc Toà đối với vụ án t- tố [38,tr.9] Ví dụ, ở Pháp quyền công tố thuộc về
công tố, ng-ời bị hại thực hiện quyền t- tố bằng việc yêu cầu khởi tố cũng rấthạn chế, xuất phát từ việc bảo vệ lợi ích của cộng đồng nên ng-ời bị hại chỉ
có quyền tác động đến cơ quan công tố bằng việc yêu cầu khởi tố, còn nhữnghoạt động tố tụng tiếp theo do cơ quan công tố quyết định Theo Ông Bruntz,
Phõ Viện trởng Viện Công tố bên c³nh To¯ phũc thẩm Paris thì: “Nếu ng-ời
bị hại có sử dụng quyền yêu cầu khởi tố thì điều đó chỉ là ngoại lệ vì hạn hữu Ng-ời bị hại có thể yêu cầu cơ quan giữ vai trò công tố thực hiện quyền của mình bằng quyết định khởi tố, theo những quy định của pháp luật sau khi án lệ đã thừa nhận điều đó Nh-ng đó là khả năng duy nhất cho phép ng-
ời bị hại tác động đến cơ quan công tố Còn chính cơ quan công tố sẽ bảo vệ lợi ích cộng đồng” [56,tr.70].
Trang 20Thực tiễn khoa học pháp lý ở n-ớc ta, trên cơ sở các quy định của pháp luật tố tụng hình sự, khi phân biệt quyền công tố với quyền t- tố cũng có những quan điểm khác nhau:
Có quan điểm xuất phát từ nguyên tắc công tố cho rằng, nguyên tắccông tố là sự thể hiện ở việc cơ quan điều tra, VKS, Toà án trong quátrình khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều đứng trên quan điểmbảo vệ lợi ích công cộng, lợi ích của nhà n-ớc, của xã hội Các cơ quan này
đ-ợc sử dụng các biện pháp hợp pháp để làm rõ và chứng minh có tội haykhông có tội, ai là ng-ời có tội và áp dụng hình phạt t-ơng xứng đối với họ Với
cách hiểu nh- vậy, thì công tố phân biệt công khai và đối lập với t- tố.
Trong đó, công tố là sự can thiệp của các cơ quan chức năng vào quá trình
tố tụng nhân danh Nhà n-ớc và vì lợi ích công Còn t- tố, những tr-ờng hợpkhởi tố theo yêu cầu của ng-ời bị hại theo quy định của pháp luật tố tụnghình sự Tuy nhiên, ngay cả những tr-ờng hợp t- tố này, thì Luật vẫn chophép VKS và Toà án tiếp tục tiến hành tố tụng khi ng-ời bị hại rút yêu cầu,nếu xét thấy việc tiếp tục này là cần thiết [74,tr.330,331]
Khác với quan điểm trên, những ng-ời khác quan niệm không nên cho rằng việc khởi tố theo yêu cầu của ng-ời bị hại là quyền t- tố theo nghĩa đối lập với quyền công tố, là bản chất của tố tụng hình sự Tính công tố trong các
vụ án này vẫn còn Bởi vì, BLTTHS n-ớc ta chỉ quy định khởi tố theo yêu cầucủa ng-ời bị hại chứ không quy định ng-ời bị hại khởi tố hay truy tố, mà việckhởi tố hay truy tố vẫn phải do Cơ quan điều tra và VKS tiến hành [30,tr.203]
Chúng tôi đồng ý với quan điểm thứ hai, quyền công tố và quyền t- tố
đ-ợc phân biệt xuất phát từ tính chất các quyền và lợi ích của nhà n-ớc hoặccá nhân cần đ-ợc bảo vệ Theo đó, quyền công tố là hoạt động tố tụng đ-ợcxuất phát khi các vụ án mà trong đó đụng chạm trực tiếp hay gián tiêp đến cáclợi ích của Nhà n-ớc, của xã hội; còn quyền t- tố là hoạt động tố tụng đ-ợc xuấtphát khi vụ án xảy ra do sự vi phạm đến các lợi ích riêng của ai đó, chẳng
Trang 21hạn tội phạm xâm hại đến sức khoẻ hoặc đến nhân thân ng-ời bị hại Thực
tế trong pháp luật tố tụng hình sự n-ớc ta (Điều 105 BLTTHS), thì tr-ờng hợpkhởi tố theo yêu cầu của ng-ời bị hại không đối lập với quyền công tố Bởi vì,quyền này bị hạn chế bởi sự can thiệp của các cơ quan tiến hành tố tụng(Nhà n-ớc); ng-ời bị hại không có toàn quyền quyết định quá trình tố tụng Tr-ờng hợp khởi tố theo yêu cầu của ng-ời bị hại trong pháp luật tố tụng hình sự n-
ớc ta chỉ mang tính độc lập t-ơng đối (có yếu tố t- tố) mà thôi
1.2 Thực hành quyền công tố trong tố tụng hình sự
1.2.1 Thực hành quyền công tố, chức năng cơ bản của Viện kiểm sát trong tố tụng hình sự
Trong khoa học luật tố tụng hình sự, xung quanh các vấn đề khái niệm thực hành quyền công tố, nội dung và phạm vi thực hành quyền công tố, thực hành quyền công tố có phải là một chức năng của VKSND trong tố tụng hình sự hay không, vai trò của chức năng này trong tố tụng hình sự nh- thế nào… cũng còn nhiều quan điểm khác nhau Chúng tôi có thể khái quát một số quan điểm nh- sau:
nh Quan điểm thứ nhất nhấn mạnh rằng, thực hành quyền công
tố là quyền của VKSND Quan điểm này dựa vào cơ sở pháp lý là các
quy định của Hiến pháp và Luật tổ chức VKSND từ năm 1960 đến nay Vì vậy, trong thực tiễn hoạt động trong và ngoài ngành Kiểm sát
đã có sự nhầm lẫn giữa quyền công tố và thực hành quyền công tố trên các ph-ơng diện về đối t-ợng, nội dung và phạm vi Bên cạnh đó,
họ luôn gắn quyền công tố chỉ với VKS, coi đó là quyền của VKS.
- Quan điểm khác thì coi thực hành quyền công tố chỉ là một số hoạt
động trong tố tụng hình sự nh- lập cáo trạng, luận tội tr-ớc phiên toà sơ thẩm xét
xử vụ án hình sự… Thậm chí, còn có quan điểm cho rằng thực hành quyềncông tố chỉ là sự buộc tội tr-ớc phiên toà sơ thẩm vụ án hình sự [38,tr.28]
Trang 22Trên cơ sở quan niệm về quyền công tố và nội dung của quyền
công tố là sự buộc tội đối với ng-ời phạm tội, chúng tôi cho rằng thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổng hợp các quyền năng thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự ng-ời phạm tội, đ-a họ ra xét xử tr-ớc Toà án và bảo vệ sự buộc tội đó tại phiên toà.
Phạm vi thực hành quyền công tố đ-ợc xác định bắt đầu từ khi khởi tố vụ án và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật hoặc vụ án
đ-ợc đình chỉ theo quy định của Luật tố tụng hình sự.
Thực hành quyền công tố có nội dung là việc sử dụng tất cả các quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, ng-ời phạm tội, không làm oan ng-ời vô tội.
Tr-ớc khi xem xét xem thực hành quyền công tố có phải là chức năngcơ bản của VKS hay không, hay thuộc cơ quan nhà n-ớc khác; thực hànhquyền công tố có phải là chức năng cơ bản của VKS trong tố tụng hình sựhay không? Theo chúng tôi, cần nghiên cứu lịch sử hình thành VKS ở n-ớc
ta và những chức năng của nó mà Nhà n-ớc đã giao cho qua từng giai đoạn
Sau khi Cách mạng tháng 8 năm 1945 thành công ở n-ớc ta, chính quyềnnhân dân đ-ợc thành lập, nhiệm vụ của dân tộc ta trong giai đoạn này là tậptrung sức để bảo toàn lãnh thổ, giành độc lập hoàn toàn và kiến thiết quốcgia trên nền dân chủ Để thực hiện nhiệm vụ đó, trên cơ sở Hiến pháp năm
1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh tổ chức bộ máy T- pháp, trong
đó có Công tố viện là tổ chức bên cạnh Toà án và trực thuộc Bộ T- pháp, Công
tố viện có chức năng trông coi việc áp dụng Luật hình sự và Luật dân sự với quyền duy nhất là đ-a ng-ời vi phạm pháp luật hình sự và pháp luật dân sự ra Toà để xét xử, th-ờng gọi là quyền công tố [63,tr.35] Để phù hợp với tình hình
đất n-ớc, ngày 29-4-1958 Quốc hội có Nghị quyết thành lập Viện công tố và
hệ thống công tố độc lập tách khỏi Bộ T- pháp trực thuộc Chính phủ Và
nhiệm vụ, quyền hạn của Viện công tố là kiểm sát việc tuân thủ chấp
Trang 23hành pháp luật nhà n-ớc; truy tố theo luật hình những kẻ phạm pháp để bảo vệ chế độ dân chủ nhân dân, giữ gìn an ninh, bảo vệ tài sản công, bảo vệ lợi ích của ng-ời công dân, bảo đảm cho công cuộc kiến thiết và cải tạo xã hội chủ nghĩa tiến hành thuận lợi [15,tr.23] Nh- vậy, trong những giai đoạn này,
chúng ta có thể thấy rõ là việc truy tố và đ-a ng-ời phạm tội ra Toà để xét xử
đ-ợc Nhà n-ớc giao cho cơ quan Công tố đảm nhiệm Mặc dù, có lúc cơ quannày đ-ợc đặt trong hệ thống Toà án trực thuộc Bộ T- pháp và sau đó thuộcChính phủ, song với vai trò, nhiệm vụ lúc bấy giờ cho thấy cơ quan này có vịtrí hoàn toàn độc lập, và đã đáp ứng đ-ợc các yêu cầu của đất n-ớc
Cùng với yêu cầu của công cuộc cải cách bộ máy nhà n-ớc, tổ chức
và hoạt động của Viện Công tố trong giai đoạn này có sự thay đổi lớn.
Đó là chế định VKSND lần đầu tiên đ-ợc ghi nhận trong Hiến pháp
n-ớc ta năm 1959 với chức năng “VKSND tối cao n-ớc Việt Nam dân chủ cộng hoà kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các cơ quan thuộc Hôi
đồng Chính phủ, cơ quan Nhà n-ớc địa ph-ơng, các nhân viên cơ quan nhà n-ớc và công dân Các VKSND địa ph-ơng và Viện kiểm sát quân sự có quyền kiểm sát trong phạm vi do luật định” (Điều
105).
Ngày 26-7-1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Lệnh số 20-L/CTN công
bố Luật Tổ chức VKSND, trong đó quy định chức năng, nhiệm vụ và
quyền hạn của VKS, đánh dấu sự ra đời VKSND Và quyền công tố đã trở thành một trong những nội dung của chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [63,tr.36] Nh- vậy, đến giai đoạn này chúng ta có thể thấy
quyền công tố đ-ợc Nhà n-ớc giao cho VKS thực hiện, mặc dù với cách hiểuquyền công tố chỉ là một nội dung của chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật, nh-ng có thể khẳng định đó là hoạt động thuộc về VKSND.Một trong những bổ sung quan trọng của Hiến pháp 1980 về chức năngcủa VKSND, đó là quy định có sự phân biệt rõ hơn giữa hai nhiệm vụ kiểm
sát việc tuân theo pháp luật và thực hành quyền công tố: “VKSND tối cao n-ớc
Trang 24Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam kiểm sát việc tuân theo pháp luật…, thực hành quyền công tố, bảo đảm cho pháp luật đ-ợc chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất” (Điều 128) Với quy định này, mặc dù điều luật không nêu rõ VKS thực hiện hai chức năng nh-ng cho thấy cơ quan này phải
làm hai việc cơ bản, đó là kiểm sát việc tuân theo pháp luật, thực hànhquyền công tố Đến Hiến pháp năm 1992 (đ-ợc sửa đổi, bổ sung năm2001), chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật các Bộ…(kiểm sát chung) đ-
ợc huỷ bỏ, và việc VKSND tập trung nhiều hơn v¯o chữc năng công tố:
“VKSND tối cao thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động pháp…; Các VKSND địa ph-ơng, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp trong phạm vi trách nhiệm
t-do luật định” (Điều 137) Hiến pháp quy định rất cụ thể, VKS thực hiện
hai chức năng: thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp.Một điểm rất quan trọng đ-ợc ghi nhận trong Hiến pháp 1992 (sửa đổi) vềchức năng của VKSND, đó là việc quy định chức năng thực hành quyềncông tố đ-ợc đặt tr-ớc chức năng kiểm sát các hoạt động t- pháp
Trong khoa học tố tụng hình sự, có quan điểm cho rằng, hiểu chứcnăng thực hành quyền công tố chỉ thuộc về VKS, và chỉ có thể đ-ợc thựchiện ở giai đoạn truy tố tại phiên toà là không chính xác Theo quan điểm này,thì nội dung, phạm vi của chức năng thực hành quyền công tố rộng hơn nhiều:
“quyền công tố xuất hiện từ thời điểm có hành vi phạm tội xảy ra và đ-ợc giao cho các cơ quan Nhà n-ớc khác nhau (Cơ quan điều tra, VKS, Toà án và một số cơ quan khác có quyền khởi tố vụ án) Quyền công tố này đ-ợc các chủ thể nói trên thực hiện ở những mức độ khác nhau tuỳ thuộc vào t- cách tham gia tố tụng của từng cơ quan đó và giai đoạn tố tụng cụ thể Việc khởi tố vụ án, khởi
tố bị can, quyết định áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc biện pháp c-ỡng chế của Cơ quan điều tra, VKS, Toà án hoặc của các cơ quan khác có thẩm quyền khởi tố vụ án hay sự phê chuẩn các quyết định đó của VKS chính là
Trang 25những biểu hiện cụ thể (ở những mức độ khác nhau) của chức năng công tố buộc tội đối với những ng-ời thực hiện hành vi phạm tội” [16,tr.28] Nếu hiểu
-theo quan điểm này, thì các cơ quan có quyền hoặc đ-ợc giao quyền khởi tố
vụ án đều là chủ thể thực hiện chức năng thực hành quyền công tố Theochúng tôi nh- vậy là không chính xác Đồng ý rằng, trong đấu tranh phòng,chống tội phạm Nhà n-ớc phải thành lập ra hệ thống các cơ quan bảo vệ phápluật, có trách nhiệm và nghĩa vụ phối hợp với nhau, với mục đích kịp thời pháthiện tội phạm và xử lý ng-ời phạm tội BLTTHS quy định, khi phát hiện có dấuhiệu tội phạm thì Cơ quan điều tra, VKS, Toà án trong phạm vi của mình cótrách nhiệm khởi tố vụ án và áp dụng các biện pháp do Bộ luật này quy định
để xác định tội phạm và xử lý ng-ời phạm tội (Điều 13) Nh-ng việc có tiếnhành hoạt động điều tra hay không lại phụ thuộc vào quyền năng của VKS,
“quyết định khởi tố của HĐXX phải đ-ợc gửi tới VKS để xem xét, quyết định việc điều tra” (Điều 104) Và việc có truy tố bị can ra xét xử tr-ớc Toà án hay không cũng phụ thuộc vào quyền năng của VKS, “quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ vụ án” (khoản 6 Điều 112).
Nh- vậy, chỉ có VKS mới là cơ quan sử dụng một cách đầy đủ nhất các quyềnnăng thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sự ng-ờiphạm tội, đ-a họ ra tr-ớc Toà án để xét xử
Nếu theo khái niệm về thực hành quyền công tố là việc sử dụng tổnghợp các quyền năng thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệmhình sự ng-ời phạm tội, đ-a họ ra xét xử tr-ớc Toà án và bảo vệ sự buộc tội đótại phiên toà, thì chỉ có VKS mới là cơ quan thực hiện chức năng thực hànhquyền công tố, chứ không phải là Cơ quan điều tra hay Toà án Bởi vì theoquy định của pháp luật TTHS những cơ quan này không có quyền sử dụng
đầy đủ các quyền năng thuộc nội dung quyền công tố, rõ ràng Toà án khôngthể tự mình ra quyết định đ-a vụ án ra xét xử nếu VKS không quyết địnhtruy tố bị can ra tr-ớc Toà án để đề nghị xét xử
Trang 26Nh- vậy, theo chúng tôi thì: Thứ nhất quyền công tố không phải
là một quyền năng thuộc chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật
nh- cách hiểu của một số tác giả Thứ hai, Quyền công tố đ-ợc Nhà
n-ớc giao cho duy nhất VKSND thực hiện.
Về chức năng của VKSND, Nghị quyết Đại hội nghị lần thứ IX của
аng nêu rỏ chð trơng: “Viện kiểm sát nhân dân thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp” Trên tinh thần đó, trong thời gian
nghiên cứu sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 1992, quacác cuộc hội thảo của các cơ quan chức năng có thẩm quyền đã thảo luận,
làm rõ mối t-ơng quan giữa hai chức năng của VKS và kết luận chung vẫn
là kiến nghị Viện kiểm sát phải đi vào chức năng công tố [52,tr.137, 138].
Trên cơ sở nhận định tình hình, cũng nh- đánh giá chất l-ợng hoạt
động của các cơ quan t- pháp nói chung trong thời gian qua, trong đó cóhoạt động của VKSND, Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rỏ:
“Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động t- pháp Hoạt động công tố phải đ-ợc thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng nhằm… Nâng cao chất l-ợng công tố của Kiểm sát viên tại phiên toà…” Cụ thể hoá các quan điểm của Đảng và quy định của Hiến pháp, Điều 1 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 đã quy định: “VKSND thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t-pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật”.
Và trong tố tụng hình sự, BLTTHS năm 2003 quy định tại các Điều 23, 112
và 113…, theo đõ : “VKS thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội
đều phải đ-ợc xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành
án đúng ng-ời, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội phạm và ng-ời phạm tội, không làm oan ng-ời vô tội ” (Điều 23).
Trang 27Tuy nhiên, trong khoa học tố tụng hình sự lại có những quan
điểm khác nhau về chức năng nào là chức năng cơ bản của VKS trong
tố tụng hình sự Có thể khái quát một số quan điểm sau:
Quan điểm thứ nhất (đây cũng là quan điểm của đa số các nhà nghiên
cứu) cho rằng, trong tố tụng hình sự, VKS có hai chức năng độc lập với nhau:chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật Nh-ng hai chức năng của VKS trong TTHS chỉ có sự độc lập t-ơng đối, vừa
có sự liên hệ chặt chẽ, tác động qua lại, bổ sung cho nhau và ở những nội dungnhất định chúng có sự xâm nhập vào nhau không thể tách rời, vừa thuộc vềchức năng này, vừa thuộc về chức năng kia và ng-ợc lại Chính đặc điểm này đãtạo nên sự thống nhất trong chức năng của VKS trong tố tụng hình sự Chức năngnày là điều kiện, là tiền đề cho chức năng kia và ng-ợc lại Nếu thiếu một tronghai chức năng đó thì chức năng kia không thể thực hiện đ-ợc [16,tr.27] Chúng tôithấy quan điểm này mặc dù đã khẳng định đ-ợc VKS thực hiện hai chức năngtrong tố tụng hình sự, đó là chức năng thực hành quyền công tố và chức năngkiểm sát việc tuân theo pháp luật Song, không phân biệt đ-ợc một cách rõ ràng,tách bạch giữa hai chức năng, mà xem chúng chỉ có sự độc lập t-ơng đối, đanxen tác động qua lại lẫn nhau
Quan điểm thứ hai lại cho rằng, dựa vào các quy định của Luật tổ chức VKSND năm 1992, thì VKSND kiểm sát việc tuân theo pháp luật dựa
trên sáu biện pháp, công tác với những nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể nhằmmục đích bảo đảm pháp chế thống nhất, các hành vi phạm tội và vi phạmpháp luật đều đ-ợc phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh, khôi phục trật tựpháp luật Do đó, trong tố tụng hình sự VKS có hai chức năng, đó là chứcnăng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát việc tuân theo phápluật Nh-ng chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật là chức năng cơbản và chủ yếu, ra đời cùng với sự ra đời và phát triển của VKSND [43,tr.4]
Trang 28Quan điểm thứ ba đặt ra rằng, nếu coi chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát tuân theo pháp luật là hai chức
năng của VKS trong tố túng hình sứ, vậy chữc năng “buộc tội” cõ ph°i l¯ chữc năng thứ ba của VKS hay không? BLTTHS không đề cập
đến chức năng buộc tội, nh-ng nó đ-ợc các tác giả đề cập nhiều trên các tạp chí, các bài viết khoa học tố tụng hình sự.
Đa số quan điểm cho rằng, trong tố tụng hình sự tồn tại ba chức năng cơbản, đó là chức năng buộc tội, bào chữa và xét xử Trong đó, mỗi chủ thể (Cơquan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án) tham gia vào tố tụng hình sự và thựchiện một phần hoặc một chức năng trên tuỳ thuộc vào t- cách tham gia tố tụngcủa họ ở mỗi giai đoạn cụ thể Chức năng buộc tội trong tố tụng hình sự có thể
do một số chủ thể thực hiện ở những phạm vi và mức độ nhất định tuỳ thuộcvào giai đoạn tố tụng cụ thể, trong đó VKS có vai trò đặc biệt khi thực hiệnviệc buộc tội Trong giai đoạn điều tra, chức năng này do Cơ quan điều trathực hiện Trong các giai đoạn tố tụng tiếp theo, chức năng buộc tội do VKS
đảm nhiệm và có vai trò quyết định [17,tr.25]
Chúng tôi thấy rằng, khác với chức năng buộc tội, chức năng xét xử khôngthể nói do một số cơ quan tố tụng thực hiện đ-ợc, mà nó chỉ có thể thuộc vềToà án Cơ quan điều tra hay VKS không thể làm thay chức năng xét xử củaToà án đ-ợc VKS cũng không thể thay bên bào chữa để bào chữa cho bị can,
bị c²o đợc Vì vậy, chũng tôi đọng ý với quan điểm cho r´ng: “chức năng buộc tội không phải là chức năng duy nhất của Viện kiểm sát, chức năng buộc tội chỉ là một hình thức thể hiện hoạt động thực hành quyền công tố của VKS, việc buộc tội của Viện kiểm sát đối với bị can, bị cáo cũng chỉ là t-ơng đối” [33,tr.35,36] Do đó, chức năng buộc tội không thể là chức năng riêng có của
VKS, nh-ng có thể nói hoạt động buộc tội là hoạt động trọng tâm của VKStrong tố tụng hình sự khi thực hiện chức năng thực hành quyền công tố
Trang 29Theo quy định của pháp luật hiện hành thì trong tố tụng hình sự, VKSthực hiện hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theopháp luật Hoạt động của hai chức năng này, trên thực tế chúng đồng thời xuấthiện và song song tồn tại trong quá trình tố tụng hình sự, nh-ng mỗi nội dunghoạt động của mỗi chức năng lại có những vai trò khác nhau và ảnh h-ởng mộtcách trực tiếp hay gián tiếp tới quá trình tiến hành tố tụng Chẳng hạn, khi VKSthực hiện một quyền năng thuộc nội dung chức năng thực hành quyền công tố
có thể dẫn tới việc khởi động hoạt động tố tụng của các cơ quan tiến hành tốtụng hoặc có thể chấm dứt hoạt động tố tụng và đ-ơng nhiên sẽ ảnh h-ởngtrực tiếp tới quyền lợi của bị can, bị cáo Vì vậy, cần phải phân biệt rõ vai tròcủa mỗi chức năng trên để xem là chức năng nào là chức năng cơ bản của VKS
trong tố tụng hình sự Theo TS Vũ Mộc thì, quyền công tố đ-ợc Lênin sử dụng nh- một công cụ pháp lý có hiệu quả nhất, mạnh mẽ nhất, đặc thù nhất so với các công cụ pháp lý khác nh- kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của VKS nhằm loại trừ và phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm, khôi phục lại tình trạng pháp luật đã bị xâm hại Chính xuất phát từ tính chất trên nên quyền công tố
mà bức th- “Bàn về chế độ song trùng trực thuộc” của VKS gửi Bộ Chính trị,
Lê nin đã đặc biệt nhấn mạnh sự khác nhau giữa quyền quyết định đ-a vụ
án ra Toà với quyền kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật [18,tr.9].
Thực tế, khi nghiên cứu những quy định của Bộ luật TTHS năm 2003,
về thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật của VKStrong tố tụng hình sự cho thấy, VKS thực hành quyền công tố trong tố tụnghình sự: quyết định việc truy tố ng-ời phạm tội ra tr-ớc Toà án; kiểm sát tuântheo pháp luật trong tố tụng hình sự có trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạmpháp luật của cơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng và ng-ời thamgia tố tụng, áp dụng những biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc
vi phạm pháp luật của những cơ quan hoặc cá nhân này (Điều 23) Nh- đã nêutrên, thực hành quyền công tố là việc cơ quan công tố sử dụng tổng hợp các
Trang 30quyền năng thuộc nội dung quyền công tố để truy cứu trách nhiệm hình sựng-ời phạm tội nhằm đ-a ng-ời đó ra xét xử tr-ớc Toà án Có thể thấy vai tròcủa VKS khi thực hành quyền công tố, chẳng hạn trong giai đoạn điều tra,VKS có quyền khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can; yêu cầu Cơ quan điều trakhởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can ;quyết định việc truy tố bị can; quyết định đình chỉ hoặc tạm đình chỉ
vụ án (Điều 112) Những quyết định này đ-ơng nhiên sẽ ảnh h-ởng trực tiếp,không có lợi cho ng-ời phạm tội, chống lại chính ng-ời phạm tội và rõ ràng sẽ hạnchế các quyền tự nhiên của họ Khác với chức năng kiểm sát việc tuân theopháp luật trong giai đoạn điều tra, VKS có quyền kiểm sát việc khởi tố, kiểmsát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra ; yêucầu Cơ quan điều tra khắc phục các vi phạm pháp luật trong hoạt động điềutra … (Điều 113) Những quyền này, xét ở khía cạnh đấu tranh tội phạm rõràng không mang tính quyết định, không ảnh h-ởng nhiều hoặc không trựctiếp chống lại bị can, bị cáo Theo chúng tôi, nó chỉ có ý nghĩa bổ trợ choviệc giải quyết vụ án nhanh chóng, kịp thời, tránh những vi phạm pháp luật củacơ quan tiến hành tố tụng, ng-ời tiến hành tố tụng, ng-ời tham gia tố tụng trongtrong quá trình giải quyết vụ án hình sự
Khi nghiên cứu quá trình hình thành Cơ quan công tố tr-ớc năm 1960, và
từ khi thành lập VKSND đến nay cho thấy, VKSND chính thức là cơ quan
đ-ợc Nhà n-ớc giao cho chức năng thực hành quyền công tố Nguyên cố Tổng Bíth- Đảng Cộng sản Việt Nam Tr-ờng Chinh trong bài kết luận tại Hội nghị tồng
kết ng¯nh Kiểm s²t nhân dân năm 1967 đ± ph²t biểu: “Không cơ quan Nhà
n-ớc nào có thể thay thế ngành Kiểm sát để sử dụng quyền công tố bắt giam,
điều tra, truy tố, xét xử có đúng ng-ời, đúng tội, đúng pháp luật hay không,
có đúng đ-ờng lối chính sách của Đảng và Nhà n-ớc hay không, điều đó chính là Viện kiểm sát phải trông nom, bảo vệ” [66,tr.38].
Thực tiễn hoạt động công tố thời gian qua của VKSND các cấp chothấy, 100% các vụ án hình sự đều do VKS truy tố và thực hiện sự buộc tội
Trang 31tr-ớc phiên toà sơ thẩm [64,tr.13] Bên cạnh đó, VKS còn còn có trách nhiệm xemxét, bảo đảm cho việc áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ các biện pháp ngăn chặn
đúng pháp luật; có quyền khởi tố, yêu cầu khởi tố, xem xét việc khởi tố của Cơquan điều tra, Toà án theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, đó là nhữnghoạt động thể hiện nội dung của chức năng thực hành quyền công tố của VKS,
có tính quyết định và ảnh h-ởng trực tiếp tới chính bị can, bị cáo
Từ những phân tích trên, theo chúng tôi có thể nhận thức rằng, chứcnăng thực hành quyền công tố là chức năng duy nhất đ-ợc Nhà n-ớc giaocho VKSND, đồng thời là chức năng cơ bản của VKS trong tố tụng hình
sự
1.2.2 Mối quan hệ giữa thực hành quyền công tố với kiểm sát hoạt động t- pháp
Cũng nh- vấn đề thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động t- pháp
là vấn đề còn có những quan điểm khác nhau trong khoa học tố tụng hình
sự Có ng-ời thì cho rằng, kiểm sát các hoạt động t- pháp chỉ bao gồm nộidung kiểm sát các hoạt động tố tụng nh- điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án[40,tr.84]; ng-ời khác lại quan niệm, kiểm sát các hoạt động t- pháp bao gồmviệc kiểm sát hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xừ v¯ phần “t ph²p” trongthi hành án [40,tr.85]; theo những ng-ời khác nữa thì việc kiểm sát các hoạt
động t- pháp bao gồm cả kiểm sát các hoạt động bổ trợ t- pháp nh- hoạt độngcủa tổ chức luật s-, các tổ chức giám định t- pháp, các cơ quan công chứng,
hộ tịch, lý lịch t- pháp [40,tr.86]; những ng-ời thuộc quan điểm thứ t-thì kiểmsát các hoạt động t- pháp đ-ợc hiểu là chức năng của VKS bảo đảm cho phápluật đ-ợc thực hành nghiêm chỉnh và thống nhất trong việc giải quyết xung
đột và tranh chấp pháp luật (theo nghĩa hẹp) [40,tr.87]
Chúng tôi cho rằng, kiểm sát các hoạt động t- pháp hình sự là một trong những chức năng của VKSND đ-ợc Nhà n-ớc giao cho nhằm giám sát mọi hoạt
động của các cơ quan t- pháp và các cơ quan đ-ợc giao một số nhiệm vụ thực hiện một số hoạt động t- pháp trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và
Trang 32thi hành án hình sự, nhằm bảo đảm cho pháp luật tố tụng hình sự
đ-ợc thực hiện một cách nghiêm chỉnh và thống nhất.
Phạm vi của kiểm sát hoạt động t- pháp bắt đầu từ khi vụ án hình sự đ-ợc khởi tố (một số tr-ờng hợp có thể đ-ợc tiến hành tr-ớc khi khởi tố) và kết thúc khi ng-ời phạm tội thi hành xong bản án.
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992 (đ-ợc sửa đổi, bổ sung năm 2001), Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và BLTTHS năm
2003 thì VKS thực hiện hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t-pháp.
Qua nghiên cứu lý luận, phân tích các quy định của pháp luật và thựctiễn tố tụng, chúng tôi cho rằng, trong các giai đoạn của tố tụng hình sự VKSthực hành quyền công tố bằng những biện pháp mà do VKS trực tiếp quyết
định hoặc thực hiện (chẳng hạn nh- quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bịcan; áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định phêchuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; quyết định việc truy tố bị can
ra tr-ớc Toà án để xét xử; bảo vệ cáo trạng tại phiên toà; quyết định khángnghị các quyết định, bản án của Toà án ) Còn kiểm sát các hoạt động t-pháp là những biện pháp mà VKS không trực tiếp ra quyết định hoặc thựchiện, mà chỉ kiến nghị (kháng nghị) hoặc yêu cầu Cơ quan điều tra, Toà
án khắc phục vi phạm pháp luật trong điều tra hoặc xét xử
Trong tố tụng hình sự, hoạt động thực hành quyền công tố và kiểmsát các hoạt động t- pháp là những hoạt động độc lập nhau, nh-ng có mốiquan hệ biện chứng với nhau, có tác dụng hỗ trợ cho nhau Mối quan hệnày, song song tồn tại trong tố tụng hình sự Kiểm sát việc tuân theo phápluật trong các hoạt động t- pháp có hiệu quả là điều kiện đảm bảo cho thựchành quyền công tố đúng đắn, chính xác, khách quan và ng-ợc lại Thựcchất mối quan hệ này là một sự đảm bảo cho việc giải quyết vụ án đ-ợcchính xác và đúng đắn, tuân thủ các quy định của pháp luật
Trang 33Tuy nhiên, khi xem xét mối quan hệ thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động t- pháp trong từng giai đoạn tố tụng cụ thể theo các quy định của BLTTHS Chúng tôi thấy rằng, mối quan hệ nêu trên chỉ thể hiện rõ nhất trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, còn trong giai đoạn xét xử thì hoạt động kiểm sát xét xử hoàn toàn bị mờ nhạt, thậm chí trong thực tiễn xét xử hoạt động này khó đ-ợc phát huy bởi bị chi phối vào hoạt động thực hành quyền công tố.
1.2.3 Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự
Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử là biểu hiện tậptrung, rõ nét nhất của quyền công tố Tại phiên toà, KSV đại diện VKS thựchành quyền công tố có nhiệm vụ chính thức công bố công khai sự buộc tội
đối với bị cáo, đồng thời bảo vệ sự buộc tội đó tr-ớc HĐXX và những ng-ờitham gia tố tụng tại phiên toà Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị cõ
nêu: “Nâng cao chất l-ợng công tố của KSV tại phiên toà, bảo đảm tranh tụng dân chủ với luật s-, ng-ời bào chữa và những ng-ời tham gia tố tụng khác; việc phán quyết của Toà án phải căn cứ chủ yếu vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của KSV, của ng-ời bào chữa, bị cáo, nhân chứng”.
Trên cơ sở đó, Luật Tổ chức VKSND năm 2002, BLTTHS năm
2003 đã có những sửa đổi, bổ sung một cách căn bản về nội dung của một số chế định với xu h-ớng mở rộng tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự ở n-ớc ta, đặc biệt là trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình
sự Theo Điều 17 Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và các Điều 206, 207, 209…, 217 BLTTHS thì trong giai đoạn xét xử sơ thẩm các vụ án hình
sự, VKSND có những nhiệm vụ, quyền hạn nh- sau:
- Đọc cáo trạng, quyết định của VKSND liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên toà;
Trang 34- Thực hiện việc luận tội đối với bị cáo tại phiên toà sơ thẩm, tranh luận với ng-ời bào chữa và những ng-ời tham gia tố tụng khác tại phiên toà sơ thẩm;
- Tham gia xét hỏi bị cáo, ng-ời bị hại, ng-ời làm chứng…
* Đọc cáo trạng:
Đọc cáo trạng là hoạt động của KSV, mở đầu cho quá trình thực hành quyền công tố của VKS tại phiên toà, qua đó thể hiện quan điểm của VKSND truy tố bị cáo ra tr-ớc toà án Việc đọc cáo trạng đ-ợc KSV tiến hành khi phần thủ tục phiên toà kết thúc và chuyển sang phần xét hỏi Điều 206 của BLTTHS quy định: “Trớc khi tiến h¯nh xét hài, Kiểm s²t viên đóc b°n c²o tr³ng v¯ trình bày ý kiến bổ sung, nếu cõ”.
Cáo trạng là một văn bản pháp lý do VKS lập ra theo quy định của BLTTHS để thực hiện quyền công tố nhà n-ớc, truy tố ng-ời phạm tội ra tr-ớc Toà án để xét xử Đây là quyền duy nhất mà Hiến pháp - Đạo luật cao nhất của Nhà n-ớc giao cho VKS thực hiện thông qua hoạt động của KSV Nội dung bản cáo trạng phải ghi rõ ngày, giờ, tháng, năm, địa điểm xảy ra tội phạm; thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội, hậu quả của tội phạm và những tình tiết quan trọng khác; những chứng cứ xác định tội trạng của bị can…; phần kết luận của bản cáo trạng ghi rõ tội danh và
điều khoản của BLHS đ-ợc áp dụng (Điều 167 BLTTHS) Cáo trạng đánh dấu sự kết thúc của giai đoạn điều tra, mở ra giai đoạn xét xử với giới hạn xét xử của Toà án, đồng thời cũng là cơ sở để ng-ời tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của họ tại phiên toà.
BLTTHS quy định: “Trớc khi tiến h¯nh xét hài, Kiểm s²t viên đóc b°n c²o tr³ng v¯ trình b¯y ý kiến bồ sung nếu cõ” (Điều 206) Sau khi KSV công bố công khai toàn văn bản cáo trạng, nếu có vấn đề gì cần phải bổ sung thì KSV trình bày thêm Tuy nhiên, xung quanh việc trình bày ý kiến bổ sung này cũng có nhiều ý kiến khác nhau:
Trang 35Có quan điểm cho rằng, việc BLTTHS quy định KSV có quyền trình bày ý kiến bổ sung sau khi đọc xong bản cáo trạng là không phù hợp,
vì bất kỳ sự bổ sung nào vào bản cáo trạng tr-ớc khi bắt đầu phiên toà
đều phải đ-ợc giao cho bị cáo, nếu VKS không giao cho bị cáo thì nhấtthiết phải hoãn phiên toà [30,tr.183] Chúng tôi cho rằng, hiểu nh- ý kiếntrên là ch-a đầy đủ, bởi vì tr-ớc khi xét hỏi KSV công bố bản cáo trạng, đấyphải là bản cáo trạng đ-ợc giao cho bị cáo theo đúng quy định, do đókhông thể có sự bổ sung nào khác vào bản cáo trạng đã giao cho bị cáo.Bởi vì, việc ra bản cáo trạng truy tố bị cáo ra tr-ớc toà án để xét xử thuộcthẩm quyền của Viện tr-ởng VKS, KSV chỉ là ng-ời đ-ợc Viện tr-ởng uỷquyền thay mặt VKS tham gia phiên toà công bố công khai bản cáo trạng vàthực hiện bảo vệ bản cáo trạng, nên KSV phải đọc nguyên văn bản cáo trạng
mà không đ-ợc có bất kỳ sự bổ sung nào vào bản cáo trạng, trừ việc KSVphát biểu ý kiến làm rõ hơn nội dung về bản cáo trạng
Chúng tôi đồng ý với quan điểm cho rằng, sau khi đọc xong toàn văn bản cáo trạng, KSV có thể trình bày ý kiến bổ sung nếu thấy cần thiết Nh-ng đó là sự bổ sung về bản cáo trạng, chứ không phải bổ sung vào cáo trạng Vì vậy, ý kiến bổ sung của KSV với mục
đích là làm rõ hơn nội dung bản cáo trạng, chứ không phải ý kiến bổ sung làm thay đổi nội dung bản cáo trạng [46,tr.585].
Thực tiễn cho thấy, quy định tại Điều 206 của BLTTHS dễ gây sựnhầm lẫn cho hoạt động của VKS Thiết nghĩ, cần phải có sự sửa đổi hoặch-ớng dẫn để việc áp dụng pháp luật đ-ợc chính xác Trong thực tiễn xét xử đã
có tr-ờng hợp, bản cáo trạng bị cáo nhận đ-ợc hoàn toàn khác với bản cáo trạng
mà KSV đọc tại phiên toà, vì bản cáo trạng sau khi giao cho bị cáo đã có sự bổsung nên khác nhau về nội dung, thậm chí khác nhau rất cơ bản Ví dụ, BáoPháp luật TP Hồ Chí Minh, số ra ngày 5-7-2006 có đăng b¯i “Bù Đăng, BìnhPh-ớc: một b°n ²n hai b°n c²o tr³ng” Bài báo phản ánh việc VKSND huyện Bù
Đăng đã truy tố ông Đặng Văn Đông về tội cố ý gây th-ơng tích bằng hai
Trang 36bản cáo trạng cùng số, nh-ng khác nội dung và thời gian Vụ án đ-ợc TANDhuyện Bù Đăng đ-a ra xét xử Sau khi KSV đọc bản cáo trạng đã bị bị cáo,ng-ời làm chứng phản đối dữ dội về nội dung bản cáo trạng Vì vậy, Toà án
đã phải hoãn phiên toà để trả hồ sơ cho VKS và yêu cầu điều tra bổ sung
* Tham gia xét hỏi:
Xét hỏi tại phiên toà là phần trọng tâm của hoạt động xét xử Bởi vì, đây là việc điều tra chính thức để Toà án ra phán quyết về vụ
án Xét hỏi tại phiên toà khác với việc xét hỏi trong giai đoạn điều tra không chỉ về nguyên tắc tố tụng mà cả về hình thức, đặc điểm và các thủ tục đối với từng ng-ời tham gia tố tụng Tính công khai của hoạt
động xét hỏi tại phiên toà nhằm h-ớng tới mục đích xác định rõ các tình tiết của vụ án có phù hợp với sự thật khách quan không.
Vì vậy, để thu đ-ợc kết quả nh- mong muốn, đòi hỏi KSV phải cóph-ơng pháp xét hỏi hợp lý và có kinh nghiệm nghề nghiệp Ph-ơng phápxét hỏi hợp lý có nghĩa là tìm ra đ-ợc sự thật của vụ án trong thời gianngắn nhất và đúng với các quy định của BLTTHS BLTTHS năm 2003 đã
có những quy định về việc xét hỏi đ-ợc sửa đổi, bổ sung theo h-ớng tăngc-ờng trách nhiệm xét hỏi của KSV, ng-ời bào chữa so với BLTTHS năm
1988 Song trong lý luận và thực tiễn, hoạt động xét hỏi tại phiên toà hiện tạivẫn còn những quan điểm tranh luận về việc có hay không việc tăng c-ờng trách nhiệm xét hỏi của KSV, và nếu có thì trách nhiệm đó đến đâu
Về trình tự xét hỏi quy định tại Điều 207 của BLTTHS năm 2003 theochúng tôi là không có gì thay đổi so với BLTTHS năm 1988 Nh-ng việc hỏi bịcáo (Điều 209), hỏi ng-ời bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, ng-ời cóquyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, ng-ời đại diện hợp pháp của họ (Điều210), hỏi ng-ời làm chứng (Điều 211) đều có sự bổ sung việc xét hỏi củaKSV ngay sau khi HĐXX hỏi Chúng tôi thấy những quy định này của
Trang 37BLTTHS năm 2003 vẫn đặt gánh nặng trách nhiệm xét hỏi lên HĐXX,
đặc biệt là Thẩm phán Chủ toạ phiên toà.
Nhận định về vấn đề này, có quan điểm cho rằng: “thực tiễn xét xử các vụ án hình sự của hệ thống Toà án n-ớc ta hiện nay cho thấy HĐXX trong
đó chủ yếu là Chủ toạ phiên toà phải làm công việc nh- của một Điều tra viên, Kiểm sát viên thông qua phần lớn thời gian giành cho xét hỏi …” [14,tr.7].
Quy định của BLTTHS về xét hỏi làm cho HĐXX d-ờng nh- khôngcòn chú trọng đ-ợc vào hoạt động điều khiển phiên toà, và HĐXX d-ờng nh-
đang đấu tranh với bị cáo tr-ớc Toà án thay cho KSV Điều đó không nhữnglàm giảm vai đi vai trò của KSV thực hành quyền công tố, mà tạo nên tâm
lý hoài nghi của những ng-ời tham dự phiên toà về tính khách quan của Toà
án Vì vậy, để nâng cao vai trò của KSV tại phiên toà thì nên chăng cầnquy định theo h-ớng chuyển trách nhiệm chứng minh tội phạm và ng-ờiphạm tội cho các bên buộc tội (VKS) và bên bào chữa, còn HĐXX chỉ thamgia vào quá trình xét hỏi khi cần làm sáng tỏ các chứng cứ, các tình tiết nào
mà các bên ch-a làm rõ đ-ợc trong quá trình xét hỏi Trên cơ sở đó, HĐXX sẽ
có điều kiện tập trung hơn vào việc đánh giá các chứng cứ và làm sáng tỏcác tình tiết khách quan của vụ án một cách toàn diện và đầy đủ để đ-a racác phán quyết đúng đắn, chính xác và khách quan đối với vụ án Chúng tôi
đồng tình với ý kiến cho rằng: “Để thể hiện tính tranh luận trong khi xét hỏi từng ng-ời, Chủ toạ phiên toà hỏi tr-ớc, nh-ng chỉ nên hỏi bị cáo cũng nh-
đối với những ng-ời tham gia tố tụng khác một câu có tính chất nêu vấn
đề, còn lại những câu hỏi có tính chất buộc tội hoặc gỡ tội, dành cho KSV
và ng-ời bào chữa” [32,tr.181].
Tuy nhiên, khác với những quan điểm trên, có quan điểm lại cho rằng:
“không thể dồn hết trách nhiệm xét hỏi cho KSV tại phiên toà Vì nh- vậy, là
làm trái với quy định của BLTTHS, bởi vì trách nhiệm chứng minh tội phạmthuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng, và hoạt động chứng minh này của mỗi
Trang 38cơ quan thực hiện ở các giai đoạn khác nhau với những cách khác nhau.Chính vì vậy, VKS hoạt động chứng minh ở cả ba giai đoạn nh-ng quantrọng nhất ở giai đoạn truy tố Toà án hoạt động chứng minh ở giai đoạn xét
xử và phải chịu trách nhiệm chính” [41, tr.7] Thực tiễn khi thực hànhquyền công tố tại phiên toà, HĐXX đã chuyển cho KSV thực hiện việc xéthỏi là chủ yếu theo đúng tinh thần mở rộng tranh tụng, bảo đảm cho KSVvai trò chủ động trong chứng minh tội phạm và ng-ời phạm tội, nh-ng lại có ýkiến cho rằng làm nh-vậy là dồn cho KSV quá nhiều công việc Ví dụ,trong vụ án xét xử bị cáo Lũng Đầu Bò ngày 5 và 6-12-2002, vụ án đ-ợcTAND TP Hồ Chí Minh xét xử phiên toà mẫu theo tinh thần cải cách t-pháp, KSV Đặng Trần Triết, VKSND TP Hồ Chí Minh là ng-ời thực hành
quyền công tố tại phiên toà cho r´ng: “Phải nói xử theo cải cách, trách nhiệm của KSV rất nặng nề Tại phiên toà điển hình này tôi thấy hình nh- Toà
án đẩy sang Viện nhiều công việc quá Chuyển h-ớng nh- vậy là hơi nhanh với chúng tôi Toà nên xới nội dung dung vụ án cho đầy đủ, chứ nh- thế này KSVphải làm việc, phải hỏi nhiều” [42, tr.6,7].
Nh- vậy, quy định của BLTTHS năm 2003 về trình tự xét hỏi và việcxét hỏi đối với bị cáo, ng-ời bị hại, ng-ời làm chứng… vẫn ch-a hoàn toàn thểhiện đ-ợc vai trò chủ động của KSV ngay từ khi xét hỏi tại phiên toà, mà mớichỉ dừng lại ở việc bổ sung cụ thể thêm quyền xét hỏi của KSV, ng-ời bàochữa, cũng nh- những ng-ời tham gia tố tụng khác so với tr-ớc đây Vì vậy, đểthể hiện đúng vai trò và nâng cao chất l-ợng thực hành quyền công tố củaKSV tại phiên toà, thì trình tự xét hỏi và việc xét hỏi nên thay đổi theo h-ớnggiành cho KSV và ng-ời bào chữa xét hỏi là chủ yếu Chúng tôi đồng ý vớiquan điểm tại kết luận số 290, ngày 5-11-2002 của TAND tối cao trong cuộc
hội th°o “Tranh tụng tại phiên toà hình sự” đã kết luận: “…để đảm bảo khách quan, chủ toạ phiên toà chỉ nên hỏi có tính chất nêu vấn đề, còn lại những câu hỏi có tính chất buộc tội hoặc gỡ tội, giành cho KSVvà ng-ời bào chữa”
[60,tr.2] Quy định nh- vậy, sẽ tạo ra tính liên tục của hoạt động thực hành
Trang 39quyền công tố, đồng thời tạo điều kiện để KSV kiểm tra công khai,
đánh giá những chứng cứ đã đ-ợc thu thập trong giai đoạn điều tra HĐXX có thể yêu cầu KSV hoặc Luât s- bào chữa hỏi thêm hoặc trình bày thêm những điểm còn ch-a rõ, cần chứng minh của vụ án.
* Luận tội và tranh luận
Khoản 1 Điều 217 Bộ luật TTHS quy định: “Sau khi kết thũc việc xét hỏi tại phiên toà, KSV trình bày lời luận tội, đề nghị kết tội bị cáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về một tội nhẹ hơn; nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết
định truy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị c²o không cõ tội”.
Luận tội là nội dung tiếp theo của hoạt động thực hành quyền công
tố đ-ợc KSV trình bày sau khi kết thúc việc xét hỏi tại phiên toà Do đó, đểluận tội có sức thuyết phục, có đầy đủ cơ sở pháp lý và các căn cứ phápluật, thì KSV phải kết hợp tốt giữa dự thảo luận tội là kết quả của việcnghiên cứu hồ sơ vụ án tr-ớc đó với các căn cứ là kết quả điều tra công khaitại phiên toà Kho°n 1 Điều 217 quy định: “Luận tội của KSV phải căn cứvào những tài liệu, chứng cứ đã đ-ợc kiểm tra tại phiên toà và những ý kiếncủa bị cáo, ng-ời bào chữa, ng-ời bảo vệ quyền lợi của đ-ơng sự và nhữngng-ời tham gia tố túng kh²c t³i phiên to¯” Thông qua việc điều tra công khaitại phiên toà, trên cơ sở ghi nhận ý kiến của các bên tham gia tố tụng tại phiêntoà với nhiệm vụ và quyền hạn của mình, KSV đề nghị HĐXX kết tội bịcáo theo toàn bộ hay một phần nội dung cáo trạng hoặc kết luận về một tộinhẹ hơn, nếu thấy không có căn cứ để kết tội thì rút toàn bộ quyết địnhtruy tố và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo không có tội Đây là nội dung có
ý nghĩa hết sức quan trọng, thu hút sự chú ý của HĐXX và các bên tham gia
tố tụng về quan điểm của VKS đối với bị cáo, cũng nh- toàn bộ vụ án
“Luận tội là lời phát biểu của đại diện VKSND về vụ án hình sự tr-ớc phiên toà sơ thẩm, thể hiện rõ quan điểm của VKSND, kết luận về tội phạm,
Trang 40tính chất của tội phạm, vai trò của bị cáo trong vụ án có đồng phạm, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nguyên nhân điều kiện phạm tội, các biện pháp đấu tranh phòng ngừa nhằm buộc tội bị cáo và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo” [62,tr.46].
Thông th-ờng, nội dung của luận tội là nhằm bảo vệ cáo trạng Vậy nênluận tội phải căn cứ vào những chứng cứ đã đ-ợc thẩm tra tại phiên toà và phảithể hiện cả luận chứng và luận tội, có nghĩa là: luận tội phải bám sát vào nộidung truy tố của cáo trạng, những thiếu sót về điều tra thu thập chứng cứ phải
đ-ợc phát hiện từ khi nghiên cứu hồ sơ vụ án để yêu cầu điều tra bổ sung bảo
đảm nội dung truy tố của cáo trạng Cáo trạng truy tố những tội phạm nào, những
bị can nào thì nội dung luận tội phải phân tích, đánh giá, kết luận về tộiphạm đó và bị cáo đó, không bỏ sót vấn đề nào, trừ tr-ờng hợp qua xét hỏixác định rõ những vấn đề thấy cần phải sửa cáo trạng Do đó, KSV trình bàylời luận tội phải phân tích, viện dẫn làm sáng tỏ nội dung truy tố của cáo trạng
để xác định tr-ớc Toà tính có căn cứ và tính hợp pháp của cáo trạng, tiếp tụckhẳng định sự buộc tội của VKS đối với bị cáo Sau khi xét hỏi tại phiên toà,nếu không có những tình tiết đ-ợc xác định vững chắc là chứng cứ làm thay
đổi nội dung truy tố của cáo trạng thì KSV không đ-ợc phép thay đổi nội dungcủa cáo trạng KSV luận tội phải kết hợp những chứng cứ đã đ-ợc thu thập tronggiai đoạn điều tra với những chứng cứ đă đ-ợc thẩm tra tại phiên toà Điều này
đòi hỏi KSV phải tích cực tham gia xét hỏi để làm sáng tỏ những hành viphạm tội của bị cáo và những tình tiết khác liên quan đến việc luận tội, qua
đó hiểu rõ sự thật của vụ án, kịp thời sửa đổi, bổ sung dự thảo luận tội chophù hợp với diễn biến thực tế tại phiên toà, nhất là khi phát hiện có vấn đề mớihay tình tiết mới
Nội dung của luận tội thể hiện đ-ợc cả luận chứng và luận tội, tức là phảithể hiện đ-ợc việc phân tích đánh giá các chứng cứ của vụ án để kết định tộiphạm và ng-ời phạm tội theo các điều khoản của BLHS, đồng thời phân tích phêphán tính chất hành vi phạm tội, thủ đoạn phạm tội, mục đích và động