1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

91 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thời Hạn Tạm Giam Theo Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thị Hoài Phương
Người hướng dẫn TS. Lê Nguyên Thanh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 2,67 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM (13)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (13)
      • 1.1.1. Khái niệm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (13)
      • 1.1.2. Đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (16)
    • 1.2. Phân loại thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (19)
    • 1.3. Mục đích, ý nghĩa của thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam (20)
    • 1.4. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về thời hạn tạm giam (21)
      • 1.4.1. Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam về thời hạn tạm giam (21)
      • 1.4.2. Kinh nghiệm lập pháp của một số nước trên thế giới về thời hạn tạm giam.... 20 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 (26)
  • CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM (34)
    • 2.1. Thời hạn tạm giam để điều tra và truy tố (35)
      • 2.1.1. Thời hạn tạm giam để điều tra (35)
      • 2.1.2. Thời hạn tạm giam để truy tố (37)
    • 2.2. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm và sau khi tuyên án (38)
      • 2.2.1. Thời hạn tạm giam để xét xử sơ thẩm (38)
      • 2.2.2. Thời hạn tạm giam để xét xử phúc thẩm (41)
      • 2.2.3. Thời hạn tạm giam sau khi tuyên án (41)
      • 2.3.1. Thời hạn tạm giam để phục hồi điều tra (44)
      • 2.3.2. Thời hạn tạm giam để điều tra bổ sung (45)
      • 2.3.3. Thời hạn tạm giam để điều tra lại (46)
    • 2.4. Thời hạn tạm giam đối với bị can, bị cáo dưới 18 tuổi (47)
  • CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM 51 3.1. Thực tiễn áp dụng quy định thời hạn tạm giam (57)
    • 3.1.1. Kết quả áp dụng quy định thời hạn tạm giam (57)
    • 3.1.2. Những hạn chế của việc áp dụng quy định thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam và nguyên nhân (58)
    • 3.2. Những biện phám nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng thời hạn tạm giam (70)
      • 3.2.1. Biện pháp hoàn thiện pháp luật về thời hạn tạm giam (0)
      • 3.2.2. Các biện pháp khác (78)

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM THEO LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM

Khái niệm, đặc điểm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

1.1.1 Khái niệm thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Thời gian là hình thức tồn tại cơ bản của vật chất, cùng với không gian, trong đó vật chất liên tục vận động và phát triển Cả thời gian và không gian đều vô tận, và thời gian được định nghĩa là khái niệm mô tả trình tự xảy ra của các sự kiện và khoảng thời gian kéo dài của chúng Thời gian được xác định thông qua số lượng chuyển động lặp lại của các đối tượng, thường gắn với một thời điểm mốc liên quan đến một sự kiện cụ thể.

Thời gian là khái niệm diễn tả trình tự diễn ra của các sự kiện, các biến cố và

"Khoảng kéo dài của chúng" có các đặc điểm như tính một chiều, tính vận động, gắn liền với vật chất, tính xác định tương đối và tính vĩ mô Để xác định các "khoảng kéo dài", cần có các "nút chặn" trên trục thời gian vô tận, được gọi là thời điểm - những khoảng thời gian cực ngắn được xác định chính xác Các nút chặn này giúp chia trục thời gian thành các khoảng nhất định, gọi là khoảng thời gian Khoảng thời gian được xác định từ điểm này đến điểm khác được gọi là thời hạn, đơn giản là khoảng thời gian quy định để thực hiện một việc nào đó Trong mọi hoạt động, từ đơn giản đến phức tạp, chúng ta đều cần một khoảng thời gian nhất định, chính là thời hạn.

Thời hạn luật định là khái niệm hẹp hơn so với thời hạn nói chung, nhưng lại bao quát hơn khi xem xét từ góc độ thời hạn trong Tố tụng hình sự (TTHS) Nó bao gồm các thời hạn trong TTHS, tố tụng hành chính, tố tụng dân sự, cũng như trong luật hình sự.

3 “Thời gian”, https://vi.wikipedia.org/wiki/Thời_gian, truy cập ngày 04/03/2020.

4 Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, tr.972.

5 Viện Khoa học pháp lý, Bộ tư pháp (2006), Từ điển Luật học, Nhà xuất bản Từ điển Bách khoa – Nhà xuất bản Tư pháp, tr.718.

Theo Từ điển Tiếng Việt (2012), dân sự được định nghĩa là khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác, do pháp luật quy định cho từng hoạt động và công việc cụ thể.

Thời hạn trong tố tụng hình sự (TTHS) đóng vai trò quan trọng, là cơ sở buộc các chủ thể thực hiện hoạt động tố tụng trong khuôn khổ luật định, đảm bảo hiệu quả công tác và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân Thời hạn này được quy định bởi Bộ luật TTHS, bao gồm các khoảng thời gian cụ thể cho từng hành vi tố tụng và phản ánh tất cả các thời hạn trong các giai đoạn giải quyết vụ án hình sự Nhiều nghiên cứu trong nước đã đưa ra khái niệm về thời hạn TTHS nhằm làm rõ vai trò và ý nghĩa của nó trong quá trình tố tụng.

Thời hạn tố tụng hình sự, theo Phan Thị Thu Thủy, là khoảng thời gian pháp lý do luật tố tụng hình sự quy định, được xác định từ thời điểm bắt đầu đến thời điểm kết thúc để thực hiện các hoạt động và quyết định tố tụng cụ thể.

Theo tác giả Lê Minh Tuấn, thời hạn TTHS là khoảng thời gian để tiến hành các hoạt động TTHS 9

Theo tác giả Hà Thị Minh Huế, thời hạn tố tụng hình sự là khoảng thời gian xác định từ một thời điểm đến một thời điểm khác, nhằm đảm bảo giải quyết hiệu quả các nhiệm vụ trong từng giai đoạn tố tụng.

Theo tác giả Nguyễn Bảo An, thời hạn TTHS là “khoảng thời gian được xác định từ thời điểm này đến thời điểm khác” 11

Các khái niệm về thời hạn TTHS đều nhất quán trong việc mô tả thời hạn này như một "khoảng thời gian" Trong khoảng thời gian đó, các chủ thể TTHS sẽ phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình để đạt được các mục tiêu cụ thể theo quy định của pháp luật.

7 Viện khoa học pháp lý Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội, tr 265.

Trong nghiên cứu của Phan Thị Thu Thủy (2014) về thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, tác giả đã phân tích các quy định pháp lý liên quan và đưa ra những nhận định quan trọng về ảnh hưởng của thời hạn này đến quá trình xét xử Luận văn thạc sĩ luật học này, được thực hiện tại Đại học Quốc gia Hà Nội, cung cấp cái nhìn sâu sắc về những thách thức và cơ hội trong việc cải cách luật tố tụng hình sự, nhằm đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong hệ thống tư pháp.

Lê Minh Tuấn (1995) đã nghiên cứu về vấn đề thời hạn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, được trình bày trong kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ của Viện kiểm sát nhân dân tối cao tại Hà Nội, trang 13.

Hà Thị Minh Huế (2013) trong luận văn thạc sĩ luật học tại Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội, đã nghiên cứu về thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc xác định thời gian điều tra để đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các bên liên quan.

Theo Nguyễn Bảo An (2012), trong luận văn tiến sĩ của mình, tác giả chỉ ra rằng thời hạn điều tra, truy tố và xét xử sơ thẩm vụ án hình sự chưa được định nghĩa đầy đủ Các khái niệm về thời hạn tố tụng hình sự (TTHS) mà các tác giả hiện nay đưa ra không phản ánh hết nội dung quan trọng, đó là trong thời gian này, các chủ thể liên quan đến TTHS phải thực hiện các hoạt động và hành vi nhằm đạt được các mục tiêu và yêu cầu cụ thể.

Thời hạn TTHS được định nghĩa là khoảng thời gian do pháp luật tố tụng hình sự quy định, trong đó các chủ thể liên quan thực hiện các hoạt động và hành vi tố tụng nhằm đạt được mục tiêu và yêu cầu cụ thể trong quá trình tố tụng hình sự.

Theo quy định của pháp luật Tố tụng hình sự hiện hành, thời hạn trong tố tụng hình sự được chia thành hai loại: thời hạn của thủ tục tố tụng và thời hạn áp dụng các biện pháp ngăn chặn.

Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với bị can, bị cáo trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là cần thiết để kịp thời ngăn chặn hành vi phạm tội, bảo vệ quá trình điều tra, truy tố và xét xử Những biện pháp này không chỉ giúp đảm bảo thi hành án mà còn góp phần quan trọng vào việc giải quyết hiệu quả nhiệm vụ tố tụng hình sự, đấu tranh phòng ngừa tội phạm, và đảm bảo việc xử lý đúng người, đúng tội, tránh bỏ sót tội phạm và oan sai cho người vô tội.

Phân loại thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

- Căn cứ vào giai đoạn tố tụng

Các mô hình TTHS khác nhau phân chia tiến trình TTHS thành nhiều giai đoạn với số lượng và nội dung khác nhau, tùy thuộc vào quan điểm khoa học và truyền thống pháp luật của từng quốc gia Tố tụng hình sự Việt Nam bao gồm các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm, thi hành bản án và xét lại bản án qua thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm Mỗi giai đoạn có thời hạn TTHS riêng, và các biện pháp ngăn chặn cũng được quy định khác nhau theo từng giai đoạn này.

Thời hạn tạm giam trong giai đoạn điều tra bao gồm nhiều loại thời hạn khác nhau: thời hạn tạm giam để điều tra, thời hạn tạm giam phục hồi điều tra, thời hạn tạm giam để điều tra bổ sung, và thời hạn tạm giam để điều tra lại.

+ Thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố: Thời hạn tạm giam trong giai đoạn này là thời hạn tạm giam để truy tố.

Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử sơ thẩm bao gồm thời gian tạm giam để xét xử và thời gian tạm giam nhằm bảo đảm việc thi hành án sơ thẩm.

Thời hạn tạm giam trong giai đoạn xét xử phúc thẩm bao gồm thời gian tạm giam để xét xử và thời gian tạm giam nhằm đảm bảo việc thi hành án phúc thẩm.

- Căn cứ vào tính chất nghiêm trọng của tội phạm và mức độ phức tạp của vụ án

Pháp luật hình sự và luật tố tụng hình sự có mối quan hệ biện chứng, trong đó nội dung quyết định hình thức và hình thức là quy trình giải quyết nội dung Bộ luật hình sự phân loại tội phạm thành các mức độ từ ít nghiêm trọng đến đặc biệt nghiêm trọng dựa trên tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội Việc phân loại này là cơ sở xác định thời hạn tố tụng hình sự, với tội phạm nghiêm trọng hơn thường kéo dài thời hạn xử lý Đối với các vụ án phức tạp, yêu cầu chứng minh sự thật khách quan cao hơn, đòi hỏi thu thập và đánh giá nhiều chứng cứ, vì vậy thời hạn tạm giam cũng cần được kéo dài để đảm bảo tính chính xác và đúng pháp luật Cụ thể, thời hạn tạm giam tối đa cho từng loại tội phạm là 02 tháng cho tội phạm ít nghiêm trọng, 03 tháng cho tội phạm nghiêm trọng, và 04 tháng cho tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng.

Mục đích, ý nghĩa của thời hạn tạm giam theo luật tố tụng hình sự Việt Nam

Việc quy định thời hạn tạm giam một cách hợp lý có ý nghĩa, mục đích nhất định, thể hiện ở các phương diện sau:

Quy định về thời hạn tạm giam theo luật TTHS Việt Nam có tác động tích cực đến cơ quan và người tiến hành tố tụng, buộc họ phải tuân thủ pháp luật trong khuôn khổ pháp chế và dân chủ Điều này giúp cơ quan chức năng tích cực phát hiện và xử lý tội phạm, thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền lợi hợp pháp của công dân.

14 Điều 9 Bộ luật hình sự năm 2015.

Thứ hai, việc quy định thời hạn tạm giam, gia hạn tạm giam góp phần đảm bảo quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân.

Biện pháp tạm giam được áp dụng theo quy định của luật TTHS Việt Nam, với các thủ tục và thời hạn cụ thể Người bị tạm giam và người bào chữa cần nắm rõ thời hạn tối đa để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình Quy định này nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng quyền lực và bảo vệ quyền tự do cá nhân, ngăn chặn việc tạm giam tùy tiện của cơ quan tiến hành tố tụng.

Thời hạn tạm giam là cơ sở để xã hội giám sát hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng, bảo vệ quyền làm chủ của công dân Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là của dân, do dân và vì dân, với quyền lực thuộc về nhân dân Nhà nước thể chế hóa ý chí và lợi ích của nhân dân thành pháp luật, thực thi quyền lực thông qua đó Qua thời hạn tạm giam, cả cơ quan nhà nước và công dân có thể theo dõi quá trình đấu tranh phòng chống tội phạm, kiểm soát hành vi vi phạm pháp luật, đảm bảo công lý và công bằng xã hội.

Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam và pháp luật một số nước trên thế giới về thời hạn tạm giam

1.4.1 Kinh nghiệm lịch sử lập pháp Việt Nam về thời hạn tạm giam

1.4.1.1 Giai đoạn từ sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến khi Bộ luật tố tụng hình sự Việt Nam được ban hành lần đầu (năm 1988)

Sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước ta nhận thức rõ tầm quan trọng của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn để thiết lập trật tự mới và bảo vệ chính quyền cách mạng Để thực hiện điều này, nhiều văn bản pháp luật đã được ban hành, tuy nhiên, chưa có văn bản riêng biệt nào quy định cụ thể về các biện pháp ngăn chặn, mà chỉ được đề cập rải rác trong các văn bản pháp luật khác.

Biện pháp ngăn chặn tạm giam lần đầu tiên được ghi nhận trong Sắc lệnh số

Sắc lệnh ngày 29/03/1946 của Nhà nước ta quy định quyền tự do cá nhân, cụ thể tại Điều 9, nêu rõ rằng sau khi tạm bắt giữ, nếu không thể thả người bị bắt, Ủy ban kháng chiến Hành chính liên khu phải ra lệnh tạm giam Thời hạn tạm giam được quy định tại Điều 4, trong đó người bị truy tố về tiểu hình không được giam quá 01 tháng, trong khi người bị truy tố về đại hình không quá 03 tháng Đối với người đã bị Tòa tuyên án, thời gian giam cũng không quá 03 tháng Nếu cần thiết, cơ quan tư pháp có thể gia hạn tạm giam thêm hai lần, mỗi lần là một hoặc ba tháng tùy thuộc vào loại tội danh Người bị tạm giam có quyền đệ đơn xin tạm tha theo quy định của pháp luật hiện hành.

Sau khi miền Bắc được giải phóng vào năm 1954, đất nước ta trải qua nhiều biến chuyển quan trọng, với miền Bắc bước vào giai đoạn xây dựng xã hội chủ nghĩa và đấu tranh thống nhất đất nước Nhà nước đã ban hành các Sắc luật và Sắc lệnh phù hợp với thực tiễn nhằm đáp ứng nhu cầu chính trị và xã hội trong giai đoạn mới, tạo điều kiện thuận lợi cho công tác phòng chống tội phạm và bảo vệ sự thống nhất của đất nước Trong giai đoạn này, biện pháp tạm giam được quy định tại Điều 6 của Luật số 103-SL/L005 ngày 20/05/1957, đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, tài sản và thư tín của nhân dân.

Ngày 10/07/1957, quy định chi tiết thi hành Luật số 103-SL/L005 nêu rõ rằng sau khi hết thời hạn tạm giữ, nếu không thể tạm tha cho người phạm tội, cơ quan công an sẽ ra lệnh tạm giam Lệnh tạm giam phải ghi rõ lý do và thông báo cho thân nhân của người bị tạm giam, trừ khi việc này cản trở công tác điều tra hoặc không thể thực hiện Thời hạn tạm giam được quy định tại Điều 7 của Luật số 103-SL/L005.

Sắc lệnh số 40/SL của Hội đồng Chính phủ nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, được thông qua vào ngày 29/03/1946, nhằm bảo đảm tự do cá nhân Thông tin chi tiết có thể được tìm thấy tại trang web http://vietlaw.quochoi.vn/Pages/vbpq-toan-van.aspx?ItemID7, truy cập ngày 20/03/2020.

Luật số 103-SL/L005 được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thông qua vào ngày 20/05/1957, quy định rõ ràng về việc bảo đảm quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, tài sản và thư tín của công dân Luật này khẳng định tầm quan trọng của việc bảo vệ quyền riêng tư và an toàn cá nhân trong xã hội.

&document_id$22, truy cập ngày 20/03/2020.

Nghị định 301-TTg được ban hành bởi Thủ tướng Chính phủ vào ngày 10/07/1957 quy định chi tiết việc thi hành Luật số 103-SL/L005 Nghị định này nhằm đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà ở, đồ vật và thư tín của công dân.

Theo quy định tại Điều 103-SL/L005, thời hạn tạm giam tối đa là hai tháng cho các vụ án thường phạm có hình phạt dưới năm năm tù, và bốn tháng cho các vụ liên quan đến an ninh quốc gia hoặc các vụ án thường phạm với hình phạt trên năm năm Trong trường hợp cần thiết cho việc điều tra, cơ quan ra lệnh tạm giam có thể gia hạn thêm một hoặc hai lần Đối với các vụ án phức tạp, thời gian điều tra cần kéo dài phải được sự phê duyệt của cơ quan tư pháp trung ương.

Sau ngày giải phóng miền Nam, Đảng và Nhà nước ban hành Sắc luật số 02/SL ngày 15/03/1976, quy định chặt chẽ về việc bắt, giam, và khám người, nhà ở, đồ vật Sắc luật mở rộng thẩm quyền bắt tạm giam đến cấp huyện và quy định rõ ràng về biện pháp tạm giam cùng thời hạn tạm giam Cơ quan an ninh hoặc Viện kiểm sát nhân dân phải xét hỏi ngay sau khi bắt, và trong 3 ngày phải quyết định trả tự do hoặc tạm giam Việc tạm giam phải có lệnh viết từ VKSND hoặc cơ quan an ninh cấp tương đương Thời gian tạm giam không quá hai tháng cho vụ thường phạm và bốn tháng cho vụ an ninh chính trị Nếu cần thiết, có thể gia hạn nhưng phải được sự phê chuẩn của cơ quan Tư pháp Trung ương Sắc luật 02/SL đã góp phần quan trọng trong công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và thiết lập các quy định mới hiệu quả hơn.

Sắc luật số 02/SL ban hành ngày 15 tháng 3 năm 1976 quy định về việc bắt, giam, khám xét người, nhà ở và đồ vật Nội dung này là rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hợp pháp và quyền lợi của công dân Các quy định này nhằm mục đích bảo vệ an ninh trật tự và quyền riêng tư của cá nhân trong xã hội.

20 Điều 5 Sắc luật số 02/SL ngày 15/03/1976 quy định việc bắt, giam, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật.

Trong giai đoạn này, mặc dù đã có quy định về thời hạn tạm giam, nhưng các quy định còn đơn giản và rải rác, chưa hình thành hệ thống pháp luật riêng về biện pháp ngăn chặn, bao gồm tạm giam Hiến pháp 1980 ra đời đánh dấu bước chuyển mình cho hệ thống pháp luật nước ta, nhưng vẫn tồn tại tình trạng áp dụng biện pháp ngăn chặn một cách tùy tiện do quy định chưa rõ ràng.

1.4.1.2 Giai đoạn từ khi Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 ra đời cho đến nay

Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc xây dựng pháp luật, với việc quy định rõ ràng về căn cứ, trình tự, thủ tục, thẩm quyền và thời hạn của các biện pháp ngăn chặn tại chương V cùng một số điều khác Các quy định này đã trở nên cụ thể, hoàn chỉnh và có hệ thống hơn, đặc biệt là về biện pháp tạm giam và thời hạn tạm giam, được nêu rõ trong Điều 71 của BLTTHS 1988.

Thời hạn tạm giam để điều tra tối đa là hai tháng cho tội ít nghiêm trọng và bốn tháng cho tội nghiêm trọng Nếu vụ án phức tạp, Viện trưởng VKSND cấp tỉnh hoặc Viện trưởng VKSQS cấp quân khu có thể gia hạn tạm giam thêm, nhưng không quá hai tháng cho tội ít nghiêm trọng và bốn tháng cho tội nghiêm trọng Viện trưởng VKSND tối cao và Viện trưởng VKSQS trung ương có thể gia hạn thêm tối đa bốn tháng Đối với tội phạm đặc biệt nguy hiểm xâm phạm an ninh quốc gia, Viện trưởng VKSND tối cao có quyền gia hạn thêm khi cần thiết.

Sự ra đời của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988 đã ghi dấu ấn quan trọng trong sự phát triển của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, nhằm bảo vệ tối ưu quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Hiến pháp 1980 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua vào ngày 18 tháng 12 năm 1980 Để biết thêm thông tin chi tiết, bạn có thể truy cập vào trang web của Bộ Tư pháp tại địa chỉ https://moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?ItemID36, với thời gian truy cập là ngày 20 tháng 03 năm 2020.

QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ NĂM 2015 VỀ THỜI HẠN TẠM GIAM

THỰC TIỄN ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM VÀ BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG THỜI HẠN TẠM GIAM 51 3.1 Thực tiễn áp dụng quy định thời hạn tạm giam

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
16. Nguyễn Bảo An (2012), Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự, Luận văn tiến sĩ, Đại học Luật TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự,Luận văn tiến sĩ
Tác giả: Nguyễn Bảo An
Năm: 2012
17. Nguyễn Ngọc Anh (2009), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh
Nhà XB: Nxb. Chính trị quốc gia
Năm: 2009
18. Trần Văn Biên & Đinh Thế Hưng (2015), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự, NXB. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự
Tác giả: Trần Văn Biên & Đinh Thế Hưng
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2015
20. Nguyễn Đăng Dũng (2014), Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp ngăn chặn trong giai đoạn điều tra vụ ánhình sự
Tác giả: Nguyễn Đăng Dũng
Năm: 2014
21. Hà Thị Minh Huế (2013), Thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn điều tra trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Hà Thị Minh Huế
Năm: 2013
22. Ngôn ngữ Việt Nam (2012), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Ngôn ngữ Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Thanh niên
Năm: 2012
23. Phan Thị Thu Thủy (2014), Thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn tố tụng trước xét xử trong luật tố tụng hìnhsự Việt Nam
Tác giả: Phan Thị Thu Thủy
Năm: 2014
24. Tô Thị Thu Trang (2014), Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật, Đại học quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thời hạn của các biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Tô Thị Thu Trang
Năm: 2014
25. Trường đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật Tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB. Công an nhân dân
Năm: 2018
26. Trường Đại học Luật TP.HCM (2012), Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam, NXB. Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trường Đại học Luật TP.HCM
Nhà XB: NXB. Hồng Đức
Năm: 2012
27. Lê Minh Tuấn (1995), Vấn đề thời hạn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Hà Nội. tr.13 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề thời hạn trong luật tố tụng hình sự Việt Nam, Kỷ yếu đề tài khoa học cấp bộ
Tác giả: Lê Minh Tuấn
Năm: 1995
28. Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp (1999), Từ điển Luật học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Luật học
Tác giả: Viện khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 1999
30. Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2019), Kết luận số 12/2019/L-VKSTC-V4 ngày 17/5 về kiểm tra công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dục người chấp hành án phạt tù tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, tr.6 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân tối cao (2019"), Kết luận số 12/2019/L-VKSTC-V4 ngày17/5 về kiểm tra công tác kiểm sát việc tạm giữ, tạm giam, quản lý và giáo dụcngười chấp hành án phạt tù tại Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Năm: 2019
31. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo thực trạng công tác thực hành quyền công tố, kiểm sát việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn bắt, tạm giữ, tạm giam và giải pháp thực hiện (2014-2016) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân tối cao
32. Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Báo cáo tổng kết công tác của ngành Kiểm sát nhân dân năm 2015, 2016, 2017, 2018, 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, "Báo cáo tổng kết công tác của ngành Kiểm sát nhân dân
33. Viện ngôn ngữ học (2006), Từ điển Tiếng Việt, NXB. Đà Nẵng;Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Viện ngôn ngữ học (2006), "Từ điển Tiếng Việt", NXB. Đà Nẵng
Tác giả: Viện ngôn ngữ học
Nhà XB: NXB. Đà Nẵng;"Tài liệu từ internet
Năm: 2006
34. Xuân Ân, “Cần khắc phục tạm giam quá thời hạn luật định”, https://www.msn.com/vi-vn/news/other/c%E1%BA%A7n-kh%E1%BA%AFc-ph%E1%BB%A5c - vi%E1%BB%87c-t%E1%BA%A1m-giam-qu%C3%A1-th%E1%BB%9Di-gian - lu%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BB%8Bnh/ar-BBO4TxN, truy cập 04/03/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xuân Ân, “Cần khắc phục tạm giam quá thời hạn luật định
39. Hải Dương (tổng hợp, “Thông báo rút kinh nghiệm vụ án bị hủy để điều tra lại”, https://vksndtc.gov.vn/tin-chi-tiet-8413, truy cập 04/03/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông báo rút kinh nghiệm vụ án bị hủy để điều tra lại
35. BLTTHS Nhật Bản năm 1948, ngày thi hành 01/01/1949, sửa đổi lần cuối ngày 29/05/2020,https://elaws.eov.go.jp/search/elawsSearch/elaws_search/lsg0500/detail?lawId=323AC0000000131&fbclid=IwAR1fRXNQUmPJtoLZjLue7Mm3Wj8T8rizcQPdttBI93y1pZ2SctcJsEIb0Uw#236, truy cập ngày 18/09/2020 Link
37. Bộ luật tố tụng hình sự Liên Bang Nga ngày 18/12/2001 (được sửa đổi vào ngày 31/7/2020), http://www.consultant.ru/document/cons_doc_LAW_34481/, truy cập 28/9/2020 Link

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w