1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp có vốn nhà nước tại việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

284 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 284
Dung lượng 24,56 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU (16)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (16)
      • 1.1.1. Bối cảnh thực tiễn (16)
      • 1.1.2. Bối cảnh lý thuyết (19)
    • 1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu (21)
      • 1.2.1. Mục tiêu nghiên cứu (21)
      • 1.2.2. Câu hỏi nghiên cứu (21)
    • 1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (22)
    • 1.4. Phương pháp nghiên cứu (22)
    • 1.5. Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài (23)
      • 1.5.1. Đóng góp về khoa học (23)
      • 1.5.2. Đóng góp về thực tiễn (24)
    • 1.6. Điểm mới của luận án (24)
    • 1.7. Kết cấu của luận án (25)
    • 1.8. Tóm tắt chương Một (25)
  • CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT (27)
    • 2.1 Vốn xã hội doanh nghiệp (Corporate social capital) (27)
      • 2.1.1 Khái niệm vốn xã hội doanh nghiệp (27)
      • 2.1.2 Đo lường vốn xã hội doanh nghiệp (32)
    • 2.2 Tinh thần kinh doanh (Entrepreneurship) (36)
      • 2.2.1 Khái niệm về tinh thần kinh doanh (36)
      • 2.2.2 Đo lường tinh thần kinh doanh (40)
    • 2.3 Khả năng thích ứng (resilience capability) (42)
      • 2.3.1 Khái niệm khả năng thích ứng (42)
      • 2.3.2 Đo lường khả năng thích ứng (0)
    • 2.4 Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (48)
      • 2.4.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (48)
      • 2.4.2 Đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (0)
    • 2.5 Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu (51)
      • 2.5.1 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động. 35 (51)
      • 2.5.2 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng thích ứng 38 (54)
      • 2.5.3 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh39 (55)
      • 2.5.4 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động 40 (56)
      • 2.5.5 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và hiệu quả hoạt động (59)
      • 2.5.6 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng (60)
    • 2.6 Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan (61)
      • 2.6.1 Nghiên cứu về Vốn xã hội (61)
      • 2.6.2 Nghiên cứu về khả năng thích ứng (67)
      • 2.6.3 Nghiên cứu về tinh thần kinh doanh (71)
    • 2.7 Phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu (75)
      • 2.7.1 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động (75)
      • 2.7.2 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và khả năng thích ứng (77)
      • 2.7.3 Mối quan hệ giữa vốn xã hội và Tinh thần kinh doanh (78)
      • 2.7.4 Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và Hiệu quả hoạt động DN (79)
      • 2.7.5 Mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và hiệu quả hoạt động DN (79)
      • 2.7.6 Mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng (80)
    • 2.8 Tóm tắt chương 2 (81)
  • CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (83)
    • 3.1. Qui trình thực hiện nghiên cứu (83)
    • 3.2. Phương pháp nghiên cứu (87)
      • 3.2.1. Nghiên cứu định tính (phỏng vấn chuyên gia) (87)
      • 3.2.2. Nghiên cứu định lượng sơ bộ (105)
      • 3.2.3. Nghiên cứu định lượng chính thức (109)
    • 3.3. Tóm tắt chương ba (114)
  • CHƯƠNG 4. PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (116)
    • 4.1. Kết quả nghiên cứu định lượng sơ bộ (116)
      • 4.1.1. Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (116)
      • 4.1.2. Phân tích nhân tố khám phá EFA (116)
    • 4.2. Kết quả phân tích thống kê mô tả mẫu (117)
      • 4.2.1. Loại hình doanh nghiệp (118)
      • 4.2.2. Lĩnh vực hoạt động (118)
      • 4.2.3. Số chi nhánh (119)
      • 4.2.4. Cơ cấu vốn nhà nước (120)
      • 4.2.5. Diện cổ phần hoá từ DNNN (120)
      • 4.2.6. Năm cổ phần hoá DNNN (121)
      • 4.2.7. Hình thức cổ phần hoá (122)
      • 4.2.8. Kết quả hoạt động của DNCVNN Việt Nam (122)
      • 4.2.9. Giới tính (123)
      • 4.2.10. Độ tuổi (123)
      • 4.2.11. Trình độ học vấn (124)
      • 4.2.12. Vị trí đối tượng khảo sát trong DNCVNN tại Việt Nam (124)
      • 4.2.13. Thời gian làm việc tại DNCVNN tại Việt Nam (126)
      • 4.2.14. Thời gian công tác trong khu vực DNNN (126)
    • 4.3. Kiểm định thang đo bằng Hệ số tin cậy Cronbach’s Alpha (nghiên cứu định lượng chính thức) (128)
    • 4.4. Phân tích nhân tố khám phá EFA (nghiên cứu định lượng chính thức) (131)
    • 4.5. Phân tích CFA và SEM thang đo (nghiên cứu định lượng chính thức) (133)
      • 4.5.1. Các yếu tố vốn xã hội doanh nghiệp (133)
      • 4.5.2. Các yếu tố tinh thần kinh doanh (136)
      • 4.5.3. Các yếu tố khả năng thích ứng (140)
      • 4.5.4. Các yếu tố hiệu quả hoạt động (144)
    • 4.6. Phân tích CFA mô hình đo lường tới hạn (147)
    • 4.7. Phân tích mô hình cấu trúc tuyến tính SEM (151)
    • 4.8. Kiểm định giả thuyết (153)
    • 4.9. Kiểm định sự khác biệt (154)
    • 4.10. Thảo luận kết quả nghiên cứu (155)
    • 4.11. Tóm tắt chương bốn (161)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý QUẢN TRỊ (162)
    • 5.1. Kết luận chung (162)
    • 5.2. Đóng góp về mặt khoa học và hàm ý quản trị (164)
      • 5.2.1. Đóng góp về mặt khoa học (164)
      • 5.2.2. Hàm ý về mặt quản trị (165)
    • 5.3. Hạn chế và hướng nghiên cứu tương lai (169)
    • 5.4. Tóm tắt chương 5 (170)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (171)
  • PHỤ LỤC (189)

Nội dung

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU

Lý do chọn đề tài

Để làm rõ tính cấp thiết của đề tài, phần này sẽ trình bày bối cảnh doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, bao gồm cả bối cảnh thực tiễn và lý thuyết Bài viết sẽ lược khảo các lý thuyết và nghiên cứu trước đây liên quan đến vấn đề này Dựa trên những phân tích đó, tác giả sẽ nêu rõ lý do chọn đề tài nghiên cứu.

Tại Việt Nam, doanh nghiệp nhà nước (DNNN) được hình thành rất sớm

Từ năm 1954 ở miền Bắc và 1975 ở miền Nam, tổng số doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đã giảm mạnh từ 12.000 vào năm 1986 xuống còn khoảng 6.000 vào năm 2001, 1.369 vào năm 2011, và chỉ còn khoảng 526 DNNN vào cuối năm 2017 Trong giai đoạn 1991-1995, DNNN có tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đạt 11,7%, vượt trội hơn so với mức tăng trưởng 8,2% của nền kinh tế DNNN vẫn là trụ cột quan trọng của nền kinh tế, chiếm đến 70% tài sản quốc gia và 50% vốn đầu tư toàn xã hội Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các DNNN lại không tương xứng với nguồn lực mà họ nắm giữ, dẫn đến chủ trương của nhà nước trong việc sắp xếp lại, chuyển đổi và thoái vốn DNNN, với mục tiêu trước mắt là tiến hành cổ phần hóa.

Giai đoạn thí điểm cổ phần hóa từ 1998 trở về trước: có 123 DN và bộ phận

Giữa năm 1998 và 2011, Việt Nam đã đẩy mạnh quá trình cổ phần hóa doanh nghiệp theo các Nghị định 44/1998/NĐ-CP, 64/2002/NĐ-CP, 187/2004/NĐ-CP và 109/2007/NĐ-CP, với tổng số 3.858 doanh nghiệp và bộ phận doanh nghiệp được cổ phần hóa Từ năm 2012 đến 2016, mục tiêu cổ phần hóa chuyển sang tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước theo Quyết định 929/QĐ-TTg và các Nghị định 59/2011/NĐ-CP.

CP, 189/2013/NĐ-CP có 535 DN và bộ phận DN cổ phần hóa.

Nghị định 59/2011/NĐ-CP, thay thế Nghị định 109/2007/NĐ-CP, quy định về việc chuyển đổi doanh nghiệp 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần đã thu hẹp đối tượng được cổ phần hóa Theo nghị định mới, chỉ còn 03 đối tượng được phép cổ phần hóa, thay vì 06 đối tượng như trước đây.

Công ty TNHH MTV, do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ, đóng vai trò là công ty mẹ của Tập đoàn kinh tế và Tổng công ty Nhà nước, bao gồm cả Ngân hàng Thương mại Nhà nước.

(ii) Công ty TNHH MTV do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ là DN thuộc các

Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;

(iii) DN 100% vốn Nhà nước chưa chuyển thành Công ty TNHH MTV.

Tiến trình cổ phần hóa tại Việt Nam diễn ra chậm chạp, không đạt yêu cầu đề ra, trong khi các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) vẫn hoạt động kém hiệu quả Mặc dù DNNN có lợi thế về nguồn lực vật chất và mối quan hệ tốt với các cơ quan nhà nước, sự phát triển của họ vẫn không tương xứng với tiềm năng hiện có Để khắc phục tình trạng này, nhà nước không chỉ đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa mà còn tập trung vào việc bố trí lại nhân sự và cơ cấu tổ chức, nhằm tìm ra nguyên nhân gốc rễ của vấn đề.

Lãnh đạo doanh nghiệp nhà nước (DNNN) đôi khi lợi dụng mối quan hệ với các cơ quan nhà nước để phục vụ lợi ích cá nhân, dẫn đến tình trạng thất thoát và lãng phí vốn, tài sản của nhà nước.

- Có DNNN sử dụng cơ sở vật chất hiện có phục vụ nhóm lợi ích;

- Tinh thần doanh nghiệp không cao, còn dựa giẫm vào nhà nước; hay ỷ lại, đùn đẩy, lẫn tránh trách nhiệm, còn có tư duy nhiệm kỳ;

Lợi nhuận thu được hiện nay bị phân bổ không hợp lý và không có kế hoạch cho nguồn lực bền vững, dẫn đến việc phân chia hết thành quả hoạt động tức thì Đây là những vấn đề mà nhà nước cần chú trọng chỉ đạo, đồng thời cần đẩy nhanh tiến độ cổ phần hóa và thoái vốn doanh nghiệp nhà nước để hình thành loại hình doanh nghiệp có vốn nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam.

Doanh nghiệp có vốn đầu tư của nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam là những công ty cổ phần mà Nhà nước sở hữu dưới 100% vốn điều lệ hoặc cổ phần Sau quá trình cổ phần hóa, hai doanh nghiệp vẫn duy trì vốn đầu tư của Nhà nước, thể hiện sự chuyển đổi mô hình hoạt động trong nền kinh tế.

DNCVNN tại Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế, cung cấp dịch vụ công ích thiết yếu và hỗ trợ an ninh quốc phòng Để DNCVNN hoạt động hiệu quả, bền vững và lâu dài, cần có sự quan tâm từ lãnh đạo Chính phủ và các Bộ, Ngành Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN là cần thiết, đặc biệt là việc khai thác các nguồn lực phi vật chất như vốn xã hội và tinh thần doanh nghiệp Cần phân bổ nguồn lực hợp lý để thích ứng với thay đổi môi trường, từ đó tối ưu hóa hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và đảm bảo sự ổn định trong hoạt động của DNCVNN.

DNCVNN tại Việt Nam cần được nghiên cứu kỹ lưỡng để tối ưu hóa việc sử dụng các nguồn lực phi vật chất Việc đảm bảo nguồn vốn đầu tư của nhà nước sinh lời cao là rất quan trọng Thay vì bán, giao hay thoái hết vốn nhà nước, cần thực hiện cải tổ để nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình doanh nghiệp này.

Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển của doanh nghiệp, giúp giảm thiểu rủi ro và duy trì thực lực kinh tế, đồng thời cải thiện hiệu suất kinh doanh và lợi ích vật chất Nó không chỉ nâng cao sản lượng và lợi nhuận mà còn góp phần phát triển vốn con người và tạo ra cơ hội thành công cho doanh nghiệp Vốn xã hội cũng thúc đẩy đổi mới và tinh thần kinh doanh, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và duy trì hoạt động ổn định, bền vững Bằng cách tăng cường các chuẩn mực và đơn giản hóa sự hợp tác, vốn xã hội cung cấp khuôn mẫu cho sự hợp tác, từ đó mang lại giải pháp cho những tình huống khó khăn của doanh nghiệp.

Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, khả năng thích ứng và tinh thần kinh doanh của doanh nghiệp, như đã được chỉ ra trong các nghiên cứu của Johnson (2010) và Aldrich & Meyer (2015) Năm 1995 và 2000, các nghiên cứu này đã khẳng định rằng vốn xã hội có tác động tích cực đến năng lực cạnh tranh và sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp được xác định là cách sử dụng hiệu quả các nguồn lực để phản ứng và điều chỉnh tích cực trước những biến động của môi trường kinh doanh (Weick và cộng sự, 2008) Điều này không chỉ giúp củng cố và duy trì hoạt động kinh doanh mà còn phát triển hiệu quả và lợi thế cạnh tranh một cách bền vững, bất chấp những thách thức (Chu, 2015).

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp giúp dự đoán và lập kế hoạch cho những biến động bất lợi từ môi trường vĩ mô và vi mô Điều này đặc biệt quan trọng trong việc theo dõi tình hình kinh tế, chính trị, pháp luật và đối thủ cạnh tranh.

Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

Nghiên cứu này phân tích tác động trực tiếp của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Đồng thời, nó cũng xem xét sự tác động gián tiếp của vốn xã hội thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động trực tiếp và đồng thời của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất làm việc và khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động gián tiếp của vốn xã hội đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (DNCVNN) thông qua hai yếu tố chính là tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng Việc hiểu rõ mối quan hệ này sẽ giúp nâng cao hiệu suất làm việc và phát triển bền vững cho các DNCVNN tại Việt Nam.

− Nghiên cứu sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam;

− Các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị về việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam.

1.2.2 Câu hỏi nghiên cứu Để thực hiện được mục tiêu nghiên cứu thì luận án cần phải trả lời được các câu hỏi sau:

Vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam Những yếu tố này không chỉ thúc đẩy sự đổi mới và sáng tạo trong quản lý mà còn giúp DNCVNN nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường Sự kết hợp giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh tạo ra môi trường thuận lợi cho sự phát triển bền vững, trong khi khả năng thích ứng giúp doanh nghiệp nhanh chóng điều chỉnh chiến lược để đáp ứng nhu cầu thay đổi của thị trường.

Vốn xã hội ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam thông qua việc thúc đẩy tinh thần kinh doanh và nâng cao khả năng thích ứng Sự kết nối và tương tác trong cộng đồng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp phát triển, từ đó cải thiện năng suất và hiệu quả kinh doanh Tinh thần khởi nghiệp mạnh mẽ, kết hợp với khả năng linh hoạt trong môi trường cạnh tranh, giúp DNCVNN tối ưu hóa hoạt động và tăng cường sự bền vững.

Tinh thần kinh doanh có tác động gián tiếp thông qua khả năng thích ứng như thế nào đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam?

Các hàm ý quản trị cho các nhà quản trị về việc góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam là như thế nào?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

Luận án này tập trung nghiên cứu ba khía cạnh chính liên quan đến hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước (DNCVNN) tại Việt Nam Thứ nhất, nghiên cứu sẽ xem xét sự tác động trực tiếp của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN Thứ hai, luận án sẽ phân tích tác động gián tiếp của vốn xã hội thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng Cuối cùng, nghiên cứu sẽ đánh giá tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.

− Khách thể nghiên cứu: Các DNCVNN đang hoạt động tại Việt Nam.

Đối tượng khảo sát bao gồm lãnh đạo các Doanh nghiệp Nhà nước Việt Nam, cụ thể là Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, và những người được ủy quyền có hiểu biết về hoạt động của doanh nghiệp Những cá nhân này được chỉ định bởi Tổng Giám đốc hoặc Giám đốc để thực hiện khảo sát và trình lãnh đạo phê duyệt trước khi gửi phản hồi cho người viết.

− Phạm vi nghiên cứu: Các DNCVNN tại Việt Nam (các DNNN đã cổ phần hóa tính đến tháng 8 năm 2019 theo trang Web: chinhphu.vn).

− Thời gian nghiên cứu: năm 2018, 2019.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính kết hợp với nghiên cứu định lượng; trong đó nghiên cứu định lượng là chính; trình tự như sau:

Phương pháp phỏng vấn chuyên gia, bao gồm phỏng vấn sâu và thảo luận tay đôi, được sử dụng để làm rõ các khái niệm và mô hình liên quan đến vốn xã hội, tinh thần kinh doanh, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam Đối tượng phỏng vấn là các lãnh đạo cấp cao như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc và Phó Giám đốc của DNCVNN Trong quá trình này, 10 chuyên gia có kinh nghiệm đã được lựa chọn và đồng ý tham gia phỏng vấn, với danh sách chi tiết được đính kèm ở phụ lục, trang 176; đến người thứ 10, không còn ý kiến mới nào được đưa ra.

− Nghiên cứu định lượng sơ bộ:

Bài viết mô tả quá trình khảo sát thông qua việc gửi 100 phiếu điều tra và thu về 60 phản hồi từ các doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa tính đến tháng 8/2019 Đối tượng khảo sát bao gồm các lãnh đạo như Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc và các vị trí quản lý khác, nhằm đánh giá tính nhất quán và cấu trúc thang đo Phương pháp chọn mẫu phi xác suất, cụ thể là lấy mẫu thuận tiện, đã được áp dụng Để hoàn thiện phiếu khảo sát cho nghiên cứu định lượng chính thức, phần mềm phân tích độ tin cậy thang đo và phân tích nhân tố khám phá (EFA) đã được sử dụng nhằm sàng lọc và xác định cấu trúc thang đo.

− Nghiên cứu định lượng chính thức:

Phương pháp điều tra khảo sát được thực hiện thông qua việc gửi 568 phiếu khảo sát đạt yêu cầu, dựa trên mẫu tổng thể 720 doanh nghiệp nhà nước đã cổ phần hóa tính đến tháng 8/2019 từ website chinhphu.vn Đối tượng khảo sát bao gồm các Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng Giám đốc, Phó Tổng Giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, hoặc người được ủy quyền có hiểu biết về hoạt động doanh nghiệp Dữ liệu thu thập được phân tích bằng phần mềm máy tính để kiểm tra độ tin cậy, phân tích nhân tố khám phá (EFA) và phân tích nhân tố khẳng định (CFA), nhằm đánh giá sự phù hợp với dữ liệu khảo sát và các chỉ số như tính đơn hướng, giá trị phân biệt, giá trị hội tụ, và độ tin cậy tổng hợp Cuối cùng, mô hình lý thuyết được kiểm định thông qua mô hình cấu trúc tuyến tính (SEM) để rút ra kết luận về tác động của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cổ phần nhà nước tại Việt Nam.

Những đóng góp về khoa học và thực tiễn của đề tài

1.5.1 Đóng góp về khoa học

Nghiên cứu này phân tích tác động đồng thời của vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Các yếu tố này đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu suất và năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của đất nước.

Nghiên cứu này phân tích tác động gián tiếp của vốn xã hội thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (DNCVNN) Việc hiểu rõ mối quan hệ này giúp cải thiện hiệu suất và tăng cường khả năng cạnh tranh của DNCVNN trong bối cảnh kinh tế hiện nay.

− Nghiên cứu sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh thông qua khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.

1.5.2 Đóng góp về thực tiễn

Nghiên cứu cho thấy vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng có ảnh hưởng đáng kể đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam Điều này khẳng định rằng những yếu tố này là rất quan trọng trong việc thực hiện chiến lược kinh doanh và hoạch định chính sách vĩ mô, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp này.

Nghiên cứu này cung cấp tài liệu quý giá cho lãnh đạo các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam, giúp họ đưa ra quyết định hợp lý về việc sử dụng, kết hợp và phân bổ các nguồn lực vô hình, từ đó duy trì hoạt động ổn định, hiệu quả và bền vững.

− Kết quả nghiên cứu có thể tham khảo cho kỹ năng quản trị nguồn lực, quản trị rủi ro trong các DNCVNN tại Việt Nam.

Các cơ quan Nhà nước nên tham khảo nghiên cứu này để nhận diện sự phát triển và tầm quan trọng của các nguồn lực vô hình như vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng trong các doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam, từ đó ban hành các chính sách điều chỉnh kịp thời và phù hợp.

Điểm mới của luận án

Luận án dựa trên bộ dữ liệu khảo sát 720 doanh nghiệp có vốn nhà nước tại Việt Nam tính đến tháng 9/2018, đã chỉ ra tác động của các nguồn lực vô hình như vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Đây là một điểm mới đáng chú ý trong nghiên cứu.

Ba nguồn lực vô hình, bao gồm vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng, có tác động trực tiếp và đồng thời đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nhà nước Việt Nam (DNCVNN) Loại hình doanh nghiệp này đang trải qua quá trình chuyển đổi và tái cấu trúc nhằm nâng cao hiệu quả và hoàn thiện hơn.

− Sự tác động gián tiếp của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động DNCVNN tại Việt Nam thông qua tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng.

− Sự tác động gián tiếp của tinh thần kinh doanh đến hiệu quả hoạt động

DNCVNN tại Việt Nam thông qua khả năng thích ứng.

Kết cấu của luận án

Để hoàn thành các mục tiêu nghiên cứu nêu ra, kết cấu luận án này bao gồm 5 chương như sau:

Chương 1 của luận án trình bày bối cảnh nghiên cứu, nêu rõ lý do lựa chọn đề tài Chương này cũng xác định mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, cùng với phương pháp nghiên cứu được áp dụng Ngoài ra, chương còn đề cập đến điểm mới của luận án, những đóng góp về mặt khoa học và thực tiễn, đồng thời giới thiệu cấu trúc tổng quan của luận án.

Chương 2 cung cấp cơ sở lý thuyết, bao gồm các khái niệm và lý thuyết nền tảng, đồng thời tóm tắt các mô hình nghiên cứu trước đây, từ đó phát triển giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu mới.

Chương 3 giới thiệu phương pháp nghiên cứu, bao gồm quy trình nghiên cứu, các phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, hiệu chỉnh thang đo, cũng như phương pháp xử lý dữ liệu.

Chương 4 của bài viết trình bày kết quả nghiên cứu, bao gồm thống kê mẫu, kiểm định thang đo, và phân tích giả thuyết cùng mô hình nghiên cứu Từ những kết quả này, bài viết đưa ra kết luận về tính chính xác của giả thuyết và hiệu quả của mô hình nghiên cứu đã được đề xuất.

Chương 5 tổng kết nghiên cứu, đưa ra những khuyến nghị cho các nhà quản trị về việc tối ưu hóa việc sử dụng và phân bổ các nguồn lực vô hình của doanh nghiệp nhà nước tại Việt Nam Bên cạnh đó, chương cũng nhấn mạnh ý nghĩa và những đóng góp của nghiên cứu, đồng thời chỉ ra những hạn chế và đề xuất hướng nghiên cứu trong tương lai.

Tóm tắt chương Một

Chương 1 đã giới thiệu về bối cảnh nghiên cứu để nêu lý do chọn đề tài Sau đó, chương này đề cập đến mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, những đóng góp về khoa học và thực tiễn, điểm mới của luận án cũng như giới thiệu về kết cấu của luận án Chương 2 sẽ trình

Bài viết này trình bày 10 cơ sở lý thuyết và các lý thuyết nền tảng, đồng thời lược khảo các nghiên cứu trước đây có liên quan, nhằm tạo nền tảng vững chắc cho việc phát triển các giả thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu trong luận án.

CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Vốn xã hội doanh nghiệp (Corporate social capital)

2.1.1 Khái niệm vốn xã hội doanh nghiệp

Vốn xã hội, một khái niệm xuất phát từ xã hội học, đã được nghiên cứu và áp dụng rộng rãi trong các lĩnh vực như kinh tế, giáo dục, xã hội và tâm lý trên toàn cầu (Grootaert, 1998; Nahapiet).

& Ghoshal, 1998) Vốn xã hội theo cách hiểu căn bản nhất bao gồm các thành tố:

Hệ thống mạng lưới xã hội, niềm tin giữa con người và khả năng kết nối để hợp tác vì lợi ích chung là những yếu tố quan trọng trong việc xây dựng cộng đồng (Hanifan, 1916; Bourdieu, 1986; Putnam, 1993; Fukuyama, 1995) Prusak & Cohen (2001) nhấn mạnh rằng sự hợp tác giữa con người dựa trên niềm tin, sự hiểu biết và chia sẻ giá trị đạo đức cũng như chuẩn mực xã hội Vốn xã hội đóng vai trò kết nối các thành viên trong cộng đồng, giúp việc phối hợp hành động trở nên khả thi.

Vốn xã hội đã được phân tích ở ba cấp độ: cá nhân, doanh nghiệp và quốc gia Vốn xã hội cá nhân tập trung vào mối liên kết xã hội ở cấp độ vi mô, trong khi vốn xã hội quốc gia nhấn mạnh cấu trúc xã hội tổng thể Đặc biệt, vốn xã hội doanh nghiệp tập trung vào các nguồn lực phát sinh từ kết nối mạng lưới bên trong và giữa các doanh nghiệp Luận án này sẽ tập trung nghiên cứu vốn xã hội doanh nghiệp.

Theo Leenders & Gabbay (1999, 2013), vốn xã hội doanh nghiệp được định nghĩa là các nguồn lực thực tế hoặc tiềm ẩn mà doanh nghiệp tích lũy thông qua các mối quan hệ xã hội, từ đó giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu Vốn xã hội không chỉ là tài sản vô hình mà còn là một phần quan trọng của cấu trúc xã hội, nằm trong các mối liên hệ giữa các cá nhân và tổ chức.

Vốn xã hội doanh nghiệp có thể được phân tích ở bốn cấp độ: cá nhân, nhóm, doanh nghiệp và mạng lưới kết nối bên ngoài Các kết nối cá nhân tạo nên vốn xã hội thông qua cấu trúc phi chính thức, bao gồm giao tiếp liên quan và không liên quan đến công việc Những mối quan hệ này không chỉ giới hạn trong tổ chức mà còn mở rộng ra các mạng lưới như hội, đoàn, bạn bè và đồng nghiệp ở các đơn vị cũ Vốn xã hội, bao gồm các nguồn lực hữu hình và vô hình, được tích lũy qua cấu trúc xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc giúp cá nhân và tổ chức đạt được mục tiêu.

Cấu trúc xã hội bao gồm nhiều loại quan hệ khác nhau như kinh tế, nghề nghiệp và cá nhân, được phân chia thành nhiều lớp, cho phép mỗi cá nhân tham gia vào một hoặc nhiều kiểu quan hệ Những quan hệ này có thể mang lại lợi ích hoặc trách nhiệm (Gabbay & Leenders, 1999) Trong môi trường doanh nghiệp, một số vị trí cho phép cá nhân xây dựng mối quan hệ xã hội, từ đó doanh nghiệp cung cấp vốn xã hội cho từng cá nhân Ngược lại, mỗi cá nhân cũng góp phần làm phong phú vốn xã hội của doanh nghiệp, dẫn đến việc tăng cường vốn xã hội cho cả hai bên.

Cấu trúc ở cấp độ doanh Cấu trúc ở cấp độ cá nhân nghiệp

Vốn xã hội cá Vốn xã hội doanh nhân nghiệp

Hình 2.1: Sự tác động qua lại giữa cấu trúc xã hội và vốn xã hội doanh nghiệp

Mỗi cá nhân và tổ chức đều chủ động xây dựng mối quan hệ xã hội nhằm tối ưu hóa lợi ích và cơ hội Việc tạo ra nhiều kết nối và đa dạng hóa các mối quan hệ sẽ giúp họ phát triển và thành công hơn trong môi trường cạnh tranh.

Kết nối với mạng lưới có nguồn lực tốt giúp cá nhân và tổ chức tận dụng các nguồn lực sẵn có từ những mối quan hệ trong mạng lưới Việc này không chỉ mang lại lợi ích cho các bên liên quan mà còn mở ra cơ hội tiếp cận với nhiều nguồn lực quý giá.

Vị trí của doanh nghiệp trong mạng lưới đối tác ảnh hưởng đến chất lượng và khả năng tiếp cận vốn xã hội Lòng tin là nền tảng quan trọng cho việc thiết lập và duy trì mối quan hệ với đối tác, giúp giảm thiểu chi phí giao dịch và tránh tình trạng cơ hội trong quan hệ hợp tác Đồng thời, lòng tin cũng là kết quả của các chiến lược hợp tác và liên minh giữa doanh nghiệp và đối tác.

Các nghiên cứu về vốn xã hội doanh nghiệp chủ yếu tập trung vào việc phân tích vốn xã hội cá nhân, đặc biệt là vốn xã hội của các lãnh đạo doanh nghiệp.

1997), vốn xã hội bên trong doanh nghiệp (McElroy, Jorna, & Engelen, 2006;

Nghiên cứu của Brookes, Morton, Dainty và Burns (2006) cùng với McElroy, Jorna và Engelen (2006) đã chỉ ra tầm quan trọng của vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp Tùy thuộc vào mục tiêu nghiên cứu, vốn xã hội được phân tích qua hai khía cạnh chính: chất lượng mạng lưới và cấu trúc mạng lưới, như được trình bày trong bảng 2.1.

Bảng 2.1 Các khía cạnh của vốn xã hội

Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới

Các cơ cấu mối quan hệ trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức và kết nối các thành viên Sự tham gia vào các mạng lưới xã hội giúp tăng cường lòng tin và khả năng chia sẻ thông tin giữa các cá nhân Điều này tạo ra một môi trường hợp tác hiệu quả, thúc đẩy sự phát triển bền vững của tổ chức.

Các nghiên cứu chỉ ra rằng sự hỗ trợ lẫn nhau trong cộng đồng có thể nâng cao mức độ kết nối và thúc đẩy nghĩa vụ xã hội Việc nhận được sự hỗ trợ từ mạng lưới cá nhân không chỉ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống mà còn tạo ra những mối quan hệ bền vững Sự kết nối này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi trường hỗ trợ và phát triển cho tất cả mọi người.

Các khía cạnh Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới

Các cơ cấu mối quan hệ trong tổ chức đóng vai trò quan trọng trong việc nhận thức và kết nối các thành viên Sự tham gia vào các mạng lưới xã hội giúp tăng cường sự tương tác và chia sẻ thông tin Qua đó, lòng tin và sự hợp tác trong tổ chức được củng cố, tạo điều kiện cho sự phát triển bền vững và hiệu quả.

Các nghiên cứu cho thấy sự hỗ trợ lẫn nhau giữa các cá nhân có thể nâng cao mức độ kết nối và trách nhiệm trong cộng đồng Điều này không chỉ giúp cải thiện mối quan hệ mà còn tạo ra một mạng lưới vững chắc, nơi mọi người có thể nhận được sự giúp đỡ khi cần thiết Sự hỗ trợ này đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng một môi trường tích cực và kết nối chặt chẽ hơn giữa các thành viên trong xã hội.

Các khía cạnh Cấu trúc mạng lưới Chất lượng mạng lưới

Tinh thần kinh doanh (Entrepreneurship)

2.2.1 Khái niệm về tinh thần kinh doanh

Tinh thần kinh doanh (entrepreneurship) là một thái độ chiến lược thể hiện sự chủ động, đổi mới và chấp nhận rủi ro trong việc tìm kiếm cơ hội cạnh tranh (Purwanti et al., 2020) Thuật ngữ này đã xuất hiện từ lâu trên thế giới và được nghiên cứu nhiều ở Việt Nam (Lộc, 2011) Trong bối cảnh thế giới liên tục thay đổi và đối mặt với các khủng hoảng kinh tế, tinh thần kinh doanh ngày càng được khuyến khích, đặc biệt là tại Việt Nam.

Tinh thần kinh doanh được định nghĩa bởi Chua, Chrisman, & Sharma (1999) là quá trình mà cá nhân hoặc nhóm cá nhân trong một tổ chức hiện tại tạo ra tổ chức mới hoặc đổi mới chiến lược Ba hạng mục chính của tinh thần kinh doanh bao gồm tham gia mạo hiểm, đổi mới chiến lược và đổi mới sản phẩm, dịch vụ Các nghiên cứu của Wang, Chung, & Lim (2015) và Zahra & Garvis (2000) đã áp dụng lý thuyết tổ chức để đo lường tinh thần kinh doanh qua ba thành tố: đổi mới, mạo hiểm và kết nối Nhiều nghiên cứu khác như của Ling, Simsek, Lubatkin, & Veiga (2008) và Heavey & Simsek (2013) cũng thống nhất về các yếu tố cấu thành tinh thần kinh doanh, dựa trên các lý thuyết như lý thuyết phong cách lãnh đạo, lý thuyết tri thức, lý thuyết cấu trúc ngẫu nhiên, và lý thuyết vốn con người cùng xã hội.

Tinh thần kinh doanh được hiểu là phong thái chiến lược, thể hiện qua việc chủ động tìm kiếm cơ hội, tự chủ trong quyết định, và cạnh tranh quyết liệt thông qua đổi mới sản phẩm, đồng thời chấp nhận rủi ro.

Tự chủ là hành động độc lập trong việc theo đuổi mục tiêu, trong khi sáng tạo thể hiện xu hướng tìm kiếm giải pháp mới giúp doanh nghiệp phát triển Chấp nhận rủi ro cho thấy ý định nắm bắt cơ hội trong bối cảnh không chắc chắn, và chủ động mô tả doanh nghiệp đi đầu trong việc giới thiệu sản phẩm, dịch vụ mới Quyết liệt cạnh tranh thể hiện sự quyết tâm thách thức đối thủ để duy trì lợi thế cạnh tranh Những yếu tố này là cốt lõi cho hành động của doanh nhân, những người biến cảm nhận về kinh doanh và đổi mới thành sản phẩm có giá trị Người có tinh thần kinh doanh mạnh mẽ luôn tìm cách đổi mới, chấp nhận rủi ro để tạo ra giá trị mới và phát triển doanh nghiệp, cho thấy rằng sự tự chủ là đặc trưng nổi bật của tinh thần kinh doanh.

Đam mê, chấp nhận rủi ro và tính chủ động là những yếu tố cốt lõi tạo nên tinh thần kinh doanh (Fang & An, 2017) Đặc biệt, đam mê đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy sự sáng tạo và khả năng tiếp nhận các mô hình kinh doanh mới (Hartmann & Herb).

Tinh thần kinh doanh được xem là sự hiện thân của đam mê, cho phép doanh nhân tin rằng những gì họ làm là chìa khóa để thực hiện ước mơ và vượt qua khó khăn (Rieckhoff & Larsen, 2012) Niềm đam mê này thể hiện cảm xúc tích cực và tinh thần mạnh mẽ, cùng với nhận thức và hành vi giá trị cá nhân cao (Nunnally, 2012) Ruvio, Rosenblatt & Hertz-Lazarowitz (2010) đã chỉ ra rằng đam mê kinh doanh là cảm xúc mạnh mẽ giúp doanh nhân nhận thức tích cực và thực hiện các hoạt động có giá trị Shane (2012) nhấn mạnh rằng doanh nhân có đam mê luôn đồng hành với nhận thức và hành vi cá nhân, làm nổi bật sự tự nhận dạng và giá trị cá nhân cũng như tổ chức Trong bối cảnh không chắc chắn, niềm đam mê trở thành động lực thúc đẩy tinh thần kinh doanh, truyền cảm hứng cho ý tưởng và công việc hàng ngày (Fagan & Ployhart, 2015) Chowdhury et al (2014) cũng xác định đam mê kinh doanh là cảm xúc tích cực, giúp con người sẵn sàng đầu tư thời gian và năng lượng để hiện thực hóa chiến lược của bản thân.

Chấp nhận rủi ro là một phần không thể thiếu trong tinh thần kinh doanh, đặc biệt là ở các công ty khởi nghiệp, nơi mà rủi ro được xem như một yếu tố quyết định đến kết quả kinh doanh (Xu & Ruef, 2004; Begley & Boyd, 1987; Busenitz, 1999) Quan điểm cho rằng doanh nhân là người mạo hiểm nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ từ cộng đồng nghiên cứu (McClelland, 1961), vì việc chấp nhận rủi ro thường dẫn đến những kết quả cao hơn Do đó, các doanh nhân sẵn sàng đối mặt với sự mơ hồ trong các tình huống chiến lược, điều này cho thấy nhu cầu cao về khả năng chấp nhận rủi ro trong kinh doanh.

Các nhà quản lý có xu hướng quyết đoán, tham vọng và chấp nhận rủi ro, điều này được Tang & Hull (2012) chỉ ra là đặc điểm chính của tinh thần kinh doanh Họ sẵn sàng chấp nhận rủi ro để nắm bắt cơ hội, và Giacomin cùng các tác giả khác (2011) nhấn mạnh rằng rủi ro liên quan đến ý định chấp nhận rủi ro của những người ra quyết định Thông thường, những nhà quản lý chấp nhận rủi ro sẽ đưa ra quyết định nhanh hơn và sử dụng ít thông tin hơn Nghiên cứu của Chang & Chiu (2012) cho thấy những cá nhân có xu hướng chấp nhận rủi ro cao có khả năng đưa ra quyết định nhanh chóng hơn so với những người có xu hướng chấp nhận rủi ro thấp Tại các công ty đại chúng, những người này thường thể hiện hiệu quả công việc tốt hơn trong các tình huống yêu cầu quyết định tức thì.

Tinh thần đổi mới và sáng tạo là thuộc tính quan trọng của tinh thần kinh doanh, giúp phân biệt doanh nhân với những người khác (Drucker, 2014) Các nhà nghiên cứu cho rằng sự sáng tạo, sản phẩm của ý tưởng mới, là yếu tố cốt lõi trong tinh thần kinh doanh (Hennessey & Amabile, 2010) Việc áp dụng tư tưởng, phương pháp và cách tiếp cận mới dựa trên nghiên cứu và phát triển là chìa khóa tạo ra lợi thế cạnh tranh và sản phẩm mới Sự sáng tạo của doanh nhân không chỉ đáp ứng nhu cầu thị trường hiện tại mà còn định hướng cho nhu cầu trong tương lai (Miller, 1983; Miller, 2011).

Các công ty Mỹ đang tiến hành tái lập và tự xem xét để phát triển, coi đây là một cuộc cách mạng trong kinh doanh Sự thành công này chủ yếu xuất phát từ tinh thần kinh doanh mạnh mẽ của lãnh đạo.

Tại Việt Nam, tinh thần kinh doanh được hình thành từ chín yếu tố chính: khát vọng kinh doanh, khả năng tìm kiếm và nắm bắt cơ hội, tính độc lập và tự tin, dám chịu trách nhiệm, sự linh hoạt và chủ động, tư tưởng và phương pháp mới, đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, sự bền bỉ, và khả năng đạt được thành quả kinh tế Những yếu tố này được phân nhóm thành bốn nhân tố cơ bản của tinh thần kinh doanh, phản ánh sự đa dạng và phong phú trong cách tiếp cận kinh doanh hiện đại.

Trong một kế hoạch kinh doanh, 24 doanh có mối quan hệ tương tác theo chu kỳ, với các yếu tố biện chứng tác động lẫn nhau Sáng tạo và đổi mới là nền tảng để phát hiện và tạo ra cơ hội kinh doanh mới Tính dám nghĩ, dám làm và chấp nhận rủi ro khi thông tin chưa rõ ràng sẽ định hướng tư duy cho việc khám phá cơ hội Việc nắm bắt cơ hội và chấp nhận rủi ro sẽ giúp doanh nhân vượt lên đối thủ, mang lại thành quả tốt, từ đó tái đầu tư cho chu kỳ kinh doanh mới Vòng tròn bốn yếu tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh sẽ phản ánh sự phát triển của doanh nhân, hướng đến việc thực hiện những ý tưởng mới dựa trên ba nhân tố cốt lõi: chủ động nắm bắt cơ hội, dám chấp nhận rủi ro và sáng tạo đổi mới.

7) đạo đức kinh doanh và trách nhiệm xã hội, 8) bền bỉ và 9) đạt được thành quả về kinh tế thuộc nhân tố “thành quả bền vững”, là thang đo hiệu quả công việc Vì vậy, trong luận án này, tinh thần kinh doanh được tiếp cận và phân tích sâu ở 3 thành tố cốt lõi như được tóm tắt ở bảng 2.3

Bảng 2.3 Định nghĩa ba thành tố cốt lõi của tinh thần kinh doanh

Tinh thần chủ động thể hiện sự tự chủ và khả năng dẫn dắt trong mọi tình huống Điều này bao gồm việc xây dựng chiến lược hiệu quả, phân bổ nguồn lực hợp lý, cạnh tranh khéo léo và hành động quyết liệt để nắm bắt và kiểm soát tương lai.

Tinh thần dám chấp nhận rủi ro là khả năng sẵn sàng đối mặt với sự mơ hồ trong các tình huống chiến lược Điều này bao gồm việc đương đầu với nguy hiểm, hành động dũng cảm và bình tĩnh, cũng như chấp nhận đầu tư mạo hiểm trong bối cảnh không chắc chắn.

Khả năng thích ứng (resilience capability)

2.3.1 Khái niệm khả năng thích ứng

Khả năng thích ứng là một khái niệm quan trọng được nghiên cứu và thảo luận trong nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau, bao gồm khoa học vật liệu, sinh thái, lý thuyết tổ chức, kinh tế, quản lý rủi ro, xã hội học, tâm lý học và mạng máy tính.

1973) Khái niệm này được nghiên cứu ở khối ngành quản lý công từ cuối thập niên

80 Theo Wildavsky (1988), khả năng thích ứng là một trong hai chiến lược quan trọng (bên cạnh khả năng dự báo) để xử lý vấn đề rủi ro trong xã hội hiện đại.

Weick, Sutcliffe và Obstfeld (2008) cho rằng khả năng thích ứng là khả năng duy trì sự điều chỉnh tích cực trong các điều kiện đầy thách thức, từ đó cung cấp một khuôn mẫu hữu ích để xác định khả năng này Đối với các nhà quản lý, việc xây dựng và duy trì khả năng thích ứng liên quan đến nhận thức về sự thích ứng như là các hiện tượng cân bằng hoặc biến đổi Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng đây là một sự đánh đổi và khuyến nghị các tổ chức nên tập trung vào việc phát triển năng lực và tăng trưởng để nâng cao khả năng thích ứng (Sutcliffe & Vogus).

2003); khai thác và khám phá (March, 1991) và duy trì lợi thế cạnh tranh bằng cách quản lý hiệu suất và các hệ thống thích ứng (Robb, 2000).

Khả năng thích ứng của tổ chức được thể hiện qua sự tồn tại và phát triển mạnh mẽ của tổ chức trong môi trường đầy thách thức, biến đổi và không chắc chắn (Southwick, Bonanno, Masten, Panter-Brick, & Yehuda, 2014; Vogus & Sutcliffe).

Khả năng thích ứng trong tổ chức được định nghĩa là khả năng đối phó với các thách thức như cú sốc, khủng hoảng và cạnh tranh khốc liệt, đồng thời học hỏi từ những trải nghiệm trước đó Tổ chức có khả năng thích ứng không chỉ dựa vào hành vi của con người mà còn phụ thuộc vào các yếu tố như quy trình, hệ thống, công nghệ và cơ sở hạ tầng Hệ thống hỗ trợ, đặc biệt là hệ thống thông tin, đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin kịp thời và nâng cao khả năng ra quyết định, từ đó gia tăng tính linh hoạt và khả năng thích ứng của doanh nghiệp Do đó, để hiểu rõ hơn về khả năng thích ứng, cần tích hợp các định nghĩa từ nhiều lĩnh vực khác nhau, nhằm tạo ra một cái nhìn toàn diện về khả năng này trong môi trường kinh doanh.

Bảng 2.5 Các định nghĩa về khả năng thích ứng

Christopher & …khả năng thích ứng là khả năng đưa hệ thống quay lại tình Rutherford(2004) trạng ban đầu (hay mong muốn) sau khi bị gián đoạn

Wildavsky khả năng để đối phó với những mối nguy hiểm không lường

(1988) trước được sau khi đã trở nên rõ ràng, học cách đáp trả lại.

Để duy trì lợi thế cạnh tranh bền vững, các doanh nghiệp cần đạt được kết quả vượt trội so với mục tiêu hiện tại và cải tiến hiệu quả nhằm thích ứng với những thay đổi nhanh chóng và hỗn loạn trong thị trường và công nghệ (Robb, 2000) Sheffi & Rice nhấn mạnh rằng khả năng thích ứng này có thể được đạt được thông qua các chiến lược linh hoạt và sáng tạo.

Jr, (2005) việc tạo dư thừa hoặc tăng tính linh hoạt.

Sutcliffe & một khả năng hoặc khả năng để hấp thụ các căng thẳng và bảo vệ (hoặc cải thiện) bất chấp sự hiện diện của nghịch cảnh,

Vogus (2003) những sự kiện không may.

Sự pha trộn độc đáo giữa các tính chất nhận thức và hành vi của Lengnick-Hall, cùng với bối cảnh, góp phần nâng cao khả năng hiểu biết về tình hình hiện tại.

& Beck (2005) của công ty và để phát triển các phản hồi tùy biến phản ánh sự hiểu biết đó.

Weick, …duy trì điều chỉnh tích cực trong điều kiện khó khăn, thách Sutcliffe, & thức.

Phản ứng thông minh là rất quan trọng, vì nó giúp nhận diện và khắc phục các lỗi trước khi chúng trở nên nghiêm trọng hơn Việc chú ý đến những sai sót đã xảy ra và sửa chữa kịp thời sẽ ngăn chặn những hậu quả xấu.

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Khả năng thích ứng được định nghĩa khác nhau trong các lĩnh vực, phản ánh sự khác biệt giữa quan điểm cân bằng trong khoa học vật liệu và quan điểm hữu cơ hay đổi mới của các hệ sinh thái Điều này giúp nhận thức rõ hơn về phạm vi ứng biến, phản hồi và biến đổi trong từng lĩnh vực.

Nghiên cứu chỉ ra rằng khả năng điều chỉnh và thích ứng với điều kiện thay đổi là yếu tố quan trọng cho sự phát triển của tổ chức Việc xem xét các nghiên cứu trước đó về khả năng thích ứng giúp đánh giá rõ hơn cách các tổ chức có thể quản lý và phát triển yếu tố này Dựa trên lý thuyết và thực tiễn, tác giả định nghĩa khả năng thích ứng của doanh nghiệp là việc sử dụng nguồn lực để phản ứng và điều chỉnh tích cực, từ đó củng cố, duy trì và phát triển các hoạt động kinh doanh, nâng cao hiệu suất và lợi thế cạnh tranh một cách bền vững.

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp, theo Sutcliffe (2001), bao gồm bốn thành phần chính: tính thích nghi, tính dự đoán, tính nhanh nhạy và tính linh hoạt (Erol, Sauser, & Mansouri, 2010) Dalziell & McManus (2004) nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đo lường khả năng thích ứng, coi đây là yếu tố then chốt cho chiến lược thích ứng của tổ chức Các yêu cầu chính bao gồm phát triển các phương pháp đơn giản nhưng hiệu quả để tổ chức có thể đánh giá khả năng thích ứng và xây dựng chiến lược cải thiện.

Để thúc đẩy đối thoại và tranh luận trong các tổ chức về ưu tiên thích ứng, cần thiết lập 29 yếu tố nhằm tạo điều kiện cho sự giao tiếp giữa các tổ chức về các vấn đề chung và sự phụ thuộc lẫn nhau trong chiến lược thích ứng Ngoài ra, cần xác định các thông số đánh giá khả năng thích ứng, đảm bảo rằng chúng có ý nghĩa đối với những người ra quyết định và liên quan trực tiếp đến các mục tiêu chung của tổ chức.

Theo Azadegan & Jayaram (2018), tính dự đoán có thể tạo ra cảm giác an toàn và ảnh hưởng đến khả năng đối phó của tổ chức Năng lực dự đoán cho phép các tổ chức chủ động dự báo tương lai nhằm tránh những cái bẫy thành công và thất bại (Boyd, Nykvist, Borgström, & Stacewicz, 2015) March (1995) chỉ ra rằng bẫy thành công xuất phát từ việc lặp lại mù quáng kinh nghiệm trong quá khứ, trong khi bẫy thất bại là kết quả của việc thử nghiệm các ý tưởng mới mà không cho chúng đủ thời gian phát triển Các tổ chức có thể dễ dàng rơi vào một trong hai cái bẫy này và không thể lường trước mọi nguy hiểm.

Tính linh hoạt là một yếu tố quan trọng trong khả năng thích ứng của hệ thống, bên cạnh tính dự đoán (Hildebrandt, McCall, Engen, & Singer, 2016; Haimes, Crowther, & Horowitz, 2008) Nghiên cứu cho thấy rằng khả năng thích ứng có thể được cải thiện thông qua việc thiết kế và xây dựng tính linh hoạt trong các hệ thống (Sheffi & Rice, 2005) Tính linh hoạt được định nghĩa là khả năng của hệ thống để thích ứng với các yêu cầu thay đổi của môi trường và các bên liên quan với thời gian và nỗ lực tối thiểu (Erol, Sauser, & Mansouri, 2010) Helaakoski, Iskanius, & Peltomaa (2007) nhấn mạnh rằng tính linh hoạt liên quan đến sự nhanh nhẹn và khả năng thích ứng, cho thấy rằng hệ thống có thể nhanh chóng điều chỉnh theo sự thay đổi của môi trường Hu, Li, & Holloway (2008) đã bổ sung rằng tính linh hoạt góp phần vào khả năng thích ứng thông qua tính hiệu quả, sự đáp ứng, và tính mạnh mẽ Do đó, tính linh hoạt là yếu tố then chốt giúp nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.

Tính thích nghi của doanh nghiệp là khả năng phục hồi và thích ứng hiệu quả sau các cú sốc (Hassink, 2010) Tăng cường tính thích nghi không chỉ giúp doanh nghiệp cải thiện khả năng ứng phó mà còn nâng cao khả năng chia sẻ nguồn lực khi hội nhập vào mạng lưới, từ đó giúp doanh nghiệp dễ dàng thích nghi với những thay đổi.

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

2.4.1 Khái niệm hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp (DN) được định nghĩa qua nhiều cách khác nhau, cần phân biệt với hiệu quả doanh nghiệp Venkatraman & Grant (1986) mô tả hiệu quả doanh nghiệp qua ba vòng tròn đồng tâm, trong đó vòng tròn lớn nhất đại diện cho hiệu quả doanh nghiệp, vòng tròn giữa thể hiện hiệu quả kinh doanh và vòng tròn nhỏ nhất là hiệu quả tài chính Hiệu quả doanh nghiệp bao gồm nhiều khía cạnh liên quan đến hoạt động của DN khi không có căng thẳng, tham gia vào các hoạt động hợp pháp và hoàn thành mục tiêu Một định nghĩa phổ biến trong cộng đồng nghiên cứu là xem xét hiệu quả hoạt động của DN như một tổ chức tư nhân tạo ra lợi nhuận, trong đó hiệu quả kinh doanh (HQKD) là trọng tâm phân tích, thể hiện sự so sánh giữa đầu vào và đầu ra Nâng cao HQKD đồng nghĩa với việc cải thiện các chỉ tiêu đo lường hiệu quả một cách tích cực Antony & Bhattacharyya (2010) cho rằng hiệu quả hoạt động của tổ chức là thước đo giá trị cho cổ đông, trong khi Adams, Muir, & Hoque (2014) nhấn mạnh tính bền vững của hiệu quả, bao gồm cả chỉ tiêu tài chính và phi tài chính Hiệu quả hoạt động còn được đánh giá qua tiêu chí định tính và định lượng (Kennerley & Neely, 2003; Pun & White, 2005).

Tóm lại, nghiên cứu này áp dụng định nghĩa về hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, bao gồm các thước đo hiệu quả kinh doanh, nhằm mang lại lợi ích cho các bên liên quan, cả bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp.

Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đánh giá qua nhiều phương pháp khác nhau, bao gồm mô hình đơn bậc và đa bậc Kennerley & Neely (2003) và Neely (2005) đã áp dụng các tiêu chí định lượng như chỉ số lợi nhuận, chỉ số tài chính và thu nhập của nhân viên để đo lường kết quả và hiệu quả quản lý Ngược lại, Pun & White (2005) lại tập trung vào các tiêu chí định tính liên quan đến sự hài lòng và động lực của nhân viên trong hoạt động doanh nghiệp.

Sự hài lòng của khách hàng và hiệu quả lãnh đạo đều có thể được cải thiện thông qua việc cung ứng giá trị cho khách hàng Hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp được đo lường bằng các chỉ số khách quan và chủ quan Các chỉ số chủ quan dựa trên ý kiến của nhân viên (Jaworski & Kohli, 1993), trong khi các chỉ số khách quan dựa trên dữ liệu thứ cấp (Dess & Robinson Jr, 1984) Hiện nay, vẫn còn tranh luận về hiệu quả và tính chính xác của hai phương pháp đo lường này (Mezias & Starbuck, 2003).

Sự tồn tại của nhiều phương pháp đo lường hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp và thiếu sự đồng thuận về thuật ngữ đã tạo ra thách thức cho các nhà nghiên cứu và thực hành Để khắc phục vấn đề này, nhiều hệ thống và mô hình đo lường hiệu quả hoạt động đã ra đời, giúp doanh nghiệp triển khai công cụ cải thiện hiệu suất, như khung đo lường của Kaplan & Norton và Neely Các hệ thống này được chia thành hai nhóm: một nhóm tập trung vào tự đánh giá và nhóm còn lại hỗ trợ quản lý trong việc đo lường và cải thiện quy trình kinh doanh Ví dụ về các hệ thống bao gồm SMART, PMQ, BSC và CPMP Mục đích của việc áp dụng các hệ thống này là để giám sát hiệu quả, xác định khu vực cần cải thiện, tăng cường động lực, cải thiện truyền thông và nâng cao trách nhiệm.

Mặc dù biện pháp tự đánh giá có thể gây ra thiên lệch, Dess & Robinson (1984) cho rằng chúng có thể là chỉ số thay thế đáng tin cậy trong trường hợp thiếu các chỉ số khách quan Các nhà nghiên cứu như Kaplan & Norton (2000) khuyến nghị sử dụng cấu trúc đa chiều với các chỉ số tài chính, hoạt động và khách hàng khi không thể có các đo lường khách quan hoàn toàn Chu (2015) là một ví dụ điển hình về việc áp dụng thang đo tự đánh giá trong nghiên cứu.

34 đánh giá hiệu quả hoạt động của DN, với 3 nhóm đo lường gồm (1) Lợi nhuận, (2) sự hài lòng của khách hàng và (3) hiệu quả thị trường (xem bảng 2.7).

Bảng 2.7 Thang đo hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

Mức độ hài lòng của khách hàng đối với doanh nghiệp

Mức độ doanh nghiệp cung ứng giá trị cho khách hàng

Mức độ doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của khách hàng

Mức lợi tức đầu tư (ROI)

Mức lợi nhuận bán hàng (ROS)

Khả năng đạt được các chỉ tiêu tài chính

Mức độ tăng trưởng doanh thu

Mức độ mở rộng thị trường (tìm thêm khách hàng mới)

Mức độ duy trì khách hàng cũ

Các lý thuyết nền tảng cho nghiên cứu

2.5.1 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động

Lý thuyết vốn xã hội cho thấy rằng vốn xã hội có đặc tính giống như nguồn lực kinh tế, trong đó mỗi cá nhân đầu tư vào mối quan hệ để tạo ra lợi ích Các mạng lưới sở hữu nguồn lực đóng vai trò quan trọng trong việc tiếp cận thông tin, đặc biệt trong bối cảnh thị trường không hoàn hảo Mối liên kết xã hội không chỉ giúp cá nhân tiếp cận thông tin mà còn ảnh hưởng đến quyết định của những người có vai trò quan trọng trong mạng lưới Một số mối quan hệ có thể chứa đựng nguồn lực và quyền lực hơn nhờ vị trí của cá nhân trong mạng lưới Lý thuyết này phân tích sự di động xã hội, giúp cá nhân từ vị trí thấp vươn lên những vị trí cao hơn trong xã hội, đồng thời làm mờ ranh giới giữa các doanh nghiệp và tạo ra mạng lưới vốn xã hội có thể lưu chuyển cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp.

35 với nhau và thậm chí là tham gia vào thị trường.

Lý thuyết sức mạnh của những liên kết yếu (Granovetter, 1973) nhấn mạnh vai trò của mạng lưới mở và khả năng khai thác nguồn lực đa dạng bên ngoài mạng lưới nội bộ Liên kết yếu, thông qua các cầu nối, tạo ra mối liên hệ gián tiếp, giúp phá vỡ tính địa phương và tăng cường tính hướng ngoại của mối quan hệ Điều này đặc biệt quan trọng đối với doanh nghiệp trong việc định hướng chiến lược hợp tác (Morgan, 2012) So với liên kết mạnh và mạng lưới đóng, liên kết yếu và mạng lưới mở yêu cầu ít nỗ lực hơn để duy trì, nhất là trong bối cảnh công nghiệp 4.0 Lý thuyết này cũng giải thích về vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp, góp phần tăng cường hiệu quả hoạt động thông qua việc huy động nhiều nguồn lực và giảm chi phí giao dịch từ mạng lưới bên ngoài.

Lý thuyết lỗ hổng cấu trúc do Burt (2009) phát triển mở rộng lý thuyết sức mạnh của liên kết yếu, nhấn mạnh vai trò của mạng lưới trung gian trong việc kết nối cá nhân và tập thể giữa các cấu trúc mạng khác nhau Mạng lưới trung gian giúp lưu chuyển nguồn lực trong mạng lưới lớn hơn, từ đó giải thích vai trò của các trung gian trong hoạt động doanh nghiệp Lý thuyết này cũng thể hiện vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp, cho thấy rằng lỗ hổng cấu trúc có thể gia tăng hiệu quả hoạt động doanh nghiệp thông qua việc huy động và khai thác nhiều nguồn lực, đồng thời giảm chi phí giao dịch và tìm kiếm thông tin từ mạng lưới bên ngoài.

Lý thuyết thể chế là một lĩnh vực nghiên cứu quan trọng, được hình thành từ sự kết hợp của các chuyên gia trong các lĩnh vực kinh tế học, xã hội học và khoa học chính trị Thuyết này giúp hiểu rõ hơn về cách mà các thể chế ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân và tổ chức trong xã hội.

Các khía cạnh của thể chế bao gồm thể chế chính thức và phi chính thức (Coase, 1960; Williamson, 1985; North, 1991) Về mặt thể chế chính thức, lý thuyết này cho rằng lãnh đạo doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong việc thiết lập các cơ chế quản lý hiệu quả.

Việc phân quyền và phân cấp mạnh mẽ, cùng với cơ chế phối hợp chủ động giữa các cá nhân và phòng ban, cũng như hợp tác với các bên liên quan, sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Cơ chế rõ ràng giúp các thành viên phối hợp hiệu quả, tránh tình trạng thụ động Ngoài ra, việc áp dụng chính sách thưởng phạt nghiêm minh sẽ thúc đẩy doanh nghiệp triển khai nhanh chóng các quyết định, từ đó tối ưu hóa hiệu suất làm việc Lý thuyết này cho thấy vốn xã hội có vai trò quan trọng trong việc cải thiện hiệu quả hoạt động.

Lý thuyết các bên liên quan, do Freeman (1984) phát triển, đã mở rộng khái niệm từ lý thuyết người đại diện bằng cách đưa vào các bên liên quan bên ngoài doanh nghiệp như chính quyền, nhà cung cấp, khách hàng và đối tác Lý thuyết này nhấn mạnh vai trò quan trọng của các bên liên quan trong việc thúc đẩy sự phát triển bền vững Do nhu cầu đa dạng và thay đổi liên tục của các bên liên quan, doanh nghiệp cần xây dựng chiến lược kinh doanh phù hợp với các chuẩn mực và giá trị xã hội để đạt được lợi thế cạnh tranh và hướng tới mục tiêu phát triển bền vững (Patel, Hair, & Pieper, 2016).

Lý thuyết về vốn xã hội của các bên liên quan nhấn mạnh tầm quan trọng của vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp, từ đó giải thích động cơ kết nối và phát triển các loại vốn xã hội, bao gồm vốn xã hội của lãnh đạo và vốn xã hội bên trong cũng như bên ngoài doanh nghiệp Mục tiêu của việc phát triển vốn xã hội này là nâng cao hiệu quả kinh doanh và gia tăng hoạt động của doanh nghiệp (Balkundi, Kilduff, Barsness, & Michael, 2007; Maak, 2007).

Lý thuyết người đại diện (agency theory), được giới thiệu bởi Jensen & Meckling vào năm 1976, đã trở thành một khung phân tích quan trọng trong quản trị doanh nghiệp và sở hữu doanh nghiệp Lý thuyết này không chỉ phổ biến trong kinh tế học mà còn lan rộng sang nhiều lĩnh vực khác nhau, như được nhấn mạnh bởi Durisin & Puzone (2009) và Boyd.

Lý thuyết này tập trung vào sự tương tác xã hội giữa người chủ và người đại diện trong doanh nghiệp, nhấn mạnh mối quan hệ ràng buộc giữa họ để thực hiện các hoạt động được ủy quyền Người đại diện phải đối mặt với áp lực đổi mới sáng tạo và cắt giảm chi phí từ thị trường cũng như các cổ đông, những người sở hữu doanh nghiệp.

Lý thuyết này nhấn mạnh tầm quan trọng của mối quan hệ tại nơi làm việc và tinh thần hợp tác, thể hiện qua hành vi của người đại diện trong các mối quan hệ theo chiều dọc (giữa người chủ và người đại diện) và chiều ngang (giữa các đồng nghiệp) Nó cũng đề cập đến vốn xã hội bên trong và bên ngoài doanh nghiệp, đặc biệt là vốn xã hội của lãnh đạo, cho thấy rằng vốn xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng thống kê đáng kể đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Điều này giúp giải thích cách mà vốn xã hội có thể nâng cao hiệu quả hoạt động.

Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực cho rằng doanh nghiệp không thể hoạt động độc lập mà cần mối liên hệ với các bên liên quan và tổ chức bên ngoài Việc khai thác và tận dụng nguồn lực bên ngoài giúp doanh nghiệp giảm thiểu bất ổn trong môi trường kinh doanh và chi phí giao dịch, từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động Lý thuyết này cũng giải thích vai trò của vốn xã hội trong việc gia tăng hiệu suất hoạt động của doanh nghiệp.

2.5.2 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và khả năng thích ứng

Lý thuyết nguồn lực cho rằng doanh nghiệp là tập hợp các nguồn lực và năng lực, từ đó tạo ra lợi thế cạnh tranh và vị thế đặc quyền (Penrose, 1959) Vốn xã hội doanh nghiệp, như một loại nguồn lực, có khả năng giúp doanh nghiệp hoạt động ổn định và bền vững Việc linh hoạt trong phân bổ và khai thác nguồn lực theo lý thuyết này sẽ tăng cường khả năng thích ứng của doanh nghiệp, cho thấy rằng vốn xã hội có ảnh hưởng đáng kể đến sự thích ứng và phát triển bền vững của doanh nghiệp.

* Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực (resource dependence theory): Lý thuyết này được Pfeffer & Salancik giới thiệu lần đầu vào năm 1978 và tái bản vào năm

Lý thuyết phụ thuộc nguồn lực, được đề xuất bởi Pfeffer và Salancik (2003), là một trong những lý thuyết được trích dẫn và thảo luận nhiều nhất trong nghiên cứu (Nienhüser, 2008) Theo lý thuyết này, doanh nghiệp không thể hoạt động độc lập mà luôn phụ thuộc vào các nguồn lực từ các bên liên quan và tổ chức bên ngoài, giúp giảm thiểu bất ổn trong môi trường kinh doanh (Pfeffer, 1972) Tính linh hoạt trong việc phân bổ và sử dụng nguồn lực là yếu tố cốt lõi cho khả năng thích ứng của doanh nghiệp Lý thuyết cũng nhấn mạnh rằng vốn xã hội bên ngoài là nguồn lực quan trọng, góp phần gia tăng tính linh hoạt và khả năng thích ứng của doanh nghiệp.

2.5.3 Lý thuyết hỗ trợ mối quan hệ giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh

Lý thuyết lợi thế nguồn lực (resource- advantage theory) nhấn mạnh rằng doanh nghiệp sở hữu nguồn lực vượt trội sẽ nâng cao tinh thần chủ động và khả năng đổi mới trong việc thực hiện các chiến lược kinh doanh Vốn xã hội doanh nghiệp được coi là một loại nguồn lực quan trọng, có khả năng mang lại lợi thế cạnh tranh Hai yếu tố then chốt của tinh thần kinh doanh là tinh thần chủ động và đổi mới, cho thấy rằng lý thuyết này hỗ trợ mạnh mẽ cho lập luận rằng vốn xã hội doanh nghiệp có ảnh hưởng đáng kể đến sự phát triển của tinh thần kinh doanh.

Tổng quan các công trình nghiên cứu đã công bố liên quan

2.6.1 Nghiên cứu về Vốn xã hội

Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp là chủ đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh khan hiếm nguồn lực Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hoài & Huỳnh Thanh Điền (2010) đã chỉ ra rằng vốn xã hội doanh nghiệp tồn tại trong các hoạt động nội bộ, bên ngoài và thuộc về cá nhân lãnh đạo Đầu tư vào vốn xã hội một cách minh bạch sẽ nâng cao tinh thần doanh nhân và khả năng sử dụng hiệu quả nguồn lực, từ đó cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Hình 2.3 Khung phân tích vốn xã hội trong DN và hiệu quả hoạt động của DN

Nguồn: Nguyễn Trọng Hoài &Huỳnh Thanh Điền (2010)

Tuy nhiên khung phân tích đề xuất này mới chỉ dừng lại ở mô hình khái niệm, chưa được kiểm chứng trong bối cảnh doanh nghiệp cụ thể ở Việt Nam.

Nghiên cứu của Huỳnh Thanh Điền (2012) đã giải quyết những hạn chế của các nghiên cứu trước đó bằng cách áp dụng cho doanh nghiệp bất động sản tại Việt Nam Kết quả cho thấy vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong các hoạt động của doanh nghiệp bất động sản, bao gồm hoạt động đầu vào, xây dựng, sản xuất và bán sản phẩm Các giả thuyết nghiên cứu đã được kiểm định một cách định lượng, minh chứng cho sự ảnh hưởng của vốn xã hội trong lĩnh vực này.

Vốn xã hội của doanh nghiệp Các nhóm hoạt độngcủa doanh nghiệp

Vốn xã hội bên trong

Sự cấu thành Các hoạt hội của động sản và chất lượng động của lãnh xuất mạng lưới doanh nghiệp đạo

Vốn xã hội Hoạt động bên ngoài đầu ra

Quan hệ nhân quả Biểu hiện/ đề cập đến

Hình 2.4 Khung phân tích mối liên hệ giữa vốn xã hội với hoạt động

DN Nguồn: Huỳnh Thanh Điền (2012)

Nghiên cứu này chỉ ra rằng vốn xã hội doanh nghiệp bao gồm ba thành phần chính: vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên trong và vốn xã hội bên ngoài Tất cả các thành phần này đều có ảnh hưởng tích cực đến các hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm đầu vào, sản xuất và đầu ra.

Bản chất đa chiều của vốn xã hội cần được nghiên cứu sâu hơn nhằm tối ưu hóa việc khai thác vốn xã hội trong doanh nghiệp.

Koka và Prescott (2002) cho rằng vốn xã hội có tính chất đa chiều, và tác động của nó đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp phụ thuộc vào nhiều yếu tố trong môi trường cạnh tranh Họ nhấn mạnh rằng động lực quan hệ có ảnh hưởng lớn đến luồng thông tin giữa các đối tác Mô hình nghiên cứu của họ cung cấp cái nhìn đa dạng về vốn xã hội, với ba lợi ích chính về thông tin: sự đa dạng, sự phong phú và dung lượng thông tin.

Cái nhìn đa chiều của vốn xã hội Đa Phong dạng phú thông thông tin tin

VỐN XÃ HỘI Dung lượng thông tin

Môi trường thay đổi Mật độ kết nối Chiến lược công ty

Hiệu quả hoạt động của DN tại

Hình 2.5 Mô hình nghiên cứu vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Nguồn: Koka & Prescott (2002)

Nghiên cứu này mở rộng mô hình lý thuyết về vốn xã hội bằng cách xác định ba khía cạnh khác nhau của nó, cho thấy rằng các công ty có mức vốn xã hội khác nhau không chỉ phụ thuộc vào vị trí trong mạng lưới liên minh mà còn vào động lực hình thành và duy trì các liên minh Sự khác biệt này mang lại những lợi ích khác nhau cho hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Do đó, nhà quản lý nên chú trọng đến tất cả các hình thức liên minh trong quá trình ra quyết định Với cách tiếp cận đa chiều về vốn xã hội, nghiên cứu giúp xác định vai trò của các khía cạnh khác nhau đối với hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

47 động của doanh nghiệp, từ đó có thể chỉ ra được loại vốn xã hội nào có hiệu quả nhất.

De Oliveira (2013) đã phát triển một mô hình nghiên cứu về ảnh hưởng của vốn xã hội đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, với ba giả thuyết chính: H1- Số lượng và sự đa dạng các mối quan hệ kết nối của doanh nhân có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh; H2- Kích thước quan hệ trong vốn xã hội của doanh nhân cũng ảnh hưởng tích cực đến hiệu quả kinh doanh; H3- Kích thước nhận thức trong vốn xã hội của doanh nhân có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh Mô hình này còn xem xét các biến quan sát như tài chính, khách hàng, học tập và đổi mới, quy trình nội bộ Hình 2.6 minh họa mối quan hệ giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, trong đó vốn xã hội được phân tích theo ba khía cạnh: vốn cấu trúc, vốn quan hệ và vốn nhận thức theo Nahapiet & Ghoshal (1998).

Vốn xã hội của DN vốn cấu trúc Vốn quan hệ

Hình 2.6 Mô hình nghiên cứu của De Oliveira (2013)

Nghiên cứu này cho thấy vốn xã hội doanh nghiệp có tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Nghiên cứu của Servaes & Tamayo (2013) cho thấy rằng trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008-2009, các công ty có hoạt động trách nhiệm xã hội (CSR) cao có lợi nhuận cổ phiếu cao hơn từ 4% đến 5% so với các công ty có CSR thấp Mặc dù không có sự khác biệt về lợi nhuận giữa các công ty CSR cao và thấp trước hoặc sau khủng hoảng, nhưng trong giai đoạn khủng hoảng, các công ty có trách nhiệm xã hội cao lại đạt được lợi nhuận và tăng trưởng doanh số cao hơn.

Nghiên cứu này mở ra nhiều hướng đi mới cho việc nghiên cứu về vốn xã hội, đặc biệt là trong việc phát triển khung lý thuyết cho trách nhiệm xã hội doanh nghiệp (CSR) theo quan điểm của Russo và Perrini (2010) Hơn nữa, có nhiều kênh mà qua đó CSR có thể ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Việc tìm hiểu các kênh tác động này sẽ làm phong phú thêm lý thuyết và thực tiễn, đồng thời cung cấp những gợi ý quý giá cho các nhà quản lý nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Trong luận án tiến sĩ của Noel Johnson (2010), các nghiên cứu tình huống đã chỉ ra rằng vốn xã hội của doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp.

* Aldrich & Meyer, (2015) đã chứng minh vốn xã hội của doanh nghiệp góp phần nâng cao khả năng thích ứng doanh nghiệp,

* Chen, C.N & ctg, (2007) trong nghiên cứu của mình đã chứng minh rằng vốn xã hội của doanh nghiệp góp phần nâng cao tinh thần kinh doanh.

Nghiên cứu của Torres, Marshall, & Sydnor (2019) đã chỉ ra rằng vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong khả năng thích ứng của doanh nghiệp tại Mỹ, đặc biệt trong các tình huống khẩn cấp Sử dụng mô hình probit qua hai giai đoạn, họ phát hiện rằng vốn xã hội từ mạng lưới kết nối với chính quyền giúp doanh nghiệp ứng phó tốt hơn với biến cố Tương tự, Polyviou, Croxton, & Knemeyer (2019) cũng nhấn mạnh rằng vốn xã hội bên trong là yếu tố quan trọng nâng cao khả năng thích ứng cho các doanh nghiệp vừa tại Mỹ.

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng vốn xã hội trong doanh nghiệp, bao gồm cấu trúc, quan hệ và tri nhận, đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích ứng và tinh thần kinh doanh Gửlgeci & Kuivalainen (2020) khẳng định rằng khả năng thích ứng là yếu tố trung gian giữa vốn xã hội và hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, dựa trên dữ liệu từ 265 doanh nghiệp tại Thổ Nhĩ Kỳ Piran et al (2015) cũng xác nhận rằng vốn xã hội có tác động tích cực đến tinh thần kinh doanh, với 53% sự giải thích cho tinh thần này đến từ vốn xã hội Các khía cạnh của vốn xã hội đều có ảnh hưởng tích cực đến tinh thần kinh doanh, trong đó quan hệ có tác động lớn nhất, tiếp theo là tri nhận và cấu trúc Kết quả cho thấy doanh nghiệp có vốn xã hội mạnh sẽ thúc đẩy sự phát triển ý tưởng mới thông qua việc trao đổi thông tin và kiến thức, từ đó nâng cao sự sáng tạo và tinh thần kinh doanh.

Kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vốn xã hội có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp, đồng thời vai trò trung gian của khả năng thích ứng và tinh thần kinh doanh cũng được xác nhận Tuy nhiên, các nghiên cứu này thường chỉ phân tích từng biến một cách riêng lẻ Do đó, cần thiết phải tìm hiểu vai trò của vốn xã hội và các kênh mà nó có thể cải thiện hiệu quả doanh nghiệp trong cùng một nghiên cứu, nhằm cung cấp cái nhìn tổng quan về vấn đề, làm phong phú thêm lý thuyết và thực tiễn, cũng như đưa ra những gợi ý hữu ích cho các nhà quản lý doanh nghiệp.

2.6.2 Nghiên cứu về khả năng thích ứng

Sutcliffe và Vogus (2003) nhấn mạnh rằng khả năng thích ứng là một lĩnh vực quan trọng cho nghiên cứu học thuật, vì nó cung cấp cái nhìn sâu sắc về nguyên nhân và quá trình điều chỉnh tích cực trong những điều kiện khó khăn Nghiên cứu này xem xét các lý thuyết về khả năng thích ứng ở cấp độ cá nhân, nhóm và tổ chức, nhằm xác định các chủ đề chung có thể áp dụng.

Johnson & Elliott (2011) chỉ ra rằng, trong quản lý khả năng thích ứng, tổ chức có hiệu suất cao có thể trở nên cứng nhắc khi đối mặt với thay đổi bất ngờ, trong khi tổ chức quá linh hoạt có thể thiếu cấu trúc cần thiết để duy trì hiệu suất bền vững Nghiên cứu về khả năng thích ứng chủ yếu tập trung vào mối quan hệ giữa việc khám phá những khả năng mới và khai thác những bằng chứng cũ (March, 1991).

Phát triển các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

2.7.1 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và hiệu quả hoạt động

Nghiên cứu chỉ ra rằng vốn xã hội (VXH) có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của doanh nghiệp, bao gồm đổi mới, hiệu quả hoạt động, hợp tác kinh doanh, cơ hội và thành công Đồng thời, vai trò lãnh đạo của người đứng đầu doanh nghiệp rất quan trọng, vì họ là những người thể hiện rõ rệt nhất giá trị của vốn xã hội.

59 nhất và việc vận dụng vốn xã hội hiệu quả sẽ dẫn đến việc cải thiện hiệu quả hoạt động của DN.

Vốn xã hội của lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng mối quan hệ và nhận được sự hỗ trợ thông tin từ cả bên trong lẫn bên ngoài tổ chức (Tushman, 1997) Điều này giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và thách thức, đồng thời ứng phó linh hoạt với các tình huống xấu, từ đó đạt được nhiều thành quả cao trong hoạt động Vốn xã hội cá nhân của lãnh đạo không chỉ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp mà còn thể hiện qua sự hợp tác, hỗ trợ và tin tưởng bên trong, góp phần giảm chi phí giao dịch trong các hoạt động.

Doanh nghiệp (DN) cần tối ưu hóa nguồn lực tổ chức thông qua việc xây dựng vốn xã hội bên trong vững mạnh, giúp mọi thành viên chủ động làm việc, phối hợp và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm (Brookes, Morton, Dainty, & Burns, 2006) Khi có ý thức trách nhiệm cao, nhân viên sẽ sẵn sàng bảo vệ sự ổn định và bền vững của DN, đồng thời kịp thời phát hiện và ứng phó với các nguy cơ tiềm ẩn để giảm thiểu thiệt hại Vốn xã hội bên trong đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động nhờ vào sự tin tưởng và đồng thuận cao Đối với vốn xã hội bên ngoài, để đạt được hiệu suất kinh doanh theo mô hình bảng điểm cân bằng, DN cần nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực tổ chức trong môi trường kinh doanh phức tạp, từ đó tạo ra cơ hội và thách thức cho sự phát triển Vốn xã hội bên ngoài được xây dựng tốt sẽ cải thiện mối quan hệ theo chiều dọc và chiều ngang của DN (Yang và Ctg).

Việc tăng cường hợp tác giữa các cấp chính quyền và các tổ chức tư vấn sẽ giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh Điều này cung cấp cho doanh nghiệp thông tin và lời tư vấn hữu ích, giúp họ sẵn sàng nắm bắt cơ hội và đạt được kết quả cao trong hoạt động Như vậy, vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.

Tất cả ba thành tố của Vốn xã hội (vốn xã hội của lãnh đạo, vốn xã hội bên ngoài và vốn xã hội bên trong) đều góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của Doanh nghiệp Nhà nước tại Việt Nam, do đó, tác giả đề xuất một giả thuyết liên quan đến sự tương tác giữa các thành tố này.

H 1 : Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.

2.7.2 Mối quan hệ giữa Vốn xã hội và khả năng thích ứng

Vốn xã hội doanh nghiệp được phân tích từ ba khía cạnh chính: vốn xã hội của lãnh đạo doanh nghiệp, vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp và vốn xã hội bên trong doanh nghiệp (Huỳnh Thanh Điền, 2012).

Khi lãnh đạo có năng lực và phẩm chất đạo đức tốt, họ sẽ tác động tích cực đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Mối quan hệ tốt với các bên liên quan, cả bên trong lẫn bên ngoài, giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn và thách thức Lãnh đạo cần có khả năng dự đoán các tình huống xấu, chủ động thích ứng với biến động môi trường, và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực để đảm bảo sự bền vững cho doanh nghiệp Như vậy, vốn xã hội của lãnh đạo đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng thích ứng của tổ chức.

Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp được xây dựng tốt sẽ thúc đẩy sự hợp tác và chia sẻ kiến thức, kinh nghiệm giữa các thành viên, tạo ra sự ổn định nhờ niềm tin và sự đồng thuận cao Điều này giúp doanh nghiệp chủ động thích nghi với môi trường, dự đoán trước các tình huống bất lợi và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực Như vậy, vốn xã hội bên trong nâng cao khả năng thích ứng của doanh nghiệp với những thay đổi của môi trường.

Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp được xây dựng tốt giúp cải thiện mối quan hệ theo chiều ngang với các tổ chức tư vấn và chiều dọc với các cấp chính quyền, từ đó nâng cao khả năng dự đoán và thích nghi với biến động môi trường Điều này cho phép doanh nghiệp nhanh nhạy và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực hợp lý, phản ứng và điều chỉnh tích cực với mọi tình huống.

61 nghiệp cũng giúp nâng cao khả năng thích ứng.

Vốn xã hội đóng vai trò quan trọng trong khả năng thích ứng của doanh nghiệp, giúp xử lý các tình huống khó khăn một cách kịp thời Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến khả năng thích ứng, tuy nhiên, vẫn còn ít nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam, đặc biệt là trong bối cảnh doanh nghiệp nhà nước Do đó, nghiên cứu này đề xuất một giả thuyết mới để làm sáng tỏ mối liên hệ giữa vốn xã hội và khả năng thích ứng của doanh nghiệp tại Việt Nam.

H 2 :Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến khả năng thích ứng của DNCVNN tại Việt Nam.

2.7.3 Mối quan hệ giữa vốn xã hội và Tinh thần kinh doanh

Sở hữu đội ngũ nhân sự có năng lực và phẩm chất tốt sẽ nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp Lãnh đạo cần có tinh thần doanh nhân, tâm huyết và tầm nhìn để xây dựng mối quan hệ tích cực với các bên liên quan, đặc biệt là chính quyền và truyền thông Điều này giúp lãnh đạo vượt qua khó khăn, luôn chủ động đổi mới và chấp nhận rủi ro, từ đó đạt được mục tiêu một cách hiệu quả mà không lo ngại về trách nhiệm cá nhân, góp phần nâng cao tinh thần kinh doanh trong tổ chức.

Vốn xã hội bên trong doanh nghiệp, thể hiện qua sự hợp tác, hỗ trợ và chia sẻ kiến thức, là yếu tố quan trọng cho sự ổn định và phát triển Nó tạo ra một môi trường giao tiếp tốt hơn, tăng cường niềm tin và sự đồng thuận giữa các thành viên Nhờ đó, doanh nghiệp có thể tự tin, chủ động đổi mới phương thức hoạt động và chấp nhận rủi ro, từ đó thúc đẩy tinh thần kinh doanh và đạt được các mục tiêu đề ra.

Vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp được xây dựng tốt sẽ cải thiện mối quan hệ theo chiều dọc với các cấp chính quyền và chiều ngang với các tổ chức tư vấn, đối tác chiến lược Điều này giúp doanh nghiệp vượt qua khó khăn về thủ tục hành chính và điều kiện kinh doanh, đồng thời cung cấp thông tin, tư vấn hữu ích và hợp đồng hợp tác Nhờ đó, doanh nghiệp có thể chủ động, đổi mới và sẵn sàng chấp nhận rủi ro trong môi trường cạnh tranh mà không lo ngại thiệt hại.

62 khi có những tình huống xấu xảy ra; như vậy vốn xã hội bên ngoài doanh nghiệp giúp nâng cao tinh thần kinh doanh.

Vốn xã hội ảnh hưởng đến sự đổi mới trong doanh nghiệp (Landry & ctg,

Nghiên cứu cho thấy rằng vốn xã hội có ảnh hưởng tích cực đến tinh thần kinh doanh, tuy nhiên, có ít nghiên cứu về vấn đề này tại Việt Nam, đặc biệt liên quan đến doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNCVNN) Do đó, nghiên cứu này đề xuất một giả thuyết nhằm khám phá mối quan hệ giữa vốn xã hội và tinh thần kinh doanh tại thị trường Việt Nam.

H 3 :Vốn xã hội doanh nghiệp có tác động dương đến tinh thần kinh doanh của DNCVNN tại Việt Nam

2.7.4 Mối quan hệ giữa khả năng thích ứng và Hiệu quả hoạt động DN

Khả năng thích ứng của doanh nghiệp (DN) đóng vai trò quan trọng trong việc giúp DN chủ động dự đoán và thích nghi với môi trường, từ đó nâng cao tính nhạy bén và linh hoạt trong việc phân bổ nguồn lực hợp lý Điều này không chỉ tạo ra nhiều cơ hội giành lợi thế cạnh tranh mà còn thúc đẩy cải tiến sản phẩm và đổi mới công nghệ, đáp ứng nhu cầu thị trường và gia tăng sự hài lòng của khách hàng Nghiên cứu cho thấy khả năng thích ứng có mối quan hệ tích cực với hiệu quả hoạt động, đặc biệt trong bối cảnh biến động Mặc dù có nhiều nghiên cứu quốc tế về khả năng thích ứng của DN, nhưng tại Việt Nam, đặc biệt là đối với DNCVNN, còn rất ít tài liệu đề cập đến vấn đề này Do đó, nghiên cứu này đề xuất giả thuyết về tầm quan trọng của khả năng thích ứng trong việc nâng cao hiệu suất hoạt động của DN.

H 4 : Khả năng thích ứng có tác động dương đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam.

2.7.5 Mối quan hệ giữa tinh thần kinh doanh và hiệu quả hoạt động DN

Tóm tắt chương 2

Chương 2 trình bày quá trình lược khảo các lý thuyết có liên quan đến bốn khái niệm: vốn xã hội, tinh thần kinh doanh, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt

Nghiên cứu này tập trung vào 65 động lực của doanh nghiệp, trình bày các lý thuyết nền tảng để hỗ trợ cho các lập luận về tác động của các khái niệm Mặc dù có nhiều nghiên cứu quốc tế, số lượng nghiên cứu trong nước về vai trò của khả năng thích ứng đối với hiệu quả hoạt động của DNCVNN tại Việt Nam vẫn còn hạn chế Tác giả đề xuất một mô hình nghiên cứu với sáu giả thuyết, cho rằng vốn xã hội, tinh thần kinh doanh và khả năng thích ứng có mối quan hệ tích cực và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của DNCVNN Chương 3 sẽ trình bày phương pháp nghiên cứu để kiểm định thang đo, mô hình nghiên cứu và các giả thuyết đã đề ra.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH DỮ LIỆU VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:48

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
(2002). Further reflections on the elimination of framing bias in strategic decision making. Strategic Management Journal, 23(11), 1069-1076 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Strategic Management Journal, 23
(2014). Resilience definitions, theory, and challenges: Interdisciplinary perspectives. European Journal of Psychotraumatology, 1-14 Sách, tạp chí
Tiêu đề: European Journal of Psychotraumatology
1. Vốn xã hội doanh nghiệp có đặc điểm gì, cách thức đo lường chúng, và chúng có tác động như thế nào đến tinh thần kinh doanh, khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động của DN có vốn Nhà nước tại Việt Nam Khác
2. Tinh thần kinh doanh có đặc điểm gì, cách thức đo lường chúng, và chúng có tác động như thế nào đến khả năng thích ứng và hiệu quả hoạt động của DN có vốn Nhà nước tại Việt Nam Khác
3. Khả năng thích ứng có đặc điểm gì, cách thức đo lường chúng, và chúng có tác động như thế nào đến hiệu quả hoạt động của DN có vốn Nhà nước tại Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w