1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quyền của người bào chữa theo luật tố tụng hình sự việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

83 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Quyền Của Người Bào Chữa Theo Luật Tố Tụng Hình Sự Việt Nam
Tác giả Nguyễn Thành Công
Người hướng dẫn Ts. Võ Thị Kim Oanh
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Hình Sự Và Tố Tụng Hình Sự
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA (14)
    • 1.1. Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về quyền của người bào chữa (14)
      • 1.1.1. Khái niệm người bào chữa và quyền của người bào chữa (14)
      • 1.1.2. Đặc điểm quyền của người bào chữa (19)
      • 1.1.3. Ý nghĩa quyền của người bào chữa (21)
    • 1.2. Cơ sở quy định quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự (23)
    • 1.3. Kinh nghiệm lập pháp về quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam (26)
    • 1.4. Kinh nghiệm lập pháp về quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự của một số nước (28)
      • 1.4.1. Quyền của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc) (28)
      • 1.4.2. Quyền của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hoà liên bang Đức (31)
      • 1.4.3. Quyền của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự của Mỹ . 26 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 (32)
  • CHƯƠNG 2. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT (35)
    • 2.1. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam hiện hành về một số quyền của người bào chữa (35)
      • 2.1.1. Quyền gặp, hỏi người bị buộc tội (35)
      • 2.1.2. Quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ khi hỏi (38)
  • CHƯƠNG 3. NHU CẦU VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA (61)
    • 3.1. Nhu cầu nâng cao hiệu quả thực hiện quyền của người bào chữa (61)
      • 3.1.1. Nhu cầu bảo đảm quyền bào chữa của người bị buộc tội (61)
      • 3.1.2. Nhu cầu bảo đảm tính tranh tụng trong hoạt động tố tụng hình sự (62)
      • 3.1.3. Nhu cầu hoàn thiện các quy định của pháp luật về quyền của người bào chữa (64)
    • 3.2. Biện pháp nâng cao hiệu quả thực hiện một số quyền của người bào chữa (65)
      • 3.2.1. Biện pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự (65)
      • 3.2.2. Các biện pháp khác (71)

Nội dung

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

Khái niệm, đặc điểm và ý nghĩa về quyền của người bào chữa

1.1.1 Khái niệm người bào chữa và quyền của người bào chữa

1.1.1.1 Khái niệm người bào chữa

Trong một nền tư pháp dân chủ, việc bảo vệ quyền con người là mục tiêu chính, và hoạt động bào chữa đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội Hoạt động này không chỉ giúp xác định sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, mà còn góp phần vào công lý và công bằng xã hội Đánh giá uy tín và chất lượng của nền tư pháp cũng phụ thuộc vào hiệu quả của các hành vi tố tụng mà pháp luật quy định, nhằm đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho người bị buộc tội cũng như xác định sự thật của vụ án.

Sự tham gia của người bào chữa (NBC) trong tố tụng hình sự (TTHS) là cần thiết và khách quan, bởi vì người bị buộc tội thường rơi vào trạng thái bị động, lo lắng về số phận pháp lý của mình và thiếu kiến thức cũng như kinh nghiệm trong các thủ tục tố tụng Trong khi đó, bên buộc tội gồm các cơ quan tố tụng hình sự (CQTHTT) và nhà tố tụng hình sự (NTHTT) được Nhà nước trao quyền lực, có thẩm quyền và được đào tạo bài bản về pháp luật, giúp họ có lợi thế trong quá trình xử lý vụ án Do đó, sự hiện diện của NBC là yếu tố quan trọng để tạo ra sự cân bằng trong TTHS, bảo vệ quyền lợi cho người bị buộc tội.

NBC hay bào chữa viên là những người có kiến thức pháp luật và kinh nghiệm trong lĩnh vực tố tụng, đại diện cho người bị buộc tội trong các vụ án hình sự Họ có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi cho thân chủ, chống lại các cáo buộc và truy tố, đồng thời giúp giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Bào chữa viên cũng hỗ trợ cơ quan chức năng trong việc làm sáng tỏ các tình huống liên quan đến vụ án.

Theo Trần Văn Bảy (2000), trong tố tụng hình sự Việt Nam, người bào chữa có quyền tranh tụng với các bên liên quan trong quá trình xử lý vụ án Theo quy định pháp luật, người bào chữa có thể là luật sư, đại diện của bị cáo, bào chữa viên nhân dân hoặc trợ giúp viên pháp lý.

Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về người bào chữa.

Các nhà khoa học Trường Đại học Luật Hà Nội định nghĩa người bào chữa là cá nhân tham gia vào quá trình tố tụng, có trách nhiệm bảo vệ lợi ích hợp pháp của bị can và bị cáo Họ được phép sử dụng mọi phương tiện hợp pháp để đảm bảo quyền lợi và lợi ích hợp pháp cho thân chủ của mình.

Theo GS.TS Võ Khánh Vinh, người bào chữa đóng vai trò quan trọng trong quá trình tố tụng, với mục tiêu làm rõ các tình tiết của vụ án để chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giam, bị can, bị cáo, đồng thời cung cấp sự hỗ trợ pháp lý cần thiết cho họ.

Người bào chữa, theo tác giả Nguyễn Mạnh Hùng, là cá nhân được bị can, bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của họ mời, hoặc được Viện kiểm sát, Toà án chỉ định để hỗ trợ và bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho bị can, bị cáo trong quá trình tố tụng.

Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, người bào chữa được định nghĩa là người được bị cáo nhờ cậy hoặc được cơ quan có thẩm quyền chỉ định, và phải được cơ quan, người có thẩm quyền tiếp nhận đăng ký bào chữa.

Từ các quan điểm của các nhà khoa học về người bào chữa (NBC), có thể nhận thấy rằng NBC chỉ đóng vai trò là người tham gia trong quá trình tố tụng hình sự (TTHS) Thuật ngữ “tham gia” thể hiện rõ tính chất và vai trò của NBC, cho dù họ được mời hay cử tham gia, mục đích chính vẫn là nhằm chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị buộc tội, đồng thời hỗ trợ họ về mặt pháp lý.

3 Từ điển Bách khoa toàn thư mở https://vi.wikipedia.org/wiki/Ng%C6%B0%E1%BB%9Di_b%C3%A0o_ ch%E1%BB%AFa.

4 Trường Đại học Luật Hà Nội (2002), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Công an Nhân dân, tr.69.

5 Võ Khánh Vinh (2004), Bình luận khoa học BLTTHS, Nxb Công an Nhân dân, tr.128-129.

6 Nguyễn Mạnh Hùng (2006), Thuật ngữ pháp lý – tập II, Nxb Chính trị Quốc gia, tr.55.

Khoản 1 Điều 72 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan, đồng thời góp phần bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa Người bào chữa chỉ thực hiện nghĩa vụ trong quá trình tố tụng và không có quyền lợi hay lợi ích liên quan đến vụ án.

Theo quy định của BLTTHS năm 2015, những người tham gia tố tụng với tư cách là NBC bao gồm: Luật sư, Người đại diện của người bị buộc tội, Bào chữa viên nhân dân, và Trợ giúp viên pháp lý cho những người bị buộc tội thuộc đối tượng trợ giúp pháp lý.

Luật sư là người đáp ứng đủ tiêu chuẩn và điều kiện hành nghề theo quy định của Luật luật sư, nhằm đảm bảo tính chuyên nghiệp và ngăn chặn những cá nhân không đủ điều kiện tham gia tố tụng như luật sư, từ đó nâng cao hiệu quả quản lý trong lĩnh vực hành nghề luật sư.

Người đại diện của người bị buộc tội là khái niệm mới trong khoa học pháp lý, nhưng trong lĩnh vực dân sự, người đại diện phải từ 18 tuổi trở lên, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự theo quy định tại các Điều 134, 135 và 136 Bộ luật Dân sự năm 2015 Khác với luật sư, người đại diện có thể chủ động thực hiện chức năng bào chữa mà không cần đề nghị từ người bị buộc tội, và họ cũng có quyền lựa chọn NBC.

Bào chữa viên nhân dân là những người được Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên cử ra để bào chữa cho những thành viên bị buộc tội Theo Nghị quyết số 03/NQ – HĐTP ngày 02/10/2004, bào chữa viên nhân dân được xác định khi được cử ra bởi Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Tuy nhiên, hoạt động của họ chưa được tổ chức thành một hệ thống rõ ràng, dẫn đến việc tham gia tố tụng của bào chữa viên nhân dân rất hiếm hoi Hiện nay, vai trò của họ đang dần bị lãng quên, và khi nhắc đến bào chữa viên, người ta thường nghĩ ngay đến luật sư.

Trợ giúp viên pháp lý là một chủ thể quan trọng trong tố tụng hình sự, tham gia từ giai đoạn giải quyết nguồn tin về tội phạm cho đến khi kết thúc xét xử với vai trò là người bào chữa Họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị tố giác, người bị kiến nghị khởi tố, bị hại và các đương sự khác Hoạt động của trợ giúp viên pháp lý trong tố tụng hình sự mang tính đặc thù, vì họ đại diện cho trách nhiệm cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước cho nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội.

Từ những nhận định, phân tích về NBC cũng như quy định NBC theo BLTTHS năm 2015, tác giả có thể đưa ra khái niệm NBC trong TTHS như sau:

Cơ sở quy định quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự

TTHS là một lĩnh vực tư pháp gắn liền với quyền con người, nơi mà mọi hành vi tố tụng có thể ảnh hưởng đến quyền sở hữu, tự do và thậm chí là quyền sống của cá nhân Những sai lầm trong quá trình tố tụng có thể dẫn đến hậu quả nghiêm trọng, đôi khi không thể khắc phục Do đó, việc đặt giá trị con người lên hàng đầu và cân nhắc tính chính xác, hợp lý trong mọi hành vi tố tụng là rất quan trọng Sai lầm không chỉ ảnh hưởng đến số phận của người tham gia tố tụng mà còn tác động đến cuộc sống của những người thân của họ Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa cho người bị buộc tội là điều kiện cần thiết để đảm bảo tính khách quan và chính xác trong xử lý vụ án, góp phần vào cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm và bảo vệ quyền tự do, dân chủ của công dân Tuy nhiên, không phải ai cũng có khả năng thực hiện quyền bào chữa hiệu quả, trong khi chức năng buộc tội thuộc về những người có chuyên môn và kinh nghiệm Vì vậy, nhu cầu có người thứ ba độc lập thực hiện quyền bào chữa là rất cần thiết.

Những người chuyên nghiệp am hiểu pháp luật xuất hiện như một yêu cầu khách quan trong thực tiễn Do đó, trong pháp luật tố tụng hình sự của nhiều quốc gia, bao gồm cả Việt Nam, bên cạnh nguyên tắc đảm bảo quyền tự bào chữa, còn quy định rằng người bị tạm giữ, bị can, và bị cáo có quyền nhờ người khác bào chữa.

Cơ sở chính trị - pháp lý:

Người bị buộc tội có quyền được bảo vệ, quyền này được ghi nhận trong nhiều văn kiện pháp lý quốc tế và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia.

Khoản 1 Điều 11, Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người năm 1948 nêu rõ “Mọi người, nếu bị cáo buộc về hình sự, đều có quyền được coi là vô tội cho đến khi được chứng minh là phạm tội theo pháp luật, tại một phiên toà xét xử công khai, nơi người đó được bảo đảm những điều kiện cần thiết để bào chữa cho mình” Điều 14 Công ước quốc tế về quyền dân sự và chính trị với nội dung: một người bị cáo buộc về một hành vi phạm tội sẽ có quyền (1) được có khoảng thời gian hợp lý và các điều kiện đầy đủ để chuẩn bị cho việc bào chữa và có quyền trao đổi với NBC do mình lựa chọn; (2) có quyền tự bào chữa hoặc thông qua NBC do mình lựa chọn; (3) trong trường hợp một người không có NBC thì cơ quan có thẩm quyền THTT sẽ chỉ định NBC vì lợi ích chung của công lý, NBC sẽ được chỉ định miễn phí nếu người bị buộc tội không có khả năng chi trả cho NBC.

Quyền của luật sư được bảo đảm bởi các văn bản pháp lý quốc tế, bao gồm Bộ các nguyên tắc cơ bản của Liên hợp quốc về vai trò của luật sư.

Tại Việt Nam, quyền bào chữa cho người bị buộc tội được quy định tại Điều 16 Hiến pháp năm 2013, là một trong những quyền cơ bản của con người và công dân Đây là quyền thiết yếu trong lĩnh vực tư pháp, cần được tôn trọng và thực hiện triệt để Việc xâm phạm quyền bào chữa sẽ ảnh hưởng đến khả năng thực hiện các quyền tư pháp khác.

Nghị quyết 08 – NQ/TW của Bộ Chính trị nhấn mạnh rằng Tòa án phải đảm bảo mọi công dân bình đẳng trước pháp luật và phán quyết dựa vào tranh tụng tại phiên tòa, xem xét đầy đủ chứng cứ và ý kiến từ các bên liên quan Các cơ quan tư pháp cần tạo điều kiện cho luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, bao gồm hỏi cung bị can và tranh luận tại phiên tòa Điều này đặt ra trách nhiệm cho các cơ quan tư pháp trong việc bảo đảm quyền tranh luận dân chủ của bị cáo, đồng thời cần hoàn thiện để mở rộng quyền của bị cáo và đảm bảo sự bình đẳng trong việc thu thập và trình bày chứng cứ.

Cơ sở pháp lý cho hoạt động bào chữa của NBC là quyền bào chữa của người bị buộc tội, trong khi hoạt động này là phương thức thực hiện quyền bào chữa Quyền của NBC được thể hiện qua hiệu quả của hoạt động bào chữa, phụ thuộc vào các điều kiện pháp lý về quyền và nghĩa vụ của NBC NBC cần dựa vào quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội, đồng thời bảo vệ lợi ích của nhà nước và củng cố pháp chế xã hội chủ nghĩa Các cơ quan tư pháp phải tôn trọng và đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động bào chữa của NBC.

Phần lớn các trường hợp vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong giải quyết vụ án hình sự dẫn đến xét xử oan sai thường thiếu sự tham gia của người bào chữa Việc không tuân thủ các chuẩn mực pháp luật trong tố tụng có thể xâm phạm quyền công dân của người bị buộc tội Do đó, sự hiện diện của người bào chữa trong quá trình giải quyết vụ án hình sự là cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bị cáo và đảm bảo việc thực thi pháp chế xã hội chủ nghĩa.

Thực tế cho thấy, sự tồn tại của người bào chữa (NBC) và cơ chế bảo đảm quyền lợi của họ là điều kiện cần thiết để đảm bảo tính dân chủ trong hoạt động tư pháp Điều này đặc biệt quan trọng trong các trường hợp được quy định tại Khoản 1 Điều 76 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Năm 2015, việc bảo vệ quyền lợi và sinh mạng con người trở nên quan trọng hơn bao giờ hết Để đảm bảo hoạt động tố tụng diễn ra hiệu quả, cần thiết phải duy trì tính dân chủ và khách quan trong các quy trình pháp lý.

Kinh nghiệm lập pháp về quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam

Chế định NBC trong pháp luật TTHS Việt Nam là một trong những yếu tố quan trọng, ra đời sớm và liên tục phát triển để phù hợp với quá trình dân chủ hóa xã hội Với truyền thống pháp luật Châu Âu lục địa, hệ thống tư pháp hình sự Việt Nam chủ yếu dựa trên tố tụng thẩm vấn Chế định bào chữa trong luật TTHS bao gồm các quy định về quyền tố tụng và biện pháp tố tụng mà bị can, bị cáo hoặc NBC của họ có thể sử dụng để chống lại cáo buộc, đưa ra lý lẽ và chứng cứ nhằm gỡ tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.

Ngay từ những ngày đầu thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hoà, quyền bào chữa của bị cáo đã được ghi nhận trong các văn bản pháp luật và ngày càng hoàn thiện Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS) năm 1988 đánh dấu bước phát triển quan trọng trong việc pháp điển hoá quy định về tố tụng hình sự tại Việt Nam Quyền bào chữa của bị can, bị cáo và quyền của người bào chữa (NBC) được quy định chi tiết hơn trong BLTTHS năm 1988, thể hiện tính ưu việt so với các quy định trước đó Điều 36 của BLTTHS năm 1988 mở rộng phạm vi quyền của NBC và đảm bảo thực hiện quyền bào chữa từ khi cơ quan điều tra ra quyết định khởi tố bị can, thay vì chỉ khi hồ sơ vụ án được chuyển sang toà án như trước Sự tham gia sớm của NBC trong quá trình tố tụng tạo điều kiện pháp lý cần thiết để bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của bị can, bị cáo.

Sau hơn 10 năm thi hành Bộ luật Tố tụng hình sự năm 1988, hoạt động của Nhân viên bảo vệ quyền lợi (NBC) đã nâng cao hiệu quả tố tụng trong giải quyết các vụ án hình sự Tuy nhiên, với sự phát triển của đất nước, nhiều quy định trong Bộ luật này đã trở nên lạc hậu và hạn chế hiệu quả hoạt động của NBC Cụ thể, NBC chỉ được đặt câu hỏi khi có sự đồng ý của điều tra viên và không có cơ chế rõ ràng để thực hiện quyền, trách nhiệm của mình Ngoài ra, NBC gặp khó khăn trong việc tiếp cận tài liệu điều tra và không được thông báo về nhiều quyết định tố tụng liên quan đến người bị buộc tội.

BLTTHS năm 2003, được Quốc hội thông qua ngày 26/11/2003, đã bổ sung nhiều quy định mới về quyền và nghĩa vụ của người bào chữa (NBC), đặc biệt là mở rộng quyền tham gia tố tụng để bảo vệ lợi ích của người bị tạm giữ ngay từ khi có quyết định tạm giữ NBC có quyền yêu cầu Cơ quan điều tra thông báo trước về thời gian và địa điểm hỏi cung, được xem các biên bản và quyết định tố tụng liên quan, cũng như quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong vụ án Những quy định này tạo điều kiện thuận lợi cho NBC trong việc tìm kiếm chứng cứ phục vụ cho công tác bào chữa, đảm bảo quyền bào chữa của người bị buộc tội, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa và góp phần tìm ra sự thật khách quan, tránh xét xử oan sai Đây là một bước tiến thể hiện tính dân chủ trong pháp luật tố tụng hình sự Việt Nam trong quá trình xây dựng nhà nước pháp quyền.

Nhu cầu sửa đổi các quy định pháp luật nhằm hoàn thiện và phù hợp với thực tiễn là điều cần thiết, đặc biệt đối với các bộ luật quan trọng cho việc thực thi pháp luật Quốc hội đã thông qua Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS) năm 2015, với nhiều quy định mới giúp khắc phục những hạn chế trong áp dụng pháp luật tố tụng hình sự BLTTHS năm 2015 quy định rõ về trình tự, thủ tục và quyền của người bị buộc tội (NBC), mở rộng đối tượng được đảm bảo quyền bào chữa và cho phép NBC tham gia tố tụng sớm hơn Cụ thể, người bị bắt có quyền tự bào chữa hoặc nhờ luật sư, và NBC cũng có thể là trợ giúp viên pháp lý trong trường hợp người bị buộc tội thuộc đối tượng được trợ giúp pháp lý.

Điều 4 BLTTHS năm 2015 quy định người bị buộc tội bao gồm người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can và bị cáo, thể chế hoá quyền tự bào chữa theo Hiến pháp năm 2013 Quy định mới này bổ sung thêm quyền cho người bị buộc tội như có mặt khi lấy lời khai, quyền hỏi người bị bắt và người bị giữ sau mỗi lần lấy lời khai, đề nghị thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, biện pháp cưỡng chế, cũng như quyền thu thập chứng cứ Phân tích chi tiết về các quyền này sẽ được trình bày trong chương 2.

Kinh nghiệm lập pháp về quyền của người bào chữa trong tố tụng hình sự của một số nước

1.4.1 Quyền của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự Cộng hoà nhân dân Trung Hoa (Trung Quốc)

Pháp luật Tố tụng hình sự (TTHS) của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam có nhiều điểm tương đồng trong hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa Điều này thể hiện rõ qua các quy định về quyền bào chữa của bị can, bị cáo và người bào chữa, cho thấy sự tương đồng trong cách tiếp cận và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên trong quá trình tố tụng.

Quy định về sự tham gia bào chữa bắt buộc của người bào chữa (NBC) tại Trung Quốc tương tự như tại Việt Nam Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc quy định rõ những trường hợp cần có NBC, bao gồm những người bị mù, câm hoặc điếc.

Luật TTHS Trung Quốc năm 1996 hạn chế quyền của luật sư trong giai đoạn điều tra, cho phép họ gặp gỡ và phỏng vấn nghi phạm bị tạm giữ nhưng với nhiều ràng buộc Việc tự do gặp gỡ thân chủ bị hạn chế, đặc biệt trong các trường hợp liên quan đến bí mật quốc gia, khi mà luật sư cần có sự phê duyệt của cơ quan điều tra Ngay cả trong những vụ việc không liên quan đến bí mật quốc gia, sự phê duyệt này vẫn là bắt buộc Tuy nhiên, từ năm 2007, Luật Luật sư của Trung Quốc đã sửa đổi, cho phép luật sư do nghi phạm hoặc người thân của họ thuê có quyền gặp thân chủ khi xuất trình thẻ luật sư và thư ủy quyền.

Theo quy định của Luật Luật sư sửa đổi, cuộc gặp giữa luật sư và thân chủ không cần sự phê duyệt của công an Tuy nhiên, công an đã áp dụng quy định này một cách tiểu xảo, yêu cầu luật sư phải đăng ký trước do thiếu phòng họp, dẫn đến việc phải có sự chấp thuận từ công an Theo hướng dẫn của Bộ công an Trung Quốc, trong các vụ án không liên quan đến bí mật quốc gia, việc gặp gỡ giữa luật sư và người bị tình nghi không cần phê duyệt, và cơ quan điều tra không được từ chối yêu cầu này với lý do bảo vệ bí mật điều tra Cơ quan điều tra có trách nhiệm sắp xếp cuộc gặp trong thời gian hợp lý.

Sau 48 giờ kể từ khi luật sư đề nghị gặp gỡ người bị tình nghi phạm tội, trong các vụ án phức tạp như tổ chức tội phạm, khủng bố, buôn lậu, ma túy hay tham ô, Cơ quan điều tra phải cho phép cuộc gặp trong vòng 5 ngày Trong giai đoạn này, Cơ quan điều tra có quyền theo dõi cuộc hội thoại giữa luật sư và thân chủ Luật TTHS năm 1996 quy định rằng điều tra viên có thể có mặt trong cuộc phỏng vấn tùy thuộc vào hoàn cảnh và điều kiện cần thiết.

Theo quy định của pháp luật TTHS Trung Quốc năm 1996, chỉ có các cơ quan như TAND, VKSND và Cơ quan điều tra, cụ thể là thẩm phán, kiểm sát viên và điều tra viên, mới có quyền thu thập chứng cứ Đối với NBC, họ có quyền thực hiện hoạt động bào chữa bằng cách gặp gỡ, trao đổi với người bị tạm giữ, trích xuất tài liệu từ giai đoạn thẩm tra tư pháp, thu thập thông tin liên quan đến vụ án, triệu tập nhân chứng mới, thu thập chứng cứ mới, và thực hiện các yêu cầu giám định bổ sung.

21 Chương trình đối tác tư pháp (2012), tlđd (20), tr.102.

22 Điều 43, Điều 44 Hướng dẫn của Bộ Công an về áp dụng pháp luật TTHS Trung Quốc https://tks.edu.vn/ thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142.

23 Chương trình đối tác tư pháp (2012), tlđd (20), tr.102.

24 Điều 43, Điều 45 Luật TTHS Trung Quốc 1996 https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142.

25 Điều 36 Luật TTHS Trung Quốc 1996 https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142.

Bộ Luật TTHS Trung Quốc năm 2012 đã đạt được những tiến bộ đáng kể, đặc biệt trong việc bảo đảm quyền bào chữa cho bị can và bị cáo Các cơ quan tư pháp phải đảm bảo quyền tiếp cận luật sư, và luật sư được chỉ định phải là những người có chuyên môn Cơ sở giam giữ phải sắp xếp cuộc gặp giữa luật sư và người bị tình nghi trong vòng 48 giờ Mặc dù không có quy định về quyền liên lạc bí mật, luật cấm giám sát cuộc gặp giữa họ Trong giai đoạn truy tố, luật sư có quyền tiếp cận tài liệu vụ án và xác minh chứng cứ Tại phiên tòa, luật sư có thể trình bày tài liệu chứng minh sự vô tội hoặc giảm nhẹ trách nhiệm cho bị cáo Một quy định tiến bộ là luật cho phép luật sư can thiệp ở bất kỳ giai đoạn nào nếu quyền tố tụng bị cản trở, và họ có quyền khiếu nại đến cơ quan kiểm sát để xử lý những hành vi cản trở đó.

Luật TTHS Trung Quốc năm 2012, cụ thể là điều 26, đã được đề cập trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 2010 về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, với thông tin chi tiết ở trang 15.

Luật TTHS Trung Quốc năm 2012, cụ thể là điều 37, đã được đề cập trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 2010 về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, trang 16.

Luật TTHS Trung Quốc năm 2012, mục 37, được đề cập trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2010), nhấn mạnh quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam.

Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012, cụ thể là điều 29, đã được nêu trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2010) về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, trang 17.

Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012, mục 38, nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền bào chữa trong hệ thống pháp luật hình sự Báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2010) cũng chỉ ra rằng quyền bào chữa là một yếu tố thiết yếu trong việc đảm bảo công bằng và minh bạch trong quá trình tố tụng tại Việt Nam.

Luật TTHS Trung Quốc năm 2012, cụ thể là điều 31, đã được đề cập trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 2010 về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, trang 17.

Luật TTHS Trung Quốc năm 2012, đặc biệt tại mục 39, đã được phân tích trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc năm 2010 về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam Báo cáo này nhấn mạnh tầm quan trọng của quyền bào chữa trong hệ thống pháp luật, góp phần bảo vệ quyền lợi của bị cáo và đảm bảo công bằng trong quá trình xét xử.

Luật Tố tụng hình sự Trung Quốc năm 2012, cụ thể là Điều 33, đã được đề cập trong báo cáo của Chương trình phát triển Liên hợp quốc (2010) về quyền bào chữa trong pháp luật hình sự và thực tiễn tại Việt Nam, trang 16.

1.4.2 Quyền của người bào chữa theo pháp luật tố tụng hình sự của Cộng hoà liên bang Đức

Cộng hoà liên bang Đức là quốc gia thành viên của Liên minh Châu Âu.

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT

NHU CẦU VÀ BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC HIỆN QUYỀN CỦA NGƯỜI BÀO CHỮA

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
29. Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài (2018), Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Nguyễn Ngọc Anh, Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2018
30. Trần Văn Bảy (2000), Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Bảy
Năm: 2000
31. Bộ Công an (2018), Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nhà xuất bản CAND Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015
Tác giả: Bộ Công an
Nhà XB: Nhà xuất bản CAND
Năm: 2018
32. Chương trình đối tác tư pháp (2012), Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới, Nxb Hồng Đức, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những mô hình tố tụng hình sự điển hình trên thế giới
Tác giả: Chương trình đối tác tư pháp
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2012
34. Lê Huỳnh Tấn Duy (2017), “Bảo đảm hoạt động của người bào chữa ở giai đoạn điều tra vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, (Số 1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm hoạt động của người bào chữa ở giaiđoạn điều tra vụ án hình sự trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015”, "Tạp chíNhà nước và Pháp luật
Tác giả: Lê Huỳnh Tấn Duy
Năm: 2017
35. Phạm Minh Hải (2013), Sự có mặt của người bào chữa tại phiên toà – Lý luận và thực tiễn, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự có mặt của người bào chữa tại phiên toà – Lý luận và thực tiễn
Tác giả: Phạm Minh Hải
Năm: 2013
36. Phan Trung Hoài (2016), Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, sách chuyên khảo, Nxb Chính trị Quốc Gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những điểm mới về chế định bào chữa trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Phan Trung Hoài
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc Gia
Năm: 2016
37. Nguyễn Mạnh Hùng (2006), Thuật ngữ pháp lý, Tập II, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuật ngữ pháp lý
Tác giả: Nguyễn Mạnh Hùng
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2006
38. Hoàng Văn Hướng (2017), “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về thu thập, sử dụng chứng cứ của luật sư bào chữa theo quy định của BLTTHS năm 2015”, Tạp chí Nghề Luật, (số 5) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụngpháp luật về thu thập, sử dụng chứng cứ của luật sư bào chữa theo quy địnhcủa BLTTHS năm 2015”, "Tạp chí Nghề Luật
Tác giả: Hoàng Văn Hướng
Năm: 2017
39. Đào Thị Thu Hương (2009), Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trong tố tụng hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự tham gia bắt buộc của người bào chữa trongtố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Đào Thị Thu Hương
Năm: 2009
40. Võ Thị Kim Oanh (chủ biên) (2016), Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bình luận những điểm mới cơ bản của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015
Tác giả: Võ Thị Kim Oanh (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2016
42. Lương Thị Mỹ Quỳnh (2011), Bảo đảm quyền có người bào chữa của người bị buộc tội – So sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bảo đảm quyền có người bào chữa của ngườibị buộc tội – So sánh giữa luật tố tụng hình sự Việt Nam, Đức và Mỹ
Tác giả: Lương Thị Mỹ Quỳnh
Năm: 2011
43. Nguyễn Quyết Thắng (2015), “Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Cộng hoà liên bang Đức”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, (Số 02) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyền bào chữa trong tố tụng hình sự Cộng hoà liên bang Đức”, "Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
Tác giả: Nguyễn Quyết Thắng
Năm: 2015
44. Lê Anh Thuận (2012), vai trò của người bào chữa trong việc nâng cao tính tranh tụng tại phiên toà hình sự, Khoá luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: vai trò của người bào chữa trong việc nâng cao tínhtranh tụng tại phiên toà hình sự
Tác giả: Lê Anh Thuận
Năm: 2012
45. Nguyễn Cảnh Tuyến (2010), Vai trò của luật sư bào chữa trong gaii đoạn xét xử của vụ án hình sự”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Tp.Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vai trò của luật sư bào chữa trong gaii đoạn xétxử của vụ án hình sự”
Tác giả: Nguyễn Cảnh Tuyến
Năm: 2010
46. Trần Quang Tiệp (2004), Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2004), Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự, luật tố tụng hình sự Việt Nam
Tác giả: Trần Quang Tiệp
Nhà XB: Nxb Chính trị Quốc gia
Năm: 2004
47. Trường Đại học Luật Hà Nội (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản lần thứ 14, có sửa đổi, bổ sung), Nxb Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản lần thứ 14, có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: Nxb Công an nhân dân
Năm: 2018
48. Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh (2018), Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung), Nxb Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Luật tố tụng hình sự Việt Nam (tái bản có sửa đổi, bổ sung)
Tác giả: Trường Đại học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nxb Hồng Đức
Năm: 2018
52. Báo cáo Quốc gia lần thứ nhất về thực thi Công ước của Liên Hiệp Quốc về chống tra tấn và các hình thức đối xử hoặc trừng trị tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ nhục con người, năm 2017 https://attech.com.vn/wp-content/uploads/2018/10/Bao-cao-Quoc-gia.pdf Link
59. Điều 43, Điều 44 Hướng dẫn của Bộ Công an về áp dụng pháp luật TTHS Trung Quốc https://tks.edu.vn/thong-tin-khoa-hoc/chi-tiet/79/142 Link

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w