1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hoá (luận văn thạc sĩ luật học)

72 90 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 800,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa và đề xuất hoàn thiện pháp luật...34 2.1 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm

Trang 1

NGUYỄN THỊ TUYẾT LAN

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH TẾ

TP HỒ CHÍ MINH - 02 - 2020

Trang 2

QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA

Chuyên ngành: Luật Kinh tế

Trang 3

tính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”.

Tác giả luận văn

Nguyễn Thị Tuyết Lan

Trang 4

Công ước Viên 1980 Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua

bán hàng hóa quốc tế

Trang 5

hàng hóa 7

1.1 Khái quát về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1 Khái niệm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 7

1.1.1.2 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro 9

1.1.1.3 Bản chất pháp lý của chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 13 1.1.1.4 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa 14 1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa 18 1.2 Các rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa 22

1.2.1 Các rủi ro và phân loại rủi ro

22 1.2.2 Sự cần thiết của quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa 30 Kết luận Chương 1 33

Chương 2 Thực trạng quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa và đề xuất hoàn thiện pháp luật 34

2.1 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định 35

2.2 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định 46

2.3 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển 50

2.4 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển 54

2.5 Quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong các trường hợp khác 58

Kết luận Chương 2 63

KẾT LUẬN CHUNG 64 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 6

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Hội nhập và phát triển kinh tế đã và đang là xu thế chung nổi bật của các nướctrên thế giới Việt Nam cũng là một quốc gia đang trong quá trình hội nhập với phươngchâm1 “đa dạng hoá, đa phương hoá quan hệ đối ngoại Việt Nam sẵn sàng là bạn củatất cả các nước trong cộng đồng quốc tế, phấn đấu vì hoà bình, độc lập và phát triển”.Theo đó, có thể đánh giá kết quả, thành tựu hội nhập quốc tế của nước ta trên một sốmặt chủ yếu như sau: Việt Nam đã gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á(ASEAN) và chính thức tham gia Khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA), thamgia sáng lập Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM) và được kết nạp vào Diễn đàn hợp táckinh tế Châu Á - Thái Bình Dương (APEC) Việt Nam chính thức trở thành thành viêncủa Tổ chức thương mại thế giới (WTO) Với tư cách là thành viên của các tổ chứckinh tế quốc tế: WTO, ASEAN, APEC, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện đầy đủ, nghiêmtúc các cam kết và tích cực tham gia các hoạt động trong khuôn khổ các tổ chức này.Trong những năm gần đây, thế giới đang được chứng kiến sự gia tăng nhanh chóng củacác Hiệp định thương mại tự do (FTA) để thiết lập các Khu vực thương mại tự do Phùhợp với xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế của thế giới và khu vực, tiến trình đàm phán

và ký kết các FTA của Việt Nam đã được khởi động và triển khai cùng với tiến trìnhgia nhập các tổ chức quốc tế và khu vực Việc gia nhập Công ước Viên năm 1980 vềhợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (Công ước Viên 1980) đánh dấu một mốc mớitrong quá trình tham gia các điều ước quốc tế đa phương về thương mại và tăng cườngmức độ hội nhập, góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật của Việt Nam về mua bánhàng hóa quốc tế và cho các doanh nghiệp Việt Nam một khung pháp lý hiện đại, côngbằng, an toàn để thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế của mình Hội nhậpgiúp Việt Nam có nhiều cơ hội trong hợp tác, đầu tư nhưng cũng đồng thời đem lại chochúng ta nhiều thách thức Nước ta đang ngày càng hội nhập sâu rộng vào nền kinh tếthế giới, quá trình này mang lại cho chúng ta nhiều tích cực như tạo điều kiện thuận lợitrong thị trường xuất nhập khẩu, thu hút nguồn vốn đầu tư nước ngoài, tận dụng được

kỹ thuật khoa học và công nghệ tiên tiến để vận dụng vào quá trình sản xuất kinh doanhcủa mình Bên cạnh những mặt tích cực do quá trình hội nhập mang lại còn có nhữngkhó khăn cho nền kinh tế nước ta, đặc

1Lâm Quỳnh Anh, “Những thành tựu trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam”,

http://www.mofahcm.gov.vn/vi/mofa/nr091019080134/ns120222162217 , truy cập ngày 26/04/2019.

Trang 7

biệt là trong việc thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa Cụ thể, hội nhập kinh tếquốc tế với sự chuyển dịch tự do qua biên giới các yếu tố của quá trình sản xuấthàng hóa tiềm ẩn nhiều rủi ro, trong đó có cả những rủi ro về mặt xã hội, đồng thờihội nhập kinh tế quốc tế đang đặt ra những yêu cầu hết sức cấp bách cho việc bổsung và hoàn thiện thể chế Những thách thức này đòi hỏi chúng ta phải có sự amhiểu thấu đáo về kinh tế thế giới, nỗ lực để hoàn thiện khuôn khổ pháp luật có liênquan đến kinh tế và thương mại Do đó, yêu cầu đặt ra cho pháp luật của mỗi quốcgia cần có những thay đổi phù hợp với pháp luật và thông lệ quốc tế, hướng tới gópphần thực thi pháp luật quốc tế cả về nội dung lẫn hình thức Theo đó, phải liên tụchoàn thiện môi trường kinh doanh để thu hút đầu tư và phát huy mọi tiềm lực của tất

cả các thành phần kinh tế, không ngừng hoàn thiện các quy định về cạnh tranh đểbảo đảm một môi trường cạnh tranh lành mạnh và công bằng khi hội nhập Đặc biệt,ngày 18/12/2018, Việt Nam trúng cử thành viên Ủy ban Luật Thương mại quốc tế(UNCITRAL) cũng tạo cơ hội cho Việt Nam trong việc tăng cường tham khảo, tiếpthu kinh nghiệm quốc tế để hoàn hiện khuôn khổ pháp luật trong nước theo hướngphù hợp với chuẩn mực chung, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, vì mụctiêu phát triển bền vữngViệt Nam ngày càng hội nhập sâu, rộng Vì vậy, Việt Namphải tiến hành những sửa đổi, bổ sung để hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo cơ sởpháp lý, khung pháp lý cho các quan hệ kinh tế hình thành và phát triển

Cùng với quá trình hội nhập thì hoạt động mua bán hàng hóa cũng diễn rangày càng rộng rãi, có sự phát triển mạnh mẽ Khi ký kết hợp đồng mua bán hànghóa, một trong những vấn đề mà các bên hết sức quan tâm là khi nào rủi ro đượcchuyển giao, trách nhiệm của các bên đối với rủi ro được xác định như thế nào LuậtThương mại 2005 đã có nhiều quy định mới và khác so với Luật Thương mại cũ vềthời điểm chuyển rủi ro, vì vậy việc tìm hiểu các nội dung này là điều rất cần thiết

Hoạt động thương mại thường gặp rất nhiều rủi ro, đặc biệt là trong lĩnh vựcmua bán hàng hóa Do đó, một trong những vấn đề quan trọng của các doanh nghiệptrong hợp tác làm ăn với đối tác, đặc biệt là với đối tác nước ngoài là phải có sự hiểubiết và nắm bắt được các quy định của pháp luật thương mại cũng như các tập quánthương mại quốc tế Cụ thể, trong hoạt động mua bán hàng hóa, thời điểm chuyển rủi

ro đối với hàng hóa là nội dung cơ bản hết sức quan trọng mà các thương nhân phảinắm bắt được trong quá trình làm ăn, hợp tác Rủi ro là điều mà các chủ thể trong hoạtđộng mua bán hàng hóa không mong muốn, đó là sự mất mát, hư hỏng của hàng hóaxảy ra bất kỳ lúc nào, ngoài ý chí của các bên trong quá trình thực hiện hợp đồng

Trang 8

Vì vậy, việc làm rõ nội dung của thời điểm chuyển rủi ro là vấn đề có ý nghĩa quantrọng về mặt pháp lý và thực tiễn.

Như vậy, hội nhập kinh tế dẫn đến hoạt động mua bán tiềm ẩn nhiều rủi ro; hộinhập kinh tế phát sinh yêu cầu bổ sung, hoàn thiện pháp luật, tạo khung pháp lý cho cácquan hệ kinh tế hình thành, phát triển Đồng thời, thời điểm chuyển rủi ro là vấn đề tácđộng trực tiếp đến mục tiêu lợi nhuận của các bên khi tham gia hoạt động mua bánhàng hóa, các bên tham gia phải nắm bắt được quy định pháp luật về chuyển rủi ro đểhạn chế rủi ro trong kinh doanh Hơn thế nữa, Luật Thương mại 2005 sau thời gian dài

áp dụng cần được nhìn nhận lại xem có bất cập gì cần phải giải quyết trong mối quan

hệ với các văn bản khác cũng như trong sự phù hợp với thực tiễn

Với những lý do trên, đề tài “Quy định pháp luật về chuyển rủi ro

trong hoạt động mua bán hàng hóa” là cần thiết và cấp bách.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa đã được các luậtgia, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu thể hiện qua các bài viết đăng trên cáctạp chí chuyên ngành cũng như được thể hiện qua các sách chuyên khảo, các luậnvăn Thạc sĩ, có thể kể đến như:

Bài viết “Các trường hợp chuyển rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóatheo Luật Thương mại năm 2005” đăng trên tạp chí Dân chủ và pháp luật số11(260)/2013 của tác giả Bùi Huyền Bài viết xem xét các trường hợp chuyển rủi rophát sinh khi chủ thể tham gia quan hệ mua bán hàng hóa có thỏa thuận, bao gồm:Chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng có địa điểm giao hàng xác định và không

có địa điểm giao hàng xác định; chuyển rủi ro trong trường hợp giao hàng chongười nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển và chuyển rủi ro trongtrường hợp mua bán hàng hóa trên đường vận chuyển Tác giả bài viết chỉ mới phântích nội dung cơ bản quy định pháp luật của một số trường hợp chuyển rủi ro, cóliên hệ Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Incoterms

2010 nhưng chưa đầy đủ Theo đó, tác giả sẽ kế thừa những nội dung mà bài viết đã

đề cập, đồng thời phân tích sâu, bao quát các trường hợp chuyển rủi ro để đưa rađược giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy định pháp luật

Sách chuyên khảo “Luật hợp đồng thương mại quốc tế” của các tác giả DươngAnh Sơn, Lê Thị Bích Thọ, Nguyễn Văn Luyện của nhà xuất bản Đại học Quốc giathành phố Hồ Chí Minh năm 2016; “Giáo trình pháp luật về thương mại hàng hóa vàdịch vụ” của Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, nhà xuất bản Hồng Đức

Trang 9

năm 2014 Các tác giả đã phân tích, làm rõ quy định pháp luật về các trường hợpchuyển rủi ro; đồng thời cũng đã chỉ ra được một số điểm bất hợp lý trong các quyđịnh này Trên cơ sở đó, bằng luận văn này tác giả sẽ làm rõ hơn các vấn đề pháp lýđặt ra và đề xuất giải pháp hợp lý đối với quy định hiện hành về các trường hợpchuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa.

Sách chuyên khảo “Luật Kinh tế” của tác giả Nguyễn Thị Dung và tập thểgiảng viên bộ môn Luật Thương mại Đại học Luật Hà Nội của nhà xuất bản LaoĐộng năm 2017 Các tác giả đã khái quát một cách ngắn gọn về các trường hợpchuyển rủi ro đối với hàng hóa, đồng thời cũng có so sánh quy định chuyển rủi rođối với hàng hóa/tài sản giữa Luật Thương mại 2005 với Bộ luật Dân sự Trên cơ sở

đó, luận văn sẽ đi sâu phân tích nhằm làm rõ hơn những vấn đề này

Luận văn Thạc sĩ Luật “Xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyểnrủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa” của tác giả Phan VănMạnh thực hiện tại Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh năm 2012 Luậnvăn đề cập vấn đề khái quát về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro đốivới hàng hóa, đồng thời cũng chỉ ra một số bất cập, giải pháp trong thực trạng vàđịnh hướng hoàn thiện pháp luật về thời điểm chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi rođối với hàng hóa Tuy nhiên, với đề tài này thì tác giải tập trung làm rõ những vấn

đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa, chỉ ra được chuyểnrủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa khác gì với chuyển rủi ro trong mua bántài sản Đồng thời, phát triển một cách đầy đủ hơn những vấn đề bất hợp lý cũngnhư giải pháp đặt ra đối với quy định về vấn đề này

Luận văn Thạc sĩ kinh tế “Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh xuất nhập khẩu Việt Nam” của tác giả Đinh Ngọc Tuấn thực hiệntại Trường Đại học ngoại thương năm 2004 Luận văn đã làm rõ vấn đề lý luậnchung về rủi ro, tác giả sẽ kế thừa những điều này để làm sáng tỏ những vấn đềchung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Từ những nghiên cứu trên, tác giả chưa tìm thấy có công trình nghiên cứunào đề cập một cách toàn diện và đầy đủ về nội dung “Quy định pháp luật vềchuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa” Đồng thời, ở mỗi giai đoạn, mỗithời điểm thì vấn đề này được nhìn nhận dưới những góc độ, khía cạnh khác nhauphù hợp với bối cảnh xã hội nên việc nghiên cứu đề tài này là cần thiết

3 Mục đích nghiên cứu của đề tài

Trang 10

Luận văn nhằm mục đích đưa ra đề xuất đóng góp hoàn thiện quy định củapháp luật thương mại về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa.

Bên cạnh đó, luận văn tập trung phân tích và làm sáng tỏ các vấn đề lý luận

cơ bản về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa; phân tích, đánh giá cácquy định của pháp luật hiện hành và thực tế áp dụng pháp luật, từ đó đưa ra các giảipháp thống nhất phù hợp với thông lệ quốc tế và tổ chức thực hiện pháp luật vềchuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Để đạt được mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:

Làm rõ những vấn đề cơ bản về rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro trong hoạtđộng mua bán hàng hóa

Phân tích và làm rõ những vấn đề pháp lý về thời điểm chuyển rủi ro trong hoạtđộng mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại 2005, qua đó có so sánh

về thời điểm chuyển rủi ro giữa Luật Thương mại 2005 với Công ước Viên năm 1980

về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, tập quán thương mại quốc tế Incoterms 2010

Từ đó, đánh giá nội dung những quy định của Luật Thương mại 2005 cũng như khảnăng áp dụng của các điều khoản này vào thực tiễn; tìm ra những điểm hạn chế củaLuật Thương mại 2005 để đề xuất bổ sung nhằm hoàn thiện các quy định này

4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu của đề tài và phương pháp nghiên cứu

4.1 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề khái quát về rủi ro, thời điểm chuyển rủi

ro Trong đó chỉ đi sâu nghiên cứu về thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa chứkhông phải với tất cả tài sản theo quy định của Luật Thương mại 2005

Tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hànghóa thông thường chứ không đề cập đến các vấn đề hoạt động mua bán hàng hóaqua Sở giao dịch hàng hóa, bởi lẽ sẽ có những quy chế khác so với hoạt động muabán hàng hóa thông thường để phù hợp với những đặc trưng riêng của nó

Nội dung về thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa được nghiên cứu chủyếu theo Luật Thương mại 2005, tuy nhiên ở một số nội dung cần thiết, các quyđịnh của Công ước Viên năm 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế,Incorterms 2010 về cùng vấn đề cũng được đề cập

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu luận văn đã sử dụng nhiều phương pháp, trong

đó chủ yếu là các phương pháp sau:

Trang 11

Phương pháp phân tích và phương pháp tổng hợp Đây là hai phương phápchủ đạo được sử dụng xuyên suốt trong đề tài Thông qua hai phương pháp này, tácgiả làm rõ các vấn đề mang tính chất lý luận, các quy định của pháp luật hiện hànhcũng như thực tiễn áp dụng các quy định về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bánhàng hóa Ngoài ra, phương pháp tổng hợp cũng được sử dụng cho mục đích tổngkết, khái quát các kết quả của quá trình nghiên cứu đề tài.

Phương pháp so sánh luật được sử dụng ở các tiểu mục của Chương 2 để sosánh và đối chiếu các quy định của Luật Thương mại 2005 với Công ước Viên năm

1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế, Incoterms cũng như liên hệ pháp luậtnước ngoài Qua đó, tác giả đánh giá những quy định tương đồng và có sự thamkhảo, học hỏi những quy định tiến bộ nhằm gợi mở và đưa ra một số kiến nghị hoànthiện pháp luật Việt Nam

Phương pháp phân tích luật sử dụng ở các tiểu mục của Chương 2 nhằm đánhgiá quy định thực định của Luật Thương mại 2005 về chuyển rủi ro trong hoạt độngmua bán hàng hóa

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài mục lục, phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, phần nội dung của luận văn gồm có 2 chương:

Chương 1: Những vấn đề chung về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa và đề xuất hoàn thiện pháp luật

Trang 12

CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CHUYỂN RỦI RO TRONG

HOẠT ĐỘNG MUA BÁN HÀNG HÓA 1.1 Khái quát về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.1.1 Khái niệm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.1.1.1 Khái niệm rủi ro trong hoạt đông mua bán hàng hóa

Rủi ro, theo nghĩa chung nhất được hiểu là điều không tốt, không may bấtngờ xảy đến Đây là cách hiểu thông thường nhất Những gì được coi là rủi ro luônmang lại những điều mà con người không mong muốn

Rủi ro là một thuộc tính bất ổn định của môi trường kinh doanh bao gồm tất

cả những sự kiện có thể dẫn đến thua lỗ hoặc thiệt hại Trong vô vàng nguy cơ dẫnđến thua lỗ, rủi ro thường là những nguy cơ có thể ngăn chặn, né tránh hoặc giảmthiểu hậu quả bất lợi.2 Chẳng hạn, người kinh doanh vận tải nào cũng biết rằng mỗimột lần xe lăn bánh đều tiềm ẩn đủ loại nguy cơ thua lỗ: từ hỏng hóc dọc đường,mưa bão, lũ lụt, hỏa hoạn, vi phạm luật lệ, cho tới tai nạn va đập Trong vô sốnhững nguy cơ thua lỗ đó, những nguy cơ nào có thể phòng hoặc hạn chế, khắcphục được hậu quả thì được gọi là rủi ro, ví dụ hỏng hóc kĩ thuật và va đập là rủi ro

vì chủ xe có thể mang theo phụ tùng thay thế hoặc mua bảo hiểm để hạn chế thiệthại từ các tình huống này.3

Cho đến nay chưa có một định nghĩa thống nhất về rủi ro Những trường pháikhác nhau, các tác giả khác nhau đưa ra những định nghĩa rủi ro khác nhau Nhữngđịnh nghĩa này rất phong phú và đa dạng, nhưng nhìn chung các nghiên cứu về rủi ro

có thể chia thành hai trường phái: trường phái truyền thống và trường phái hiện đại

Theo trường phái truyền thống, rủi ro được xem là tổn thất, mất mát, cụ thể

là sự tổn thất về tài sản hay là sự giảm sút về lợi nhuận thực tế thu được so với lợinhuận đã dự kiến Rủi ro còn được hiểu là những bất trắc xảy ra ngoài ý muốn trongquá trình kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp, tác động xấu đến sự tồn tại và pháttriển của một doanh nghiệp.4

Theo đó, khi rủi ro xảy ra đồng nghĩa với việc chủ thể tiếp nhận nó phải chịumột thiệt hại nhất định Rủi ro gắn với khả năng xảy ra một biến cố không thể lường

2Phạm Duy Nghĩa (2013), Giáo trình Luật kinh tế, Nhà xuất bản Công an nhân dân, tr 399.

3Phạm Duy Nghĩa, tlđd (2), tr 399.

4Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn (2009), Quản trị rủi ro và khủng hoảng, Nhà xuất bản

Lao Động - Xã Hội, tr 29.

Trang 13

trước, biến cố mà ta không mong muốn và hoàn toàn không biết chắc Rủi ro ứngvới sai lệch giữa dự kiến và thực tế hay rủi ro là sự không thể lường trước đượcnguyên nhân dẫn đến kết quả thực khác với kết quả dự đoán.

Theo trường phái hiện đại, rủi ro là sự bất trắc có thể đo lường được Rủi ro

là sự bất trắc có thể liên quan đến việc xuất hiện những biến cố không mong đợi, rủi

ro là một tổng hợp những yếu tố ngẫu nhiên có thể đo lường được xác suất Rủi ro

là giá trị và kết quả mà hiện thời chưa biết đến, rủi ro là sự biến động tiềm ẩn ởnhững kết quả.5

Theo đó, rủi ro có tính hai mặt, nó vừa mang tính tích cực, vừa mang tínhtiêu cực,6 rủi ro có thể mang đến những tổn thất, mất mát nhưng cũng có thể manglại những lợi ích, những cơ hội cho con người Vì vậy, nếu tích cực nghiên cứu rủi

ro, nhận dạng, đo lường rủi ro, quản trị rủi ro thì ta có thể tìm ra những biện phápphòng ngừa, hạn chế rủi ro

Như vậy, rủi ro là một sự kiện xảy ra bất ngờ, gây nên những tổn thất chocon người và tồn tại khách quan Trong hoạt động mua bán hàng hóa rủi ro rất đadạng và phức tạp Đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế, những rủi ro có tính đadạng, phức tạp hơn với mức độ nghiêm trọng hơn so với những rủi ro xảy ra tronghoạt động kinh doanh nói chung.7 Rủi ro trong mua bán hàng hóa là một dạng rủi ro

và nó cũng mang đầy đủ những đặc điểm cơ bản như bất kỳ một loại rủi ro nào Rủi

ro đối với hàng hóa chính là những mất mát hay tổn thất đối với hàng hóa Sự mấtmát của hàng hóa bao gồm các trường hợp hàng hóa không thể được tìm thấy, đã bịđánh cắp hoặc đã được chuyển giao cho người khác Sự tổn thất của hàng hóa baogồm hàng hóa bị phá hủy toàn bộ, sự hư hỏng, giảm sút chất lượng hàng hóa và sựthiếu hụt số lượng của hàng hóa trong quá trình vận chuyển hoặc lưu trữ.8 Tuynhiên, thực tiễn cho thấy một số trường hợp rủi ro khác ngoài sự mất mát hay tổnthất hàng hóa như sự chậm trễ của nhà chuyên chở sau khi người bán chuyển hànghóa cho người chuyên chở, hay các quy định của chính phủ cấm kinh doanh các mặthàng mà hai bên mua bán vẫn được xem là rủi ro đối với hàng hóa.9

5Đoàn Thị Hồng Vân, Kim Ngọc Đạt, Hà Đức Sơn, tlđd (4), tr 30.

6“Rủi ro”, https://vi.wikipedia.org/wiki/R%E1%BB%A7i_ro , truy cập ngày 10/5/2019.

7 Nguyễn Thị Ngọc Huyền (2018), Pháp luật về thời điểm chuyển rủi ro đối với hợp đồng mua bán hàng

hóa quốc tế, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế, tr 8.

8Điều 66 Công ước Viên 1980.

9 Trường Đại học ngoại thương – Trung tâm trọng tài quốc tế Việt Nam (2016), 101 câu hỏi – đáp về Công

ước của Liên hiệp quốc về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế (CISG), Nhà xuất bản thanh niên, tr 176.

Trang 14

Hoạt động mua bán hàng hóa là hình thức quan trọng và phổ biến nhất tronghoạt động thương mại Hoạt động mua bán hàng hóa có vai trò lớn đối với nền kinh

tế của mỗi quốc gia Rủi ro trong mua bán hàng hóa thường dễ nhận thấy và đượccon người quan tâm nhiều nhất Bởi vì, trước hết kinh doanh là một hoạt động manglại lợi nhuận cho các chủ thể và lợi nhuận chính là động lực thúc đẩy các chủ thểkhông ngừng phát triển hoạt động của mình Tuy nhiên, cũng cần nhận thấy rằng,kinh doanh nói chung và kinh doanh quốc tế nói riêng thường có nhiều nhân tố tácđộng, ảnh hưởng và làm gia tăng bất trắc Những bất trắc thường xuyên xảy ra trongmôi trường kinh doanh dẫn đến những sai lệch bất lợi so với kết quả dự tính haymong chờ Khác với một số rủi ro thông thường khác, rủi ro trong mua bán hànghóa thường rất cụ thể và có thể đo lường được Sở dĩ như vậy là vì, khái niệm rủi rotrong mua bán hàng hóa gắn với lợi nhuận và nhiều khi các chủ thể chấp nhận sựmạo hiểm cùng với khả năng xảy ra rủi ro cao để có lợi nhuận kỳ vọng lớn Rủi rotrong mua bán hàng hóa đồng thời cũng rất đa dạng và phức tạp bởi nó chịu nhiềutác động, không những từ nhân tố khách quan bên ngoài mà còn chính từ nội bộ cácchủ thể tham gia, từ chính nền kinh tế trong nước

Tóm lại, rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là một vấn đề hết sức quantrọng cần phải quan tâm tìm hiểu Từ cách hiểu trên, chúng ta có thể đưa ra khái

niệm rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau: Rủi ro đối

với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa là sự mất mát, hư hỏng ảnh hưởng tới giá trị hàng hóa Đây là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bên trong hợp đồng và có thể lường trước được.

Trong quá trình mua bán hàng hóa, các chủ thể có thể gặp phải rất nhiều rủi ro

và một trong những cách thức để các chủ thể giảm nhẹ tổn thất là chuyển dịch rủi ro

1.1.1.2 Khái niệm thời điểm chuyển rủi ro

Rủi ro là gì và bên nào sẽ phải chịu trách nhiệm về nó là một vấn đề rất phứctạp mà cả hai bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa đều quan tâm Lý do là vì tínhchất đặc thù của vấn đề này có thể dẫn đến những hệ quả khó khăn, thậm chí khôngcông bằng và dẫn đến việc người mua vẫn bị buộc phải trả tiền cho hàng hóa ngay

cả khi họ không đánh mất hay gây thiệt hại cho hàng hóa bởi một sự kiện hay nghĩa

vụ liên quan đến mình Bởi vậy, để tránh những hệ lụy đó, các bên thường đưa ranhững thỏa thuận cụ thể trong hợp đồng Mối bận tâm chính của các bên là sựchuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua và liệu có trường hợp nào có thểloại trừ hậu quả của việc chuyển dịch rủi ro

Trang 15

Chuyển dịch rủi ro là một trong những cách thức để các chủ thể giảm nhẹ tổnthất Nếu các bên tham gia hợp đồng tự định liệu cách thức ngăn chặn và phân chiatrách nhiệm gánh chịu rủi ro thì người ta thường nói đến phân chia rủi ro Luật phápcan dự vào quá trình này bằng các quy tắc bắt buộc hoặc quy tắc mặc định (khi cácbên không có thỏa thuận mới áp dụng các quy tắc này) – sự can thiệp này thườngđược gọi là phân bổ rủi ro bởi pháp luật Công ước Viên 1980 và luật pháp một sốnước, trong đó có nước ta, dùng khái niệm “chuyển giao rủi ro”, nhấn mạnh sựchuyển giao trách nhiệm gánh chịu rủi ro cho một bên tham gia hợp đồng.10

Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, người bán và người mua là hai chủ thểcủa hợp đồng, đồng thời là hai chủ thể gánh chịu rủi ro đối với hàng hóa Do đó, sựchuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa là sự chuyển dịch trách nhiệm

về việc gánh chịu tổn thất của hàng hóa từ người bán sang người mua Khi đó,người mua vẫn phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho số hàng hóa bị mất mát hoặc bị

hư hỏng Tuy nhiên, cũng có thể buộc người bán chịu trách nhiệm đối với những tổnthất của hàng hóa nếu chứng minh được sự mất mát hay hư hỏng hàng hóa do hành

vi thiếu trách nhiệm của người bán gây ra

Ngoài ra, sự chuyển dịch rủi ro còn có thể diễn ra giữa người bán hoặc ngườimua cho người vận chuyển hàng hóa, vì trong hợp đồng mua bán hàng hóa, đặc biệt

là mua bán hàng hóa quốc tế, phần lớn việc giao hàng thông qua người vận chuyển,

có rất nhiều hợp đồng mua bán hàng hóa còn chỉ định cả người chuyên chở.11 Tuynhiên, do hợp đồng vận chuyển được ký kết độc lập với hợp đồng mua bán hànghóa và người vận chuyển chỉ chịu trách nhiệm nếu họ có lỗi trong quá trình chuyênchở cho nên trong hợp đồng mua bán hàng hóa không đề cập đến sự chuyển dịch rủi

ro từ người bán hoặc người mua sang người vận chuyển mà chỉ đề cập đến sựchuyển dịch rủi ro từ người bán sang người mua

Từ lúc thiết lập hợp đồng mua bán cho đến khi có sự chuyển giao thực tế chongười mua, hàng hóa có thể phải chịu mất mát hoặc hư hại tại rất nhiều thời điểm,bởi vì hai hoạt động này có thể diễn ra cùng thời điểm nhưng cũng có thể có mộtkhoảng thời gian rất dài giữa hai sự kiện này Trong suốt quá trình đó, luôn luôn tồntại khả năng hàng hóa bị mất mát hoặc hư hại do những lý do đột ngột mà không aimong muốn Kết quả là hàng hóa có thể bị hao hụt, hư hại (khi chúng được đóng gói

10 Phạm Duy Nghĩa, tlđd (2), tr 400.

11 Nguyễn Thị Tuyết Lan (2017), Chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa theo Luật

Thương mại 2005, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 17.

Trang 16

tại kho hàng của người bán, trên đường tới cảng nơi chúng được xuất đi hoặc trongsuốt chuyến vận tải đường biển hoặc từ cảng nhập khẩu đến kho của người mua).Câu hỏi đặt ra là khi nào rủi ro được chuyển dịch sang cho người mua Việc xácđịnh được câu trả lời cho câu hỏi đó có ý nghĩa quyết định rằng bên nào sẽ phải trảtiền cho những thiệt hại đó ngay cả khi bên đó chưa nhận được hàng hoặc nhậnđược hàng hóa trong tình trạng bị hỏng.

Như vậy, khi nói đến chuyển rủi ro, điều các bên hết sức quan tâm là thờiđiểm mà trách nhiệm gánh chịu tổn thất của hàng hóa được chuyển giao, đó là thờiđiểm chuyển rủi ro Thời điểm chuyển rủi ro là một điểm mốc mà sau đó rủi ro đốivới hàng hóa được chuyển giao từ người này sang người khác Có thể rút ra kháiniệm “thời điểm chuyển dịch rủi ro trong mua bán hàng hóa là một mốc thời gian cụthể, nhằm xác định được rủi ro đã được chuyển dịch từ bên bán sang bên mua, theo

đó các bên sẽ dựa vào cột mốc này để phân định quyền và nghĩa vụ của mình khi córủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng”.12

Thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa luôn được quan tâm vì trên thực tế,

có những rủi ro có thể lường trước nhưng không thể nào lường trước hết mọi rủi ro

và khi đó rủi ro xảy ra thì tất yếu dẫn đến thiệt hại cho hàng hóa cũng như các bênliên quan Lúc này việc xem xét trách nhiệm chịu rủi ro thuộc về bên nào có ý nghĩahết sức quan trọng Vì vậy, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa được ghi nhậntrong hệ thống pháp luật của hầu hết các quốc gia Nhìn chung, pháp luật của cácnước đều quy định thời điểm này do các bên thỏa thuận và các quốc gia quy định vềvấn đề này chủ yếu theo các quan điểm sau:13

Quan điểm thứ nhất: quan điểm của các quốc gia áp dụng nguyên tắc của luật La

Mã cổ đại – Perculum est emptoris như Thụy Sỹ, Hà Lan, Nhật Bản và một số nước ởchâu Mỹ La Tinh Theo nguyên tắc này, rủi ro được chuyển từ người bán sang ngườimua từ thời điểm ký kết hợp đồng mà không phụ thuộc vào việc quyền sở hữu đối vớihàng hóa đã chuyển giao cho người mua vào thời điểm đó hay chưa Việc quy định nhưvậy không phù hợp với thực tiễn, có thể dẫn đến trường hợp người mua chưa nhậnđược hàng, chưa sở hữu hàng hóa đã phải gánh chịu rủi ro Bởi lẽ, đối với phần lớn cáchợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế vào thời điểm hợp đồng được ký kết, hàng hóa vẫnnằm trong tay người bán, nằm trong tầm kiểm soát của họ Nếu

12 Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tlđd (7), tr 8.

13 Nguyễn Thị Tuyết Lan, tlđd (11), tr 18.

Trang 17

người mua phải chịu rủi ro từ thời điểm giao kết hợp đồng thì điều này là khó chấpnhận, bởi vì người mua có thể lập luận rằng người bán đã không thực hiện nghĩa vụmột cách cần thiết, từ đó sẽ dẫn đến những tranh chấp nghiêm trọng và tranh tụng.

Quan điểm thứ hai: quan điểm của các nước áp dụng nguyên tắc rủi ro do chủ sởhữu chịu - Res perit domino (như nước Anh) Nguyên tắc này quy định rủi ro đối vớihàng hóa được chuyển sang người mua đồng thời với việc chuyển quyền sở hữu.Nhưng thời điểm chuyển quyền sở hữu theo pháp luật của các quốc gia đó lại được xácđịnh khác nhau Việc quy định như vậy có phần không phù hợp vì quyền sở hữu khôngphải lúc nào cũng gắn với hoặc liên quan đến khái niệm rủi ro Hơn nữa, quan điểm nàykhông lý giải được những thông lệ mới nhất trong mua bán hàng hóa với việc giữ lạiquyền sở hữu, đó là những trường hợp mà người bán vẫn giữ quyền sở hữu trong khingười mua nắm giữ hàng hóa trên thực tế Điều này có nghĩa rằng, người bán sẽ chịurủi ro đối với hàng hóa đã nằm dưới sự quản lý của người mua (cho đến khi quyền sởhữu được chuyển giao cho người mua) Hệ quả này khó mà chấp nhận được đối vớingười bán, do vậy dễ dàng nảy sinh việc kiện tụng

Quan điểm thứ ba: quan điểm của một số nước khác như Nga, Đức, … xácđịnh thời điểm chuyển dịch rủi ro trùng với thời điểm giao hàng, điều này có nghĩa

là bên nào quản lý hàng hóa trên thực tế sẽ phải chịu rủi ro Quan điểm này tỏ rahợp lý và công bằng hơn cả bởi lẽ bên nào chiếm hữu thực tế hàng hóa sẽ ở một vịthế tốt hơn để bảo vệ chúng, thực hiện những biện pháp phòng ngừa cần thiết đểđảm bảo cho sự an toàn của hàng hóa, hoặc tiến hành những biện pháp thích hợp đểbảo vệ chúng sau khi sự kiện gây thiệt hại đã xảy ra, thu gom những hàng hóa cònnguyên vẹn, đánh giá thiệt hại và yêu cầu công ty bảo hiểm chi trả tiền bảo hiểmnếu hàng hóa đã được mua bảo hiểm

Xét thấy rằng, hai vấn đề chuyển quyền sở hữu và chuyển rủi ro trong khoahọc pháp lý thuộc hai phạm trù khác nhau, đó là phạm trù vật quyền và phạm trù tráiquyền.14 Do đó, dù theo quan điểm nào thì thời điểm chuyển quyền sở hữu và thờiđiểm chuyển rủi ro cũng là hai vấn đề quan trọng của hợp đồng Trong đó thời điểmchuyển quyền sở hữu là vấn đề thuộc phạm vi vật quyền nhằm xác định quyền sởhữu của ai, còn thời điểm chuyển rủi ro thuộc phạm vi trái quyền được sử dụng đểphân định trách nhiệm gánh chịu thiệt hại, mất mát đối với hàng hóa của các bên.Xác định rõ được thời điểm này sẽ có ý nghĩa rất quan trọng

14 Nguyễn Ngọc Lâm (2007), Tư pháp quốc tế, Nhà xuất bản Phương Đông, tr 22.

Trang 18

Đối với Việt Nam, trước đây, Luật Thương mại 1997 quy định thời điểmchuyển quyền sở hữu trùng với thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa, theo đóngười mua phải chịu rủi ro đối với hàng hóa trên đường vận chuyển kể từ thời điểmquyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang người mua nếu không phải

do lỗi của người bán hoặc người vận chuyển.15 Tuy nhiên, quy định như vậy là chưaphù hợp, bỡi lẽ trên thực tế quyền sở hữu không phải lúc nào cũng gắn với hoặc liênquan đến khái niệm rủi ro, không phải lúc nào quyền sở hữu đối với hàng hóa cũngđược chuyển từ người bán sang người mua khi người bán thực hiện xong nghĩa vụgiao hàng của mình Hơn nữa, trong một chừng mực nhất định, điều khoản này viphạm nguyên tắc “tự do hợp đồng” của các bên trong việc xây dựng các quy định vềrủi ro có lợi nhất cho mình và trái với pháp luật, tập quán thương mại quốc tế.16 Ví

dụ, theo hợp đồng bán CIF, Incoterms 2000 thì người mua chịu rủi ro kể từ thờiđiểm hàng hóa được giao cho người vận chuyển còn quyền sở hữu đối với hàng hóachỉ được chuyển từ người bán sang người mua tại thời điểm người bán giao chứng

từ liên quan đến hàng hóa cho người mua, bởi lẽ khi nào người bán còn giữ vận đơnchứng từ thì khi đó họ còn có quyền định đoạt số phận của hàng hóa Vì vậy, đếnLuật Thương mại 2005 quy định thời điểm chuyển rủi ro do các bên thỏa thuận,pháp luật chỉ can thiệp khi các bên không có sự thỏa thuận Đây là điều vô cùngquan trọng trong hoạt động mua bán hàng hóa, trong nền kinh tế thị trường khi màviệc mua bán ảnh hưởng rất lớn đến lợi ích kinh doanh của chính các bên trong hợpđồng Theo đó, khi các bên không có thỏa thuận về thời điểm chuyển rủi ro thì LuậtThương mại 2005 quy định thời điểm chuyển rủi ro trong các trường hợp cụ thể chứkhông đưa ra một căn cứ cụ thể Tùy vào từng trường hợp sẽ có thời điểm chuyểnrủi ro khác nhau nhưng các quy định về thời điểm chuyển rủi ro đều có điểm chung

là không gắn thời điểm chuyển quyền sở hữu với thời điểm chuyển rủi ro

1.1.1.3 Bản chất pháp lý của chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Chuyển rủi ro là sự chuyển dịch trách nhiệm về việc gánh chịu tổn thất do rủi ro gây

ra từ người bán sang người mua Để xác định rủi ro đã được chuyển dịch từbên bán sang bên mua căn cứ vào mốc thời gian cụ thể là thời điểm chuyển rủi ro,theo đó các bên sẽ dựa vào cột mốc này để phân định quyền và nghĩa vụ của mìnhkhi có rủi ro xảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Từ thời điểm rủi ro được

15 Điều 76 Luật Thương mại 1997.

16 Lê Hoàng Oanh (2007), Bình luận các vấn đề mới của Luật Thương mại trong điều kiện hội nhập,

Nhà xuất bản Tư pháp, tr 84.

Trang 19

chuyển sang người mua, người mua phải chịu mọi hậu quả của việc hàng hóa bị mấtmát, hư hỏng trong quá trình vận chuyển do những tình huống bất thường Mất máthoặc hư hỏng hàng hóa xảy ra sau thời điểm rủi ro được chuyển cho bên mua khônggiải phóng cho bên mua khỏi nghĩa vụ thanh toán tiền mua hàng, trừ trường hợp việcmất mát hoặc hư hỏng đó là do hành động hoặc sơ suất của bên bán.17 Đồng thời, sauthời điểm này nếu muốn buộc người bán phải chịu trách nhiệm về khuyết tật của hànghóa hay hàng hóa bị thiếu, người mua phải chứng minh được rằng, hàng hóa bị mất máthay hư hỏng trước thời điểm rủi ro được chuyển sang người mua.

Trong hoạt động mua bán hàng hóa, rủi ro được chuyển cho người mua càngsớm càng có lợi cho người bán Việc người mua không thực hiện nghĩa vụ thôngbáo cho người bán; dẫn đến người mua trì hoãn nhận hàng, kéo dài thời điểmchuyển rủi ro so với quy định của hợp đồng mua bán hàng hóa là điều không thểchấp nhận được Do đó, trong một vài trường hợp rủi ro đối với hàng hóa có thểđược chuyển sớm từ người bán sang người mua Đó là khi người mua không thôngbáo cho người bán về người nhận hàng, về địa điểm nhận hàng khi người mua cóquyền này thì sẽ dẫn đến việc di chuyển sớm rủi ro và rủi ro sẽ được di chuyển sangcho người mua kể từ ngày hết thời hạn thỏa thuận hoặc kể từ ngày hết thời hạn nhậnhàng.18 Như vậy, trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, việc dichuyển rủi ro có thể diễn ra sớm hơn dự định thậm chí trước khi giao hàng Đây làmột ngoại lệ nhằm buộc người mua phải có hành động tích cực cũng như tinh thầntrách nhiệm cao trong việc thực hiện hợp đồng, tránh trường hợp người mua khôngchịu tiếp nhận hàng đã được giao đúng quy định hoặc không thực hiện nghiêm túccác thủ tục đã thỏa thuận nhằm tạo điều kiện thuận lợi để người bán giao hàng chomình như không đưa ra các chỉ dẫn về thời gian, địa điểm giao hàng Lúc này, rủi rođược chuyển từ người bán sang người mua theo thời hạn thỏa thuận trong hợp đồngchứ không phụ thuộc vào việc người mua đã nhận hàng trên thực tế hay chưa

1.1.1.4 Ý nghĩa của việc xác định rủi ro, thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa

Trong hoạt động mua bán hàng hóa, lợi nhuận luôn là mục đích hàng đầu màcác bên hướng tới, cho nên một khi có sự mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra thì mụcđích đó khó có thể đạt được Rủi ro là điều mà không ai mong muốn và chuyển rủi ro

17 Điều 66 Công ước Viên 1980.

18 Đặng Văn Được (2006), Hướng dẫn pháp luật hợp đồng thương mại, Nhà xuất bản Lao động, tr 71.

Trang 20

là một vấn đề mà cả người bán hàng và người mua hàng đều quan tâm bởi lẽ nó cóthể ảnh hưởng rất lớn đến việc mua bán và kết quả của giao dịch Các nguyên tắc vềchuyển dịch rủi ro trả lời câu hỏi liệu người mua có buộc phải trả tiền cho hàng hóangay cả khi chúng vô tình bị thiếu hụt hay thiệt hại hoặc liệu người bán có quyềnđòi đủ tiền trong trường hợp đó không? Vì vậy, khi giao kết hợp đồng mua bán hànghóa, các bên cố gắng đưa ra những điều khoản rõ ràng để tránh những sự hiểu nhầm

và việc kiện tụng sau này.19 Quy định về thời điểm chuyển rủi ro nhằm mục đíchgiúp cho các bên có thể tính toán được rủi ro khi nó xảy ra và tìm biện pháp hạn chếthiệt hại do nó gây ra đến mức thấp nhất

Vì vậy, việc xác định thời điểm mà tại đó người bán không còn phải chịutrách nhiệm về rủi ro và người mua bắt đầu phải chịu rủi ro đối với hàng hóa là đốitượng của hợp đồng mua bán hàng hóa vừa có ý nghĩa pháp lý, vừa có ý nghĩa thựctiễn hết sức quan trọng Cụ thể, khi xác định thời điểm chuyển rủi ro đối với hànghóa sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng như sau:

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro giúp xác định được ranh giới trongviệc phân chia trách nhiệm gánh chịu rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hóa giữangười mua và người bán Theo đó, kể từ thời điểm rủi ro được chuyển giao, ngườimua phải tự chịu trách nhiệm trong việc xem xét và áp dụng những biện pháp đểhạn chế đến mức thấp nhất những mất mát hay hư hỏng có thể xảy ra đối với hànghóa của mình Và cũng từ thời điểm đó mọi hậu quả của việc hàng hóa bị mất máthay hư hỏng trong quá trình vận chuyển hoặc bảo quản do những tình huống bấtthường sẽ do người mua gánh chịu Tuy nhiên, nếu người mua chứng minh đượcnhững mất mát, hư hỏng hàng hóa xảy ra trước thời điểm chuyển rủi ro thì ngườimua có thể buộc người bán gánh chịu những tổn thất ấy

Ví dụ 1: Tranh chấp trong hợp đồng mua bán cà phê hạt

Công ty TNHH A (công ty A) ký hợp đồng mua của Công ty TNHH B (công

ty B) 210 tấn cà phê hạt với giá 10.000.000 đồng/tấn vào ngày 01/01/2010 Hợpđồng có hiệu lực kể từ thời điểm ký kết và công ty B sẽ giao hàng tại kho của công

ty A làm 3 đợt, mỗi đợt 70 tấn trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày ký hợp đồng, công

ty A sẽ thanh toán bằng chuyển khoản, ngay sau mỗi đợt nhận hàng

19 “Chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế”, lieu/chuyen-dich-rui-ro-trong-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-601327.html , truy cập ngày 10/5/2019.

Trang 21

https://text.xemtailieu.com/tai-Vào ngày 05/01/2010, sau khi đã gọi điện báo trước, công ty B giao đợt hàngđầu tiên 70 tấn Sau khi nhận hàng công ty A thanh toán cho công ty B theo giá đãthỏa thuận trong hợp đồng Ngày 07/01/2010 công ty B tiếp tục giao 70 tấn của đợt

2 Công ty A từ chối không nhận 70 tấn của đợt 2 với lý do công ty B giao hàngkhông báo trước nên công ty không có kho chứa hàng Ngay đêm đó mưa rất to, dokhông lường trước được tình huống trên, nên công ty B không có phương tiện chechắn, hậu quả 50 tấn cà phê bị ướt và hư hỏng hoàn toàn Trước sự kiện trên, công

ty B cho rằng công ty A đã cố ý gây thiệt hại cho mình, nên không tiếp tục giaohàng đợt 3 Vào ngày 15/01/2010 công ty B gửi công văn cho công ty A với yêu cầucông ty A phải bồi thường thiệt hại đối với lô hàng 70 tấn của đợt 2 theo giá trị hợpđồng đã ký kết, do lỗi không nhận hàng theo thỏa thuận trong hợp đồng dẫn đến càphê bị mưa ướt và hư hỏng hoàn toàn

Có thể thấy rằng, một trong những vấn đề đặt ra trong tình huống này là vấn

đề xác định thời điểm chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa Theo đó, ai

là chủ thể có trách nhiệm gánh chịu tổn thất, thiệt hại đối với hàng hóa bị hư hỏng?

Xét vấn đề chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa để xác định trách nhiệm gánh chịu thiệt hại đối với hàng hóa trong vụ việc trên, thấy rằng:

Về thời hạn giao hàng thì theo quy định tại khoản 2 Điều 37 Luật Thương mại

2005, “trường hợp chỉ có thỏa thuận về thời hạn giao hàng mà không xác định thờiđiểm giao hàng cụ thể thì bên bán có quyền giao hàng vào bất kỳ thời điểm nào trong thời hạn đó và phải thông báo trước cho bên mua”

Căn cứ theo nội dung thỏa thuận trong vụ việc trên, công ty A và công ty B cóthỏa thuận thời hạn giao hàng là 10 ngày chia làm 3 đợt nhưng không xác định thờiđiểm giao hàng cụ thể cho từng đợt giao hàng thì công ty B có quyền giao hàng bất cứthời điểm nào trong thời hạn đó và phải báo trước cho công ty A Tuy nhiên, trườnghợp này công ty B đã vi phạm nghĩa vụ thông báo, nên rủi ro sẽ do công ty B chịu Cụthể, vấn đề xác định thời điểm chuyển rủi ro từ bên bán sang bên mua trong vụ việc nàythuộc trường hợp chuyển rủi ro trong các trường hợp khác theo quy định tại

Điều 61 Luật Thương mại 2005 Khi các bên không có thoả thuận, mặc dù hàng hóathuộc quyền định đoạt của bên mua và bên mua vi phạm hợp đồng do không nhận hàngnhưng rủi ro về mất mát hoặc hư hỏng hàng hoá không được chuyển cho bên mua nếuhàng hóa không được thông báo cho bên mua.20 Như vậy, việc không thông

20 Khoản 2 Điều 61 Luật Thương mại 2005.

Trang 22

báo trước khi giao hàng của công ty B dẫn đến vấn đề rủi ro đối với hàng hóa chưađược chuyển sang cho công ty A Đồng thời, đối với trường hợp này, bên có lỗi là công

ty B và việc số cà phê trên bị ướt vì nước mưa do không có chỗ để không thuộc trườnghợp bất khả kháng được pháp luật quy định để có thể miễn trách nhiệm đối với hành vi

Vì vậy, theo quy định tại Khoản 2 Điều 61 Luật Thương mại 2005 thì công ty B phảigánh chịu thiệt hại của rủi ro đối với lô hàng 70 tấn của đợt 2

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro giúp các bên trong hợp đồng thực hiệnviệc mua bảo hiểm cho hàng hóa của mình Khi rủi ro xảy ra thì thiệt hại đối vớihàng hóa là không nhỏ, vì vậy một khi rủi ro được chuyển giao cho bên nào thì bên

đó có trách nhiệm mua bảo hiểm cho hàng hóa để bù đắp thiệt hại cho mất mát hoặc

hư hỏng hàng hóa của mình

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro cho biết địa điểm chuyển rủi ro, màđịa điểm chuyển rủi ro có vai trò trong việc xác định luật áp dụng cho hợp đồngtrong trường hợp hai bên không thỏa thuận chọn luật áp dụng khi ký kết hợp đồng.Như vậy, xác định thời điểm chuyển rủi ro góp phần xác định nguồn luật áp dụngtrong một số trường hợp nhất định

Ví dụ 2: Tranh chấp trong ba hợp đồng mua bán hàng hóa.21

Bên mua ký ba hợp đồng với bên bán mua cùng một loại sản phẩm theo nhữngquy cách phẩm chất đã quy định trong hợp đồng Theo hợp đồng, bên mua đã thanhtoán 90% giá trị mỗi hợp đồng khi nhận được bộ chứng từ gửi hàng Hàng được giaotheo hợp đồng thứ nhất và thứ ba đạt đúng với quy cách phẩm chất quy định, tuy nhiêncác bên đã có tranh cãi về phẩm chất hàng giao theo hợp đồng thứ hai trước khi hàngđược giao lên tàu Khi tiến hành giám định lô hàng thứ hai tại cảng đến người ta pháthiện rằng hàng không đạt quy cách phẩm chất quy định trong hợp đồng Cuối cùng saukhi đã gia công lại để hàng dễ bán hơn, bên mua đã phải bán lại lô hàng trên cho bênthứ ba với một khoản lỗ khá lớn Theo đó, bên mua từ chối thanh toán 10% giá trị cònlại của các hợp đồng Bên bán đã khởi kiện trước trọng tài đòi được thanh toán số tiền10% trên Trong trường hợp này, trọng tài giải quyết vấn đề về luật áp dụng như sau:Hợp đồng được ký giữa các bên không có điều khoản về luật áp dụng Tuy nhiên, theohợp đồng này thì luật áp dụng sẽ được xác định theo quyết định của các trọng tài viênphù hợp với Điều 13(3) của Quy tắc trọng tài của Phòng Thương

21 Trung tâm Trọng tài quốc tế Việt Nam VIAC (2002), 50 Phán quyết trọng tài quốc tế chọn lọc,

Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 55 – 57.

Trang 23

mại Quốc tế (ICC) Theo Điều này, các trọng tài viên sẽ áp dụng hệ thống luật thựcchất được xác định theo quy phạm luật xung đột mà họ cho là phù hợp để giải quyếttranh chấp Trong trường hợp này, hợp đồng được ký kết giữa các bên thuộc cácquốc tịch khác nhau dưới dạng FOB, theo đó thời điểm chuyển rủi ro là khi hànghóa đã được chuyển qua lan can tàu tại cảng bốc hàng Điều này cho thấy rủi rođược chuyển cho bên mua trên lãnh thổ của bên bán Do đó, nước của bên bán đượccoi là nước có mối liên hệ chặt chẽ nhất với hợp đồng Từ đó, Ủy ban trọng tài xácđịnh luật của bên bán là luật điều chỉnh hợp đồng giữa các bên.

Việc xác định thời điểm chuyển rủi ro có tác động rất lớn đối với quá trìnhthực hiện hợp đồng giữa các bên Hợp đồng được giao kết dựa vào sự thỏa thuậnbình đẳng, tự nguyện Do đó, khi thời điểm chuyển rủi ro được thỏa thuận một cách

rõ ràng trong giao kết hợp đồng thì nếu có rủi ro xảy ra, việc xác định thời điểm này

và chủ thể gánh chịu tổn thất sẽ dễ dàng, nhanh chóng Từ đó, quá trình thực hiệnhợp đồng sẽ diễn ra suôn sẻ, tránh được những cách hiểu khác nhau dẫn đến tranhchấp làm lãng phí thời gian, tiền bạc và ảnh hưởng đến sự hợp tác giữa các bên

Việc xác định thời điểm, địa điểm giao hàng và qua đó xác định thời điểmchuyển rủi ro là cơ sở để các bên xác định giá hàng hóa Trong quan hệ giữa ngườibán và người mua khi thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, rủi ro được chuyểngiao càng sớm càng có lợi cho người bán và ngược lại Theo đó, khi thời điểmchuyển dịch rủi ro diễn ra muộn, phạm vi chịu rủi ro của người bán càng lớn, ngườibán phải mua bảo hiểm để phòng ngừa rủi ro đối với hàng hóa thì lúc này giá hànghóa sẽ cao Còn trong trường hợp thời điểm chuyển dịch rủi ro xảy ra sớm, phạm vichịu rủi ro của người bán thu hẹp, trách nhiệm mua bảo hiểm thuộc về người muathì giá hàng hóa sẽ thấp hơn

1.1.2 Đặc điểm của rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng

Trang 24

trở thành hàng hóa cấm lưu thông hoặc tàng trữ Các biến cố rủi ro là tất yếu và tồntại khách quan, phổ biến, bởi lẽ:

Thứ nhất, rủi ro có thể xuất hiện bất cứ với ai, bất kỳ tổ chức nào và ở bất cứđâu, trong mọi hoạt động của cá nhân và doanh nghiệp

Thứ hai, do con người không đủ khả năng kiểm soát và/hoặc đo lường một cáchchính xác một yếu tố là nguyên nhân của các biến cố Trong thế giới tự nhiên và trong

xã hội con người có nhiều sự vật, hiện tượng mà con người chưa khám phá ra, chưanhận biết hoặc chưa giải thích được Muốn biết được, con người phải trả lời các câuhỏi: nó là gì?, tại sao có nó?, nó xảy ra khi nào và ở đâu?, khi nó xảy ra thì có tác độngđến con người như thế nào? Để trả lời những câu hỏi như vậy con người cần có nhiềukiến thức, có sự hiểu biết đa dạng, phong phú và sâu sắc, cần phải có các nghiên cứunghiêm túc, công phu và lâu dài về cả lý luận và thực tiễn Song thực tế cho thấy rằng ởtrong một thời kỳ nhất định tri thức chung của loài người là có giới hạn không ai có thể

dự đoán đầy đủ và đúng những gì sẽ xảy ra và cũng không ai có kiến thức và kinhnghiệm để giải quyết mọi công việc, mọi tình huống xảy ra

Thứ ba, do con người bị hạn chế trong việc thu thập và xử lý thông tin.Thông tin có hằng ngày, thường xuyên, liên tục với mức độ đa dạng và phức tạp.Mặc dù có nhiều phương tiện hiện đại và phương pháp thu thập thông tin, nhưngcon người không thể nắm bắt hết tất cả các thông tin khác nhau theo đúng nhưmong muốn Mặt khác, việc thu thập thông tin và xử lý thông tin phụ thuộc khánhiều vào năng lực, trình độ của người nhận tin nên với cùng dung lượng và chấtlượng thông tin có người đạt được kết quả mong muốn và cũng có người không đạtđược kết quả mong muốn Thậm chí, trong nhiều tình huống có những thông tin sai,gây nhiễu cho việc xử lý thông tin làm cho con người ra quyết định không phù hợp

và kết cục là phải gánh chịu những tổn thất khó lường

- Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là một biến cố không mong đợi,mang tính bất ngờ vì chẳng có chủ thể nào khi tham gia hoạt động mua bán hànghóa mà mong muốn rủi ro xảy ra đối với mình, đồng thời rủi ro xảy đến một cáchngẫu nhiên và chúng ta không biết trước chính xác, rõ ràng về thời gian, địa điểmxảy ra rủi ro

- Thiệt hại mà rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa manglại luôn là thiệt hại vật chất, đó là sự hư hỏng, mất mát đối với hàng hóa Tất cả cácđiều khoản quy định thời điểm chuyển rủi ro trong Luật Thương mại 2005 đều đề cậpđến rủi ro là mất mát, hư hỏng hàng hóa, trong đó hàng hóa là tài sản bao gồm

Trang 25

tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất.22

- Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có tính bất

định.23 Nghĩa là chỉ có thể lường trước được rủi ro nhưng không thể đánh giá một cáchchính xác về mức độ của rủi ro và khi nào rủi ro xảy ra Hay nói cách khác tính có thểlường trước được đối với rủi ro về hàng hóa trong hợp đồng mua bán không phải ở chỗxác định chính xác các yếu tố của rủi ro về loại sự cố, mức thiệt hại, thời gian và địađiểm xảy ra rủi ro mà lường trước ở đây là sự dự trù đối với hàng hóa như vậy, chặngđường vận chuyển, đối tác như thế thì có thể xảy ra những vấn đề gì làm mất mát, hưhỏng hàng hóa và xảy ra ở mức độ nào mà thôi Như vậy, các bên tham gia hoạt độngmua bán hàng hóa có thể đo lường được rủi ro thông qua việc đánh giá về mức độ tầnsuất và hậu quả của rủi ro Tần suất xảy ra có nghĩa là rủi ro có xảy ra hay không, nóđược thể hiện bằng xác suất hoặc khả năng xuất hiện của biến cố Hậu quả của rủi ro làmỗi lần rủi ro xảy ra có lớn hay không, lớn bao nhiêu, tính chất nguy hiểm và mức độthiệt hại như thế nào Theo đó, khi xem xét rủi ro người ta thường xem xét đến khảnăng chắc chắn hay không chắc chắn xảy ra của rủi ro và mức độ

hậu quả khi rủi ro đó xảy ra.24 Xác định được kỹ hai yếu tố này chúng ta có thể tìm

ra biện pháp để giảm thiểu rủi ro, đặc biệt đối với trường hợp rủi ro tần suất lớn vàbiên độ lớn Tuy nhiên, sự lường trước đó cũng chỉ mang tính ước lượng, dự đoánchứ không chính xác, rõ ràng đối với những biến cố có thể xảy đến Do vậy, rủi ro

là một sự không chắc chắn về những tổn thất có thể xảy ra trong tương lai

- Rủi ro trong mua bán hàng hóa có tính tương lai vì khi bàn đến rủi ronghĩa là nó chưa xảy ra, con người chỉ dự đoán, đo lường trước trong tương lai, ởthời điểm ta dự báo rủi ro chưa xảy ra

- Rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa là nguy cơ tiềm

ẩn không mang tính chắc chắn Hay nói cách khác rủi ro có tính khả năng.25 Khi nóiđến rủi ro, người ta phải đề cập đến tính khả năng của rủi ro nghĩa là nó có thể trởthành hiện thực hoặc không, khả năng rủi ro có thể biến thành thế này hay thế khác, chỉ

có thể dự đoán nó xảy ra hay không trong giới hạn thời gian và không gian, nó có

22 Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại 2005.

23 Đinh Ngọc Tuấn (2004), Rủi ro và các giải pháp hạn chế rủi ro trong hoạt động kinh doanh

xuất nhập khẩu Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ kinh tế, Trường Đại học ngoại thương, tr 20.

24 “Khái niệm chung về rủi ro”, https://luanvanaz.com/khai-niem-chung-ve-rui-ro.html , truy cập ngày 20/04/2019.

25 Đinh Ngọc Tuấn, tlđd (23), tr 21.

Trang 26

khả năng xảy ra nhưng cũng có thể không xảy ra Cụ thể, rủi ro là một sự việc, mộthành động hoặc một hiện tượng có thể xảy ra và có thể gây ra những thiệt hại, điềunày phụ thuộc vào các yếu tố làm nảy sinh, tác động đến nó Theo đó, rủi ro đối vớihàng hóa phụ thuộc vào ngữ cảnh, chỉ tác động đến những chủ thể có liên quantrong hoạt động mua bán hàng hóa còn đối với chủ thể không có liên quan đến các

sự kiện xảy ra thì họ không gặp rủi ro Ví dụ: sự kiện trời mưa chỉ gây rủi ro đối vớicác bên đang thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa ngoài trời chứ việc trời mưanày không ảnh hưởng đến những người đang ở trong nhà Nếu rủi ro không có tínhkhả năng thì bảo hiểm không ra đời và không ai phải lo sợ trước rủi ro

- Trong hợp đồng mua bán hàng hóa, điều kiện để rủi ro đối với hàng hóa đượcchuyển giao từ người bán sang người mua là loại hàng hóa không đặc định phải

được cá biệt hóa cho mục đích của hợp đồng Hành vi cá biệt hóa hàng hóa được quy

định trong hợp đồng là việc xếp hàng hóa vào nơi riêng biệt, đóng gói, đánh dấubằng ký hiệu, mã hiệu hay những hành vi khác có mục đích đưa hàng hóa vào tìnhtrạng có thể giao cho người mua như là hàng đặc định

Tóm lại, rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động mua bán hàng hóa có nhữngđặc tính khách quan, bất ngờ, nằm ngoài sự mong đợi của các chủ thể, có thể lườngtrước được và thiệt hại nó mang lại luôn là thiệt hại vật chất Với những đặc tínhnhư vậy cùng với sự phức tạp của hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt là mua bánhàng hóa quốc tế thì các bên trong hợp đồng rất quan tâm xác định rủi ro là gì cũngnhư trách nhiệm của họ đối với rủi ro Việc nghiên cứu về các đặc trưng này giúpcho các chủ thể có cở sở rõ ràng để thống kê những rủi ro và mức độ thiệt hại củarủi ro đó cho mình, từ đó có thể đưa ra phương án để phòng tránh, giảm thiểu tổnthất của rủi ro

Từ những đặc trưng, bản chất của rủi ro đối với hàng hóa trong hoạt động muabán hàng hóa, tác giả thấy rằng cần phân biệt rủi ro với sự kiện bất khả kháng – vấn đềkhông liên quan đến vấn đề phân bổ rủi ro Thuyết về sự kiện bất khả kháng loại trừtrách nhiệm về sự mất mát của bên gây thiệt hại do không làm tròn nghĩa vụ bởi

một sự trở ngại nằm ngoài tầm kiểm soát của họ.26 Về cơ bản, sự kiện bất khả kháng đểgiải phóng một hay các bên ra khỏi các trách nhiệm pháp lý hay các nghĩa vụ khi có sựkiện, tình huống bất thường ngoài tầm kiểm soát của các bên xảy ra và sự việc

26 Sylvain Bollée, “The Theory of risks in the 1980 Vienna Sale of Goods

Convention”, http://www.cisg.law.pace.edu/cisg/biblio/bollee.html , truy cập ngày

10/5/2019.

Trang 27

đó ngăn cản một hay các bên hoàn thành nghĩa vụ của mình trong hợp đồng Tuynhiên, nói như vậy không có nghĩa là bất khả kháng nhằm mục tiêu bào chữa chocác sơ suất hay hành vi phi pháp của các bên, chẳng hạn như việc không thực hiệnnghĩa vụ là do các hậu quả thông thường (ví dụ ngừng một sự kiện diễn ra ngoài trời

do một trận mưa đã được dự báo) hoặc khi các hoàn cảnh can thiệp vào việc thựchiện hợp đồng đã được dự tính một cách rõ ràng Mà về mặt nguyên tắc chung, sựkiện bất khả kháng là sự kiện khách quan xảy ra sau khi ký hợp đồng, không do lỗicủa các bên trong hợp đồng và là sự kiện mà các bên trong hợp đồng không thể dựđoán và khống chế được

Như vậy, bất khả kháng là sự kiện khách quan không thể lường trước, khôngthể khắc phục được và hậu quả pháp lý là bên gặp sự kiện bất khả kháng có thểđược miễn trách nhiệm một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc phátsinh từ hợp đồng Trong khi đó rủi ro là sự kiện có thể lường trước hoặc không, gâyhậu quả cho bên gặp sự kiện rủi ro nhưng bên gặp sự kiện rủi ro không được miễntrách nhiệm thực hiện nghĩa vụ hợp đồng mà hoàn toàn gánh chịu những hậu quảbất lợi do rủi ro gây ra

1.2 Các rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa

1.2.1 Các rủi ro và phân loại rủi ro

Mua bán hàng hoá là một trong những hoạt động thương mại, theo đó bên bán

có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanhtoán; còn bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữuhàng hóa theo thỏa thuận.27 Hoạt động mua bán hàng hóa mang tính phức tạp vì muabán hàng hóa, đặc biệt là mua bán hàng hóa quốc tế có các bên tham gia thường lànhững chủ thể có quốc tịch khác nhau, có sự xa cách về mặt địa lý, sự khác biệt vềtruyền thống pháp luật, tập quán thương mại và chính sách kinh tế đối ngoại, có sựkhác biệt về ngôn ngữ, đồng thời lại thiếu hiểu biết và sự tin cậy lẫn nhau hơn so vớicác bên cùng trong nước.28 Trong những sự khác nhau này thì sự khác biệt về các chếđịnh pháp luật là khó khăn, trở ngại lớn nhất của hoạt động mua bán hàng hóa, bởi lẽpháp luật của các nước khác nhau có quy định rất khác nhau về địa vị pháp lý của cácchủ thể tham gia, khác nhau trong các quy định về hợp đồng, về thuế quan, thủ tụcxuất, nhập khẩu, thậm chí thẩm quyền xét xử cũng khác nhau

27 Khoản 1 Điều 3 Luật Thương mại 2005.

28 Nguyễn Vũ Hoàng (2001), Những khía cạnh kinh tế và luật pháp về bảo hiểm hàng hóa vận chuyển bằng

đường biển trong thương mại quốc tế, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr 9.

Trang 28

Hoạt động mua bán hàng hóa là một hoạt động phức tạp, nó tiềm ẩn rất nhiềurủi ro Rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa là vấn đề luôn được quan tâm Rủi

ro đó có thể là những sự cố như thiên tai hoặc tai nạn bất ngờ, chẳng hạn trongchuyến hải trình, tàu vận chuyển có thể gặp nhiều rủi ro nghiêm trọng liên quan đếntai nạn biển như tàu bị mắc cạn, cháy, chìm hoặc gặp thời tiết khắc nghiệt (bão, gióxoáy, biển động, … gây lật tàu hoặc làm vỡ thân tàu, hư hại máy móc… từ đó gây

ra những tổn thất cho hàng hóa…); rủi ro do tính chất của hàng hóa (bông gòn, đay,thuốc nổ… gặp thời tiết nóng bức có khả năng tự phát cháy); rủi ro do lỗi lầm củacon nguời (đóng hàng không chắc chắn, tạo ra vật cản làm rách bao hàng, bốc xếphàng làm va đập) …

Trong quá trình mua bán hàng hóa, các doanh nghiệp có thể gặp phải rấtnhiều rủi ro, căn cứ vào nguồn gốc phát sinh thì những rủi ro này có thể chia thànhhai nhóm cơ bản sau:29

- Rủi ro phát sinh do sự thay đổi môi trường kinh doanh

- Rủi ro phát sinh từ quá trình thực hiện các nghiệp vụ mua bán hàng hóa.Nói cách khác, nguyên nhân của rủi ro bao gồm do các yếu tố khách quan vàchủ quan:

Rủi ro do các yếu tố khách quan là rủi ro xảy ra ngoài ý muốn của con người

và không thể lường trước hay kiểm soát được Đây thường là những nguyên nhânxảy ra từ môi trường tự nhiên như: động đất, cháy nổ, gió, mưa, bão lụt, hạn hán…,rủi ro do khủng hoảng kinh tế hoặc có nguồn gốc từ chính sách kinh tế và điều hành

vĩ mô của chính phủ

Rủi ro do các yếu tố chủ quan là loại rủi ro do hành vi trực tiếp từ con người

Ví dụ, hệ thống pháp luật luôn thay đổi, thể chế chính trị không ổn định, quyết địnhmột chính sách quản lý vĩ mô lệch hướng hay trực tiếp nhất là hành vi của conngười trong quá trình đóng gói, vận chuyển, bảo quản hàng hóa không đảm bảo gâytác động dẫn đến rủi ro trong mua bán hàng hóa

Ngoài ra, có những thiệt hại do chính hàng hóa đó tạo ra Đó là trường hợp rủi

ro xảy ra do bản chất của hàng hóa như: bột hay bị lên men, ngũ cốc hay bị mốc mọt,sắt thép hay bị rỉ sét Đây là hiện tượng tự nhiên xảy ra khi hàng hóa tiếp xúc với môi

29 Nguyễn Thị Ngọc Huyền, tlđd (7), tr 8.

Trang 29

trường bên ngoài, những hư hại này không cần có nguyên nhân bên ngoài tác độngvào mà tự chính nó gây ra Ví dụ dưới đây là một minh chứng30:

Bên mua ký hợp đồng mua của bên bán 1000 MT ammonium sulphate Khihàng được dỡ lên cảng chặng 2 chuyển đi thì rất nhiều bao hàng bị bục, rách trongđiều kiện hết sức rồi tệ Thuyền trưởng được trao thư bảo đảm miễn mọi tráchnhiệm và xếp hàng lên tàu Bên mua nhận được hàng hóa trong tình trạng giao thiếu

và bao bì không đảm bảo làm hàng hóa bị đổ vãi Bên bán và người bảo hiểm đùnđẩy trách nhiệm cho nhau nên bên mua đã kiện ra trọng tài

Giám định viên kết luận do tác động ăn mòn của ammonium sulphate nênbao bì bị rách vỡ trong quá trình chất xếp, làm hàng Như vậy, bao bì bị hư hại dotính chất ăn mòn của hàng hóa đóng trong bao bì đó, nghĩa là tổn thất tự xảy ra donội tì của hàng hóa Do vậy, người bảo hiểm từ chối bảo hiểm Đồng thời, Hội đồngtrọng tài kết luận bên bán đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ theo điều kiện CIF quy địnhtrong hợp đồng Theo đó, bên bán chỉ đảm bảo hàng hóa vào lúc xếp hàng lên tạicảng xếp hàng Ngoài ra, không chứng minh được lỗi của bên bán nên Hội đồngtrọng tài bác đơn kiện của bên mua và bên bán không phải chịu thiệt hại này

Như vậy, xuất phát từ tính chất phức tạp của hoạt động mua bán hàng hóanên các chủ thể tham gia vào hoạt động này thường gặp nhiều rủi ro khi có vô sốcác yếu tố có thể nảy sinh làm cho các bên gặp phải những sự kiện ngoài dự tính vàgánh chịu những thiệt hại Vì vậy, việc phân loại, phân tích các rủi ro thường gặpkhi tham gia vào hoạt động mua bán hàng hóa là rất cần thiết Điều này là nguyêntắc cơ bản giúp chúng ta vượt qua những rủi ro mà mình gặp phải, có những hànhđộng cần thiết để giảm thiểu những ảnh hưởng bất lợi đến kế hoạch kinh doanh.Đồng thời cũng giúp đi đến quyết định rằng liệu những chiến lược được sử dụng đểkiểm soát rủi ro có cân đối giữa chi phí và hiệu quả mang lại hay không

Như đã trình bày, có rất nhiều loại rủi ro và ngày càng xuất hiện thêm nhiềuloại rủi ro mới, phức tạp hơn trước Để phân loại rủi ro người ta sử dụng nhiều tiêuchí khác nhau Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tác giả chỉ trình bày một sốcách phân loại rủi ro truyền thống

Căn cứ vào nguồn gốc rủi ro

Căn cứ vào nguồn gốc rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro động và rủi ro tĩnh

30 Trần Hữu Huỳnh (2007), Các quyết định trọng tài quốc tế chọn lọc, Nhà xuất bản Tư pháp,

Quyết định số 32, tr 75.

Trang 30

- Rủi ro động là những rủi ro luôn bắt nguồn từ sự thay đổi một yếu tố, đặcbiệt là thay đổi trong nền kinh tế Đó là những rủi ro mà hệ quả của nó có thể mangđến sự tổn thất nhưng cũng có thể có lợi Ví dụ: sự thay đổi của pháp luật dẫn đếnthủ tục xuất, nhập khẩu hàng hóa là đối tượng của hợp đồng mua bán có thể dễ dànghơn hoặc hàng hóa trở thành đối tượng cấm lưu thông.

- Rủi ro tĩnh là loại rủi ro không chịu sự ảnh hưởng của những sự thay đổitrong nền kinh tế hay nói cách khác rủi ro tĩnh không bắt nguồn từ sự thay đổi củamột yếu tố nào và hậu quả của nó là sự xuất hiện tổn thất hoặc ít nhất là không bịtổn thất chứ không mang lại lợi ích cho các chủ thể Những rủi ro tĩnh thường liênquan đến các đối tượng về tài sản, con người Trong đó, rủi ro về mặt hàng hóa làmột dạng rủi ro tĩnh mà các bên thường xuyên gặp phải khi tham gia hoạt động muabán hàng hóa

Tóm lại, rủi ro động khi xảy ra luôn gắn liền với sự thay đổi và có thể manglại lợi ích nên khi sự kiện rủi ro xuất hiện thì có thể không xuất hiện tổn thất, thiệthại cho bên gặp phải sự kiện này Trong khi đó, khi gặp sự kiện nhất định có ảnhhưởng tiêu cực thì rủi ro tĩnh sẽ xảy ra nhưng không bao giờ mang lại lợi ích chobên gặp sự kiện rủi ro Như vậy, khả năng xảy ra thiệt hại, tổn thất đối với rủi rotĩnh cao hơn rủi ro động Đồng thời, nguồn gốc của hai loại rủi ro này rất khác nhau,một cái là kết quả của sự thay đổi còn cái còn lại xuất phát từ những yếu tố tác độngtrực tiếp Do đó, khi sử dụng các biện pháp phòng ngừa rủi ro trong hoạt động muabán hàng hóa các bên cần loại bỏ nguyên nhân dẫn đến rủi ro tĩnh, có biện pháp hạnchế rủi ro tĩnh còn đối với rủi ro động thì phải có sự tìm hiểu, nghiên cứu kỹ các yếu

tố làm phát sinh rủi ro để có quyết định mang lại hiệu quả cao nhất trong việc thựchiện hoạt động mua bán hàng hóa

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro

Căn cứ vào phạm vi ảnh hưởng của rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro cơ bản và rủi

ro riêng biệt

- Rủi ro cơ bản là những rủi ro phát sinh từ nguyên nhân ngoài tầm kiểmsoát của mọi người Hậu quả của rủi ro cơ bản thường rất nghiêm trọng, khó lường,

nó tác động trên một vùng rộng lớn hay tất cả dân số, có ảnh hưởng tới cộng đồng

và toàn xã hội Ví dụ: lạm phát, khủng hoảng kinh tế, chiến tranh, động đất

- Rủi ro riêng biệt là loại rủi ro xuất phát từ các biến cố chủ quan và kháchquan của từng cá nhân, tổ chức Loại rủi ro này phát sinh từ một số các hiện tượng cábiệt nên nó chỉ ảnh hưởng đến lợi ích của từng cá nhân hoặc tổ chức Nếu xét về hậu

Trang 31

quả đối với một chủ thể thì có thể rất nghiêm trọng nhưng không ảnh hưởng nhiềuđến nền kinh tế xã hội Ví dụ: cháy nổ, bị cướp, rủi ro thanh toán, đắm tàu.

Như vậy, rủi ro cơ bản có mức độ ảnh hưởng nghiêm trọng hơn so với rủi roriêng biệt Hơn nữa, rủi ro cơ bản lại xuất phát từ những nguyên nhân khách quancon người không thể kiểm soát, lường trước được nên đối với rủi ro cơ bản thì cácbên trong hợp đồng mua bán hàng hóa cần tăng cường công tác dự báo rủi ro và cónhững biện pháp hiệu quả nhằm giảm thiểu tổn thất sau khi rủi ro đã xảy ra Ngượclại, rủi ro cá biệt thì con người có thể dự báo, lường trước được và rủi ro này tácđộng đến từng chủ thể nên trong trường hợp này các bên có thể phòng ngừa rủi robằng cách mua bảo hiểm hàng hóa trong hợp đồng

Căn cứ vào tính chất của rủi ro

Căn cứ vào tính chất của rủi ro, rủi ro bao gồm rủi ro thuần túy và rủi ro suyđoán

- Rủi ro suy đoán là loại rủi ro vừa có thể mang lại tổn thất nhưng cũng có thểmang lại lợi ích Đây là loại rủi ro gắn liền với khả năng thành bại trong hoạt động kinhdoanh Rủi ro suy đoán bao gồm rủi ro do sự thay đổi thị hiếu của khách hàng, rủi ro dolạm phát, rủi ro do điều kiện không ổn định của thuế, rủi ro do thiếu thông

tin, rủi ro do tình hình chính trị bất ổn.31 Trong đó, rủi ro về mặt chính trị là loại rủi

ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa

- Rủi ro thuần túy là loại rủi ro chỉ gây ra những thiệt hại, mất mát, nguy hiểm

và nó làm phát sinh một khoản chi phí để bù đắp thiệt hại Ví dụ: lụt bão, sóng thần,hỏa hoạn, động đất, khủng hoảng kinh tế Rủi ro thuần túy bao gồm rủi ro cá nhân,

rủi ro về tài sản, rủi ro pháp lý, rủi ro phát sinh do sự phá sản của người khác.32 Như

vậy, tùy vào loại rủi ro có tính chất như thế nào mà các chủ thể sẽ có

những chiến lược quản lý rủi ro khác nhau Đối với rủi ro suy đoán thì rủi ro và cơ hội

là hai mặt đối lập nhưng thống nhất trong một sự kiện, một thực thể Trong kinh doanh,con người đều mong muốn được thụ hưởng cơ hội và tránh được sự rủi ro của thực thểthống nhất đó Nhưng không có cơ hội và rủi ro cho tất cả, thường một biến cố nào đónếu là cơ hội cho người này thì sẽ trở thành rủi ro đối với một người khác

31 Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”,

http://docview1.tlvnimg.com/tailieu/2014/20140515/red_12/qtrr_ktluat_intailieu_0624.pdf , truy cập ngày 13/5/2019.

32 Nguyễn Hải Quang, “Quản trị rủi ro”,

http://docview1.tlvnimg.com/tailieu/2014/20140515/red_12/qtrr_ktluat_intailieu_0624.pdf , truy cập ngày 13/5/2019.

Trang 32

Do đó, khi gặp rủi ro suy đoán thì các bên chủ động lựa chọn việc có tham gia hoạtđộng mua bán hàng hóa hay không Tuy nhiên, đối với rủi ro thuần túy thì cần phải

có biện pháp phòng tránh hoặc hạn chế vì rủi ro này mang tính khách quan, khôngphụ thuộc vào ý chí của các bên và bao giờ cũng gây ra tổn thất Nếu có thể thì loại

bỏ rủi ro thuần túy trước khi xảy ra bằng cách không ký kết hợp đồng mà đi tìm mộtđối tác khác để thực hiện hoạt động mua bán hàng hóa

Tóm lại, mỗi loại rủi ro có khả năng xảy ra và mức độ ảnh hưởng khác nhaunên tương ứng với từng loại rủi ro sẽ phải có biện pháp phòng ngừa phù hợp Tronghoạt động mua bán hàng hóa, để thực hiện một thương vụ cần qua nhiều giai đoạnbao gồm nghiên cứu thị trường để lựa chọn khách hàng, đàm phán, ký kết hợp đồng

và tổ chức thực hiện hợp đồng Trong đó quan trọng nhất là giai đoạn thực hiện hợpđồng bởi vì quá trình này của hoạt động mua bán hàng hóa rất phức tạp và tiềm ẩnnhiều rủi ro Đặc biệt, đối với một số rủi ro mà các chủ thể thường xuyên gặp phảitrong hoạt động mua bán hàng hóa thì khi tham gia vào hoạt động này các bên nên

có sự xem xét, nghiên cứu để nhận dạng rủi ro, dự báo được những rủi ro có thể xảy

ra cũng như giải quyết trách nhiệm gánh chịu thiệt hại do rủi ro xảy ra giữa các bêntrong quá trình thực hiện hợp đồng nhằm ngăn ngừa các thiệt hại phát sinh từ hợpđồng, tối đa hóa lợi ích cho các bên trong kinh doanh Dưới đây, tác giả đề cập một

số rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa như sau:

Rủi ro về mặt pháp lý: Yếu tố pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động của

doanh nghiệp, gây ra những rủi ro cho doanh nghiệp Đặc biệt, trong kinh doanh quốc

tế môi trường luật pháp rất phức tạp, bởi vì chuẩn mực luật pháp của các nước khácnhau là khác nhau Theo đó, quy định pháp luật của các quốc gia liên quan đến các vấn

đề trong hoạt động mua bán hàng hóa như quyền sở hữu tài sản, mức thuế xuất, nhậpkhẩu, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng tất yếu sẽ khác nhau Mặt khác,môi trường pháp lý luôn có sự biến động, nếu các doanh nghiệp không có sự am hiểu

và nắm bắt kịp thời những thay đổi của pháp luật thì những biến động này có thể gây rathiệt hại cho các doanh nghiệp Rủi ro pháp lý là những rủi ro phát sinh từ việc tuân thủpháp luật, thay đổi pháp luật, áp dụng pháp luật của doanh nghiệp Rủi ro này xuất phát

từ sự thiếu hiểu biết về môi trường pháp lý hoặc do biến động của môi trường pháp lý.Những rủi ro pháp lý có thể gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa, đặc biệt làmua bán hàng hóa quốc tế đó là: rủi ro liên quan đến các quy định về xác lập quyền vàchuyển dịch quyền sở hữu, quyền quản lý hàng hóa theo pháp luật; rủi ro liên quan đếnviệc doanh nghiệp bị kiện chống bán phá giá và

Trang 33

mức thuế chống bán phá giá bị áp dụng khi thực hiện xuất, nhập khẩu hàng hóa; rủi

ro về các rào cản thương mại và rủi ro liên quan đến các vấn đề sở hữu trí tuệ đốivới hàng hóa Để tránh rủi ro về mặt pháp lý, các chủ thể tham gia hoạt động muabán hàng hóa phải thông hiểu chế độ luật pháp không chỉ của quốc gia họ mà còncủa quốc gia nơi họ sẽ tiến hành hoạt động mua bán Điều này sẽ giúp các bên cónhững quyết định cụ thể, linh hoạt, mềm dẻo trong hoạt động mua bán hàng hóa đểtuân thủ pháp luật trong kinh doanh đồng thời hạn chế được tranh chấp xảy ra

Rủi ro về mặt hàng hóa: Với tính đặc thù của hoạt động mua bán hàng hóa là

hàng hóa phải được vận chuyển với khoảng cách từ nơi bán đến nơi mua nên chủthể kinh doanh rất dễ gặp dạng rủi ro này Rủi ro về mặt hàng hóa là sự mất mát, hưhỏng hàng hóa, đây là sự kiện khách quan, nằm ngoài sự mong đợi của các bêntrong hợp đồng và có thể lường trước được Rủi ro đối với hàng hóa có thể donhững sự kiện thiên nhiên gây ra hoặc do quá trình vận chuyển hàng hóa gây nên

mà khi thực hiện việc giao hàng người bán đã hoàn thành nghĩa vụ của mình Ngoài

ra, những thiệt hại do chính hàng hóa đó tự gây ra – những hư hại thuộc về bản chấthàng hóa như bột hay lên men, ngũ cốc hay bị sâu mọt, sắt thép hay rỉ sét cũng đượccoi là rủi ro đối với hàng hóa Trên cơ sở hiểu biết về nguồn gốc của rủi ro đối vớihàng hóa, các bên tham gia hoạt động mua bán hàng hóa có thể dự báo được rủi roxảy ra trong quá trình thực hiện hợp đồng Từ đó, khi tiến hành giao kết hợp đồngmua bán các bên sẽ có những thỏa thuận phù hợp liên quan đến việc xác định thờiđiểm chuyển rủi ro hàng hóa nhằm tránh phát sinh tranh chấp khi có thiệt hại xảy ra

Rủi ro về mặt chính trị: Chính phủ ở các quốc gia khác nhau sẽ có mô hình tổ

chức khác nhau, đồng thời mỗi Chính phủ khi lên cầm quyền sẽ có những chínhsách mới với rất nhiều thay đổi Nếu các nhà kinh doanh không hiểu biết, khôngnắm vững và thích nghi được với những thay đổi đó thì sẽ gặp phải nhiều khó khăn,trở ngại khi thực hiện hoạt động kinh doanh ở nước ngoài và tất yếu là sẽ phải chịurủi ro Rủi ro về chính trị có thể xuất hiện ở mọi quốc gia nhưng mức độ xảy ra rủi

ro thì ở mỗi nơi sẽ khác nhau Ở những nước có chế độ chính trị ổn định thì mức độrủi ro chính trị thấp, ngược lại ở những nước thường xảy ra bạo loạn, đảo chính haychính sách thường xuyên thay đổi thì rủi ro chính trị sẽ ở mức cao Các loại rủi rochính trị thường gặp, đó là:

Rủi ro liên quan đến quyền sở hữu tài sản, bao gồm: sung công tài sản diễn radưới hình thức quốc hữu hóa và chuyển tài sản cho nhà nước; nhà nước tịch thu tài

Trang 34

sản và chính sách nội địa hóa của nhà nước yêu cầu nhà đầu tư nước ngoài dần từngbước chuyển giao tài sản và quyền quản lý cho người trong nước.

Rủi ro do nhà nước can thiệp quá sâu vào quá trình hoạt động của tổ chức,chẳng hạn như nhà nước thay đổi về hạn ngạch dẫn đến hàng hóa vượt quá số lượngcho phép xuất hoặc nhập khẩu, thay đổi quy định cấp giấy phép xuất nhập khẩuphức tạp hơn làm hàng hóa được giao không đúng thời hạn nếu các bên không nắmbắt được sự thay đổi này kịp thời

Tuy nhiên cần phân biệt rủi ro trong trường hợp này với sự kiện bất khả kháng– vấn đề không liên quan đến vấn đề phân bổ rủi ro (như đã phân tích tại mục 1.1.2)

Rủi ro về giá cả, phương thức thanh toán: Trong hoạt động mua bán hàng hóa bên bán

thường chỉ quy định đơn giản là đưa ra giá, phương thức thanh toán là chuyển

khoản hay tiền mặt chứ không thỏa thuận rõ giá của từng loại hàng hóa (giá có baogồm thuế, phí hay chưa) cũng như các yếu tố của phương thức thanh toán (đồng tiềnthanh toán, phí ngân hàng chuyển khoản) Trường hợp không có thỏa thuận hoặcthỏa thuận không rõ ràng về giá và phương thức thanh toán thì biến động về giá sẽtheo giá thị trường tại thời điểm thanh toán và phương thức thanh toán được xácđịnh theo tập quán tại địa điểm và thời điểm giao kết hợp đồng33 Do đó, khi thựchiện hợp đồng mua bán hàng hóa xảy ra một số rủi ro về giá khi giá thị trường biếnđộng, mệnh giá đồng tiền thanh toán thay đổi

Tóm lại, mua bán hàng hóa là hoạt động luôn tìm ẩn những rủi ro khác nhau.Trong đó, rủi ro thường gặp trong hoạt động mua bán hàng hóa là các rủi ro mà cácchủ thể thường xuyên gặp phải trong hoạt động mua bán hàng hóa, là vấn đề doanhnghiệp nào cũng sẽ gặp phải Hầu hết những dạng rủi ro này, doanh nghiệp rấtthường gặp phải và buộc phải xử lý chuyện đã rồi Doanh nghiệp cần nhận thứctrước, từ đó có kế hoạch để giảm thiểu rủi ro Nếu không được dự liệu trước thì thiệthại của các rủi ro này gây ra sẽ trở thành gánh nặng tài chính cho doanh nghiệp.Nếu biết cách quản lý rủi ro, doanh nghiệp có nhiều khả năng tránh khỏi, vô hiệuhóa, giảm thiểu tác động tiêu cực, hoặc chí ít cũng chủ động đón nhận và ứng phótheo cách thức hợp lý nhất

Khi phân loại rủi ro thì các rủi ro được phân chia, sắp xếp theo một trật tự nhấtđịnh ở những cấp độ nhất định dựa vào những dấu hiệu giống nhau và khác nhau giữachúng tùy thuộc vào mục đích phân loại Theo đó, các rủi ro được đánh giá để quy về

33 Khoản 2 Điều 433 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015).

Trang 35

mức độ rủi ro tương ứng nhằm có hướng phòng ngừa hiệu quả cho từng loại rủi ro Khinhận dạng, phân loại được rủi ro, hiểu được những rủi ro có thể xảy ra, nhận thấy đượcrủi ro nào có thể phòng ngừa sẽ giúp tránh được những thiệt hại không đáng có, cóthêm thời gian lên kế hoạch ngăn chặn trước khi rủi ro xảy ra để từ đó đưa ra biện phápphòng ngừa được Đồng thời, việc phân loại rủi ro từ hoạt động mua bán hàng hóa củacác chủ thể đóng vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ nhận diện được các tác động lẫnnhau của các rủi ro cùng loại, giúp xác định được các ảnh hưởng có thể tác động đếnhoạt động mua bán hàng hóa Vì vậy, việc phân loại rủi ro có ý nghĩa trong việc nghiêncứu các loại hình rủi ro, tạo điều kiện thuận lợi trong việc phân tích, đánh giá các loạihình rủi ro từ đó đưa ra giải pháp phù hợp nhằm hạn chế rủi ro, qua đó đảm bảo lợi íchkhi tham gia hoạt động mua bán hàng hóa của các chủ thể Cụ thể, để phòng ngừa, hạnchế rủi ro đối với hàng hóa thì các bên cần nhận dạng rủi ro có thể xảy ra với mìnhbằng việc xem xét, nghiên cứu các thông tin về nguồn gốc rủi ro, các yếu tố mạo hiểm,hiểm họa và các loại tổn thất Sau đó căn cứ vào sự phân loại rủi ro để biết được loạirủi ro nào xuất hiện nhiều, xuất hiện ít; loại nào gây ra hậu quả nghiêm trọng còn loạinào gây ra hậu quả ít nghiêm trọng hơn từ đó có biện pháp phù hợp để ngăn ngừa, nétránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi đến với mình.Như vậy, trên cơ sở nhận dạng được loại rủi ro có thể xảy ra cùng với nguyên tắc chấpnhận rủi ro khi lợi ích nhiều hơn chi phí trong kinh doanh thì các bên khi tham gia hoạtđộng mua bán hàng hóa có thể lựa chọn sử dụng các biện pháp phòng ngừa, hạn chế rủi

ro sao cho phù hợp Các biện pháp này bao gồm: né tránh rủi ro, loại bỏ những nguyênnhân gây ra rủi ro bằng cách không ký hợp đồng nữa mà đi tìm đối tác khác; biện phápngăn ngừa tổn thất, giảm thiểu số lần xuất hiện các rủi ro hoặc giảm mức độ thiệt hại dorủi ro mang lại (ví dụ mua bảo hiểm cho hàng hóa, khi vận chuyển hàng hóa qua vùng

có chiến sự hoặc có nguy cơ chiến tranh thì mua bảo hiểm rủi ro chiến tranh) hoặc giảmthiểu tổn thất (ví dụ khi hàng bị cháy hoặc chìm thì cố gắng giữ lại hàng hóa chưa bịhỏng)

1.2.2 Sự cần thiết của quy định pháp luật về chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa

Cùng với sự phát triển của xã hội, của nền kinh tế, hoạt động mua bán hànghóa ngày càng diễn ra đa dạng, phong phú hơn và mở rộng không chỉ về số lượng,chất lượng hàng hóa mà còn về phạm vi, đối tác của hợp đồng Bên cạnh đó, rủi roxảy ra đối với hàng hóa cũng xuất hiện nhiều hơn, phát sinh từ nhiều nguồn khácnhau và thiệt hại mà nó gây ra cũng ngày càng lớn Vì thế, khi ký kết hợp đồng mua

Trang 36

bán hàng hóa các bên cần thoả thuận chính xác thời điểm chuyển rủi ro Nhưngkhông phải lúc nào các chủ thể cũng nhận thức được tầm quan trọng của thỏa thuậnthời điểm chuyển rủi ro để đưa điều khoản này vào hợp đồng, hoặc tuy có thỏathuận nhưng sự thỏa thuận này chưa rõ ràng và chính xác Vì vậy, vẫn có những bấtđồng xảy ra giữa các bên trong việc xác định thời điểm chuyển rủi ro và vấn đềđược đặt ra là cần có sự điều chỉnh pháp lý đối với thời điểm chuyển dịch rủi ro.Quả thật sự điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề này là rất cần thiết nhằm bảo đảm choquyền lợi của các bên cũng như của nhà nước.

Để thực hiện quản lý kinh tế - xã hội, nhà nước có thể sử dụng nhiều công cụkhác nhau, trong đó công cụ pháp luật là hiệu quả nhất Bởi vì, những quy định phápluật có tính quy phạm phổ biến sẽ có tính bắt buộc chung đối với các chủ thể mà nóhướng tới điều chỉnh Bên cạnh đó, pháp luật đảm bảo tính chặt chẽ, nội dung pháp luậtđược biểu hiện bằng ngôn ngữ rõ ràng chính xác trong những hình thức nhất định vàpháp luật còn được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước Tùy mức độ áp dụng

mà các chủ thể được khuyến khích hoặc cưỡng chế nếu không thực hiện sẽ chịu các chếtài xử lý nghiêm khắc Sự cần thiết của những quy định pháp luật về chuyển rủi rotrong hoạt động mua bán hàng hóa xuất phát từ những nguyên nhân sau đây:

Thứ nhất, đối với các bên ký kết hợp đồng:

Các quy định về thời điểm chuyển dịch rủi ro với hàng hóa sẽ loại bỏ đượctrường hợp một bên lợi dụng vị thế của mình trong quá trình đàm phán mà chèn ép,làm ảnh hưởng đến quyền lợi của bên đối tác còn lại Sự điều chỉnh của pháp luật vềvấn đề này cũng là cơ sở đảm bảo về mặt pháp lý, tạo niềm tin cho doanh nghiệpkhi tiến hành ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa

Điều khoản về thời điểm chuyển dịch rủi ro trong hợp đồng vẫn được soạnthảo dựa trên sự thỏa thuận giữa các bên nhưng khó đi đến thống nhất và xuất hiệnnhững mâu thuẫn về quyền lợi Do đó, sự điều chỉnh pháp lý đối với vấn đề đó nhưmột chuẩn mực, một cơ sở chung để các đối tác lựa chọn áp dụng hoặc thỏa thuậnthêm, đảm bảo được quyền và lợi ích của mình Điều này cũng giúp cho quá trìnhđàm phán, ký kết hợp đồng diễn ra nhanh chóng, tránh được những tranh chấpkhông cần thiết xảy ra khi thực hiện hợp đồng, làm lãng phí công sức và tiền bạc

Thứ hai, xuất phát từ thực trạng những quy định pháp luật hiện nay về chuyểnrủi ro Mặc dù theo thời gian phát triển của hoạt động thương mại, pháp luật đã đưa ranhững quy định liên quan đến chuyển rủi ro trong hoạt động mua bán hàng hóa, nhưngthực sự chưa trọn vẹn Bên cạnh những thành tựu đạt được từ hiệu quả áp dụng

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:47

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w