1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Quy chế pháp lý về quản tài viên theo pháp luật hoa kỳ và kinh nghiệm cho việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

58 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Phạm Thị Huyền 2016, “Vấn đề bất cập về quản tài viên theo pháp luật hiện hành”, Tạp chí Luật học, số 2/2016: bài viết chỉ ra những điểm chưa hợp lý khi quy định về chế định QTV như: đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

NGUYỄN THỊ KIM DUNG

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO

VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH KHOA LUẬT

THƯƠNG MẠI

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

QUY CHẾ PHÁP LÝ VỀ QUẢN TÀI VIÊN THEO

PHÁP LUẬT HOA KỲ VÀ KINH NGHIỆM CHO

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

“Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi,

được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS Lê Nhật Bảo, đảm bảo tính

trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo Tôixin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này”

Sinh viên

Nguyễn Thị Kim Dung

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

(United States Trustee Program)

Ủy ban Liên Hiệp Quốc về Luật Thương mại

(United Nations Commission on International

Trade Law)

Luật mẫu của UNCITRAL về phá sản xuyên

(UNCITRAL Model Law on Cross-Border

Insolvency 1997)

Nghị định 22/2015/NĐ-CP hướng dẫn LuậtNghị định 22/2015/NĐ-CP Phá sản về Quản tài viên và hành nghề quản

lý, thanh lý tài sản

Trang 5

MỤC LỤC PHẦN MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TÀI VIÊN 7 1.1 Khái niệm, đặc điểm quản tài viên 7

1.1.1 Khái niệm quản tài viên 71.1.2 Đặc điểm của quản tài viên 10

1.2 Vai trò của quản tài viên trong quá trình phá sản doanh nghiệp 16

1.2.1 Về vấn đề điều hòa lợi ích của chủ nợ và con nợ trong quá trình giải

quyết phá sản161.2.2 Về vấn đề hỗ trợ Tòa án, cơ quan thi hành án và mối liên hệ với các

chủ thể khác trong quá trình giải quyết phá sản 191.2.3 Về vấn đề xây dựng các thiết chế phi chính phủ theo xu hướng chung

của thế giới 20

1.3 Khái quát một số nội dung pháp luật quy định về quản tài viên 21

1.3.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên 211.3.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài

(phá sản xuyên quốc gia) 23

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 24 CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA HOA KỲ

VỀ QUẢN TÀI VIÊN – NHỮNG KIẾN NGHỊ CHO VIỆT NAM 25 2.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên 25

2.1.1 Hệ thống quản lý quản tài viên 262.1.2 Vấn đề chỉ định quản tài viên 282.1.3 Cơ chế giám sát quản tài viên 302.1.4 Vấn đề quản lý thông tin có liên quan và đào tạo quản tài viên 33

2.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia) 35

Trang 6

2.2.1 Các nội dung quy định về vai trò của quản tài viên trong pháp luật

phá sản xuyên quốc gia 362.2.2 Nhận xét và kiến nghị cho Việt Nam 39

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 45 KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 7

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Xét về chiều dài lịch sử, Hoa Kỳ là một trong số những quốc gia có nền pháp luậtphá sản lâu đời với Luật phá sản (LPS) đầu tiên được thông qua vào ngày 04 tháng 4năm 1800 Dù tại thời điểm đó, Luật này gần như có sự tiếp thu trọn vẹn từ pháp luậtAnh.1 Nhưng với tinh thần nỗ lực cải cách, LPS đã trải qua nhiều lần sửa đổi để cóđược những quy định hoàn thiện, nhân văn hơn và từng bước tiệm cận với bối cảnh xãhội hiện đại Theo Báo cáo thường niên về những thành tích nổi bật năm tài chính2017-2018 của Chương trình ủy thác Hoa Kỳ (USTP) thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, tronghơn 30 năm vừa qua, toàn Hoa Kỳ có hơn 32 triệu vụ kiện về phá sản được giải quyết.2Riêng năm tài chính 2017-2018, USTP đã giám sát 1.300 quản tài viên (QTV) tronghoạt động quản lý và phân chia tài sản gần 10 tỷ đô la Mỹ trung bình mỗi năm.3 Nhữngcon số ấn tượng này phần nào thể hiện được bề dày kinh nghiệm giải quyết cũng nhưtính hiệu quả của các quy định về phá sản và QTV của Hoa Kỳ Mặt khác, việc tiếp xúcvới nhiều vụ việc phá sản khác nhau xuyên suốt các biến động lịch sử đã phản ánh thựctiễn đa dạng, phong phú của pháp luật phá sản Hoa Kỳ Đây chính là nguồn tư liệutham khảo thiết thực và hữu ích đối với những quốc gia với nền pháp luật phá sản cótuổi đời còn trẻ như Việt Nam

Tại Việt Nam, pháp luật về phá sản ra đời như một giải pháp tất yếu với vai trò làmột loại tố tụng tư pháp đặc biệt giúp chuyển đổi từ thói quen đòi nợ một cách độc lập,riêng lẻ sang cơ chế đòi nợ tập trung và có hệ thống.4 Tuy nhiên, kể từ khi Nhà nướcban hành LPS đầu tiên dưới tên gọi Luật phá sản doanh nghiệp (LPSDN 1993) đến nay

và đã trải qua hai lần thay thế, thực tiễn thi hành vẫn còn là trở ngại lớn Cụ thể, trong

09 năm đầu tiên, toàn ngành Tòa án chỉ thụ lý 151 đơn yêu cầu tuyên bố phá sản doanhnghiệp nhưng chỉ giải quyết được 95 đơn, chiếm 62,9%.5 Tổng số đơn yêu cầu này thấphơn nhiều so với số liệu thống kê của riêng năm 2019: Tòa án nhân dân các cấp thụ lý

211 đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, ra quyết định không mở thủ tục phá sản đối với 36trường hợp, ra thủ tục mở phá sản đối với 46 trường hợp.6 Tuy

1Charles Jordan Tabb (1995), “The history of bankruptcy laws in the United States”, American Bankruptcy

Institute Law Review, Volume 3, No 5/1995, tr 7.

2United States Department of Justice (2019), “United States Trustee Program Annual Report of Significant

Accomplishments”, the United States, tr 1.

3United States Department of Justice, tlđd (2), tr 3.

4Dương Đăng Tuệ (2005), Pháp luật phá sản của Việt Nam, Nhà xuất bản Tư pháp, tr 11.

5Báo cáo tình hình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản doanh nghiệp (từ năm 1994 đến hết năm 2002) của Tòa án nhân dân tối cao ngày 5/9/2003, tr 1 (Dẫn theo: Dương Đăng Tuệ, tldđ (4), tr 90).

6Cổng thông tin điện tử Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, “Thẩm tra báo cáo công tác của ngành Tòa án năm 2019”, http://quochoi.vn/tintuc/pages/tin-hoat-dong-cua-quoc-hoi.aspx? ItemID=41760, truy cập ngày 27/02/2020.

1

Trang 8

nhiên, nếu đặt trong sự đối sánh với tổng số doanh nghiệp trên cả nước, đây vẫn chỉ làmột con số vô cùng khiêm tốn Điển hình như năm 2012, cả nước gồm 541.103 doanhnghiệp nhưng có đến 92.710 doanh nghiệp không thể xác minh được tình trạng hoạtđộng.7 Con số này chứng tỏ hàng nghìn doanh nghiệp đang trong tình trạng “sống thựcvật”8 nhưng thay vì chọn thủ tục phá sản, họ giữ im lặng Ngoài tâm lý “vô phúc đáotụng đình” từ chủ nợ và các doanh nghiệp, nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng cácchủ thể e dè trong việc lựa chọn phá sản làm phương án giải quyết hàng đầu nằm ở vaitrò của những người tiến hành thủ tục phá sản, trong đó có QTV.

Dù đã có lịch sử tồn tại lâu đời với nhiều tên gọi khác nhau ở Hoa Kỳ và các quốcgia trên thế giới nhưng tại Việt Nam, QTV là một nghề rất mới mẻ và lần đầu tiên đượcthể chế hóa thành các quy định pháp luật trong Luật Phá sản 2014 (LPS 2014) Tuynhiên, thực tiễn chứng minh địa vị của QTV vẫn chưa được chú trọng và nhìn nhậnđúng đắn Điển hình, có ý kiến cho rằng: việc doanh nghiệp phá sản để phát triển

“nghề” quản lý tài sản phá sản là điều không ai khuyến khích, do đó, không nên đưa racác tiêu chí đối với quản lý tài sản phá sản như một nghề độc lập.9 Quan điểm này vôhình trung làm giảm thiểu trách nhiệm của QTV trong thủ tục phá sản, tức QTV sẽthiếu đi động lực và ý thức hoàn thành nhiệm vụ vì không được ghi nhận vai trò, còncác chủ khác, họ sẽ thiếu đi lòng tin tưởng và thêm phần dè chừng khi đứng trước quyếtđịnh lựa chọn con đường phá sản Bên cạnh đó, Sở Tư pháp ở một số tỉnh thành đã cóđộng thái quan tâm đến QTV thông qua các buổi họp trao đổi các khó khăn, vướng mắctrong hoạt động10 cũng như Hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho người hành nghềquản lý, thanh lý tài sản11 Thế nhưng, các hoạt động này không diễn ra thường xuyên

và chỉ giới hạn trong phạm vi địa bàn tỉnh, thành phố đó nên không đem lại tác độngsâu rộng cho hệ thống QTV trong phạm vi cả nước Với thực trạng trên, tác giả nhậnthấy việc học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác là một

7 Tổng cục Thống kê, “Báo cáo kết quả rà soát số lượng doanh nghiệp năm 2012”, http://www.gso.gov.vn/default.aspx?tabid=419&idmid=&ItemID=12481&fbclid=IwAR1Qd1g2RS8qfs-loK- CLN3gFmvC8dDIyKkw-14Se0X7AtStCBBRe97Gxp8, truy cập ngày 03/3/2020.

8Tạ Quang Bình, Nguyễn Thị Thuận, “Ảnh hưởng của những doanh nghiệp “sống thực vật” tới tăng trưởng kinh tế Việt Nam”, http://tapchitaichinh.vn/tai-chinh-kinh-doanh/anh-huong-cua-nhung-doanh-nghiep-song- thuc-vat-toi-tang-truong-kinh-te-viet-nam-313639.html, truy cập ngày 03/3/2020 [Tình trạng “sống thực vật”

có đặc điểm nổi bật là các doanh nghiệp mắc nợ và không có khả năng trả nợ.]

9 Thanh Hải, “Quản tài viên cần am hiểu kiến thức quản trị kinh doanh”, http://duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/TT_TINLAPPHAP/View_Detail.aspx?ItemID=1793, truy cập ngày 05/3/2020.

10 Nguyễn Thị Vân Anh, “Họp trao đổi các khó khăn, vướng mắc trong hoạt động quản lý, thanh lý tài sản trên

địa bàn tỉnh Bình Dương năm 2017”,

https://stp.binhduong.gov.vn/bo-tro-

phap/Lists/QuanTaiVien/DispForm.aspx?ID=14&CategoryId=Tin%20ng%C3%A0nh%20t

%C6%B0%20ph %C3%A1p&InitialTabId=Ribbon.Read, truy cập ngày 05/3/2020.

11 Kế hoạch số 6170/KH-STP-BTTP Tổ chức hội nghị tập huấn kỹ năng, nghiệp vụ cho người hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.

2

Trang 9

phương pháp cần thiết nhằm tiếp thu có chọn lọc các điểm ưu việt và hạn chế nhữngtồn đọng có thể xảy ra.

Từ những nhận định trên, tác giả quyết định chọn đề tài “Quy chế pháp lý về quản tài viên theo pháp luật Hoa Kỳ và kinh nghiệm cho Việt Nam” làm nội dung

nghiên cứu cốt lõi cho toàn bộ khóa luận này

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Một số nguồn tài liệu tiêu biểu:

2.1 Các tài liệu trong nước viết về quản tài viên

2.1.1 Tạp chí chuyên ngành

 Hà Thị Thanh Bình (2003), “Tài sản phá sản và phân chia tài sản của con

nợ bị phá sản”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 5/2003: bài viết chỉ ra những hạn

chế về thành phần và nguyên tắc làm việc của hội đồng định giá tài sản phá sản Từ

đó, tác giả kiến nghị xây dựng hội đồng định giá tài sản phá sản với tư cách là mộtbên thứ ba độc lập, gồm những chuyên gia chuyên về định giá theo giá cả thịtrường, được hưởng thù lao và chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩmquyền (CQNNCTQ) và các bên có liên quan trong việc định giá tài sản

 Dương Kim Thế Nguyên (2014), “Quản tài viên trong Luật phá sản các nước

– Kinh nghiệm cho Việt Nam”, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2014: bài viết có sự

so sánh, đối chiếu giữa pháp luật của Pháp, Đức và Liên Bang Nga với Việt Namtrên một số tiêu chí: tính độc lập của QTV, điều kiện về chuyên môn, kinh nghiệmquản lý tài sản, nhiệm vụ và quyền hạn của QTV Từ đó đưa ra kiến nghị về điềukiện hành nghề QTV và cơ chế giám sát hoạt động đối với chủ thể này

 Đặng Văn Huy (2018), “Hoàn thiện chế định quản tài viên trong Luật Phá

sản”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp, số 20 (372)/2018: bài viết phân biệt khái niệm

và bản chất pháp lý về QTV theo pháp luật một số quốc gia như Úc, Anh vàCanada Tác giả có đề cập đến các hạn chế và đưa ra kiến nghị nghiên cứu kỹ lưỡngtrước khi sửa đổi, bổ sung LPS 2014 và xây dựng Bộ quy tắc ứng xử của QTV

 Phạm Thị Huyền (2016), “Vấn đề bất cập về quản tài viên theo pháp luật hiện

hành”, Tạp chí Luật học, số 2/2016: bài viết chỉ ra những điểm chưa hợp lý khi quy

định về chế định QTV như: điều kiện hành nghề, việc chỉ định, thay đổi QTV tham gia

vụ việc phá sản, chi phí đối với QTV, tạm đình chỉ hành nghề đối với QTV, chấm dứthành nghề và đề xuất một số giải pháp dựa trên những đặc điểm này

3

Trang 10

Nhìn chung, các bài viết đều đã chỉ ra được một số hạn chế, bất cập của các quyđịnh pháp luật về QTV trên thực tế để đưa ra kiến nghị điều chỉnh Một số bài viết

có liên hệ đến pháp luật nước ngoài để so sánh, đối chiếu Tuy nhiên, với dunglượng gói gọn trong vài trang viết, các tác giả chưa thể đi sâu phân tích và đánh giátoàn diện những vấn đề đặt ra

2.1.2 Luận văn

Nguyễn Đức Hải (2018), Pháp luật về quản tài viên và doanh nghiệp hành

nghề quản lý, thanh lý tài sản, qua thực tiễn tại thành phố Đà Nẵng, Luận văn thạc sĩ

luật học, Trường Đại học Luật – Đại học Huế: bài viết làm rõ thực trạng về đội ngũQTV và doanh nghiệp hành nghề quản lý, thanh lý tài sản tại thành phố Đà Nẵng và

đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của các chủ thể này

2.2 Các tài liệu nước ngoài viết về quản tài viên theo pháp luật Hoa Kỳ

Martin A Frey, Sidney K Swinson (2012), Introduction to Bankruptcy Law,

Nhà xuất bản Cengage Learning: trong cuốn sách, tác giả dành một phần để giới thiệukhái quát một số vấn đề về QTV như các yêu cầu đối với QTV để được tham gia một

vụ phá sản cụ thể và vấn đề chỉ định QTV Các nội dung này mang tính khái quát dựatrên các quy định pháp luật, không đi sâu phân tích, đánh giá thực tiễn

 Elizabeth H McCullough (2011), “Bankruptcy trustee liability: Is there a

method in the madness?”, Lewis & Clark Law Review, Volume 15, No 1/2011: bài

viết phân tích về trách nhiệm pháp lý của QTV trong hoạt động quản lý, thanh lý tàisản và phục hồi hoạt động kinh doanh (PHHĐKD) Thông qua các vụ việc thực tế,các tác giả đưa ra các căn cứ xác định trường hợp được miễn hay phải chịu tráchnhiệm pháp lý Từ đó, tác giả Elizabeth H McCullough đã khái quát phương pháp 4bước để xác định trách nhiệm pháp lý của QTV

 Hon Steven Rhodes (2006), “The Fiduciary and Institutional Obligations of

a Chapter 7 Bankruptcy Trustee”, American Bankruptcy Law Journal, Volume 80,

No 2/2006: tác giả phân tích nghĩa vụ của QTV trong hoạt động quản lý, thanh lýtài sản thông qua hai phương diện gồm: (i) các nguồn quy định nghĩa vụ của QTV

và (ii) các nghĩa vụ của QTV đối với từng vụ việc cụ thể nói riêng cũng như tronghoạt động phá sản nói chung

Nhìn chung, các tài liệu đều đã trình bày một khía cạnh của chế định QTV dù ởmức độ khái quát hay chuyên sâu Tuy nhiên, các bài viết chỉ dừng lại trong phạm

vi pháp luật Hoa Kỳ, chưa có sự so sánh, đối chiếu với hệ thống pháp luật của cácquốc gia khác

4

Trang 11

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Từ lý do chọn đề tài và tình hình nghiên cứu đã phân tích, tác giả thực hiệnnghiên cứu đề tài với các mục tiêu trọng tâm sau:

Thứ nhất, cung cấp cái nhìn tổng quan về các vấn đề lý luận chung liên quan

đến chế định QTV, bao gồm: các khái niệm về QTV theo pháp luật Hoa Kỳ, Việt

Nam và Luật mẫu UNCITRAL; đặc điểm của QTV; vai trò của QTV trong quátrình phá sản doanh nghiệp và một số nội dung quy định về QTV sẽ được tiến hànhphân tích trong khóa luận

Thứ hai, phân tích một số khía cạnh về QTV thông qua các quy định pháp luật

và các vụ việc xảy ra trên thực tế theo pháp luật Hoa Kỳ, từ đó đưa ra nhận xét vềkhả năng và hiệu quả áp dụng tại quốc gia này

Thứ ba, so sánh đối chiếu với các điều kiện của pháp luật Việt Nam, từ đó kiến

nghị các giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển hệ thống QTV tại Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Chế định QTV vốn gồm nhiều yếu tố cấu thành và đa dạng Do đó, trong giớihạn khóa luận này, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu các vấn đề tiêu biểu sau: (1)quản lý nhà nước đối với QTV và (2) vai trò của QTV trong vụ việc phá sản có yếu

tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia)

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Các văn bản pháp luật liên quan của Việt Nam và Hoa Kỳ sẽ được sử dụng chủyếu, bao gồm: LPS 2014; Nghị định 22/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Phá sản vềQuản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản (Nghị định 22/2015/NĐ-CP),

Bộ luật Phá sản Hoa Kỳ12 và Bộ Quy tắc liên bang Ngoài ra, Luật mẫu của Ủy banLiên Hiệp Quốc về Luật Thương mại Quốc tế (UNCITRAL)13 về phá sản xuyênquốc gia (Luật mẫu UNCITRAL) và một số quy định pháp luật của các quốc giakhác cũng sẽ được sử dụng để phục vụ đề tài

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khóa luận được thực hiện thông qua một số phương pháp chủ yếu gồm:

12 Bộ luật này được mã hóa tại Tiêu đề 11 Bộ luật Hoa Kỳ Do đó, để tiện chi việc theo dõi, tại phần chú thích, tác giả sẽ sử dụng thuật ngữ Tiêu đề 11 Bộ luật Hoa Kỳ để thay thế Bộ luật Phá sản.

13 UNCITRAL là cơ quan pháp lý cốt lõi của Liên Hiệp Quốc trong lĩnh vực luật thương mại quốc tế, có trụ sở tại Vienna, Áo Mục tiêu hoạt động của UNCITRAL là tăng cường phối hợp và hợp tác trong các hoạt động pháp lý của các tổ chức quốc tế và khu vực hoạt động trong lĩnh vực luật thương mại quốc tế cũng như thúc đẩy luật pháp ở cấp quốc gia và quốc tế trong lĩnh vực này (Xem thêm tại: https://uncitral.un.org/en/about).

5

Trang 12

 Phương pháp lịch sử: được sử dụng để (i) lý giải nguồn gốc tạo nên sự khácbiệt về khái niệm và cơ sở hình thành chế định QTV ở Chương 1 và (ii) lược sửhình thành USTP và pháp luật phá sản xuyên quốc gia ở Chương 2.

 Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng gần như xuyên suốt khóaluận để đảm bảo các nội dung của từng phần đều được làm rõ và trình bày có hệthống

 Phương pháp so sánh, đối chiếu: được sử dụng chủ yếu để (i) phân tíchphần khái niệm QTV tại Chương 1 và (ii) đánh giá, bình luận về thực tiễn pháp luậtHoa Kỳ để kiến nghị cho Việt Nam tại Chương 2

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Kết cấu khóa luận gồm hai chương:

Chương 1: Một số vấn đề chung về quản tài viên.

Chương 2: Đánh giá một số quy định pháp luật của Hoa Kỳ về quản tài viên –

những kiến nghị cho Việt Nam

6

Trang 13

CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUẢN TÀI VIÊN 1.1 Khái niệm và đặc điểm quản tài viên

1.1.1 Khái niệm quản tài viên

Nếu giải thích nghĩa của từ QTV theo lối chiết tự thì: “quản” có nghĩa là trôngcoi, điều khiển14, “tài” là viết tắt của từ tài sản và “viên” có nghĩa là người chuyênlàm một công việc nào đó15 Vậy, có thể hiểu khái quát QTV là người chuyên trôngcoi, điều khiển tài sản Ngoài ra, về mặt pháp lý, khái niệm QTV cũng được quyđịnh rõ là cá nhân hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phásản.16 Từ những phân tích về mặt ngữ nghĩa và quy định pháp luật, tác giả nhậnthấy sự tương đồng về chức năng giữa khái niệm QTV theo pháp luật Việt Nam với

khái niệm“trustee” (ủy thác viên) theo pháp luật Hoa Kỳ cũng như các khái niệm

về người quản lý, thanh lý tài sản ở các quốc gia khác Do đó, trong khóa luận này,

để tiện cho việc trình bày thống nhất, QTV sẽ là thuật ngữ được sử dụng chung đểchỉ đối tượng này

Lịch sử ghi nhận văn bản đầu tiên về pháp luật phá sản hiện đại và chính thứcđược ban hành vào năm 1542, dưới thời vua Henry VIII trị vì17, với tên gọi: Luật

chống lại những kẻ phá sản (An act against such persons as do make bankrupts)

xem con nợ như những kẻ phạm tội và trao thêm quyền xử lý vào tay chủ nợ; sau

đó, một đạo luật khác được ra đời dưới thời Nữ hoàng Elizabeth I vào năm 1570, cóhiệu lực cho đến khi Cách mạng Mỹ (1765 – 1783) nổ ra.18 Theo đó, chỉ có chủ nợmới là người được phép bắt đầu thủ tục phá sản thông qua đơn thỉnh cầu được gửiđến Đại pháp quan19 và với vai trò của mình, Đại pháp quan sẽ chỉ định

“commissioners” (các ủy viên) để giám sát thủ tục phá sản.

Các ủy viên có nhiều thực quyền và giữ vai trò quan trọng, nguyên bản giốngnhư sự kết hợp giữa vai trò của QTV và thẩm phán ngày nay Ngoài những hoạtđộng chuyên về QTV như thu thập, thanh lý và phân chia tài sản của con nợ chocác chủ nợ, các ủy viên có quyền nắm giữ tài sản, triệu tập các cá nhân

14 Viện Ngôn ngữ học (2019), Từ điển Tiếng Việt, Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 1012.

15 Viện Ngôn ngữ học, tlđd (14), tr 1415.

16 Khoản 7 Điều 4 LPS 2014.

17 Roy Goode (1997), Principles of Corporate Insolvency Law, Nhà xuất bản Sweet and Maxwell Ltd, tr 7.

18 Charles Jordan Tabb (1995), tlđd (1), tr 7, 8.

19 Trần Ngọc Hà, Đỗ Thị Mai Hạnh, Nguyễn Thị Hằng, Phan Hoài Nam, Nguyễn Thị Bích Ngọc,

Ngô Kim Hoàng Nguyên (2017), Luật so sánh: Tài liệu hướng dẫn học tập, Nhà xuất bản Lao động, tr 108.

[“Đại pháp quan theo cách gọi ngày nay là Trưởng ban thư ký nhà vua Quyền hạn của Thư ký nhà vua bao gồm việc tiếp nhận và trình lên Đức vua các đơn thỉnh cầu Cho đến thế kỷ XVI, chức danh này thường do các giám mục Cơ đốc giáo – chức năng chính là nghe Nhà vua xưng tội và là cố vấn về mặt tinh thần cho Nhà vua”.]

7

Trang 14

có mặt và ra quyết định bỏ tù Mặc dù được chỉ định bởi Đại pháp quan, songcác ủy viên không bị lệ thuộc vào phạm vi quyền hạn của chủ thể này.20

Như vậy, trong khoảng thời gian này, tên gọi “commissioners” chỉ thể hiện một

phần bản chất của QTV bởi các chủ thể này không có sự tách bạch trong vai trò giữaQTV và thẩm phán Các ủy viên này sẽ cùng nhau tạo thành một hội đồng và thực hiệncác nghĩa vụ kể trên Sau khi Cách mạng Mỹ giành thắng lợi, Hiến pháp ra đời với vaitrò là bộ luật tối cao của đất nước đã lập ra một chính phủ quốc gia cân bằng thông quaviệc phân chia quyền lực giữa ba ngành độc lập – hành pháp, lập pháp và tư pháp (tứcTòa án Tối cao và các Tòa án liên bang khác).21 Đồng thời, Hiến pháp cũng đề ra mụctiêu xây dựng luật thống nhất trong toàn lãnh thổ Hoa Kỳ về các vấn đề phá sản.22 Do

đó, kể từ khi LPS đầu tiên của Hoa Kỳ ra đời vào năm 1800, vai trò của Tòa án hạt liên

bang (District Court) dần được chú trọng thông qua việc chỉ định các ủy viên để giám sát quá trình phá sản và những ủy viên này có quyền được chỉ định “assignees” (người

ủy quyền) để tiến hành hai hoạt động chính là thanh lý và phân chia tài sản.23 Kháiniệm này vẫn được duy trì trong những giai đoạn sau giữa các lần sửa đổi LPS Hoa Kỳvào năm 1841 và 1867 Cuối cùng, khi LPS Hoa Kỳ được sửa đổi vào năm 1898, người

ủy quyền được thay thế bằng tên gọi “trustee” (ủy thác viên) và được sử dụng cho đến

ngày nay.24 Đây là danh từ chỉ người được cấu thành từ tiền tố “trust” dùng để chỉ luật

ủy thác (trust law) trong quan hệ về tài sản của các nước thông luật Đặc trưng chung

của ủy thác viên là việc quản lý tài sản được tách biệt với việc hưởng lợi đối với tài sản

đó và được trả công cho việc quản lý của mình chứ không nhận được thu nhập từ chínhtài sản.25

Ở mỗi giai đoạn lịch sử khác nhau, tên gọi của QTV cũng trở nên khác nhau trongcùng một quốc gia Mặt khác, với sự đa dạng về văn hóa cũng như ngôn ngữ, các quốcgia cũng có những tên gọi riêng về QTV Nhận biết rõ đặc điểm đó, UNCITRAL khi

đưa ra hướng dẫn đối với Luật mẫu UNCITRAL với định nghĩa về the insolvency

representative (người đại diện phá sản) đã liệt kê nhiều tên gọi được sử dụng đa dạng

ở các quốc gia khác nhau để chỉ QTV như: “administrators” (quản trị viên),

“trustees” (ủy thác viên), “liquidators” (người thanh lý), “supervisors” (giám sát

viên), “receivers” (người nhận), “curators” (người phụ trách), “officials” (công

20 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 8.

21 Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ (2004), Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ và chú thích, Ấn phẩm của Chương

trình

Thông tin Quốc tế, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, tháng 7/2004, tr 3.

22 Điều I khoản 8.(4) Hiến pháp Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.

23 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 14.

24 Charles Jordan Tabb, tlđd (1), tr 25.

25 Jay M Feinman (2014), Luật 101: Mọi điều bạn cần biết về pháp luật Hoa Kỳ, Nhà xuất bản Hồng

Đức, tr.

388.

Trang 15

chức, viên chức), “judicial managers” (người quản lý tư pháp) hoặc

“commissioners” (ủy viên) Dù có khác nhau về tên gọi nhưng các chức danh vẫn

có điểm giao thoa về đặc điểm, cụ thể:

Người đại diện phá sản có thể là một cá nhân hoặc, tại một số quốc gia, cóthể là một doanh nghiệp hoặc pháp nhân riêng biệt khác Một khi được chỉđịnh, người đại diện phá sản đóng vai trò trung tâm trong việc thực thi cóhiệu quả luật phá sản, với một số quyền hạn nhất định đối với con nợ và tàisản của họ và nghĩa vụ bảo vệ các tài sản và giá trị của tài sản đó, cũng nhưlợi ích của chủ nợ và người lao động, để đảm bảo rằng pháp luật được ápdụng hiệu quả và công bằng Theo đó, điều cần thiết là người đại diện phásản phải có trình độ phù hợp, có kiến thức, kinh nghiệm và phẩm chất cánhân sẽ đảm bảo được hiệu quả không chỉ trong các thủ tục tiến hành tố tụng

mà còn là niềm tin đối với hệ thống phá sản.26

Tại Việt Nam, LPSDN 1993 là dấu mốc đầu tiên cho văn bản pháp luật riêngbiệt điều chỉnh về phá sản Trong đó, Điều 15 quy định về Tổ quản lý bao gồmnhiều chủ thể có tư cách khác nhau, đại diện cho các cá nhân, tổ chức cần thiết cho

vụ việc phá sản Trách nhiệm chủ yếu của Tổ quản lý là giám sát, kiểm tra việcquản lý tài sản của doanh nghiệp Đến khi Luật Phá sản 2004 (LPS 2004) có hiệulực, tên gọi Tổ quản lý được thay thế bằng Tổ quản lý, thanh lý tài sản để phản ánhđúng nhiệm vụ, quyền hạn của Tổ quản lý theo Điều 10 Sau thời gian áp dụng thực

tế, hoạt động của Tổ quản lý, thanh lý tài sản không đem lại hiệu quả Bởi các thànhviên mang tính chất kiêm nhiệm, liên kết lỏng lẻo và có sự chênh về trình độ trongkhi trách nhiệm và quyền hạn của tổ chức này rất quan trọng, trong đó có nhữngnhiệm vụ yêu cầu ở trình độ chuyên môn.27 Để khắc phục những hạn chế này, LPS

2014 đã quy định trách nhiệm quản lý, thanh lý tài sản cho QTV và doanh nghiệpquản lý, thanh lý tài sản với những điều kiện hoạt động chặt chẽ hơn

Như vậy, xét về thời gian hình thành, có thể thấy trước khi có được định nghĩaQTV như hiện tại, pháp luật phá sản của Việt Nam và Hoa Kỳ đều đã trải qua nhiều têngọi, phản ánh những vai trò và vị trí khác nhau theo các mốc thời gian Trong khi kháiniệm QTV của Hoa Kỳ có hơi hướng ảnh hưởng từ pháp luật Anh cùng những biếnthiên của lịch sử sau này thì khái niệm QTV của Việt Nam dần dần được chuyển hóadựa trên kinh nghiệm áp dụng thực tiễn cũng như tham khảo các mô hình QTV

26 UNCITRAL (2005), Legislative Guide on Insolvency Law, United Nations publication, tr 174.

27 Nguyễn Thị Diệu Hồng, “Khó xử lý tài sản, Luật Phá sản không vào cuộc sống”,

https://baodautu.vn/kho- xu-ly-tai-san-luat-pha-san-khong-vao-cuoc-song-d4054.html, truy cập ngày

14/3/2020.

9

Trang 16

theo pháp luật nước ngoài Xét về cách định nghĩa, QTV theo pháp luật Việt Namđược quy định rõ tại “Điều 4 Giải thích từ ngữ” LPS 2014, trong khi QTV theopháp luật Hoa Kỳ được định nghĩa tại “Điều 323 Vai trò và khả năng của QTV”

(Role and capacity of trustee) Bộ luật Hoa Kỳ Theo đó, QTV trong vụ việc theo

Tiêu đề 11 là người đại diện tài sản phá sản (the representative of the estate)28, đồng

thời QTV cũng có khả năng kiện hoặc bị kiện (to sue and be sued)29 Mặt khác,QTV theo pháp luật Việt Nam chỉ bao gồm cá nhân để phân biệt đối với doanhnghiệp quản lý, thanh lý tài sản30; còn pháp luật Hoa Kỳ sử dụng thuật ngữ QTVcho cả cá nhân lẫn doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản31 Tuy nhiên, như đã đềcập từ đầu, tác giả chỉ tiến hành phân tích QTV trong pháp luật Hoa Kỳ đối với cánhân để tạo sự tương đồng với khái niệm QTV theo pháp luật Việt Nam Bên cạnh

đó, để thống nhất về mặt khái niệm, tác giả sử dụng thuật ngữ “doanh nghiệp mấtkhả năng thanh toán” (DNMKNTT) để sử dụng chung cho doanh nghiệp, hợp tác xã

mất khả năng thanh toán trong pháp luật Việt Nam và khái niệm “debtor” trong

pháp luật Hoa Kỳ Dù định nghĩa QTV tuy có sự khác nhau song pháp luật hai quốcgia vẫn có những đặc điểm chung theo tinh thần hướng dẫn của Luật mẫuUNCITRAL được đề cập, sẽ được phân tích cụ thể hơn tại Tiểu mục 1.1.2

1.1.2 Đặc điểm của quản tài viên

Thứ nhất, QTV thực hiện các hoạt động liên quan đến chức năng quản lý, thanh

lý tài sản và hỗ trợ PHHĐKD.

Một số hoạt động chính yếu của QTV có thể kể đến như sau:

 Xác minh, thu thập, quản lý tài liệu, chứng cứ liên quan đến hoạt động của

 Lập bảng kê một số đối tượng cụ thể.33

28 Tiêu đề 11 Điều 323(a) Bộ luật Hoa Kỳ.

29 Tiêu đề 11 Điều 323(b) Bộ luật Hoa Kỳ.

30 Khoản 7 và 8 Điều 4 LPS 2014.

31 Tiêu đề 11 Điều 321(a) Bộ luật Hoa Kỳ.

32 Điểm a khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 704(a)(4), 704(a)(5), 704(a)(7) và 1106(a)(3)

Bộ luật Hoa Kỳ.

[Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV có nghĩa vụ điều tra các hoạt động tài chính của DNMKNT; xác minh các chứng cứ được ra và phản đối nếu thấy không phù hợp; trừ khi Tòa án có yêu cầu khác, QTV phải cung cấp các thông tin liên quan đến tài sản và việc quản lý tài sản khi được yêu cầu bởi một bên thứ ba có lợi ích liên quan và trừ trường hợp Tòa án có yêu cầu khác, QTV phải tiến hành điều tra các hoạt động, việc thực hiện, tài sản, trách nhiệm pháp lý, điều kiện tài chính của DNMKNTT, hoạt động kinh doanh của DNMKNTT, nguyện vọng tiếp tục kinh doanh và những vấn đề khác liên quan đến vụ việc cũng như kế hoạch PHHĐKD.]

33 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải lập bảng kê tài sản, danh sách chủ nợ, danh sách người mắc

nợ (Điểm b khoản 1 Điều 16 LPS 2014).

Trong khi đó, theo pháp luật Hoa Kỳ, công việc này thuộc về DNMKNTT (Điều 521(a)(1)), QTV chỉ thực hiện trong trường hợp DNMKNTT chưa hoàn tất (Điều 1106(a)(2)) Đồng thời, ngoài lập bảng kê tài sản, danh

10

Trang 17

 Bảo quản tài sản; ngăn chặn các hành vi gian dối, không được phép thực hiện và tối đa hóa giá trị tài sản của DNMKNTT khi bán, thanh lý tài sản.34

 Giám sát hoạt động kinh doanh, đại diện hoặc được ủy quyền để tiếp quản hoạt động kinh doanh.35

 Tiến hành thanh lý tài sản.36

 Gửi các khoản tiền thu được vào tài khoản ngân hàng hợp lệ.37

 Báo cáo liên quan đến PHHĐKD.38

 Báo cáo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình theo yêu cầu của cánhân, CQNNCTQ.39

Nhìn chung, các hoạt động này liên quan mật thiết đến tài sản phá sản – đốitượng được quan tâm hàng đầu trong một vụ việc phá sản Bên cạnh đó, sự cần thiếtcủa QTV còn được thể hiện cụ thể thông qua vai trò của chủ thể này trong quá trìnhphá sản doanh nghiệp Tác giả sẽ tiến hành phân tích sâu tại Mục 1.2

Thứ hai, QTV là ngành nghề hoạt động có điều kiện.

Để QTV chứng tỏ khả năng thực hiện được nhiệm vụ, quyền hạn của mình trongquá trình giải quyết thủ tục phá sản, pháp luật các quốc gia đã đặt ra những điều kiệnhành nghề đối với chủ thể này Tính “hoạt động có điều kiện” được thể hiện chủ yếu

sách chủ nợ thì các đối tượng khác cũng phải được liệt kê (trong trường hợp Tòa án không có yêu cầu khác) như: bảng kê các khoản thu nhập và tiêu dùng hiện tại, các trách nhiệm pháp lý, minh chứng về vấn đề tài chính v.v.

34 Điểm c khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 345(a), 548 và 703(a)(2) Bộ luật Hoa Kỳ.

35 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải giám sát hoạt động kinh doanh của DNMKNTT theo quy định của pháp luật và đại diện cho DNMKNTT trong trường hợp DNMKNTT không có người đại diện theo pháp luật (Điểm

d khoản 1 và khoản 2 Điều 16 LPS 2014).

Theo pháp luật Hoa Kỳ, Tòa án có thể cho phép QTV tiếp quản hoạt động kinh doanh của DNMKNTT trong một khoảng thời gian nhất định, nếu xét thấy hoạt động kinh doanh đem lại lợi ích tốt nhất về tài sản và phù hợp với trình tự thanh lý tài sản (Tiêu đề 11 Điều 721 Bộ luật Hoa Kỳ) Khi đó, QTV có trách nhiệm thực hiện các báo cáo định kỳ, các bản tóm tắt về hoạt động kinh doanh hoặc những yêu cầu khác (khi được Uỷ thác viên Hoa Kỳ hoặc Tòa án yêu cầu) (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(8) Bộ luật Hoa Kỳ).

36 Điểm e, g, h khoản 1 Điều 16 LPS 2014 và Tiêu đề 11 Điều 725 Bộ luật Hoa Kỳ.

37 Theo pháp luật Việt Nam, QTV gửi tiền vào tài khoản do Tòa án nhân dân, cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền mở (điểm i khoản 1 Điều 16 LPS 2014).

Theo pháp luật Hoa Kỳ, tài khoản ngân hàng sẽ do QTV mở, quản lý và gửi lại cho Tòa án, Uỷ thác viên Hoa

Kỳ giải quyết (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(9) Bộ luật Hoa Kỳ).

38 Theo pháp luật Việt Nam, QTV báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của

DNMKNTT tham gia xây dựng kế hoạch PHHĐKD (khoản 3 Điều 16 LPS 2014).

Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV phải lập báo cáo trong trường hợp: giải trình nguyên nhân không nộp kế hoạch PHHĐKD, đề xuất chuyển đổi tính chất vụ việc phá sản theo Chương 7, đề xuất hủy bỏ vụ việc phá sản và những báo cáo khác xét thấy cần thiết hoặc Tòa án yêu cầu sau khi đã thông qua kế hoạch PHHĐKD (Tiêu đề

11 Điều 1106(a)(5) và 1106(a)(7) Bộ luật Hoa Kỳ).

39 Theo pháp luật Việt Nam, QTV phải báo cáo theo yêu cầu của Thẩm phán, cơ quan thi hành án dân sự (khoản

6 Điều 16 LPS 2014).

Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV báo cáo khi có yêu cầu của Tòa án hoặc Uỷ thác viên Hoa Kỳ (Tiêu đề 11 Điều 704(a)(9) và 1106(a)(7) Bộ luật Hoa Kỳ).

Trang 18

qua hai phương diện: (1) các tiêu chuẩn chung để được hành nghề và (2) thủ tụcđăng ký hành nghề với CQNNCTQ.

(1) Các tiêu chuẩn chung để được hành nghề:

Ngoài các yếu tố cần thiết về phẩm chất đạo đức, năng lực hành vi dân sự thìtrình độ chuyên môn là yếu tố được đề cao từ các “ứng cử viên” Các quốc giathường có những xu hướng: (i) chỉ yêu cầu về kiến thức chuyên môn/kinh nghiệm40,(ii) cấp chứng chỉ khi đã đáp ứng các điều kiện về kiến thức lẫn kinh nghiệm41 hoặc(iii) ngoài đáp ứng yêu cầu về kiến thức, chuyên môn thì QTV còn phải trải qua mộtkhóa đào tạo nghiệp vụ.42 Tuy có sự khác biệt song xét về nền tảng, cả hai xuhướng đều đòi hỏi QTV phải là người có kiến thức chuyên môn và năng lực đểtham gia giải quyết vụ việc phá sản

(2) Thủ tục đăng ký hành nghề với CQNNCTQ:

Nếu các tiêu chuẩn chung được xem là “điều kiện cần” thì tại một số quốc gia,thủ tục đăng ký hành nghề với CQNNCTQ chính là “điều kiện đủ” để công nhậnhành nghề đối với QTV Khi đã đáp ứng các tiêu chuẩn chung, QTV sẽ tiến hànhlàm hồ sơ đăng ký với CQNNCTQ Việc đăng ký nhằm mục đích ghi nhận tư cáchhành nghề của từng QTV và có ý nghĩa quan trọng trong công tác quản lý hànhchính Mặt khác, thủ tục đăng ký này được xem là bước sàng lọc cuối cùng để côngnhận rằng liệu một người có thể trở thành QTV hay không Dựa trên hồ sơ nhậnđược, CQNNCTQ có thể yêu cầu thêm những minh chứng khác để đảm bảo rằngngười này đã đáp ứng đủ các điều kiện và không thuộc trường hợp bị cấm đăng kýhành nghề Do đó, khi thủ tục đăng ký đã được thông qua, QTV đã đảm bảo tư cáchhành nghề có giá trị pháp lý

Tại Việt Nam, không phải hiển nhiên mà QTV được liệt kê trong danh mục cácngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện đối với lĩnh vực tư pháp tại Phụ lục 4 LuậtĐầu tư 2014 Xét thấy, điều kiện kinh doanh áp dụng đối với một số ngành, nghề

40 Theo pháp luật Hoa Kỳ, QTV không cần được cấp chứng chỉ hành nghề nhưng phải là một trong những đối tượng sau: (i) luật sư có uy tín tại bất kỳ bang nào hoặc quận Columbia, (ii) kế toán đã được cấp giấy chứng nhận, (iii) cử nhân trong lĩnh vực kinh doanh hoặc bằng cấp cao hơn trong lĩnh vực kinh doanh, (iv) sinh viên luật năm cuối hoặc người dự tuyển thạc sĩ quản trị kinh doanh và làm việc dưới sự giám sát trực tiếp từ: một thành viên thuộc khoa luật trường đại học, một thành viên thuộc hội đồng QTV hoặc một thành viên của một chương trình được thành lập bởi hiệp hội luật sư địa phương để cung cấp kinh nghiệm cơ bản cho sinh viên, hoặc (v) người có kinh nghiệm liên quan đến lĩnh vực nói trên được chấp nhận bởi Uỷ thác viên Hoa Kỳ (Tiêu

đề 28 Điều 58.3(b)(6) Bộ Quy tắc liên bang).

41 Theo pháp luật Việt Nam, QTV được cấp chứng chỉ hành nghề QTV khi thuộc một trong những trường hợp sau: (i) luật sư, (ii) kiểm toán viên và (iii) người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng

và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo (Khoản 1 Điều 12 LPS 2014).

42 Theo pháp luật Liên bang Nga, QTV phải có nền tảng giáo dục bậc đại học, đã trải qua quá trình tập sự với vai trò hỗ trợ một QTV khác trong thời hạn ít nhất là sáu tháng và đã hoàn thành kỳ thi lý thuyết theo chương trình đào tạo QTV (Điều 20.1 LPS Liên Bang Nga 2002).

12

Trang 19

vì tính chất đặc thù của ngành, nghề đó có những tác động tới lợi ích công cộng đếnmức buộc Nhà nước phải quản lý bằng các điều kiện trước khi hoạt động so với nhữngngành nghề khác.43 Chính vì thế, với tình hình các vụ việc phá sản ngày càng trở nên

đa dạng cùng diễn tiến phức tạp liên quan đến các vấn đề về tài sản, các điều kiện hànhnghề QTV cần được siết chặt hơn để đảm bảo người hành nghề quản lý, thanh lý tài sản

có đủ tài, đủ tâm giúp thủ tục phá sản diễn ra nhanh chóng và có hiệu quả

Về phía QTV, các điều kiện hành nghề mang nhiều ý nghĩa tích cực Đối vớinhững cá nhân có mong muốn trở thành QTV, họ nhận thức được những yêu cầu vềchuyên môn cũng như những đạo đức cần phải trải qua quá trình trau dồi để đạt được.Đối với những cá nhân đã và đang hành nghề QTV, họ nhận thấy các yêu cầu đối vớiQTV là khuôn mẫu để tiếp tục hoàn thiện bản thân mình phù hợp với công việc Đồngthời, các điều kiện này cũng phản ánh được vị thế của QTV: phải trải qua nhiều chặngđường để có thể nhận được chức danh này Vì vậy, QTV sẽ cảm thấy mình có vị trínhất định và ý thức hoàn thành trách nhiệm trong mỗi vụ việc phá sản

Về phía các chủ thể khác, các quy định về điều kiện hành nghề bước đầu tạoniềm tin về QTV và thủ tục phá sản Hai hoạt động chính của quá trình giải quyếtphá sản là thủ tục liên quan đến tài sản và PHHĐKD Các chủ nợ sẽ quan tâm: liệuQTV có đủ kinh nghiệm và kiến thức để quản lý, thanh lý để đảm bảo tài sản đượcphân chia tối đa giá trị hay không Còn các con nợ sẽ băn khoăn: liệu QTV có đủnăng lực để giúp thanh toán các khoản nợ tồn đọng hay không Chính những điềukiện để hành nghề QTV sẽ là minh chứng cho sự phù hợp năng lực và củng cố đượclòng tin từ phía chủ nợ và con nợ

Thứ ba, QTV có tư cách độc lập trong vụ việc phá sản 44

Tư cách độc lập của QTV trước tiên được thể hiện bởi mối quan hệ trong thủ tụcphá sản đối với hai chủ thể quan trọng là chủ nợ và con nợ Với phạm vi nhiệm vụ vàquyền hạn của mình, QTV không phải là người cung cấp dịch vụ do cho bất kì bênnào.45 Tức giữa QTV và các chủ thể này không tồn tại bất cứ hợp đồng làm việc nàohay ràng buộc về nghĩa vụ, lợi ích cá nhân46 mà tư cách của QTV được một

43 Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2017), Báo cáo rà soát điều kiện kinh doanh và

quyền tự do kinh doanh ở Việt Nam, Hà Nội, tr 10.

44 Dương Kim Thế Nguyên (2014), “Quản tài viên trong Luật phá sản các nước – Kinh nghiệm cho Việt Nam”,

Tạp chí Tòa án nhân dân, số 6/2014, tr 8.

45 Mária Veterníková – Ján Mišura (2011), Bankruptcy Trustee in Insolvency Proceedings as an

Entrepreneur and as a Subject of the Proceeding, Studia Commercialia Bratislavensia, Volume 4, No 13

(1/2011), tr 157.

46 Quan điểm này cũng được Tòa án hạt liên bang Florida công nhận:“Mặc dù nghĩa vụ của QTV là sắp đặt theo thứ tự các tài sản vì lợi ích của các chủ nợ, nhưng nhiệm vụ đó được coi là mối quan hệ ủy thác đối với tài sản chứ không phải là một kiểu “người được thuê”(hired gun) QTV không phải là nhân viên hoặc đại diện của các chủ nợ; chủ nợ không có quyền chỉ đạo QTV thực hiện các nhiệm vụ theo luật định cho vị trí này QTV

Trang 20

CQNNCTQ chỉ định với vai trò là người tiến hành thủ tục phá sản Do đó, QTVphải bảo đảm được cán cân lợi ích không bị thiên lệch: một mặt, giá trị tài sản củacon nợ phải được quản lý chặt chẽ, hỗ trợ trong quá trình PHHĐKD; mặt khác, tàisản được thanh lý phải thu lại được giá trị có lợi nhất để phân chia cân bằng cho cácchủ nợ Quan điểm này đã được một số quốc gia ghi nhận minh thị, chẳng hạn tại

Điều 56.(1) Luật Phá sản Cộng hòa Liên Bang Đức 1999 quy định: “…Tòa phá sản

phải lựa chọn và chỉ định QTV là một người độc lập tự nhiên phù hợp với vụ việc,

có nhiều kinh nghiệm trong các vấn đề kinh doanh và độc lập với các chủ nợ và con nợ” Hay trong một bản án, Tòa án Dân sự và Thương mại tối cao Cộng hòa Séc

cho rằng: “QTV không phải là một bên tham gia thủ tục phá sản Với tư cách là một

chủ thể tiến hành tố tụng đặc biệt QTV có địa vị độc lập đối với con nợ cũng như đối với các chủ nợ…”.47

Ngoài ra, tư cách độc lập của QTV còn được thể hiện trong mối quan hệ về nhânthân đối với chủ nợ, con nợ và các chủ thể có liên quan đến thủ tục tiến hành tố tụng.Thông thường, các quốc gia có xu hướng không công nhận hoặc yêu cầu thay đổi QTV,

từ chối thực hiện nếu phát hiện trường hợp này Chẳng hạn, theo pháp luật Hoa Kỳ thì

một trong những yêu cầu bắt buộc của QTV là: “Không có quan hệ thân thuộc hoặc

cùng huyết thống trong phạm vi là anh em họ với bất kỳ nhân viên nào thuộc Văn phòng Hành chính Uỷ thác Hoa Kỳ trực thuộc Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, hoặc với bất kỳ nhân viên nào thuộc Văn phòng Ủy thác Hoa Kỳ ở hạt mà nhân viên đó làm việc” 48

Về pháp luật Việt Nam, QTV phải từ chối thực hiện trong trường hợp: “Là người có

liên quan với doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp”, 49 Thẩm phán có thể quyết định thay đổi QTV nếu có căn

cứ chứng minh QTV không khách quan trong khi thực hiện nhiệm vụ hay QTV khôngphải là người thân thích của người tham gia thủ tục phá sản50

Tóm lại, các quy định có tính tạo lập tư cách QTV độc lập trong quá trình giảiquyết vụ việc phá sản đều nhằm mục đích tạo cơ hội cho QTV được phát huy vai tròcủa mình mà không bị ảnh hưởng bởi những yếu tố ngoài luồng Từ đó, QTV cónhững quyết định, hành động đúng đắn, khách quan vô tư và hợp lý hợp tình

thực chất là một bên thứ ba độc lập chịu trách nhiệm tối đa hóa tài sản phá sản” (United States Bankruptcy

Court Southern District of Florida (2005), Memorandum decision and order approving stipulation between

debtors and trustee, the United States, tr 7).

47 Ďurica, M (2006) Konkurzné právo na Slovensku a v Európskej únii (Dẫn theo: Mária

Trang 21

Thứ tư, QTV được chỉ định theo từng vụ việc.

Việc chỉ định QTV tham gia giải quyết thủ tục phá sản có thể được thực hiện bởi các chủ thể sau:

 Thông qua Hội đồng các chủ nợ: chẳng hạn, theo Điều 14 và Điều 102.(5)LPS và vỡ nợ Canada 1985, thông qua nghị quyết đặc biệt tại hội nghị chủ nợ, cácchủ nợ có quyền chỉ định QTV hoặc thay thế bởi một QTV được cấp phép khác

 Thông qua một CQNNCTQ: chẳng hạn, theo Tiêu đề 11 Điều 701 và Điều

1104 Bộ luật Hoa Kỳ, việc chỉ định QTV sẽ được gia cho ủy thác viên Hoa Kỳ

(United States Trustee) thuộc USTP Các vấn đề liên quan đến việc chỉ định QTV sẽ

được phân tích sâu tại Chương 2.

 Thông qua Tòa án: chẳng hạn, theo Điều 74.(1) và Điều 75.(1) LPS Nhật Bản

2004, Tòa án là chủ thể duy nhất có thẩm quyền chỉ định và giám sát QTV Còn theoLPS 2014 của Việt Nam, người có quyền, nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sảntheo Điều 5 có quyền đề xuất chỉ định QTV và phải ghi rõ tên, địa chỉ QTV

được lựa chọn trong đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (khoản 3 Điều 26, khoản 3Điều 27, khoản 4 Điều 28 và khoản 2 Điều 29) Sau đó, Tòa án sẽ dựa trên thông tin

mà người nộp đơn cung cấp và các căn cứ khác theo quy định pháp luật để ra quyếtđịnh chỉ định QTV cho vụ việc phá sản đó (Điều 45)

Để đảm bảo tính thống nhất, pháp luật các quốc gia thường quy định một chủ thểduy nhất thực hiện quyền chỉ định Tuy nhiên, cũng có những quốc gia công nhận nhiều

thẩm quyền kết hợp, chẳng hạn theo pháp luật Ý thì: “Nhiều QTV khác nhau có thể

cùng được triệu tập bởi Tòa án và/hoặc hội đồng các chủ nợ để cùng phối hợp với nhau nhằm mục tiêu chung nhất là tối đa hóa giá trị các tài sản” 51 Tùy vào đặc trưng

riêng về nền pháp luật phá sản mà các quốc gia có quan điểm khác nhau về chủ thể chỉđịnh QTV: hội đồng chủ nợ có quyền chỉ định QTV vì về bản chất, việc quản lý, thanh

lý tài sản là nhằm phân chia tài sản để bảo vệ lợi ích của chủ nợ, do đó việc cho phépchỉ định QTV thể hiện sự ghi nhận quyền lợi và tạo sự an tâm cho chủ nợ Cũng cóquốc gia đã xây dựng nền pháp luật phá sản lâu đời cũng như số vụ phá sản hằng nămlớn, do đó, các quốc gia này có xu hướng trao cho một CQNNCTQ khác thực hiện đểchuyên môn hóa nghiệp vụ quản lý, thanh lý tài sản Các quốc gia còn lại thì công nhậnduy nhất Tòa án có quyền chỉ định QTV vì dấu ấn của chủ thể này

51 J William Boone (2012), International Insolvency: Jurisdictional Comparisons, Nhà xuất bản

Sweet & Maxwell, tr 248.

15

Trang 22

rất mạnh mẽ, với vai trò là chủ thể trung tâm trong thủ tục phá sản, Tòa án tất nhiên

có quyền được chỉ định QTV tham gia vụ việc

Tuy quan điểm về chủ thể chỉ định có sự khác nhau, song các quốc gia đều gặpnhau ở điểm chung là QTV được lựa chọn và chỉ định theo từng vụ việc cụ thể.Điều này là dễ hiểu vì các vụ việc phá sản có sự biến thiên muôn hình vạn trạng,mỗi vụ việc lại đòi hỏi những khả năng chuyên môn, kinh nghiệm khác nhau nêncác QTV cũng cần phải được lựa chọn linh động Mặt khác, việc xem xét QTV trêntừng vụ việc cụ thể là cơ sở để rà soát lại các điều kiện liên quan đến tư cách độc lậpcủa QTV

1.2 Vai trò của quản tài viên trong quá trình phá sản doanh nghiệp

Một trong hai chức năng chủ yếu của pháp luật là điều chỉnh các quan hệ xãhội.52 Khi các quan hệ xã hội ngày càng vận động, phát triển và trở nên đa dạng thìnhu cầu cần được điều chỉnh bởi pháp luật cũng nảy sinh Vì vậy, để nhận địnhđược sự cần thiết của pháp luật điều chỉnh một vấn đề nào đó, trước tiên cần phảitiếp cận từ góc nhìn khách quan đối với các quan hệ xã hội đó Để đánh giá chế địnhQTV cũng không là ngoại lệ, trong mục này, tác giả sẽ tiến hành xem xét bao quátvấn đề đan xen ở cả góc độ về lý luận và thực tiễn như sau:

1.2.1 Về vấn đề điều hòa lợi ích của chủ nợ và con nợ trong quá trình giải quyết phá sản

Ngay từ khi thiết lập các thỏa thuận cho vay, chủ nợ luôn tìm cách đề phòng nhằmhạn chế tối đa rủi ro con nợ không thực hiện đúng cam kết; trong khi con nợ quan tâmđến việc bảo vệ mình trước những hành động ép buộc thực hiện hoặc xâm phạm từ phíachủ nợ.53 Như vậy, ngay từ vạch xuất phát, giữa hai chủ thể này luôn tồn tại sự đối lậptrong ý chí bảo vệ quyền lợi của mình Bên cạnh đó, giải quyết thủ tục phá sản thựcchất xoay quanh việc giải quyết các vấn đề lợi ích về tài sản giữa chủ nợ với con nợ màchủ yếu là hoạt động quản lý, thanh lý tài sản Vì vậy, một khi đã bắt đầu thủ tục phásản, thiết chế đối với hoạt động này cũng cần được hình thành

Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là: ai sẽ là chủ thể thực hiện hoạt động này Chắc chắnkhông thể là chủ nợ hoặc con nợ Mặc dù, chủ nợ là người cho vay và có quyền yêucầu nhận lại phần tài sản chính đáng thuộc về mình và con nợ thì lại là người thấu rõtình trạng tài sản đang nắm giữ nhất Nếu giao cho một trong hai chủ thể này đảm

52 Trường đại học Luật Tp Hồ Chí Minh (2017), Tập bài giảng Lý luận về pháp luật (Tái bản lần 1, có sửa đổi và bổ sung), Nhà xuất bản Hồng Đức, tr 29.

53 Brian A Blum (2013), Examples & Explanations: Bankruptcy and Debtor/Creditor, Nhà xuất bản

Wolters Kluwer, tr 3.

16

Trang 23

nhiệm hoạt động quản lý, thanh lý tài sản thì sẽ làm phát sinh những xung đột khác.Chẳng hạn, về phía chủ nợ sẽ dễ có mâu thuẫn giữa một với nhiều chủ nợ về quyền,cách thức thực hiện khi cùng tham gia quản lý, thanh lý tài sản Còn con nợ, với tâmthế tìm mọi cách cứu vãn tình hình sẽ dễ dùng tài sản làm đối tượng thực hiện cácbiện pháp phi pháp như trốn nợ, tẩu tán tài sản, giả mạo giấy tờ v.v.54 Và về Tòa án,

dù được xem là trung tâm giải quyết thủ tục phá sản nhưng cũng thể đảm nhiệm tốtđược vai trò này.55

Ngoài mâu thuẫn về lợi ích tài sản, giữa con nợ và chủ nợ cũng có sự đối nghịch

về tâm lý Trong khi chủ nợ nhận thấy khả năng thu hồi các khoản nợ càng mongmanh thì càng có xu hướng thúc giục vội vã để “có còn hơn không” và lo sợ liệucon nợ có thiện chí, trung thực để thanh toán theo thủ tục phá sản hay không Còncon nợ thì vẫn chần chừ “còn nước còn tát”, phần vì sợ tuyên bố phá sản thì sẽ ảnhhưởng đến danh tiếng, uy tín, phần vì chưa có phương hướng cụ thể để thanh toáncác khoản nợ

Như vậy, tâm lý giữa chủ nợ và con nợ rất đối nghịch nên không thể tránh khỏi các

hành vi gian dối về tài sản (frauds) của con nợ trong phá sản nhằm trốn tránh thực hiện

nghĩa vụ thanh toán với chủ nợ Dù đã manh nha có những quy định từ thời pháp luậtRoma về con nợ và chủ nợ,56 nhưng trên thực tế, pháp luật phá sản bắt đầu quan tâmđến việc phòng ngừa và ngăn chặn con nợ lừa dối chủ nợ sớm nhất là từ thời Trung cổ,tiêu biểu như Luật chống lại những kẻ phá sản của Anh đã trừng phạt các con nợ bằngcách bỏ tù và có thể sẽ lấy đi một bên tai nếu con nợ không chứng minh được lý do duynhất dẫn đến phá sản là vì kém may mắn.57 Ngoài ra, pháp luật Anh cũng trao quyềncho các ủy viên điều tra xem liệu các con nợ này có che giấu tài sản hay không.58Những hình phạt hà khắc này thiếu tính nhân đạo và thực tế, đã giới hạn quyền của con

nợ, không quan tâm rằng con nợ đó lừa dối hay trung thực và không làm vơi bớt sựmâu thuẫn giữa con nợ và chủ nợ Đồng thời, nó cũng không mang lại hiệu quả khi đếnđầu thế kỷ XVIII, các hành vi gian dối trong phá sản đã trở thành tội phạm chủ yếutrong xã hội.59 Các tội phạm phá sản được xếp vào nhóm tội phạm

54 Lữ Thị Ngọc Diệp (2011), Điều hòa lợi ích giữa chủ nợ và doanh nghiệp, hợp tác xã mắc nợ theo

luật phá sản hiện hành, Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, tr 16.

55 Được chứng minh tại Tiểu mục 1.2.2.

56 Roy Goode, tlđd (17), tr 7.

57 Michael D Sousat (2011), “A Delicate Balancing Act: Satisfying the Fourth Amendment While

Protecting the Bankruptcy System from Debtor Fraud”, Yale Journal on Regulation, Volume 28/2011, tr

369, 370.

58 Michael D Sousat, tlđd (57), tr 370.

59 Stephanie Wickouski (2007), Bankruptcy Crimes, Nhà xuất bản Beard Books, tr 5.

17

Trang 24

cổ cồn trắng (white – collar crime)60 với các hình thức vi phạm tinh vi và có tổchức.61 Bộ luật Hoa Kỳ cũng đã quy định các tội phạm phá sản từ Điều 152 đếnĐiều 157 tại Tiêu đề 18.

Cho đến thế kỷ XIX, pháp luật Anh và Hoa Kỳ bắt đầu công nhận sự phân địnhriêng biệt giữa các con nợ gian dối với các con nợ thành khẩn.62 Thay vào đó, vaitrò của QTV bắt đầu có sự tách biệt với vai trò của các ủy viên và dần được củng cốbởi các quy định về quyền hạn của QTV trong vụ việc phá sản Đặc biệt, quyền vànghĩa vụ của QTV nhằm ngăn chặn các giao dịch chuyển nhượng gian dối cũngđược quy định chi tiết tại Điều 548 Tiêu đề 11 của Bộ luật Hoa Kỳ Những quy địnhnày đã cho phép QTV được thực hiện các quyền và nghĩa vụ trên thực tế kịp thời vàtránh được các hành vi gian lận từ con nợ trong từng vụ việc cụ thể, chẳng hạn nhưtrong vụ việc sau63:

Norman Barman là con nợ nộp đơn yêu cầu phá sản, kèm theo đơn, anh ta liệt kê

tài sản duy nhất của mình là “bộ trang phục trị giá 500 đô la Mỹ” (wearing apparel

worth $500) Tuy nhiên, QTV đã có đơn cáo buộc các giao dịch chuyển nhượng gian

dối các tài cá nhân nhằm trốn tránh nghĩa vụ thanh toán đối với các chủ nợ Cụ thể,Barman đã gian dối chuyển nhượng tiền cho vợ để mua nhà tại Warren và Milford,Michigan cũng như che giấu các tài sản khác thuộc tài sản phá sản thông qua các giaodịch chuyển nhượng đứng tên các chủ thể khác Đồng thời, QTV cũng đệ đơn yêu cầuTòa án cho phép được đến tận nơi ở để “kiểm tra, kiểm kê và thẩm định tài sản cánhân” vì cho rằng “con nợ sẽ cố che giấu các tài sản tại nhà nếu được thông báo trước”.Yêu cầu này đã được thẩm phán Tòa án chấp nhận và cho tiến hành Tòa án cũng nhậnthấy rằng QTV sẽ không hoàn thành trọn vẹn các nghĩa vụ theo luật định để quản lýtoàn bộ tài sản phá sản nếu không kiểm tra nơi ở của con nợ Điều này cho thấy Tòa ánluôn tạo điều kiện để QTV được thể hiện quyền năng của mình trong việc kiểm soát,ngăn chặn và tố cáo các hành vi gian dối dẫn đến các tội phạm hình sự, gây ảnh hưởngnghiêm trọng đến khả năng thu hồi nợ của chủ nợ

Từ những phân tích trên cho thấy: QTV là một cơ chế trung gian ra đời để thựchiện hoạt động quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình phá sản để giúp chủ nợ thu

60 Criminal Justice Information Services (CJIS) (2002), The Measurement of White-Collar Crime Using

Uniform Crime Reporting (UCR) Data, the United States, tr 1 [Theo Cục Điều tra Liên bang (FBI), tội

phạm cổ cồn trắng là những hành vi bất hợp pháp do cá nhân hoặc doanh nghiệp thực hiện, không sử dụng

hoặc đe dọa sử dụng vũ lực, có đặc trưng là sự lừa dối, che giấu hoặc vi phạm lòng tin để trốn tránh nghĩa vụ thanh toán và đạt được các lợi ích cá nhân hoặc lợi ích tài chính].

61 Roger LeRoy Miller (2014), Cengage Advantage Books: Business Law: Text & Cases - An

Accelerated Course, Nhà xuất bản Cengage Learning, tr 141.

62 Michael D Sousat, tldđ (57), tr 370.

63 In Re Barman, 252 B.R 403 (Bankr E.D Mich 2000).

18

Trang 25

hồi các khoản nợ hiệu quả và con nợ cũng có thể rút lui một cách an toàn, thậm chí

là một thủ tục có quan hệ chặt chẽ về kinh tế và có sức ảnh hưởng đến nhiều chủ thểkhác Vì vậy, ngoài các vấn đề pháp lý thuộc chuyên môn nghiệp vụ của Tòa án thìcòn cần một chủ thể khác am hiểu chuyên sâu về kinh tế để thực hiện vai trò quản

lý, thanh lý tài sản

Trước khi đạt được mục tiêu phân chia tài sản, ngoài những thủ tục khác về mặtpháp lý kể trên, chính kết quả từ hoạt động quản lý, thanh lý tài sản là cơ sở để Tòa

án đưa ra quyết định phân chia tài sản Sau đó, tại một số quốc gia, cơ quan thi hành

án sẽ dựa trên quyết định của Tòa án để tiến hành phân chia Như vậy, hoạt độngcủa QTV như là một khâu thiết yếu trong chuỗi trình tự giải quyết phá sản Thôngqua các quy định pháp luật, Tòa án có căn cứ để giám sát các hoạt động của QTV,đảm bảo QTV đi đúng hướng để hỗ trợ kết thúc vụ việc phá sản Điều này hoàn toànphù hợp với chức năng điều khiển của Tòa án và giúp Tòa án giảm bớt được khốilượng công việc đáng kể, nhất là Tòa án tại các nước có lượng đơn yêu cầu phá sảncao Đồng thời, những quyết định mang tính chất bắt buộc của Tòa án và tráchnhiệm công việc của QTV sẽ tạo nên sự cộng hưởng lớn khiến vụ việc phá sản đượcgiải quyết công bằng, hiệu quả và nhanh chóng

Mặt khác, cũng cần nhìn nhận rằng, quá trình phát hiện và chứng minh các hành vigian dối của con nợ đòi hòi nhiều công sức và thời gian.66 Theo báo cáo về vấn đề

64 Adam J Levitin (2015), Business Bankruptcy: Financial Restructuring and Modern Commercial

Markets, Nhà xuất bản Wolters Kluwer, tr 9, 10.

65 Dương Đăng Tuệ (2005), tldđ (4), tr 42.

66 Kroll (2015), Global Fraud Report: Vulnerabilities on the Rise, the United States, tr 20.

19

Trang 26

gian dối toàn cầu năm 2015, do Kroll67 và EIU68 thực hiện đã chỉ ra những thách thứcphổ biến trong công tác điều tra khi có cáo buộc về hành vi gian dối trong phá sản69, từ

đó đưa ra kết luận cần có một hệ thống kết hợp các nghiệp vụ để phối hợp giải quyếthiệu quả vấn đề.70 Do đó, ngoài sự phối hợp giữa Tòa án và QTV (như ví dụ nêu trên),việc xử lý các trường hợp gian dối trong phá sản còn đòi hỏi sự tham gia từ nhiều chủthể khác nhau Trong báo cáo gửi đến Quốc hội về vấn đề tố giác tội phạm năm tàichính 2018 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, các nỗ lực trong công tác phòng chống gian dối

và các vi phạm khác trong phá sản đã được đề cập Theo đó, ngoài USTP là chủ thể xácđịnh và giới thiệu để điều tra, truy tố hành vi gian dối trong phá sản và các tội phạm cóliên quan đến phá sản71, nhiều chủ thể khác cũng được ghi nhận có sự phối hợp để giảiquyết các vấn đề gian dối phá sản, có thể kể đến như: các lực lượng đặc nhiệm, các bộtrưởng, hòm thư tố giác hành vi gian dối trực tuyến v.v.72

Từ những phân tích trên, có thể đưa ra kết luận: QTV là một nhân tố quan trọngtrong từng vụ việc phá sản, tuy nhiên, bên cạnh đó cũng cần đặt trong mối quan hệtương quan với các cơ quan thực hiện nhiệm vụ khác Các thông tin vụ việc đượcxem xét và phản hồi từ QTV là nguồn chính yếu để USTP sử dụng trong việc nhậndiện hành vi gian dối, để từ đó có thể kịp thời nắm bắt và nhờ đến sự hỗ trợ của cácchủ thể khác khi xét thấy cần thiết Vì vậy, cần có nhận định đúng đắn về QTV làmột mắt xích không thể tách rời trong hệ thống phòng chống các hành vi gian dốitrong phá sản Bức tranh hiện thực sinh động từ Anh và Hoa Kỳ – hai quốc gia cónền pháp luật phá sản lâu đời trên thế giới chính là minh chứng sống cho sự cầnthiết ra đời của chế định QTV và đồng thời là bài học kinh nghiệm đối với các quốcgia đang từng bước xây dựng pháp luật phá sản

1.2.3 Về vấn đề xây dựng các thiết chế phi chính phủ theo xu hướng chung của thế giới

Sự phát triển của một nền kinh tế còn được thể hiện ở sự hiện diện của nhiều thiếtchế phi chính phủ do các nhà kinh doanh thành lập, chẳng hạn, ở các nước có nền kinh

tế thị trường phát triển thì ngoài các tổ chức xã hội – nghề nghiệp, hiệp hội ngành

67 Kroll là công ty hàng đầu trong lĩnh vực giúp khách hàng quản lý việc tuân thủ, điều hướng kiện tụng và giảm thiểu rủi ro liên quan đến gian lận và các mối đe dọa bảo mật, có trụ sở tại New York, Hoa Kỳ.

68 EIU là tên viết tắt của Economist Intelligence Unit – Cơ quan nghiên cứu kinh tế toàn cầu thuộc tạp chí The Economist (Nhà kinh tế).

69 Những thách thức phổ biến được chỉ ra bao gồm: tình trạng con nợ hung hăng và bất hợp tác, thiếu kinh phí để điều tra toàn diện, hồ sơ bị thiếu và/hoặc không được cung cấp đầy đủ và khung thời gian bị giới hạn (Kroll, tlđd (66), tr 20).

70 Kroll, tlđd (66), tr 21.

71 United States Department of Justice (2019), Report to Congress: Criminal Referrals by the United

States Trustee Program Fiscal Year 2018, the United States, tr 6.

72 United States Department of Justice, tlđd (71), tr.7, 9.

20

Trang 27

hàng v.v còn có tổ chức của các chuyên gia quản lý tài sản.73 Họ là những người đãđáp ứng đủ các điều kiện để hành nghề QTV và được xem là những người hànhnghề độc lập, tự do trong việc giải quyết thủ tục phá sản và không thuộc bộ máy cơquan nhà nước Điều này cũng chứng tỏ, những hoạt động vốn thuộc chức năng củaNhà nước đã được xã hội hóa ở mức độ cao trong những hoạt động mang tính nghềnghiệp, không nhất thiết phải sử dụng đến quyền lực nhà nước.74

Xu hướng này phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội năng động nhưhiện nay, nhất là tại các quốc gia phát triển có tỷ lệ các vụ việc phá sản cao và đemlại nhiều kết quả đáng kể Trước hết, Nhà nước sẽ tiết kiệm được nguồn nhân lựcthuộc bộ máy nhà nước trong các hoạt động liên quan đến quản lý, thanh lý tài sản,

từ đó nguồn nhân lực này có nhiều thời gian và cơ hội để tập trung nâng cao nghiệp

vụ pháp lý Mặt khác, QTV còn là người được đánh giá phải thông thạo nhiềunghiệp vụ chuyên môn, đặc biệt là tài chính doanh nghiệp kế toán, định giá và cácquy định của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.75 Dù là các cá nhân không thuộc

cơ quan nhà nước, nhưng thông qua sự công nhận tồn tại và các khuôn khổ phápluật được thiết lập, Nhà nước hoàn toàn có thể theo dõi, giám sát kịp thời các hoạtđộng của QTV Do đó, Nhà nước sẽ tận dụng được đội ngũ này để đạt được chấtlượng ưu việt đối với các bên trong thủ tục phá sản và cả xã hội

1.3 Khái quát một số nội dung pháp luật quy định về quản tài viên

1.3.1 Quản lý nhà nước đối với quản tài viên

Bất kì một thủ tục nào nhằm giải quyết các vấn đề theo luật định cũng cần đượcxây dựng một cách có hệ thống thông qua hoạt động quản lý nhà nước Điều này sẽđảm bảo các quy trình được tiến hành có tổ chức, phân tách trách nhiệm của các cánhân, tổ chức thực hiện nhằm đẩy vấn đề được giải quyết đúng tiến độ và đạt kếtquả Đối với pháp luật về QTV, yêu cầu này cũng được đặt ra và thể hiện rõ trên cáckhía cạnh:

1.3.1.1 Hệ thống quản lý quản tài viên

Hệ thống quản lý QTV được xây dựng bởi các chủ thể có thẩm quyền trong mốiliên hệ tương hỗ về chức năng và nhiệm vụ Tức các chủ thể đều thực hiện các hoạtđộng trong quá trình phá sản để đảm bảo hoạt động của QTV luôn được kiểm soát

73 Lê Tuấn Anh (2013), Vai trò của Tòa án trong giải quyết yêu cầu phá sản doanh nghiệp, Luận

văn thạc sĩ luật, Khoa Luật - Đại học Quốc gia Hà Nội, tr 26.

74 Đặng Văn Huy (2011), “Chủ thể quản lý tài sản phá sản - sự lựa chọn mô hình trong pháp luật phá

sản Việt Nam”, Tạp chí Nghề luật, số 1/2011, tr 21.

75Hội Kiểm toán viên hành nghề Việt Nam (VACPA), “Luật hóa nghề quản tài viên”,

http://www.vacpa.org.vn/Page/Detail.aspx?newid=4751, truy cập ngày 21/3/2020.

21

Trang 28

Tùy vào quy định của mỗi quốc gia mà khả năng quản lý QTV của các chủ thể này

là bao quát hay trực tiếp Thông thường, hệ thống quản lý QTV có thể bao gồm:

 Tòa án: là chủ thể có vai trò điều khiển và quán xuyến mọi hoạt độngtrong thủ tục phá sản Tòa án có thể là người trực tiếp chỉ định và giám sát QTVtrong từng vụ việc cụ thể hoặc chỉ nhận các thông báo về QTV thông qua một cơquan giám sát khác

 Bộ Tư pháp/ Sở Tư pháp: là chủ thể thường có nhiệm vụ quản lý các hoạtđộng hành chính liên quan đến QTV, chẳng hạn: cấp chứng chỉ hành nghề QTV,quản lý về số lượng QTV, đăng các báo cáo/thông báo công khai v.v Ngoài ra, Bộ

Tư pháp còn có thẩm quyền chỉ định nhân lực của cơ quan giám sát hoạt động củaQTV (nếu có)

được thành lập như một nhánh riêng biệt với mục đích nhằm giám sát QTV trongmột giai đoạn hoặc toàn bộ quy trình hoạt động của QTV Bên cạnh đó, cơ quan này

có thể cử ra một cá nhân trực thuộc để thực hiện chỉ định và giám sát QTV

1.3.1.2 Vấn đề chỉ định và cơ chế giám sát quản tài viên

Chỉ định và giám sát QTV là hai vấn đề trọng yếu và diễn ra xuyên suốt khi nóiđến hoạt động quản lý QTV Thực chất, đây là một phần gắn liền với hệ thống quản

lý vừa được đề cập Vấn đề này cần được làm rõ thông qua các yếu tố như: chủ thể

có thẩm quyền thực hiện, thời điểm chỉ định, số lượng QTV được chỉ định và cáchthức giám sát Việc làm rõ các yếu tố này sẽ lý giải cách vận hành của hệ thốngquản lý QTV Mặt khác, đây chính là tiền đề để đối chiếu, so sánh các quy địnhpháp luật đối có phù hợp với thực tiễn hay không

1.3.1.3 Vấn đề quản lý thông tin liên quan và đào tạo quản tài viên

Các thông tin liên quan đến QTV có thể bao gồm: các tài liệu hướng dẫn, thamkhảo; danh sách, thông tin cá nhân của QTV; các biểu mẫu, dữ liệu thống kê v.v đểQTV và những chủ thể quan tâm khác tiếp cận Bên cạnh đó, nâng cao chất lượngnguồn nhân lực thông qua đào tạo là con đường cần thiết để tăng trưởng kinh tế cao

và ổn định.76 Với vai trò là nguồn nhân lực quan trọng và cần thiết trong thủ tục phásản, QTV cũng cần được đảm bảo trau dồi kiến thức, kỹ năng thường xuyên để đápứng được tính chất công việc phức tạp

76 Lê Thị Thu, “Về công tác đào tạo nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay”, https://www.quanlynhanuoc.vn/2019/07/18/ve-cong-tac-dao-tao-nguon-nhan-luc-o-nuoc-ta-hien-nay/, truy cập ngày 24/3/2020.

22

Trang 29

1.3.2 Vai trò của quản tài viên trong vụ việc phá sản có yếu tố nước ngoài (phá sản xuyên quốc gia)

Trong bối cảnh nền kinh tế xuyên biên giới ngày càng bùng nổ, bên cạnh nhữngmặt tích cực về hợp tác, đầu tư thì cũng sẽ kéo theo việc có nhiều chủ thể khôngchịu được áp lực cạnh tranh và dẫn đến phá sản Vì vậy, nhu cầu thiết lập khungpháp lý để điều chỉnh thống nhất quy trình phá sản giữa các quốc gia trở nên tất yếu.Theo đó, UNCITRAL đã xây dựng Luật mẫu UNCITRAL nhằm hỗ trợ các quốcgia77 trong việc trang bị khung pháp lý để điều chỉnh thủ tục phá sản xuyên quốcgia.78 Cũng cần hiểu rằng, mục đích của Luật mẫu UNCITRAL không nhằm thốngnhất pháp luật phá sản của các quốc gia khác nhau, mà tập trung vào việc khuyếnkhích hợp tác và phối hợp giữa các quốc gia để cùng giải quyết theo một hướng đichung.79 Các quy định trong Luật mẫu UNCITRAL được thể hiện rất rõ vai tròtrung tâm của quản tài viên nước ngoài (QTVNN) trong thủ tục phá sản xuyên quốcgia Đây là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích để soi chiếu mức độ hiệu quả khi ápdụng trên thực tế của các nước đi trước Từ đó, các quốc gia có sự cân nhắc, chọnlọc để áp dụng xây dựng pháp luật về QTV nói riêng và pháp luật về pháp luật phásản xuyên quốc gia nói chung

Ngoài ra, như đã phân tích, QTV được thiết lập theo cơ chế phi chính phủ đãđem lại nhiều lợi ích, thuận lợi trong việc giải quyết thủ tục phá sản của một quốcgia Do đó, nếu QTV được công nhận và hiện diện trong pháp luật phá sản xuyênquốc gia, những lợi ích này sẽ được thu được trên phạm vi quốc tế, giúp thủ tục phásản đi đến hồi kết nhanh chóng, hiệu quả hơn

77 Tính đến nay đã có 46 quốc gia và vùng lãnh thổ xây dựng pháp luật phá sản xuyên quốc gia dựa trên Luật

mẫu UNCITRAL (Xem thêm tại:

79 Financier Worldwide Magazine, tlđd (78).

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:47

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w