1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Pháp luật về thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (luận văn thạc sĩ luật học)

112 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cũng chính vì những lý do này, sau một thời gian dài chuẩn bị, xây dựng, lấy ýkiến rộng rãi các tầng lớp dân cư, Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc Hội khóaXII thông qua ngày 21/11/200

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

Chuyên ngành Luật Thương mại

TP HCM-2011

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HCM KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

PHÁP LUẬT VỀ THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ CHUYỂN

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng tôi Toàn bộnội dung trình bày do tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn của Th.s Phan Phương Nam

Tôi chịu trách nhiệm hoàn toàn về lời cam đoan này

Nguyễn Thị Hồng Phấn

Trang 5

Mục lục

LỜI NÓI ĐẦU 1

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Tình hình nghiên cứu 2

3 Mục đích, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5.Ý nghĩa khoa học vá giá trị ứng dụng của đề tài 3

6 Bố cục của luận văn 5

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN 6

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ chuyển nhượng vốn 6

1.1.1 Khái niệm thu nhập từ chuyển nhượng vốn 6

1.1.2 Đặc điểm của thu nhập từ chuyển nhượng vốn 7

1.1.2.1 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn mang lại lợi ích cho chủ sở hữu thu nhập 7 1.1.2.2 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn là khoản thu nhập không thường xuyên 8

1.1.2.3 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn chỉ phát sinh khi thỏa những điều kiện nhất định 10 1.1.3 Cở sở lý luận cho việc quy định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN 11 1.1.3.1 Lịch sử pháp luật thuế TNCN trong việc quy định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN 11

1.1.3.2 Sự cần thiết trong việc xác định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN 12

1.2 Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 15

Trang 6

1.2.1 Đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng

vốn 15

1.2.2 Thu nhập chịu thuế - Thu nhập từ chuyển nhượng vốn 181.2.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 241.2.3.1 Khái niệm, thành phần căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu

nhập từ chuyển vốn 251.2.3.2 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng

vốn của cá nhân cư trú 271.2.3.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng

vốn của cá nhân không cư trú 341.2.4 Quản lý thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn 361.2.4.1 Đăng ký thuế và cấp mã số thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ

chuyển nhượng vốn 361.2.4.2 Khấu trừ thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn371.2.4.3 Khai thuế, nộp thuế và khai quyết toán thuế thu nhập cá nhân đối với

thu nhập từ chuyển nhượng vốn 40

Kết luận chương 1 45

CHUYỂN NHƯỢNG VỐN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

46

2.1 Những hạn chế phát sinh do đặc thù của nền kinh tế - xã hội Việt Nam và

kiến nghị hoàn thiện 462.1.1 Những hạn chế phát sinh do nhận thức của người dân về thuế TNCN nói

chung và thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV nói riêng còn nhiều yếu kém và

kiến nghị hoàn thiện 462.1.2 Những hạn chế phát sinh do đặc thù của nền kinh tế Việt Nam và kiến nghị

hoàn thiện 52

2.2 Những hạn chế phát sinh từ đội ngũ cán bộ thuế làm ảnh hưởng đến chất

lượng quản lý thuế và kiến nghị hoàn thiện 53

Trang 7

2.3 Những bất cập trong các quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn và kiến nghị hoàn thiện 56

2.3.1 Những bất cập liên quan đến đối tượng chịu thuế thu nhập cá nhân đối với

thu nhập từ chuyển nhượng vốn và kiến nghị hoàn thiện 562.3.1.1 Bất cập khi không quy định về khái niệm chuyển nhượng vốn và kiến

nghị 56

2.3.1.2 Bất cập khi không quy định thu nhập phát sinh từ chuyển nhượng phầnvốn góp, cổ phần theo Điều 43 và Điều 90 Luật Doanh nghiệp là đối tượng đượcmiễn thuế thu nhập cá nhân từ chuyển nhượng vốn và kiến nghị 592.3.1.3 Bất cập khi không có cơ sở pháp lý nhất quán để phân biệt giữa phần

vốn góp trong công ty cổ phần với chứng khoán và kiến nghị 602.3.2 Bất cập liên quan đến phương pháp nộp thuế thu nhập cá nhân đối với thu

nhập từ chuyển nhượng chứng khoán và kiến nghị 632.3.3 Những hạn chế trong quy định về mức thuế suất thuế TNCN đối với thu

nhập từ chuyển nhượng vốn và kiến nghị 682.3.4 Những bất cập trong quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từchuyển nhượng vốn về cách xác định giá bán, giá mua và kiến nghị 73

Kết luận chương 2 78 Kết luận 79

Trang 8

LỜI NÓI ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với xu thế phát triển nhanh chóng của các thị trường và trong điều kiệnhội nhập kinh tế quốc tế, thị trường đầu tư vốn cũng ngày càng sôi động, số lượngngười nắm giữ phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế cũng như số người đầu tư vàothị trường chứng khoán ngày càng tăng Theo Ủy ban chứng khoán Nhà nước, tínhđến ngày 4/5/2010, tổng giá trị vốn hóa của thị trường chứng khoán Việt Nam đạt740.433 tỷ đồng (bằng 45% GDP năm 2009 là 1.645 nghìn tỷ đồng) Hiện số cổ phiếuniêm yết và đăng ký giao dịch trên cả 2 sàn HOSE và HNX là 576 cổ phiếu và 4 chứngchỉ quỹ, số lượng trái phiếu niêm yết là 612 Thị trường chứng khoán Việt Nam hiện

có 105 công ty chứng khoán và 46 công ty quản lý quỹ, 8 ngân hàng lưu ký Số công

ty đại chúng đã đăng ký với Ủy ban chứng khoán chưa niêm yết là 959 Số lượng tàikhoản của nhà đầu tư tính đến 31/3/2010 là 879.730 tài khoản.1

Khi tham gia vào thị trường vốn, mục đích của các nhà đầu tư rất khác nhau,một số nhà đầu tư tham gia với mục đích đầu tư lâu dài hưởng lợi từ hiệu quả kinhdoanh, đặc biệt số khác tham gia với mục đích kiếm lời từ chênh lệch giá khi có cơ hộitốt để chuyển nhượng phần vốn góp, chứng khoán (CK) mà họ đang nắm giữ và khi

đó số lợi nhuận mà họ thu được từ hoạt động chuyển nhượng này không phải nhỏ

Cũng chính vì những lý do này, sau một thời gian dài chuẩn bị, xây dựng, lấy ýkiến rộng rãi các tầng lớp dân cư, Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc Hội khóaXII thông qua ngày 21/11/2007 và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009 (Luậtthuế TNCN), đã mở rộng diện điều tiết một cách hợp lý và chính thức quy định thunhập từ chuyển nhượng vốn (CNV) (gồm thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góptrong các tổ chức kinh tế, từ chuyển nhượng CK và từ chuyển nhượng vốn dưới cáchình thức khác) là đối tượng chịu thuế TNCN

Việc Luật thuế TNCN đưa thu nhập từ CNV vào diện chịu thuế để đảm bảocông bằng, kiểm soát thu nhập của cá nhân, thông qua đó góp phần tăng thu cho ngân

1 45-gdp-nam-2009.chn

Trang 9

http://cafef.vn/20100507101350382CA31/tinh-den-452010-gia-tri-von-hoa-ttck-viet-nam-dat-sách nhà nước một cách hợp lý trên cơ sở không bỏ sót nguồn thu là thật sự cần thiết.Tuy nhiên, do đây là đối tượng chịu thuế mới trong pháp luật thuế TNCN nên trongnhững quy định của pháp luật cũng như trong quá trình thực thi khó tránh khỏi nhữngkhó khăn, vướng mắc Vì vậy, để đảm bảo tính hiệu quả của các quy định của phápluật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV nói riêng cũng như tính khả thi của thuếTNCN nói chung, việc tiến hành nghiên cứu, làm rõ những quy định liên quan đến đốitượng chịu thuế là thu nhập từ CNV, qua đó tìm ra những điểm chưa hợp lý và kiếnnghị hoàn thiện là yêu cầu cần thiết và mang tính thực tiễn cao.

Xuất phát từ lý do này, tác giả quyết định chọn đề tài “Pháp luật về thuế TNCNđối với thu nhập từ CNV” làm đề tài luận văn cử nhân của mình

2 Tình hình nghiên cứu

Trong thời gian qua, có một số đề tài nghiên cứu về pháp luật thuế TNCN như

“Thuế TNCN và định hướng hoàn thiện”- Luận án Phó tiến sĩ của Vũ Văn Tườngnăm 1995; “Thuế TNCN đối với người có thu nhập cao”- Luận văn Thạc sĩ Luật họccủa Nguyễn Trọng Hạnh năm 2001; “Thuế TNCN trên thế giới và định hướng vậndụng ở Việt Nam”- Đề tài chuyên khảo của PGS.TS Lê Văn Ái-Đỗ Đức Minh năm2002; “Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế TNCN”- Luận văn Thạc sĩ Luật họccủa Phan Phương Nam năm 2006; “Luật thuế TNCN và các giải pháp nhằm đảm bảohiệu quả áp dụng trên thực tế”- Luận văn cử nhân của Trần Thị Ánh Minh năm 2008;

“Quy định của pháp luật thuế TNCN về giảm trừ gia cảnh”- Luận văn cử nhân của LêThị Thu Sang năm 2009

Qua các đề tài nghiên cứu trên, dưới những góc độ khác nhau, các tác giả đãnghiên cứu, phân tích, đánh giá, đề xuất một số giải pháp nhất định nhằm góp phầnhoàn thiện và thực hiện các quy định của pháp luật thuế TNCN Tuy nhiên cho đếnnay, theo khảo sát của tác giả chưa có một đề tài hay một công trình khoa học nàonghiên cứu một cách toàn diện về pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV

3 Mục đích, đối tượng và giới hạn phạm vi nghiên cứu

Mục đích của luận văn là nghiên cứu một cách toàn diện, có hệ thống cơ sở lýluận nhằm góp phần làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về thuế TNCN đối với

Trang 10

thu nhập từ CNV; phân tích những nội dung chủ yếu của pháp luật thực định về thuếTNCN đối với thu nhập từ CNV; tìm ra những hạn chế đã hoặc có thể phát sinh khi ápdụng các quy định này vào thực tiễn cũng như những bất cập trong chính các quy địnhcủa pháp luật, qua đó tác giả đưa ra các kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện về mặt lýluận và pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là những vấn đề lý luận chung về phápluật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV, hệ thống các quy định của pháp luật thuếTNCN đối với thu nhập từ CNV gồm Luật thuế TNCN 2007 và các văn bản hướngdẫn có liên quan, những bất cập về điều kiện kinh tế xã hội trong quá trình thực thipháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV, những bất cập trong các quy định củapháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV và các kiến nghị hoàn thiện về mặt lýluận và pháp luật

Trong phạm vi của một luận văn cử nhân luật, tác giả chỉ tập trung nghiên cứuquy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV cụ thể là chuyển nhượngvốn góp tại các tổ chức và CK Khi nghiên cứu các quy định về quản lý thuế TNCNđối với thu nhập từ CNV tác giả cũng chỉ nghiên cứu trong giới hạn quản lý liên quanđến đăng ký và cấp mã số thuế; khấu trừ thuế; khai thuế, nộp thuế và quyết toán thuế,không nghiên cứu các nội dung quản lý liên quan đến thanh tra, kiểm tra, xử lý viphạm pháp luật thuế,…

4 Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ cở lý luận chung của Chủ nghĩa Mac- Lê nin, tác giả đã sử dụngphương pháp phân tích để làm rõ nội dung lý luận và quy định của pháp luật thuếTNCN đối với thu nhập từ CNV; phương pháp so sánh để so sánh pháp luật thuếTNCN đối với thu nhập từ CNV với pháp luật thuế một số nước về cùng vấn đề và vớicác quy định của pháp luật trong các lĩnh vực khác có liên quan; phương pháp chứngminh để khẳng định những vấn đề tác giả kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật tronglĩnh vực này

5 Ý nghĩa khoa học vá giá trị ứng dụng của đề tài

Trang 11

Ý nghĩa khoa học và giá trị ứng dụng của luận văn được thể hiện ở những nội dung sau:

Thứ nhất, tác giả về cơ bản làm rõ những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ

CNV-đối tượng chịu thuế TNCN, qua đó khẳng định sự cần thiết của việc xác định thunhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN

Thứ hai, tác giả đã trình bày một cách có hệ thống các quy định của pháp luật

thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV về đối tượng nộp thuế, đối tượng chịu thuế, căn

cứ tính thuế, quản lý thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV Trong đó, có dẫn chiếu đếnpháp luật một số nước về một số vấn đề có liên quan Qua đó, tạo một cái nhìn toàndiện về quy định của pháp luật trong lĩnh vực này

Thứ ba, phân tích những bất cập phát sinh từ nền kinh tế xã hội nước ta ảnh

hưởng đến quá trình thực thi các quy định của pháp luật thuế TNCN nói chung vàpháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV nói riêng Từ đó tác giả đưa ra nhữngkiến nghị nhằm giải quyết những bất cập này

Thứ tư, phân tích những hạn chế phát sinh từ đội ngũ cán bộ thuế ảnh hưởng

đến chất lượng quản lý thuế TNCN nói chung, thuế TNCN đối với thu nhập từ CNVnói riêng và kiến nghị hoàn thiện

Thứ năm, tác giả phân tích những bất cập liên quan đến đối tượng chịu thuế

TNCN từ CNV trong hệ thống pháp luật thuế TNCN hiện hành từ đó đưa ra các kiếnnghị hoàn thiện

Thứ sáu, tác giả phân tích những bất cập trong quy định hiện hành về phương

pháp nộp thuế TNCN từ CNV và kiến nghị hoàn thiện

Thứ bảy, tác giả phân tích những hạn chế trong quy định về mức thuế suất thuế

TNCN đối với thu nhập từ CNV và kiến nghị hoàn thiện trên cơ sở có tham khảo vềquy định này trong pháp luật một số nước

Thứ tám, tác giả phân tích những điểm bất cập trong các quy định về cách xác

định giá bán, giá mua vốn góp, CK khi tính thu nhập tính thuế và đưa ra kiến nghịhoàn thiện

Trang 12

Với những giá trị khoa học trên, kết quả nghiên cứu của luận văn có thể là đề tàitham khảo cho các tổ chức, cá nhân có quan tâm đến lĩnh vực thuế TNCN đối với thunhập từ CNV Đặc biệt, với những phân tích về bất cập trong các quy định của phápluật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV và những giải pháp hoàn thiện, tác giả mongrằng luận văn sẽ là tài liệu cho cơ quan hữu quan trong quá trình nghiên cứu sửa đổi,

bổ sung, hoàn thiện pháp luật thuế TNCN nói chung, pháp luật thuế TNCN đối với thunhập từ CNV nói riêng

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn có bố cục gồm hai chương

Chương 1: Lý luận chung về thu nhập từ CNV và quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV

Chương 2: Một số bất cập, hạn chế phát sinh khi áp dụng quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV và một số kiến nghị hoàn thiện

Trang 13

CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ THU NHẬP TỪ CHUYỂN

NHƯỢNG VỐN VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT THUẾ THU NHẬP CÁ

NHÂN ĐỐI VỚI THU NHẬP TỪ CHUYỂN NHƯỢNG VỐN

1.1 Những vấn đề lý luận chung về thu nhập từ chuyển nhượng vốn

1.1.1 Khái niệm thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Khái niệm thu nhập từ CNV là một khái niệm cơ bản mà khóa luận cần phảilàm sáng tỏ để giải quyết các yêu cầu đặt ra của luận văn Tuy nhiên, khái niệm nàychưa được đề cập và xác định rõ ràng trong từ điển cũng như trong quy định của phápluật Tuy vậy, dưới góc độ ngôn ngữ, khái niệm này có thể được hiểu như sau:

Thu nhập là “các khoản thu được trong một khoảng thời gian nhất định thường

tính theo tháng, năm”2

Chuyển nhượng là “chuyển quyền sở hữu”3 Tuy nhiên, nếu hiểu chuyểnnhượng là chuyển quyền sở hữu thì chưa chính xác Bởi vì, trong hoạt động tặng chocũng bao hàm hành vi chuyển quyền sở hữu Chính vì thế, để có khái niệm chính xácnên hiểu chuyển nhượng là chuyển quyền sở hữu thông qua hợp đồng chuyển nhượng

và có đền bù

Vốn là “tiền bỏ ra lúc đầu, dùng trong sản xuất, kinh doanh nhằm sinh lợi”4

đây nên hiểu vốn với nghĩa rộng hơn là số tài sản bỏ ra lúc đầu dùng trong sản xuấtkinh doanh nhằm sinh lợi, không nên hiểu chỉ bao gồm tiền

Như vậy, dưới góc độ ngôn ngữ thu nhập từ CNV là các khoản thu được khithực hiện việc chuyển quyền sở hữu đối với số tài sản bỏ ra lúc đầu dùng trong sảnxuất, kinh doanh

Dưới góc độ ngôn ngữ, thu nhập từ CNV được hiểu như vậy, còn pháp luậtthuế TNCN quy định thế nào là thu nhập từ CNV? Luật thuế TNCN hiện hành khôngđưa ra khái niệm mà chỉ sử dụng phương pháp liệt kê để chỉ các thu nhập từ CNV, tuy

2 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn

Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt (2002), Từ điển Tiếng Việt, Viện Ngôn ngữ học.

3 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn

Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt, tlđd.

4 TS Chu Bích Thu, PGS.TS Nguyễn Ngọc Trâm, TS Nguyễn Thị Thanh Nga, TS Nguyễn

Thúy Khanh,TS Phạm Hùng Việt, tlđd

Trang 14

nhiên trong Thông tư số 84/2008/TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luậtthuế TNCN và Nghị định số 100/2008/ND-CP quy định chi tiết thi hành Luật thuế

TNCN ( viết tắt TT 84) có qui định “thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận được từ việc CNV của cá nhân trong các trường hợp sau: thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp trong các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH), công ty hợp danh, công ty cổ phần (CTCP), các hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp tác xã, tổ chức kinh tế, tổ chức khác; thu nhập từ chuyển nhượng CK bao gồm thu nhập từ việc chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại CK khác theo quy định của Luật Chứng khoán; thu nhập từ CNV dưới các hình thức khác”.5

Qua khái niệm về CNV dưới góc độ ngôn ngữ và theo quy định của pháp luật

có thể hiểu khái quát thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận được khi thực hiện hoạt

động CNV bao gồm chuyển nhượng phần vốn góp tại các tổ chức, chuyển nhượng CK

và chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác

1.1.2 Đặc điểm của thu nhập từ chuyển nhượng vốn

1.1.2.1 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn mang lại lợi ích cho chủ sở hữu thu

nhập

Trong đời sống xã hội, thu nhập do con người tạo ra rất đa dạng, nó có thể làthu nhập từ lao động, từ hoạt động sản xuất kinh doanh, cũng có thể là thu nhập từ tàisản, từ nhận thừa kế, nhận quà tặng… nhưng dù là thu nhập xuất phát từ nguồn gì thìđều có một đặc điểm chung là mang đến cho chủ thể sở hữu nó những lợi ích nhấtđịnh Lợi ích này được biểu hiện dưới dạng giá trị hoặc quyền lợi vật chất Nó có thể

là một số tiền nhận được từ lao động (như tiền lương, tiền công), từ hoạt động sảnxuất kinh doanh, từ chuyển nhượng tài sản cũng có thể là quyền được chăm sóc sứckhỏe, vui chơi, thể thao, giải trí, thẩm mỹ theo yêu cầu của người lao động do người

sử dụng lao động đáp ứng

Là một trong các loại thu nhập nên thu nhập từ CNV cũng mang đặc điểmchung này Khi thực hiện hoạt động CNV và nếu có thu nhập từ hoạt động này, chủ sởhữu có thể sử dụng số thu nhập có được để tái đầu tư tìm kiếm thêm thu nhập, cũng có

5 Khoản 4 , Mục II, Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC

Trang 15

thể sử dụng nó để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt cá nhân, gia đình … tất cả những hoạtđộng này đều mang lại những lợi ích nhất định cho chủ sở hữu thu nhập.

1.1.2.2 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn là khoản thu nhập không thường

xuyên

Trên thực tế có nhiều cách phân loại thu nhập tùy thuộc vào mục đích nghiêncứu Nếu căn cứ vào tính đều đặn hay không đều đặn của việc phát sinh thu nhập ta cóthu nhập thường xuyên và thu nhập không thường xuyên6 Thu nhập thường xuyên lànhững thu nhập có tính đều đặn, lặp đi lặp lại theo một chu kỳ nhất định Ngược lại,thu nhập không thường xuyên là những thu nhập không đều đặn và phát sinh một cáchngẫu nhiên, nhất thời

Như phần 1.1.1 đã đề cập, thu nhập từ CNV là khoản tiền lãi nhận được khi

chuyển nhượng phần vốn góp, CK và vốn dưới các hình thức khác Khi tham gia gópvốn vào một tổ chức kinh tế nào đó, điều mà nhà đầu tư mong muốn là phần lợi nhuận

mà mình nhận được từ hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức đó, việc chuyểnnhượng phần vốn góp để được hưởng phần lãi do chênh lệch giữa giá lúc đầu và giávào thời điểm chuyển nhượng không phải là mục đích chính của họ Mặt khác, trongmột số trường hợp, quyền chuyển nhượng phần vốn góp có những hạn chế trong mộtkhoảng thời gian nhất định Chẳng hạn như đối với CTCP, trong vòng ba năm kể từkhi công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập chỉđược chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đôngsáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông7 Qua đó có thể thấy việcchuyển nhượng phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế không phải là hoạt động mangtính thường xuyên của nhà đầu tư do đó thu nhập (nếu có) từ chuyển nhượng phầnvốn góp trong các tổ chức kinh tế cũng mang tính không thường xuyên

Thu nhập từ chuyển nhượng CK của nhà đầu tư cá nhân cũng mang tính khôngthường xuyên bởi lẽ:

6 PGS.TS.Lê Văn Ái, TS.Đỗ Đức Minh (2002), Thuế TNCN và định hướng vận dụng ở Việt Nam,

Nxb Tài chính, tr.10

7 Khoản 5, Điều 84 Luật Doanh nghiệp 2005.

Trang 16

Thứ nhất, trong số các nhà đầu tư là cá nhân thì những nhà đầu tư CK “thực

thụ” hiện rất ít mà chủ yếu họ ăn theo các đại gia lướt sóng theo từng thời vụ8;

Thứ hai, cá nhân đầu tư khi tham gia vào thị trường CK, có thể hoạt động chuyển

nhượng CK để tìm kiếm lãi từ chênh lệnh giữa giá trị ban đầu và giá trị lúc chuyểnnhượng là hoạt động thường xuyên, đặc biệt đối với các nhà đầu tư có chiến lược kinhdoanh ngắn hạn Tuy nhiên, việc có được thu nhập từ hoạt động này hay không thì không

ai có thể chắc chắn được Bởi vì, thị trường CK là một thị trường tiềm ẩn nhiều rủi ro,không phủ nhận việc có được thu nhập từ chuyển nhượng CK nhưng những lần chuyểnnhượng mà kết quả thu về là tay không thậm chí lỗ nặng không phải ít, có những trườnghợp khi thực hiện chuyển nhượng dù biết trước là sẽ lỗ nhưng nhà đầu tư vẫn thực hiệngiao dịch để cắt lỗ bởi để càng lâu lỗ càng nặng Do đó, cũng không thể nói thu nhập từchuyển nhượng CK phát sinh một cách đều đặn, theo chu kì

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng việc phân chia và xác định thu nhập là thườngxuyên hay không thường xuyên cũng chỉ mang tính tương đối Chẳng hạn như, vẫn

có thể xem thu nhập từ chuyển nhượng CK là thu nhập thường xuyên nếu cá nhân sởhữu thu nhập là nhà đầu tư “bám sàn”, có chiến lược kinh doanh rõ ràng, hiệu quả vàxem kinh doanh CK là hoạt động nghề nghiệp chính nuôi sống bản thân và gia đình.Tuy vậy, những trường hợp này trên thị trường CK Việt Nam hiện nay không nhiều

và thu nhập từ chuyển nhượng CK vẫn mang đặc trưng của thu nhập không thườngxuyên nhiều hơn

Từ những phân tích trên, có thể kết luận rằng thu nhập từ CNV là thu nhập mangtính không thường xuyên Kết luận này ảnh hưởng đến việc xác định thu nhập tính thuế,

kỳ tính thuế cũng như áp dụng biểu thuế Cụ thể là, các khoản thu nhập từ CNV không

được tính giảm trừ gia cảnh khi xác định thu nhập tính thuế Sở dĩ thu nhập từ CNV

không được tính giảm trừ gia cảnh là do mục đích của việc giảm trừ gia cảnh là nhằmđảm bảo bảo đảm rằng cá nhân chỉ phải thực hiện nghĩa vụ thuế với nhà nước khi đã đảmbảo cho cuộc sống của bản thân và gia đình, với quy định về giảm trừ gia cảnh thu nhậptính thuế được xác định bằng cách lấy thu nhập chịu thuế trừ một khoản tiền để cá nhân

có thu nhập có thể đảm bảo cho đời sống của mình và thực hiện

8 TS Lê Thị Thủy (2009), “Những vấn đề đặt ra khi thực thi Luật thuế thu nhập cá nhân ở Việt

Nam”, Luật học, (04), tr.70.

Trang 17

nghĩa vụ tài chính với gia đình Trong khi đó, nhìn chung thu nhập từ CNV được xem

là thu nhập không thường xuyên, nó không thể là nguồn thu nhập chính đảm bảo đờisống của bản thân người có thu nhập và gia đình họ Mặt khác, do đây được xem là

thu nhập không thường xuyên nên để đảm bảo đơn giản kỳ tính thuế áp dụng đối với

thu nhập từ CNV là theo từng lần phát sinh thu nhập (trừ trường hợp cá nhân có thunhập từ chuyển nhượng CK đã đăng ký phương pháp nộp thuế theo mức thuế suất

20%) và được áp dụng biểu thuế suất toàn phần khi tính thuế.

1.1.2.3 Thu nhập từ chuyển nhượng vốn chỉ phát sinh khi thỏa những điều

kiện nhất định

Trong trường hợp hợp đồng CNV hợp pháp, thu nhập từ CNV chỉ phát sinh khi:

Thứ nhất: giá bán phải lớn hơn giá mua cộng các chi phí hợp lý phát sinh khi

thực hiện hoạt động chuyển nhượng

Thu nhập phải là “các khoản thu được trong một khoảng thời gian nhất địnhthường tính theo tháng, năm” Giả sử vào thời điểm chuyển nhượng, giá bán bằnghoặc nhỏ hơn giá mua cộng các chi phí phát sinh gắn với việc chuyển nhượng thì bênchuyển nhượng chỉ có thể thu về số vốn đã bỏ ra lúc đầu hoặc bị lỗ, trong trường hợpnày bên bán không có “các khoản thu được” và không có thu nhập Tuy nhiên, trongtrường hợp vì lý do nào đó mà giá mua và các khoản chi phí hợp lý không xác địnhđược thì pháp luật mặc nhiên xem trong những trường hợp này cá nhân CNV có thunhập và thu nhập tính thuế làm cơ sở xác định số thuế phải nộp được xác định bằngdoanh thu

Thứ hai: bên nhận chuyển nhượng thanh toán tiền cho bên chuyển nhượng

Cho dù vào thời điểm chuyển nhượng giá bán lớn hơn giá mua cộng với chi phínhưng bên nhận chuyển nhượng không thanh toán cho bên chuyển nhượng thì thunhập cũng không phát sinh Về nguyên tắc, bên nhận chuyển nhượng phải thanh toánngay khi nhận tài sản nếu các bên không có thỏa thuận về thời hạn thanh toán9 Riêngtrong giao dịch CK, nếu việc thanh toán được thực hiện thông qua Trung tâm lưu kí

CK thì phải tuân thủ nguyên tắc chuyển giao CK đồng thời với việc thanh toán tiền 10

9Điều 432, Bộ Luật dân sự số 33/2005/QH11.

10 Khoản 2, Điều 55, Luật Chứng khoán số 70/2006/QH11

Trang 18

Như vậy, để thu nhập từ CNV phát sinh phải thỏa mãn điều kiện giá bán lớn

hợn giá mua cộng các chi phí hợp lý (trừ trường hợp không xác định được giá mua vàcác khoản chi phí hợp lý) và điều kiện bên chuyển nhượng được thanh toán

1.1.3 Cở sở lý luận cho việc quy định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế

TNCN

1.1.3.1 Lịch sử pháp luật thuế TNCN trong việc quy định thu nhập từ CNV là

đối tượng chịu thuế TNCN

Ở Việt Nam, trước khi Luật thuế TNCN được ban hành, việc động viên thuếTNCN được thực hiện thông qua ba sắc thuế: thuế thu nhập đối với người có thu nhậpcao (viết tắt thuế TNC), thuế thu nhập doanh nghiệp áp dụng đối với cá nhân có thunhập từ kinh doanh, thuế chuyển quyền sử dụng đất áp dụng đối với người có thu nhập

từ chuyển quyền sử dụng đất Trong đó, thuế TNC được áp dụng đối với cá nhân cóthu nhập từ tiền lương tiền công và các thu nhập khác và lần đầu tiên được Ủy banThường vụ Quốc hội thông qua dưới hình thức Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người

có thu nhập cao (viết tắt Pháp lệnh thuế TNC) vào ngày 27/12/1990 có hiệu lực ngày01/04/1991 Từ khi được ban hành cho đến khi được thay thế bởi Luật thuế TNCN,pháp lệnh này đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần và lần sửa đổi cuối cùng là vào năm

2004 Các Pháp lệnh thuế TNC trước đây không đề cập đến thu nhập từ CNV riêngtrong Pháp lệnh thuế TNC 2004 và Nghị định 147/2004/NĐ-CP hướng dẫn thi hànhpháp lệnh này xác định tạm thời chưa thu thuế thu nhập đối với các khoản thu nhập vềchênh lệch mua bán CK.11

Như vậy, trước khi Luật thuế TNCN được ban hành, các văn bản pháp luật vềthuế TNCN không quy định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN Bởi lẽ,trong giai đoạn này, thị trường vốn chưa thực sự phát triển, thu nhập của cá nhântrong nước, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam từ hoạt động đầu tư cũng như chuyểnnhượng trên thị trường này không phổ biến

Đến ngày 21/11/2007, Luật thuế thu nhập cá nhân được Quốc Hội khóa XIIthông qua và bắt đầu có hiệu lực kể từ ngày 01/01/2009, đã chính thức xác định thunhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN Tuy nhiên, cá nhân cư trú, cá nhân không

11 Điều 3 Nghị định 147/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế TNC 2004

Trang 19

cư trú không phải nộp thuế TNCN từ CNV cho đến cuối tháng 12/2009 Bởi theo Nghịquyết số 32/2009/QH12, thu nhập từ CNV thuộc diện được miễn thuế TNCN cùng vớimột số thu nhập khác do những tháng đầu năm 2009 bị tác động của khủng hoảng tàichính và suy thoái kinh tế thế giới, các hoạt động sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, đầu tư,giải quyết việc làm, thu ngân sách của nước ta gặp nhiều khó khăn và giảm sút.12

Tóm lại, trước khi Luật thuế TNCN được ban hành thì thu nhập từ CNV không là đối tượng chịu thuế TNCN và cá nhân có thu nhập từ hoạt động này cũng chỉ

chính thức thực hiện nghĩa vụ nộp thuế kể từ ngày 01/01/2010

1.1.3.2 Sự cần thiết trong việc xác định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu

thuế TNCN

Xã hội ngày càng phát triển, thu nhập của người dân ngày càng tăng và cũng ngàycàng đa dạng hơn Bên cạnh những thu nhập phổ biến, truyền thống như thu nhập từ laođộng (tiền lương, tiền công), từ sản xuất kinh doanh thì các thu nhập khác tuy là các thunhập không thường xuyên như thu nhập từ CNV nhưng đang ngày càng chiếm ưu thếtrong cơ cấu thu nhập Đặc biệt là thu nhập từ chuyển nhượng CK trước sự phát triểnmạnh mẽ, sôi động của thị trường CK kể từ khi Trung tâm giao dịch CK thành phố HồChí Minh được thành lập theo Quyết định số 127/QĐ-TTg ngày 11/07/1998 và chính thức

đi vào hoạt động vào ngày 28/07/2000 Xã hội phát triển đòi hỏi pháp luật phải thay đổimới đảm bảo mục đích điều chỉnh, việc Luật thuế TNCN mở rộng diện điều tiết đưa thunhập từ CNV vào diện thu nhập chịu thuế là hoàn toàn phù hợp xu hướng phát triển của

xã hội qua đó mang lại những lợi ích thiết thực không chỉ đối với xã hội, nhà nước màcòn đối với bản thân đối tượng nộp thuế Cụ thể:

Đối với xã hội, góp phần đảm bảo công bằng xã hội, tạo tâm lý thỏa đáng cho

đối tượng nộp thuế khi thực hiện nghĩa vụ thuế đối với nhà nước

Thu nhập từ CNV chỉ trở thành đối tượng chịu thuế TNCN khi Luật thuếTNCN ra đời Thu nhập này trước đây không bị điều tiết với lý do đây là thu nhậpkhông phổ biến, đồng thời nhằm mục đích khuyến khích sự phát triển của thị trườngvốn trong giai đoạn đầu còn nhiều khó khăn Đến nay, khi thu nhập từ CNV đang ngày

12 Điều 1, Điều 4 Nghị quyết số 32/2009/QH12 về

điều tế, ngân sách nhà nước, phát hành bổ sung trái

phiếu năm 2009 và miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân.

chỉnh mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu kinh Chính phủ

Trang 20

càng chiếm ưu thế trong cơ cấu thu nhập, thị trường vốn cũng vượt qua những khókhăn trong giai đoạn đầu mới hình thành và đang phát triển ngày càng mạnh mẽ Đồngthời, thu nhập từ CNV cũng có đặc điểm là mang lại lợi ích cho chủ thể có thu nhậpgiống như các thu nhập khác như thu nhập từ lao động, từ sản xuất kinh doanh Dovậy, không có lý do gì nhà nước lại không điều tiết bởi pháp luật thuế TNCN Khi nhànước điều tiết vào thu nhập từ CNV sẽ thể hiện được nguyên tắc công bằng của phápluật thuế nói chung và pháp luật thuế TNCN nói riêng Mặt khác, chính quy định này

sẽ tạo cho đối tượng nộp thuế TNCN từ kinh doanh, tiền lương, tiền công không cótâm lý “so bì”, “tị nạnh” mà sẽ cảm thấy thỏa đáng khi thực hiện nghĩa vụ thuế

Đối với nhà nước, góp phần tăng thu ngân sách nhà nước, kiểm soát thu nhập

và điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước được xem là vai trò khởi thủy củathuế Nếu khảo sát tỷ trọng giữa tổng thu từ thuế trên tổng thu ngân sách nhà nướchàng năm, có thể nhận thấy rằng tỷ trọng này chiếm khoảng 90% qua các năm13 Làmột trong các sắc thuế nên thuế TNCN cũng có vai trò tạo nguồn thu cho ngân sáchnhà nước như các sắc thuế khác Theo số liệu Ước thực hiện lần 2 năm 2009 tổng thu

từ thuế là 370.033 tỷ VNĐ, trong đó số thu từ thuế TNCN là 14.329 tỷ VNĐ chiếm3,87%14; năm 2010 tổng thu từ thuế là 481.262 tỷ VNĐ, trong đó số thu từ thuế TNCN

là 26.288 tỷ VNĐ chiếm 5.46%15 Khi luật thuế TNCN quy định thu nhập từ CNV làđối tượng chịu thuế TNCN, thì cũng không nằm ngoài vai trò này, thuế thu từ thunhập từ CNV của cá nhân cũng góp một phần nhất định vào tổng thu ngân sách nhànước và khi nền kinh tế ngày càng phát triển, thị trường tài chính ngày càng vữngmạnh thì số thuế thu được từ đối tượng này sẽ ngày càng tăng

Ngoài vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước, thuế TNCN cũng được biếtđến bởi vai trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế Thông qua việc tác động trực tiếp lên thunhập làm giảm thu nhập của cá nhân, thuế TNCN tác động gián tiếp đến khả năng

13 Tập thể tác giả (2009), Tập bài giảng Luật thuế, Trường đại học Luật Tp.HCM, Tr.14.

14 Nguồn:

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1351583/2126549?p_folder_id=2201709&p_recurren t_news_id=17845199

15 Nguồn:

http://www.mof.gov.vn/portal/page/portal/mof_vn/1670950?p_pers_id=2177070&p_folder_id=2201649

&p_recurrent_news_id=37348568

Trang 21

thanh toán và làm cho nhu cầu tiêu dùng hàng hóa, sử dụng dịch vụ của cá nhân cũnggiảm theo Điều này ít nhiều ảnh hưởng đến hoạt động tiết kiệm của cá nhân và cũngảnh hưởng không nhỏ đến thị trường16 Thông qua một số các quy định như quy định

về thuế suất, đối tượng chịu thuế, đối tượng nộp thuế, miễn giảm, ưu đãi về thuế vaitrò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của thuế TNCN được thực hiện Chẳng hạn như, khinền kinh tế bị suy thoái, thông qua đối tượng chịu thuế là thu nhập từ CNV nhà nước

có thể quy định mức thuế suất đối với thu nhập từ hoạt động này thấp hơn so với bìnhthường hoặc quy định miễn thuế để kích thích đầu tư từng bước ổn định và phục hồinền kinh tế; hay để góp phần ổn định thị trường vốn, khuyến khích đầu tư dài hạn nhànước có thể quy định mức thuế suất thấp hơn đối với những trường hợp CNV có thờigian nắm giữ vốn lâu hơn

Bên cạnh vai trò tạo nguồn thu ngân sách nhà nước, điều tiết vĩ mô nền kinh tế, khiquy định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế còn giúp cơ quan nhà nước có thẩmquyền có cơ chế kiểm tra, giám sát tốt hơn thu nhập của cá nhân Bởi vì, việc bổ sung đốitượng này cùng một số đối tượng khác là đối tượng chịu thuế sẽ góp phần bao quát cácthu nhập của một cá nhân, khi đó thông qua các quy định chặt chẽ về đăng ký, kê khai,nộp và quyết toán thuế, cơ quan thuế có thể phát hiện những trường hợp có sự chênh lệchgiữa thu nhập được kê khai nộp thuế và thu nhập thực tế phát sinh, khi đó sẽ phối hợpcùng các cơ quan nhà nước có thẩm quyền tiến hành xác định tính hợp pháp của cáckhoản thu nhập của cá nhân và kịp thời xử lý các trường hợp vi phạm

Đối với đối tượng nộp thuế, tạo cơ hội cho họ thực hiện nghĩa vụ thuế đối với

nhà nước

Nhà nước dùng thuế thu được để chi tiêu Như vậy, thay vì dùng cho chi tiêu cánhân, người dân chuyển một phần thu nhập sang nhà nước để chi tiêu công cộng Việcchi tiêu cá nhân chỉ mang lại lợi ích cho chính cá nhân đó, đôi lúc còn có thể gây ảnhhưởng xấu đến cá nhân khác, trong khi việc chi tiêu của Chính phủ mang lại lợi ích chotoàn xã hội hoặc gia tăng thêm lợi ích công cộng “Đem một phần chi tiêu cá nhân chuyểnsang chi tiêu công cộng là một hành động rất đáng làm”17 Chính vì thế khi luật

16 Phan Phương Nam (2006), Luận văn Thạc sĩ Nguyên tắc công bằng trong pháp luật thuế TNCN,

Tr.36.

17 Nguyễn Hồng Thắng (1995), Thuế, Nxb Thống kê, Tr.64.

Trang 22

thuế TNCN quy định cá nhân có thu nhập từ CNV phải nộp thuế TNCN cho Nhà nước

là tạo điều kiện cho cá nhân thực hiện một “hành động đáng làm”, một hành độngkhông những có ích cho bản thân đối tượng nộp thuế mà còn mang lại lợi ích chungcho toàn xã hội

Không những mang lại những lợi ích thiết thực như trên phân tích, việc Luậtthuế TNCN quy định thu nhập từ CNV trong đó có thu nhập từ chuyển nhượng CK làđối tượng chịu thuế TNCN còn góp phần đưa pháp luật Việt Nam nói chung, phápluật thuế TNCN nói riêng đến gần hơn với thông lệ quốc tế Bởi theo pháp luật của đa

số các nước thì thu nhập từ chuyển nhượng CK của cá nhân đều thuộc đối tượng điềuchỉnh của luật thuế TNCN, chẳng hạn như thuế TNCN của Pháp, Hàn Quốc, TrungQuốc, Thái Lan

Tóm lại, phần 1.1 cung cấp những vấn đề mang tính lý luận, tạo tiền đề cần

thiết cho việc nghiên cứu các quy định của pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từCNV trong phần 1.2

1.2 Quy định của pháp luật thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển

có hành vi gì thì có nghĩa vụ đăng ký, kê khai, nộp thuế TNCN Theo khoản 1, Điều 2Luật thuế TNCN thì đối tượng nộp thuế TNCN là cá nhân cư trú có thu nhập chịuthuế phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhậpchịu thuế phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam Từ khái niệm này có thể đưa ra khái

niệm về đối tượng nộp thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV là cá nhân cư trú có thu nhập từ CNV phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam và cá nhân không cư trú có thu nhập từ CNV phát sinh trong lãnh thổ Việt Nam.

Qua khái niệm trên có thể thấy rằng, đối tượng nộp thuế TNCN từ CNV baogồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có hoạt động CNV có phát sinh thu nhập

Trang 23

Tuy nhiên, tùy vào tình trạng cư trú mà phạm vi xác định thu nhập từ CNV là khác nhau Cụ thể, đối với cá nhân cư trú phạm vi xác định thu nhập từ CNV là thu nhập

phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam không phân biệt nơi chi trả thu nhập tronghay ngoài nước, đối với cá nhân không cư trú phạm vi xác định thu nhập từ CNV làthu nhập phát sinh tại Việt Nam không phân biệt nơi chi trả thu nhập18 Như vậy, vấn

đề quan trọng khi xác định đối tượng nộp thuế TNCN từ CNV là phải xác định được

cá nhân đó cư trú hay không cư trú tại Việt Nam, đây là nguyên tắc đánh thuế theo nơi

cư trú hiện được áp dụng phổ biến ở các nước Tuy nhiên, khái niệm thế nào là đốitượng cư trú tại một nước lại được định nghĩa không giống nhau trong luật thuếTNCN của các nước Đa số các nước, sử dụng tiêu thức thời gian như một trong cáctiêu thức quan trọng để xác định một cá nhân có là đối tượng cư trú hay không Ví dụ,một trong các tiêu thức để xác định một cá nhân có là đối tượng cư trú hay không tạimột số nước như: tại Pháp là có thời gian sống chủ yếu tại Pháp (từ 183 ngày trở lênhoặc lâu hơn); tại Nhật Bản là có thời gian cư trú liên tục tại Nhật Bản trong thời giantrên 5 năm; tại Hàn Quốc là có thời gian cư trú tại Hàn Quốc từ 1 năm trở lên; tại TháiLan là cá nhân cư trú hoặc có mặt tại Thái Lan trong một khoảng thời gian hay nhiềukhoảng thời gian gộp lại từ 180 ngày trở lên trong năm dương lịch; tại Malaysia làthực tế có mặt tại Malaysia từ 182 ngày trở lên trong năm dương lịch; tại Trung Quốc

là cá nhân có thời gian lưu trú tại Trung Quốc từ 1 năm trở lên19 Ngoài tiêu thức thờigian, pháp luật thuế TNCN của các nước còn dựa vào một số tiêu thức khác như cónhà ở hoặc chỗ ở cố định, có hoạt động nghề nghiệp, có trung tâm lợi ích kinh tế tạinước sở tại để xác định một cá nhân có là đối tượng cư trú hay không

Theo pháp luật thuế TNCN Việt Nam, cá nhân cư trú là người đáp ứng mộttrong các điều kiện sau20:

Thứ nhất, điều kiện về thời gian cư trú, cụ thể là có mặt tại Việt Nam từ 183

ngày trở lên tính trong một năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể từ ngày đầu tiên có mặt tại Việt Nam Cá nhân có mặt tại Việt Nam là sự hiện diện của cá nhân

18 Khoản 1, Điều 2, Nghị định số 100/2008/NĐ-CP

19 PGS.TS Lê Văn Ái, TS.Đỗ Đức Minh(2002), sđd, tr.45-86

20 Điểm a, Khoản 2 Điều 2 Luật Thuế TNCN; Điểm a, khoản 2 Điều 2 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP;

Khoản 1 , Mục I, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC

Trang 24

đó trên lãnh thổ Việt Nam Trong đó, ngày đến được tính là một ngày và ngày đi cũngđược tính là một ngày Ngày đến và ngày đi được xác định căn cứ vào chứng thực của

cơ quan quản lý xuất nhập cảnh trên hộ chiếu (hoặc giấy thông hành) của cá nhân đókhi đến và khi rời Việt Nam Trường hợp nhập cảnh và xuất cảnh trong cùng một ngàythì được tính chung là một ngày cư trú

Thứ hai, điều kiện về có nơi ở thường xuyên Một cá nhân được xem là có nơi

ở thường xuyên tại Việt Nam khi rơi vào một trong hai trường hợp là có nơi ở đăng kýthường trú theo quy định của pháp luật về cư trú hoặc có nhà thuê để ở tại Việt Nam theoquy định của pháp luật về nhà ở, với thời hạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên trong

năm tính thuế (kể cả trường hợp thuê ở nhiều nơi) Theo đó, nơi ở đăng ký thường trú của công dân Việt Nam là nơi công dân sinh sống thường xuyên, ổn định không có thời hạn

tại một chỗ ở nhất định và đã đăng ký cư trú theo quy định của Luật cư trú Nơi ở thườngxuyên của người nước ngoài là nơi đăng ký và được ghi trong Thẻ thường trú hoặc Thẻtạm trú do cơ quan có thẩm quyền thuộc Bộ Công an cấp21

Nhà thuê để ở bao gồm cả trường hợp ở khách sạn, ở nhà khách, nhà nghỉ, nhà trọ, ởnơi làm việc, ở trụ sở cơ quan,… không phân biệt cá nhân tự thuê hay người sử dụnglao động thuê cho người lao động22

Tuy nhiên, cần lưu ý trong trường hợp một cá nhân có căn cứ chứng minh làđối tượng cư trú của một nước khác, mặc dù có thuê nhà để ở tại Việt Nam với thờihạn của hợp đồng thuê từ 90 ngày trở lên nhưng tổng thời gian hiện diện tại Việt Namtrên 90 ngày và dưới 183 ngày trong năm dương lịch hoặc trong 12 tháng liên tục kể

từ ngày đến Việt Nam thì cá nhân đó vẫn được xem là đối tượng không cư trú tại ViệtNam23

Cá nhân không cư trú là người không đáp ứng đủ điều kiện để trở thành cá nhân

cư trú Tuy nhiên, do tiêu chí để xác định đối tượng cư trú trong pháp luật thuế TNCNcủa các nước là khác nhau, dẫn đến có những trường hợp một cá nhân đồng thời là đốitượng cư trú của hai hay nhiều nước Trong những trường hợp như vậy, để giải quyếtvấn đề này, các nước thường dựa vào các quy định trong các hiệp định tránh đánh thuế

21 Điểm 1.2 a, Khoản 1 , Mục I, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC

22 Điểm 1.2 b, Khoản 1 , Mục I, Phần A Thông tư số 84/2008/TT-BTC

23 Công văn số 3473/TCT-TNCN ngày 08/09/2010 của Tổng cục Thuế về thuế TNCN.

Trang 25

hai lần được ký kết giữa các nước Chẳng hạn như trong Hiệp định tránh đánh thuếhai lần và ngăn ngừa việc trốn và lậu thuế đối với thuế đánh vào thu nhập và tài sảngiữa Việt Nam và Pháp có quy định, khi một cá nhân là đối tượng cư trú của hai nước

ký kết nếu đối tượng đó thường sống ở cả hai nước hay không sống thường xuyên ởnước nào, thì đối tượng đó được coi là đối tượng cư trú của nước mà đối tượng đómang quốc tịch24 Như vậy, không phải trong mọi trường hợp đều chỉ dựa vào quyđịnh của pháp luật thuế TNCN để xác định đối tượng cư trú, mà trong một số trườnghợp còn phải dựa vào các quy định trong những điều ước quốc tế có liên quan

Tóm lại, việc xác định chính xác một cá nhân có là đối tượng cư trú của một

nước hay không có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định nghĩa vụ thuế TNCN từCNV của cá nhân đó Bởi lẽ, phạm vi xác định thu nhập chịu thuế, phương pháp tínhthuế của cá nhân cư trú có sự khác biệt so với cá nhân không cư trú Mặt khác, phápluật các nước quy định khác nhau về mức thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từCNV, nếu không có những quy định rõ ràng trong việc xác định cá nhân cư trú thì cánhân nộp thuế có thể lợi dụng tình trạng cư trú để nộp thuế ở nước có mức thuế suấtthấp dẫn đến tình trạng thất thu thuế ảnh hưởng đến nguồn thu ngân sách

1.2.2 Thu nhập chịu thuế - Thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Một trong các nội dung bắt buộc trong một văn bản luật thuế là quy định về đối

tượng chịu thuế “Đối tượng chịu thuế được hiểu là hàng hóa, dịch vụ, tài sản, thu nhập

hoặc những lợi ích vật chất khác mà sắc thuế tác động đến để phát sinh nghĩa vụ nộp thuế

chịu thuế TNCN là những khoản thu nhập mà thuế TNCN tác động đến làm phát sinhnghĩa vụ nộp thuế của cá nhân có thu nhập Tùy vào các mô hình đánh thuế khác nhau màthu nhập chịu thuế trong kỳ tính thuế được xác định là từng loại thu nhập hay tổng hợp

các loại thu nhập của một cá nhân Về lý thuyết, tồn tại ba mô hình đánh thuế TNCN bao

gồm đánh thuế theo từng nguồn hình thành thu nhập, đánh thuế trên tổng thu nhập và

24 Công văn số 2220/TCT-TNCN ngày 22/06/2010 của Tổng cục Thuế về xác định đối tượng cư trú của người nước ngoài

25 Tập thể tác giả(2009), Tập bài giảng Luật thuế, Đai học Luật Tp.HCM, tr.30

26 PGS.TS Lê Văn Ái, TS.Đỗ Đức Minh(2002), sđd, tr19.

Trang 26

nguồn hình thành thu nhập thì thu nhập chịu thuế là từng loại thu nhập hình thành theotừng nguồn khác nhau trong kỳ tính thuế và mỗi loại thu nhập sẽ chịu thuế theo cácmức thuế suất khác nhau, tùy vào bản chất của thu nhập đó Nếu sử dụng mô hìnhđánh thuế trên tổng thu nhập thì thu nhập chịu thuế là tổng hợp các loại thu nhập củamột cá nhân hình thành theo các nguồn khác nhau trong kỳ tính thuế và áp dụng mộtbiểu thuế chung cho các loại thu nhập này Nếu sử dụng mô hình hỗn hợp thì ban đầuthu nhập chịu thuế được xác định là từng loại thu nhập và áp dụng thuế suất riêng chotừng loại thu nhập, nhưng sau đó thu nhập chịu thuế được xác định là tổng hợp cácloại thu nhập và đánh thuế trùm lên tổng thu nhập một lần nữa với một mức thuế suấtkhác Mỗi mô hình đánh thuế đều có những ưu nhược điểm riêng Tuy nhiên, dù sử

dụng mô hình đánh thuế nào thì thu nhập chịu thuế về nguyên tắc được xác định là thu nhập ròng của cá nhân trong kỳ tính thuế.

Ở nước ta, Luật thuế TNCN hiện hành sử dụng mô hình đánh thuế theo từngnguồn hình thành thu nhập (trừ thu nhập từ tiền lương, tiền công, thu nhập từ kinhdoanh do cùng bản chất nên được đánh thuế theo biểu thuế chung trên cơ sở tổng thunhập chịu thuế từ các nguồn này27) nên thu nhập chịu thuế là từng loại thu nhập hìnhthành từ các nguồn khác nhau, có cách xác định riêng và chịu mức thuế suất khácnhau Thu nhập từ CNV là một trong các loại thu nhập như vậy28 Việc áp dụng môhình đánh thuế này tuy không đảm bảo tính công bằng (vì cùng là thu nhập nhưng thunhập khác nhau sẽ bị điều tiết thuế khác nhau) nhưng đơn giản, đồng thời có thể phảnánh đúng định hướng điều tiết của nhà nước đối với từng loại thu nhập

Như trên đã đề cập, thu nhập chịu thuế phải là thu nhập ròng của cá nhân trong kỳ

tính thuế “Để xác định số thu nhập ròng phải tuân thủ nguyên tắc: được trừ các chi phí

thu nhập chịu thuế TNCN, thu nhập từ CNV khi được hiểu là thu nhập chịu thuế TNCN

cũng được xác định là thu nhập ròng có được từ hoạt động CNV hay theo

27 Khoản 2, Điều 6 Nghị Định số 100/2008/NĐ-CP quy định “ thu nhập tính thuế đối với cá nhân vừa có thu nhập chịu thuế từ kinh doanh, vừa có thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công là tổng thu nhập chịu thuế từ kinh doanh cộng thu nhập chịu thuế từ tiền lương, tiền công trừ các khoản quy định

tại điểm a, b, c khoản 1 điều này”.

28 Khoản 4, Điều 3, Luật thuế TNCN, khoản 4, Điều 3 Nghị định 100/2008/NĐ-CP xác định thu nhập từ CNV là đối tượng chịu thuế TNCN.

29 PGS.TS Lê Văn Ái, TS.Đỗ Đức Minh(2002), sđd, tr144

Trang 27

như TT 84 qui định thu nhập từ CNV là “khoản tiền lãi nhận được từ việc CNV của

cá nhân”30 Như vậy, trong trường hợp này khái niệm thu nhập ròng được đồng nhất với khái niệm tiền lãi nhận được từ hoạt động CNV Thu nhập từ CNV bao gồm thu

nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp trong các tổ chức kinh tế, từ chuyển nhượng

CK và chuyển nhượng vốn dưới các hình thức khác31

Cách thức cụ thể để xác định thu nhập từ CNV sẽ được trình bày trong phần1.2.3, ở phần này tác giả tập trung phân tích các quy định pháp luật về vốn góp và CK,cũng như sự khác biệt về bản chất giữa chúng Đồng thời, phân tích quy định phápluật về hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp trong các tổ chức và hoạt động chuyểnnhượng CK Những phân tích này sẽ góp phần làm sáng tỏ trong trường hợp nào thìthu nhập phát sinh được xem là thu nhập từ CNV- đối tượng chịu thuế TNCN? Thunhập nào là thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp, thu nhập nào là thu nhập từchuyển nhượng CK?

Vốn góp trong các tổ chức và hoạt động chuyển nhượng phần vốn góp trong các tổ chức

Phần vốn góp trong một tổ chức cho biết tỷ lệ vốn mà chủ sở hữu hoặc chủ sởhữu chung của tổ chức đó hiện đang nắm giữ Theo pháp luật thuế TNCN, phần vốngóp này bao gồm phần vốn góp trong các công ty TNHH, công ty hợp danh, CTCP,các hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp tác xã, tổ chức kinh tế, tổ chức khác32 (gọi tắt:phần vốn góp trong các tổ chức)

Trên thực tế, có nhiều phương thức khác nhau để trở thành chủ sở hữu hợppháp đối với phần vốn góp của một tổ chức nhất định Chẳng hạn như, tham gia gópvốn khi thành lập tổ chức, nhận chuyển nhượng phần vốn góp, được nhận thừa kế,nhận tặng cho, nhận gán nợ là phần vốn góp Trong các phương thức này, thì phươngthức góp vốn khi thành lập tổ chức để trở thành chủ sở hữu đối với phần vốn góp đượcxem là phương thức cơ bản và là nguồn gốc của các phương thức còn lại Khi thànhlập một tổ chức, để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của tổ chức đó nhà đầu tư sẽtiến hành đưa tài sản của mình vào tổ chức đó hoặc kêu gọi việc góp vốn từ các nhà

30 Khoản 4 , Mục II, Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC.

31 Khoản 4, Điều 3 Luật thuế TNCN và khoản 4, Điều 3 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP

32 Điểm 4.1, Khoản 4 , Mục II, Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC

Trang 28

đầu tư khác Tài sản góp vốn có thể là tài sản hữu hình như tiền, ngoại tệ tự do chuyểnđổi, giá trị quyền sử dụng đất cũng có thể là tài sản vô hình như giá trị quyền sở hữutrí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật Quyền sở hữu đối với phần vốn góp của nhà đầu

tư khi tham gia góp vốn sẽ được ghi nhận dưới các hình thức nhất định Chẳng hạn,khi tham gia góp vốn vào công ty TNHH từ hai thành viên trở lên, công ty hợp danhthì quyền sở hữu của nhà đầu tư được ghi nhận dưới hình thức giấy chứng nhận phầnvốn góp33; khi tham gia góp vốn vào CTCP thì quyền sở hữu của nhà đầu tư được ghinhận dưới hình thức cổ phiếu nếu công ty đã phát hành cổ phiếu cho số cổ phần đượcbán hoặc được ghi nhận trong sổ đăng ký cổ đông của công ty34, khi tham gia góp vốndưới hình thức hợp đồng hợp tác kinh doanh thì quyền sở hữu đối với phần vốn gópđược ghi nhận trong hợp đồng35

Bên cạnh những nghĩa vụ, đối với nhà đầu tư nói chung, nhà đầu tư là cá nhânnói riêng đều có những quyền nhất định khi tham gia góp vốn vào một tổ chức, trong

số các quyền đó có quyền chuyển nhượng phần vốn góp trong trường hợp cần thiết.Mặc dù, mục đích chính của nhà đầu tư khi tham gia góp vốn là được tham gia quản

lý và hưởng lợi nhuận từ kết quả kinh doanh của tổ chức đó Tuy nhiên, trong nhữngtrường hợp cần thiết, chẳng hạn như cần rút vốn để đầu tư vào lĩnh vực khác hứa hẹnnhiều lợi nhuận hơn hay khi nhà đầu tư nhận thấy nếu tiếp tục đầu từ thì phần lợinhuận thu được từ hoạt động kinh doanh không bằng phần lợi nhuận có được dochênh lệch giá trị phần vốn góp giữa thời điểm góp vốn và thời điểm chuyển nhượnghoặc đơn giản là khi nhà đầu tư cần tiền để giải quyết nhu cầu cá nhân thì họ có thể sửdụng quyền chuyển nhượng phần vốn góp để thực hiện các hoạt động này Tùy từngloại hình tổ chức mà có những quy định khác nhau về điều kiện chuyển nhượng phầnvốn góp Khi đã thỏa mãn các điều kiện chuyển nhượng thì cá nhân sở hữu có thểchuyển nhượng phần vốn góp của mình, trong trường hợp có phát sinh thu nhập thìphải nộp thuế TNCN

Trên thực tế, pháp luật thuế TNCN

nhượng phần vốn góp, nhưng theo luật dân

không quy định như thế nào là chuyển sự

thì đây là hoạt động mua bán tài sản

33 Khoản 4, Điều 39 và Khoản 4 Điều 131 Luật Doanh nghiệp 2005

34 Khoản 4, Điều 87 Luật Doanh nghiệp 2005

35 Khoản 1, Điều 23 Luật Đầu tư số 59/2005/QH11

Trang 29

trong đó bên bán có nghĩa vụ giao tài sản cho bên mua, bên mua có nghĩa vụ nhận tàisản và trả tiền cho bên bán36, đây là giao dịch song vụ và có đền bù Cần phân biệttrường hợp chuyển nhượng phần vốn góp với các trường hợp khác cũng làm thay đổichủ thể sở hữu phần vốn góp như tặng cho phần vốn góp37 Trong trường hợp tặngcho phần vốn góp, tuy có làm thay đổi chủ sở hữu phần vốn góp nhưng không có việcđền bù giá trị phần vốn góp, cũng không mang lại cho chủ sở hữu nó những quyền lợivật chất vì thế cá nhân tặng cho không phải thực hiện nghĩa vụ thuế TNCN với nhànước khi tặng cho phần vốn góp.

Mặt khác, pháp luật thuế TNCN cũng không có quy định giới hạn về chủ thểnhận chuyển nhượng nên họ có thể là bất kỳ ai, không phân biệt là cá nhân hay tổchức, thậm chí trong trường hợp bên nhận chuyển nhượng là tổ chức phát hành phầnvốn góp thì thu nhập phát sinh từ hoạt động này cũng được xem là thu nhập từ CNV-đối tượng chịu thuế TNCN

Chứng khoán và hoạt động chuyển nhượng chứng khoán

Pháp luật thuế TNCN không có khái niệm về CK, tuy nhiên thông qua quy địnhtại điểm 4.2, khoản 4, Mục II, Phần A TT84 đã gián tiếp xác định CK được hiểu theoLuật Chứng khoán38 Theo Luật chứng khoán số 70/2006/QH11 và Luật sửa đổi, bổsung một số điều của Luật Chứng khoán số 62/2010/QH1239 (gọi tắt Luật Chứngkhoán) thì CK là bằng chứng xác nhận quyền và lợi ích hợp pháp của người sở hữuđối với tài sản hoặc phần vốn của tổ chức phát hành CK được thể hiện dưới hình thứcchứng chỉ, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉquỹ; quyền mua cổ phần, chứng quyền, quyền chọn mua, quyền chọn bán, hợp đồngtương lai, nhóm CK hoặc chỉ số CK; hợp đồng góp vốn đầu tư và các loại CK khác do

Bộ Tài chính quy định40

36 Điều 428 Bộ Luật Dân sự 2005

37 Thành viên công ty TNHH từ 2 thành viên trở lên, thành viên góp vốn trong công ty hợp danh có quyền tặng cho phần vốn góp của mình theo Khoản 5 Điều 45, điểm e, Khoản 1, Điều 140 Luật Doanh nghiệp 2005

38 Điểm 4.2, Khoản 4 , Mục II, Phần A Thông tư 84/2008/TT-BTC qui định thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ quỹ và các loại chứng khoán khác theo quy định của Luật Chứng khoán Từ quy định này có thể thấy chứng khoán

theo pháp luật thuế TNCN bao gồm các loại chứng khoán theo Luật Chứng khoán.

39 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán có hiệu lực kể từ ngày 01/07/2011

40 Khoản 1 Điều 6 Luật Chứng khoán

Trang 30

Trên thực tế, để trở thành chủ sở hữu hợp pháp đối với bất kỳ một loại CK nào,

cá nhân có thể thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau Chẳng hạn như, nhậnchuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế, nhận cổ phiếu thưởng, nhận cổ tức bằng

cổ phiếu Nếu như mục đích chính của nhà đầu tư khi góp vốn vào một tổ chức lànhận được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh và tham gia quản lý tổ chức đó thì đốivới nhà đầu tư CK, mục đích chính của họ là nhận được lợi nhuận từ hoạt độngchuyển nhượng

Hoạt động chuyển nhượng CK được thực hiện trên thị trường chứng khoán(TTCK) Nếu căn cứ vào tính chất pháp lý41 thì có thể chia TTCK thành ba loại, bao gồmTTCK tập trung, TTCK phi tập trung (Thị trường OTC) và thị trường thứ ba hay còn gọi

là thị trường “chợ đen” Tùy vào từng loại thị trường mà có sự khác nhau về mức độ quản

lý của nhà nước, hàng hóa giao dịch trên thị trường, cách thức hình thành giá, … Tại ViệtNam hiện nay, bên cạnh thị trường tập trung là nơi giao dịch các CK đã niêm yết còn tồntại thị trường giao dịch CK của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đã đăng ký giaodịch tại SGDCK Hà Nội (tên viết tắt: UPCom)42 và thị trường “chợ đen” Điểm khác biệtlớn nhất giữa TTCK tập trung và thị trường UPCom với thị trường “chợ đen” là nếu nhưđối với TTCK tập trung và thị trường UPCom có sự quản lý chặt chẽ của nhà nước thôngqua hệ thống văn bản pháp luật thì đối với thị trường “chợ đen” không có sự quản lý củanhà nước Tại thị trường này, hoạt động chuyển nhượng CK có thể diễn ra bất cứ ở đâu,bất cứ lúc nào, có thể thông qua những nhà môi giới hoặc do chính những nhà đầu tư,mua bán CK thực hiện, giá cả hình thành ở thị trường này trên cơ sở tự do thỏa thuận củacác bên Chính do những đặc điểm này của thị trường “chợ đen”, dẫn đến rất khó để xácđịnh được giá chuyển nhượng thực sự, từ đó dẫn đến khó khăn khi xác định có hay khôngthu nhập chịu thuế từ hoạt động này, nếu có là bao nhiêu? Sự khác biệt giữa thị trường tậptrung, thị trường UPCom với thị trường “chợ đen” dẫn đến pháp luật thuế TNCN cónhững quy định khác nhau về cách xác định thu nhập tính thuế, cách quản lý thuế đối vớithu nhập phát sinh từ hoạt động chuyển nhượng CK phát sinh trên những thị trường này

41 PGS.TS Đinh Văn Sơn (2009), Phát triển bền vững thị trường chứng khoán, Nxb Tài chính,

tr.60-63

42 Xem Quyết định số Số 108 /2008/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế Tổ chức và Quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này

Trang 31

Qua những phân tích trên có thể thấy giữa CK và phần vốn góp trong các tổchức có những khác biệt nhất định Cụ thể là:

Thứ nhất, về quyền của chủ sở hữu Chủ sở hữu phần vốn góp có quyền tham

gia quản lý hoạt động của tổ chức nơi họ góp vốn, chủ sở hữu CK trong đa số cáctrường hợp không có quyền này

Thứ hai, về mục đích chính của chủ sở hữu Chủ sở hữu phần vốn góp khi tham

gia góp vốn vào một tổ chức điều mà họ mong muốn là tham gia quản lý hoạt động vàhưởng lợi nhuận từ kết quả kinh doanh của tổ chức đó, việc chuyển nhượng phần vốngóp không phải là hoạt động thường xuyên Đối với chủ sở hữu CK, hoạt động chuyểnnhượng CK là hoạt động thường xuyên và mục đích chính của họ là có được tiền lãi

từ hoạt động này

Thứ ba, về thị trường thực hiện giao dịch chuyển nhượng Đối với CK đã niêm

yết giao dịch trên thị trường tập trung thông qua sàn giao dịch, CK chưa niêm yết củacông ty đại chúng giao dịch trên thị trường đăng ký giao dịch CK chưa niêm yết (viếttắt UPCom)43, việc giao dịch trên hai thị trường này đều có sự quản lý chặt chẽ củanhà nước Đối với giao dịch chuyển nhượng vốn góp được thực hiện trên thị trường

“tự do”, không có những ràng buộc về địa điểm giao dịch, phương thức xác lập giá cả,

Chính những khác biệt này giữa CK và vốn góp trong các tổ chức, dẫn đến cónhững khác biệt trong phương pháp tính thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV cũngnhư trong cách thức quản lý thuế đối với thu nhập phát sinh khi chuyển nhượngchúng Cụ thể về những khác biệt sẽ được trình bày trong các phần tiếp theo

1.2.3 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn

Căn cứ tính thuế trong văn bản pháp luật thuế là tập hợp các quy phạm pháp luậtquy định cách thức xác định số tiền thuế phải nộp vào ngân sách nhà nước Căn cứ tínhthuế là nội dung quan trọng nhất trong một văn bản pháp luật thuế bởi dựa vào đó, cả đốitượng nộp thuế và cơ quan thuế xác định được phạm vi nghĩa vụ thuế Trong

43 Xem Quyết định số Số 108 /2008/QĐ-BTC về việc ban hành Quy chế Tổ chức và Quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chưa niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội và Quy chế ban hành kèm theo Quyết định này.

Trang 32

thực tiễn pháp luật thuế, các tranh chấp về số thuế phải nộp chiếm số lượng nhiều nhất

vì tương quan lợi ích vật chất của đối tượng nộp thuế và của nhà nước ngược nhau

Vì vậy, nghiên cứu căn cứ tính thuế có ý nghĩa quan trọng trong thực tiễn áp dụngpháp luật thuế nhằm xác định chính xác số tiền phải nộp, đảm bảo công bằng và dunghòa lợi ích của các bên trong quan hệ thuế44

1.2.3.1 Khái niệm, thành phần căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu

nhập từ chuyển vốn

Căn cứ tính thuế theo pháp luật thuế TNCN đối với thu nhập từ CNV là tập hợpquy phạm pháp luật quy định cách thức xác định số thuế cụ thể mà đối tượng nộp thuếphải nộp vào ngân sách nhà nước Bao gồm, thu nhập tính thuế và thuế suất

Qua khái niệm về căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ CNV có thể thấy thunhập tính thuế từ CNV là một trong các thành phần dùng để xác định chính xác số thuế

phải nộp Tuy nhiên, cần phân biệt giữa thu nhập tính thuế và thu nhập chịu thuế từ CNV Thu nhập chịu thuế từ CNV về nguyên tắc được hiểu là khoản thu nhập ròng,

khoản tiền lãi nhận được từ hoạt động này Còn thu nhập tính thuế từ CNV là mộttrong các thành phần dùng để xác định số thuế phải nộp của đối tượng nộp thuế Đốivới thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công thì có thể dễ dàng nhận thấy sự khácbiệt giữa thu nhập tính thuế và nhập chịu thuế vì thu nhập tính thuế là một con số khác

so với thu nhập chịu thuế, nó được xác định bằng cách lấy thu nhập chịu thuế trừ đicác khoản đóng góp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm trách nhiệm nghềnghiệp đối với một số ngành nghề phải tham gia bảo hiểm bắt buộc, các khoản giảmtrừ gia cảnh và giảm trừ đối với các khoản đóng góp từ thiện, nhân đạo45 Tuy nhiên,đối với thu nhập tính thuế từ CNV thì tùy vào đối tượng nộp thuế là đối tượng cư trúhay không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp haychuyển nhượng CK (trường hợp chuyển nhượng CK nhưng không đăng ký phươngpháp nộp thuế với mức thuế suất 20%) mà thu nhập tính thuế được xác định bằng thunhập chịu thuế hay bằng doanh thu từ hoạt động chuyển nhượng

44 Tập thể tác giả(2009), Tập bài giảng Luật thuế, Đai học Luật Tp.HCM, tr.34-35

45 Khoản 1, Điều 21 Luật thuế TNCN

Trang 33

Giữ vai trò không kém quan trọng trong việc xác định cụ thể số thuế phải nộp làthuế suất Trong một sắc thuế, thuế suất được xem như “linh hồn” của sắc thuế đó, nóphản ánh định hướng điều tiết của nhà nước đối với một lĩnh vực nhất định Thuế suất

áp dụng đối với thu nhập từ CNV là thuế suất tương đối cố định, với loại thuế suất nàymức thuế suất (tỷ lệ %) sẽ không thay đổi khi thu nhập từ CNV thay đổi Trong khi đó,thuế suất áp dụng đối với thu nhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công là thuế suấttương đối lũy tiến từng phần Việc áp dụng loại thuế suất tương đối cố định sẽ khôngđảm bảo tính hợp lý khi điều tiết , vì mức thuế suất được áp dụng giữa đối tượng cóthu nhập cao và đối tượng có thu nhập thấp hơn không có sự khác biệt Tuy nhiên, vớiđiều kiện kinh tế xã hội của Việt Nam hiện nay thì việc áp dụng loại thuế suất tương

đối cố định đối với thu nhập từ CNV là phù hợp Bởi vì, thứ nhất nó đơn giản hơn thuế

suất tương đối lũy tiến từng phần không chỉ trong việc tiến hành xây dựng mức thuế

suất mà còn đơn giản hơn trong việc tiến hành xác định số thuế phải nộp; thứ hai, thu

nhập từ CNV là thu nhập mang tính không thường xuyên, không phổ biến như thunhập từ kinh doanh, tiền lương, tiền công nên trong trường hợp này cần hy sinh tính

hợp lý để đảm bảo tính hiệu quả thi hành; thứ ba, vẫn phù hợp với xu hướng chung

trên thế giới vì hiện vẫn có nhiều nước áp dụng loại thuế suất này đối với thu nhập từCNV như Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc46 Cũng giống như thu nhập tính thuế,tùy vào đối tượng nộp thuế là đối tượng cư trú hay không cư trú, thu nhập chịu thuế

là thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp hay chuyển nhượng CK (trường hợpkhông không đăng ký phương pháp nộp thuế theo mức thuế suất 20%) mà mức thuếsuất đối với thu nhập từ CNV là 20% hay 0.1%

Việc xác định căn cứ tính thuế đối với thu nhập từ CNV không những giúp cánhân có thu nhập từ CNV có thể tự xác định được phạm vi nghĩa vụ thuế của mình đốivới nhà nước mà còn giúp cơ quan thuế xác định chính xác số thuế mà cá nhân có thunhập từ CNV phải nộp, qua đó đảm bảo cơ chế hành thu hiệu quả

46 Xem nội dung cụ thể về các mức thuế suất ở các nước này trong bài viết “Phương pháp xác định thu nhập chịu thuế đối với hoạt động chứng khoán” từ http://www.gdt.gov.vn/gdtLive/ Trang- chu/Tin-tuc/News?contentId=120932&location=tct&subContentId=120934#1

Trang 34

1.2.3.2 Căn cứ tính thuế thu nhập cá nhân đối với thu nhập từ chuyển nhượng

vốn của cá nhân cư trú

Như trên đã đề cập, việc xác định thu nhập tính thuế và mức thuế suất của thunhập từ chuyển nhượng phần vốn góp và chuyển nhượng CK có những khác biệt, cụthể là:

Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế được xác định bằng giá chuyển nhượng trừ (-) giá mua của phần vốn góp và các chi phí hợp lý liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ CNV Trong đó,

đồng chuyển nhượng phần vốn góp Tuy nhiên, không phải lúc nào trên hợp đồng cũng cóghi giá bán hoặc có ghi nhưng giá bán không phù hợp với giá thị trường, trong nhữngtrường hợp này giá bán sẽ do cơ quan thuế ấn định dựa trên tài liệu điều tra của cơ quanthuế hoặc căn cứ giá chuyển nhượng trong các trường hợp khác cùng thời gian, cùng tổchức kinh tế hoặc các hợp đồng chuyển nhượng tương tự Pháp luật thuế TNCN không cóquy định cụ thể trong trường hợp này hiểu như thế nào là không phù hợp giá thị trường.Tuy nhiên, mục đích chính của quy định này là tránh trường hợp các bên thỏa thuận ghitrên hợp đồng giá chuyển nhượng thấp hơn giá chuyển nhượng thực tế để gian lận thuế,

vì thế nên hiểu không phù hợp với giá thị trường trong trường hợp này là giá ghi trên hợpđồng chuyển nhượng thấp hơn so với giá thị trường Về nguyên tắc, khi chuyển nhượng,bên chuyển nhượng luôn mong muốn giá chuyển nhượng cao hơn nhiều so với giá banđầu nhưng nếu vậy thì tiền lãi nhận được lớn nên số thuế phải nộp nhiều Chính vì thế,các bên thường “lách luật” bằng cách thỏa thuận ghi giá chuyển nhượng trong hợp đồngthấp hơn so với giá thực tế mà bên nhận chuyển nhượng sẽ thanh toán, như thế bênchuyển nhượng sẽ nộp thuế thấp hơn số thuế lẽ ra phải nộp Quy định này về mặt lýthuyết sẽ hạn chế được gian lận thuế theo cách thức này, tuy nhiên khó áp dụng trên thực

tế Bởi vì, pháp luật không quy định cách thức xác định giá thị trường, dẫn đến không cócăn cứ đối chiếu xem giá trên hợp

47 Điều 13, Điều 23 Luật thuế TNCN; Điều 15 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP; Điểm 2.1, Khoản 2, Mục

2, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC

48 Tiết 2.1.1 a, Điểm 2.2, Khoản 2, Mục 2, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC

Trang 35

đồng có phù hợp không Mặt khác, dù xác định được giá thị trường và có căn cứ chorằng giá trên hợp đồng là không phù hợp thì việc ấn định giá lại là một công việc phứctạp và khó thực hiện.

Giá mua 49: tùy vào phương thức có được phần vốn góp mà giá mua phần vốngóp được xác định đối với từng trường hợp là khác nhau Nếu chuyển nhượng vốngóp thành lập doanh nghiệp thì giá mua là giá trị phần vốn tại thời điểm góp vốn Giátrị vốn góp được xác định trên cơ sở sổ sách kế toán, hoá đơn, chứng từ Nếu là phầnvốn do mua lại thì giá mua là giá trị phần vốn đó tại thời điểm mua Giá mua được xácđịnh căn cứ vào hợp đồng mua lại phần vốn góp Tuy nhiên, với quy định về cách xácđịnh giá mua như vậy là chưa dự liệu đến trường hợp trong hợp đồng chuyển nhượngphần vốn góp trước đó không ghi giá chuyển nhượng hoặc có ghi nhưng cao hơn sovới giá mua thực tế tại thời điểm mua Những trường hợp này hoàn toàn có thể xảy ra,

vì nội dung trong hợp đồng do các bên thỏa thuận, trong hợp đồng nếu thiếu các điềukhoản cơ bản (chủ thể, đối tượng, số lượng, chất lượng, giá cả …) không bị xem là vôhiệu

Các chi phí liên quan 50 là những chi phí hợp lý thực tế phát sinh liên quan đến việc tạo ra thu nhập từ chuyển nhượng vốn, có hoá đơn, chứng từ hợp lệ theo chế độ

quy định Cụ thể bao gồm: chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết cho việc chuyểnnhượng; các khoản phí và lệ phí người chuyển nhượng nộp ngân sách khi làm thủ tụcchuyển nhượng; các khoản chi phí khác có liên quan trực tiếp đến việc chuyểnnhượng vốn có hoá đơn, chứng từ hợp lệ

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế là thời điểm giao dịch CNV hoàn thành,

cụ thể là thời điểm các bên tham gia chuyển nhượng làm thủ tục khai báo, chuyểnquyền sở hữu với cơ quan cấp đăng ký kinh doanh hoặc doanh nghiệp quản lý vốngóp Xác định đúng thời điểm này có ý nghĩa quan trọng vì vào những thời điểm khácnhau, thu nhập tính thuế có thể khác nhau

49 Tiết 2.1.1 b, Điểm 2.2, Khoản 2, Mục 2, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC

50 Tiết 2.1.1 c, Điểm 2.2, Khoản 2, Mục 2, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC

Trang 36

Thuế suất thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn góp áp dụng theo biểu thuế toàn phần với mức thuế suất là 20%51

Khi đã xác định được thu nhập tính thuế và thuế suất thì thuế TNCN đối với thu nhập từ chuyển nhượng phần vốn góp được tính bằng công thức sau:

Thuế thu nhập cá nhân phải nộp

Thunhập tính thuế

Thuếsuất (20%)

Tùy trường hợp có đăng ký phương pháp nộp thuế theo mức thuế suất 20% với

cơ quan thuế hay không mà có cách xác định thu nhập tính thuế và mức thuế suất khácnhau Để được đăng ký phương pháp nộp thuế 20%, cá nhân nộp thuế phải đăng kýthuế và có mã số thuế, thực hiện chế độ kế toán hóa đơn chứng từ để xác định đượcthu nhập tính thuế từ chuyển nhượng CK (tức là phải xác định được giá bán, giá mua,các chi phí liên quan) và phải thực hiện đăng ký thuế từ chậm nhất ngày 31/12 củanăm trước (riêng năm 2009 chậm nhất là ngày 31/03/2009)53

Trường hợp thứ nhất: có đăng ký phương pháp nộp thuế theo mức thuế suất

20% với cơ quan thuế

Thu nhập tính thuế bằng thu nhập chịu thuế Thu nhập chịu thuế bằng giá bán

CK trừ giá mua, các chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng Trong đó,

Giá bán CK được xác định tùy thuộc vào CK được chuyển nhượng có niêm yết hay chưa, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với CK niêm yết: theo điểm a, khoản 2, Điều 16 NĐ 100 và theo

tiết 2.2.1a, khoản 2.2, Mục II, Phần B TT84 thì giá bán CK là giá chuyển nhượng thực

tế tại Sở Giao dịch chứng khoán (SGDCK) hoặc Trung tâm giao dịch chứng khoán(TTGDCK) Theo khoản 1, 2 Điều 41 Luật Chứng khoán Điều 6 Quy chế giao dịch

CK tại SGDCK thành phố Hồ Chí Minh ban hành kèm theo Quyết định số SGDHCM ngày 09/10/2007 và Điều 6 Quy chế giao dịch CK tại SGDCK Hà Nội ban

124/QĐ-51 Khoản 2, Điều 23 Luật thuế TNCN; Khoản 1, Điều 17 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP;Tiết

2.1.2, Điểm 2.2 Khoản 2, Mục 2, Phần B Thông tư số 84/2008/TT-BTC.

52 Khoản 2 Điều 21, Điều 23 Luật thuế TNCN; Điều 16,17 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP; Điểm 2.2,

53 Tiết 2.2.2a, khoản 2, Mục II, Phần B Thông tư số 84/TT-BTC.

Trang 37

hành kèm theo Quyết định số 326/QĐ-SGDHN ngày 04/06/2010 thì giá mua, giá bán

CK hình thành bằng một trong hai phương thức khớp lệnh hoặc thỏa thuận Như vậy,tùy theo phương thức giao dịch mà giá chuyển nhượng CK được xác định là giá khớplệnh hay giá thỏa thuận

Thứ hai, đối với CK của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đã thực hiện

đăng ký giao dịch tại TTGDCK: giá bán CK là giá chuyển nhượng thực tế tạiTTGDCK Cụ thể, theo Điều 14 Quy chế Tổ chức và Quản lý giao dịch CK công ty đạichúng chưa niêm yết tại TTGDCK Hà Nội ban hành kèm theo Quyết định số108/2008/QĐ-BTC ngày 20/11/2008 về việc ban hành Quy chế Tổ chức và Quản lýgiao dịch CK công ty đại chúng chưa niêm yết tại TTGDCK Hà Nội, CK của công tyđại chúng chưa niêm yết nhưng đã đăng ký giao dịch tại đây khi được chuyểnnhượng thì giá chuyển nhượng được hình thành trên cơ sở của phương thức giao dịchthỏa thuận

Thứ ba, đối với CK của các công ty không thuộc các trường hợp nêu trên: “giá

bán CK là giá chuyển nhượng ghi trên hợp đồng chuyển nhượng Trường hợp trên hợp đồng không ghi giá thì giá chuyển nhượng do người chuyển nhượng tự khai và phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của nội dung kê khai Trường hợp cơ quan thuế có căn cứ xác định giá ghi trên hợp đồng hoặc giá tự khai là không đúng thực tế thì cơ quan thuế được quyền ấn định giá chuyển nhượng để tính lại số thuế phải nộp đồng thời phạt về hành vi gian lận thuế theo quy định của Luật quản lý thuế”54 Đây là

một quy định mới so với TT84, trước đây theo TT84 giá bán trong trường hợp này là

giá bán ghi trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có

CK được chuyển nhượng khi hợp đồng không quy định giá chuyển nhượng hoặc cóghi nhưng thấp hơn giá theo sổ sách kế toán Quy định này của TT84 là không hợp lý,bởi vì giá bán và giá thị trường là hai loại giá khác nhau, tùy theo quan hệ cung cầutrên thị trường mà người bán bán CK được giá cao hay thấp, trong khi giá theo sổsách kế toán phản ánh tình trạng vốn của một tổ chức nhất ở một thời điểm nhất định

Vì thế, không phải lúc nào giá bán cũng bằng hoặc cao hơn giá trong sổ sách kế toán,

có những thời điểm do thị trường khủng hoảng nhà đầu tư phải bán CK với giá thấphơn

54 Điều 4 Thông tư 62/2009/TT-BTC.

Trang 38

giá theo sổ sách kế toán để cắt lỗ, nếu tiếp tục giữ thì lỗ càng nặng Nếu vẫn giữ quyđịnh này thì nhà đầu tư dù thực tế bán với giá thấp hơn giá trong sổ sách kế toán vẫnphải xác định bằng giá ghi trong sổ sách kế toán dẫn đến có thể không có thu nhập vẫnphải nộp thuế Quy định mới giải quyết được bất cập này, đồng thời đề cao ý thứccũng như trách nhiệm của cá nhân nộp thuế khi quy định họ phải tự khai và chịu tráchnhiệm về tính chính xác của nội dung kê khai Tuy nhiên, để quy định mới này đạt tínhkhả thi, tránh trường hợp đối tượng nộp thuế khai giá bán thấp hơn giá thực tế thìcông tác thanh tra, kiểm tra phải được thực hiện tốt.

Giá mua CK, cũng được xác định tùy thuộc vào CK được chuyển nhượng có

niêm yết hay chưa, cụ thể như sau:

Thứ nhất, đối với CK niêm yết: giá mua CK là giá thực mua tại Sở giao dịch

chứng khoán, Trung tâm giao dịch chứng khoán

Thứ hai, đối với CK của công ty đại chúng chưa niêm yết nhưng đã thực hiện

đăng ký giao dịch tại TTGDCK thì giá mua CK là giá thực tế mua tại TTGDCK

Thứ ba, đối với CK mua thông qua đấu giá thì giá mua là giá trúng đấu giá.

Thứ tư, đối với CK không thuộc các trường hợp nêu trên, giá mua CK là giá ghi

trên hợp đồng chuyển nhượng hoặc giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có CK tại thời điểm mua TT84 quy định cụ thể hơn trong trường hợp giá mua trên hợp đồng ghi cao hơn

giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có CK tại thời điểm mua thì giá mua được xác địnhcăn cứ giá theo sổ sách kế toán của đơn vị có chứng khoán tại thời điểm mua Thực sự quyđịnh này trong TT84 là không hợp lý, bởi vì không phải lúc nào giá mua cũng nhỏ hơnhoặc bằng với giá theo sổ sách kế toán tại thời điểm mua Giá mua và giá theo sổ sách kếtoán là hai loại khác nhau, chúng có thể bằng hoặc hơn, kém nhau Người mua mua CKtheo giá thị trường của CK đó, trong khi giá thị trường cao thấp tùy theo quan hệ cungcầu loại CK này trên thị trường thì giá trên sổ sách kế toán phản ánh tình trạng vốn củacông ty ở một thời điểm nhất định Pháp luật quy dịnh như vậy là để tránh trường hợpngười chuyển nhượng nộp thuế với con số nhỏ hơn số thuế thực tế phải nộp do khai giámua cao hơn so với giá thực tế mua nên thu nhập tính thuế sẽ nhỏ hơn thu nhập thực nhận.Tuy nhiên, khi quy định như vậy là nhà nước đã giành “phần hơn” về mình và đẩy “phầnthiệt” về phía người chịu thuế Người chịu thuế phải

Trang 39

đóng thuế nhiều nếu lời nhiều là điều hợp lý (trong trường hợp mua CK với giá thấphơn giá theo sổ sách kế toán nhưng bán với giá cao hơn nhiều) nhưng vẫn phải nộpthuế khi đầu tư thua lỗ là vô lý, trái tinh thần của pháp luật thuế TNCN Ví dụ, giámua thực tế một cổ phiếu trên thị trường là 20 ngàn đồng nhưng giá theo sổ sách kếtoán là 16 ngàn đồng thì khi bán với giá 19 ngàn, thực tế là người mua bị lỗ 1 ngànđồng /1 cổ phiếu (chưa tính đến chi phí chuyển nhượng) nhưng với quy định về cáchxác định giá mua như thế này thì vẫn xem là có thu nhập chịu thuế 3 ngàn/ 1 cổ phiếu(giả sử chi phí bằng 0) Nhà nước sợ thất thu thuế vì người dân gian lận khi ghi giámua trên hợp đồng cao hơn thực tế thì phải có quy định hiệu quả để hạn chế tình trạngnày đồng thời có chế tài xử lý nghiêm khắc những trường hợp vi phạm chứ không nênquy định như trong TT84.

Chi phí liên quan đến việc chuyển nhượng là các khoản chi phí thực tế phát sinh

của hoạt động chuyển nhượng CK có hoá đơn, chứng từ theo chế độ quy định Bêncạnh các khoản chi phí có tên gọi như : chi phí để làm các thủ tục pháp lý cần thiết choviệc chuyển nhượng; các khoản phí và lệ phí người chuyển nhượng nộp ngân sáchnhà nước khi làm thủ tục chuyển nhượng; phí lưu ký CK theo quy định của Uỷ banChứng khoán Nhà nước và chứng từ thu của công ty CK; phí uỷ thác CK căn cứ vàochứng từ thu của đơn vị nhận uỷ thác Pháp luật thuế TNCN quy định chi phí được trừcòn bao gồm các khoản chi phí khác Trên thực tế, khi thực hiện chuyển nhượng CKbên cạnh các chi phí có tên như luật đã liệt kê, cá nhân chuyển nhượng còn phải tốnnhiều khoản chi phí khác như chi phí điện thoại, internet, tiền xăng đi lại, lãi vay ngânhàng, … tuy nhiên, với cách quy định như vậy thì không rõ các khoản chi phí này cóđược xem là chi phí khác hay không?

Thời điểm xác định thu nhập tính thuế đối với CK niêm yết là thời điểm

TTGDCK hoặc SGDCK công bố giá thực hiện; đối với CK chưa niêm yết nhưng đãthực hiện đăng ký giao dịch tại TTGDCK là thời điểm Trung tâm giao dịch công bốgiá thực hiện; đối với CK không thuộc trường hợp nêu trên là thời điểm hợp đồng

chuyển nhượng CK có hiệu lực, trường hợp không có hợp đồng chuyển nhượng CK

thì thời điểm tính thuế là thời điểm đăng ký chuyển tên sở hữu CK

Trang 40

Thuế suất đối với thu nhập từ chuyển nhượng CK trong trường hợp này 20%.

Quy định thuế suất 20% trên thu nhập tính thuế của pháp luật thuế TNCN Việt Namđối với thu nhập từ chuyển nhượng CK là khá cao và có một số khác biệt so với một

số nước trong khu vực Ở đa số các nước này có phân biệt giữa CK niêm yết và CKchưa niêm yết để quy định mức thuế suất Ví dụ, ở Malaysia không thu thuế TNCNđối với thu nhập từ CNV (ngoại trừ chuyển nhượng bất động sản với mức thuế suấtcũng rất thấp 0.5%), ở Thái Lan thu nhập từ chuyển nhượng cổ phiếu niêm yết đượcmiễn thuế TNCN, ở Philipine mức thuế suất áp dụng đối với thu nhập từ chuyểnnhượng cổ phiếu niêm yết là 5%-10% trên lãi ròng55

Sau khi xác định được thu nhập tính thuế và thuế suất thì số thuế TNCN phảinộp đối với thu nhập từ chuyển nhượng CK trong trường hợp này được xác định theocông thức:

ế

Thu

nhập tính thuế nộp

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng mặc dù NĐ 100 không quy định nhưng theo

TT 84, dù đã đăng ký phương pháp nộp thuế với mức thuế suất là 20%, nhưng saumỗi lần chuyển nhượng thì công ty CK vẫn tiến hành khấu trừ thuế với mức là 0,1%trên tổng giá trị từng lần chuyển nhượng Cuối năm, nhà đầu tư tiến hành quyết toánthuế với cơ quan thuế, được hoàn thuế nếu số thuế đã khấu trừ lớn hơn số thuế phảinộp và phải nộp thêm nếu số thuế khấu trừ nhỏ hơn số thuế phải nộp

Trường hợp thứ hai, không đăng ký phương pháp nộp thuế theo mức thuế suất

20% với cơ quan thuế56

Thu nhập tính thuế được xác định bằng doanh thu Doanh thu bằng trị giá

chuyển nhượng và được xác định tương tự như trường hợp có đăng ký phương phápnộp thuế

55 Đức Phương (2011), “Chính sách thuế TNCN của Việt Nam trong mối tương quan với Thế Giới”,

56 Điều 17 Nghị định số 100/2008/NĐ-CP;Tiết 2.2.2b, Điểm 2.2 Khoản 2, Mục 2, Phần B Thông tư số

84/2008/TT-BTC.

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:47

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Luật số 62/2010/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Chứng khoán 2006 Khác
7. Nghị quyết 32/2009/QH12 về điều chỉnh mục tiêu tổng quát, một số chỉ tiêu kinh tế, ngân sách nhà nước, phát hành bổ sung trái phiếu Chính phủ năm 2009 và miễn, giảm thuế thu nhập cá nhân Khác
8. Pháp lệnh của UBTVQH số 35/2001/PL-UBTVQH10 ngày 15/5/2001 thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao Khác
9. Pháp lệnh của UBTVQH số 14/2004/PL-UBTVQH11 ngày 24/3/2004 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh thuế thu nhập đối với ngưới có thu nhập cao Khác
10. Nghị định số 147/2004/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao số 14/2004/PL-UBTVQH11 Khác
11. Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 quy định chi tiết một số điều của Luật Thuế TNCN Khác
13. Thông tư 28/2008/TT-BTC ngày 03/4/2008 của Bộ Tài chính về hướng dẫn việc đăng ký hành nghề và quản lý hoạt động hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế, việc tổ chức thi, cấp, thu hồi Chứng chỉ hành nghề dịch vụ làm thủ tục về thuế Khác
14. Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính Phủ quy định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN Khác
16. Thông tư số 160/2009/TT-BTC ngày 12/8/2009 hướng dẫn miễn thuế TNCN năm 2009 theo Nghị Quyết số 32/2009/QH12 ngày 19/6/2009 của Quốc Hội Khác
17. Thông tư 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 hướng dẫn bổ sung Thông tư số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN Khác
18. Thông tư số 20/2010/TT-BTC ngày 05/02/2010 hướng dẫn sửa đổi, bổ sung một số thủ tục hành chính về thuế TNCN Khác
19. Thông tƣ 175/2010/TT-BTC ngày 05/11/2010 sửa đổi bổng sung Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và hướng dẫn Nghị định số 100/2008/NĐ-CP ngày 08/9/2008 của Chính Phủ qui định chi tiết một số điều của Luật thuế TNCN Khác
20. Thông tƣ số 12/2011/TT-BTC ngày 26/01/2011 sửa đổi thông tƣ số 84/2008/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thuế TNCN và sửa đổi Thông tư 02/2010/TT-BTC ngày 11/01/2010 hướng dẫn bổ sung Thông tƣ số 84/2008/TT-BTC ngày 30/9/2008 Khác
21. Thông tư số 28/2011/TT-BTC ngày 28/02/2011 hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, hướng dẫn thi hành Nghị định số 85/2007/NĐ-CP, ngày 25/05/2007 và Nghị định 106/2010/NĐ-CP ngày 28/10/2010 Khác
22. Quyết định 124/QĐ-SGDHCM ngày 09/10/2007 về việc ban hành Quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh Khác
23. Quyết định số 108/2008/QĐ-BTC về việc ban hành quy chế tổ chức và Quản lý giao dịch chứng khoán công ty đại chúng chƣa niêm yết tại Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội Khác
24. Quyết định 326/QĐ-SGDHN ngày 04/06/2010 về việc ban hành Quy chế giao dịch chứng khoán tại Sở Giao dịch chứng khoán Hà Nội Khác
25. Báo cáo tiếp thu, chỉnh lý, giải trình ý kiến nhân dân về dự án Luật thuế TNCN số 53/BC-UBTVQH12 Khác
26. Công văn số 42/BTC-TCT của Bộ Tài chính ngày 02/011/2009 về khấu trừ thuế TNCN đối với chuyển nhƣợng chứng khoán Khác
27. Công văn 12501/BTC-CST của Bộ Tài chính ngày 20/09/2010 hướng dẫn về chính sách thuế đối với hoạt động chuyển nhƣợng cổ phần trong các công ty cổ phần Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w