Chương trình đào tạo cao học Luật kinh tế định hướng ứng dụng khác với chương trình định hướng nghiên cứu tập trung hơn vào việc giúp người học vận dụng kiến thức pháp lý vào hoạt động n
Trang 1KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI
TÀI LIỆU PHỤC VỤ HỘI THẢO NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
CAO HỌC LUẬT KINH TẾ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TP HỒ CHÍ MINH – 25/01/2019
Trang 2MỤC LỤC
¯ ¯
Chương trình hội thảo
Việc đáp ứng yêu cầu về tính ứng dụng của chương trình đào tạo
cao học luật kinh tế định hướng ứng dụng tại Đại học Luật TP
HCM
PGS TS Hà Thị Thanh Bình
Xây dựng chương trình đào tạo cao học chuyên ngành luật kinh tế
hệ ứng dụng theo nhu cầu xã hội
TS Phạm Văn Võ
Tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho học viên chương
trình cao học luật định hướng ứng dụng
TS Phan Thị Thành Dương
Bàn về các tiêu chí đánh giá luận văn thạc sĩ luật kinh tế định
hướng ứng dụng
PGS TS Nguyễn Văn Vân
Các yêu cầu đối với luận văn thạc sĩ luật học định hướng ứng dụng
TS Lưu Quốc Thái
Giảng dạy môn “Giao kết và thực hiện hợp đ ồng trong kinh
doanh” trong chương trình đào tạo cao học luật chuyên ngành luật
kinh tế định hướng ứng dụng
PGS.TS Phan Huy Hồng
Giảng dạy môn pháp luật về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp trong
chương trình cao học luật kinh tế
PGS.TS Ngyễn Thị Thủy
Giảng dạy môn “Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất” trong
chương trình cao học luật kinh tế định hướng ứng dụng
TS Lưu Quốc Thái
Giảng dạy môn “Pháp luật về xuất nhập khẩu trong kinh doanh”
trong chương trình đào tạo cao học luật chuyên ngành luật kinh tế
Trang 4CHƯƠNG TRÌNH HỘI THẢO
“NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO
CAO HỌC LUẬT KINH TẾ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG”
Thời gian: 8h00, thứ 6, ngày 25/01/2019
-Địa điểm: Phòng họp A.905, Trường Đại học Luật TP HCM, 02 Nguyễn Tất
Thành, Quận 4, TP.HCM
8:00 – 8:10 Tiếp đón đại biểu
8:10 – 8:20 Khai mạc hội thảo:
PGS TS Hà Thị Thanh Bình – Trưởng Khoa Luật Thương Mại - Trường Đại học Luật TP HCM
Phiên thứ 1: Những vấn đề chung về chương trình Cao học luật
kinh tế định hướng ứng dụngChủ tọa:
- PGS.TS Hà Thị Thanh Bình
- PGS.TS Nguyễn Văn Vân8:20 – 8:30 Việc đáp ứng yêu cầu về tính ứng dụng của chương
tại Đại học luật Tp Hồ Chí Minh
PGS TS Hà Thị Thanh Bình.
8:30 – 8:40 Tăng cường kỹ năng thực hành pháp luât cho học
viên chương trình cao học luật định hướng ứng dụng
-TS Phan Thị Thành Dương.
8:40 – 8:50 Bàn về các tiêu chí đánh giá luận văn thạc sĩ luật kinh
tế định hướng ứng dụng - PGS.TS Nguyễn Văn Vân
8:50 – 9:15 Thảo luận
Trang 5Phiên thứ 2: Nâng cao tính ứng dụng của chương trình Cao
học luật kinh tế định hướng ứng dụng thông qua các môn học
cụ thể.
Chủ tọa:
- PGS TS Phan Huy Hồng
- PGS.TS Nguyễn Thị Thủy
9:30 – 9:40 Giảng dạy môn “Giao kết và thực hiện hợp đ ồng
trong kinh doanh” trong chương trình đào t ạo cao họcluật chuyên ngành luật kinh tế định hướng ứng dụng
9:40 – 9:50 Giảng dạy môn pháp luật về nghĩa vụ thuế của
doanh nghiệp trong chương trình Cao học Luật kinh tế
PGS TS Nguyễn Thị Thủy.
9:50 – 10:10 Giảng dạy môn pháp luật về du lịch trong chương
trình cao học luật kinh tế định hướng ứng dụng
PGS TS Hà Thị Thanh Bình và Ths Võ Trung Tín.
10:10 – 10:30 Thảo luận
10:30 – 10:40 Phát biểu kết luận & Bế mạc hội thảo:
PGS TS Phan Huy Hồng
Trang 6VIỆC ĐÁP ỨNG YÊU CẦU VỀ TÍNH ỨNG DỤNG CỦA CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CAO HỌC LUẬT KINH TẾ ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG TẠI
ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
PGS TS Hà Thị Thanh Bình Khoa Luật Thương mại – Trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Dẫn nhập
Chương trình đào t ạo đư ợc coi là xương sống của một khóa đào t ạo Xây dựng được chương trình đào tạo khoa học, đáp ứng tốt nhu cầu về kiến thức và kỹ năng của người học đóng vai trò quan tr ọng, góp phần quyết định sự thành công của khóa đào t ạo Ý th ức rõ đi ều đó, Trư ờng Đ ại học Luật TP Hồ Chí Minh nói chung và Khoa Luật Thương mại nói riêng luôn thực hiện công việc rà soát để tiếp tục hoàn thiện chương trình đào tạo nhằm đáp ứng tốt nhất yêu cầu của người học Chương trình đào tạo cao học Luật kinh tế định hướng ứng dụng (khác với chương trình định hướng nghiên cứu) tập trung hơn vào việc giúp người học vận dụng kiến thức pháp lý vào hoạt động nghề nghiệp, năng cao kỹ năng, năng lực làm việc độc lập, ứng dụng hiệu quả các kiến thức đã h ọc vào công việc thực tế Bài viết này trình bày (i) Các quy đ ịnh của pháp luật hiện hành đ ối với chương trình đào t ạo cao học định hướng ứng dụng; (ii) Chương trình đào tạo Luật Kinh tế định hướng ứng dụng hiện hành tại Trường Đại học Luật TP HCM; (iii) Kinh nghiệm của một
số trường đại học trên thế giới về chương trình đào tạo thạc sĩ Luật Thương mại; và
(iv) một số đề xuất góp phần hoàn thiện chương trình đào t ạo Luật kinh tế định hướng ứng dụng tại trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minh.
1 Quy định pháp luật đối với chương trình đào tạo cao học định hướng ứng dụng và yêu cầu của việc xây dựng chương trình đào tạo cao học luật kinh tế định hướng ứng dụng
Theo quy định tại Điều 2 Quy chế Đào tạo trình độ thạc sĩ ban hành kèm theoThông tư số 15/2014/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 5 năm 2014 (“Quy chế Đào tạoTrình độ Thạc sĩ”), mục tiêu của việc đào tạo trình độ thạc sĩ là “giúp ch o học viên
bổ sung, cập nhật và nâng cao kiến thức ngành, chuyên ngành; tăng cường kiến thứcliên ngành; có kiến thức chuyên sâu trong một lĩnh vực khoa học chuyên ngànhhoặc kỹ năng vận dụng kiến thức đó vào hoạt động thực tiễn nghề nghiệp; có khảnăng làm việc độc lập, tư duy sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết nhữngvấn đề thuộc ngành, chuyên ngành được đào tạo”
Trang 7Xuất phát từ mục tiêu đó, theo quy định tại điều 19 Quy chế Đào tạo Trình
độ Thạc sĩ, chương trình đào tạo thạc sĩ bao gồm chương trì nh đào tạo theo địnhhướng nghiên cứu hoặc theo định hướng ứng dụng
Theo quy định tại khoản 2 Quy chế Đào tạo Trình độ Thạc sĩ, Chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng phải được xây dựng với mục tiêu “giúp cho người học nâng cao kiến thức chuyên môn và kỹ năng hoạt động nghề nghiệp; có năng lực làm việc độc lập, sáng tạo; có khả năng thiết kế sản phẩm, ứng dụng kết quả nghiên cứu, phát hiện và tổ chức thực hiện các công việc phức tạp trong hoạt động chuyên môn nghề nghiệp, phát huy và sử dụng hiệu quả kiến thức chuyên ngành vào việc thực hiện các công việc cụ thể, phù hợp với điều kiện thực tế tại cơ quan, tổ chức, đơn vị kinh tế; có thể học bổ sung một số kiến thức cơ sở ngành và phương pháp nghiên cứu theo yêu cầu của chuyên ngành đào tạo trình độ tiến sĩ để tiếp tục tham gia chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ”
Như vậy, theo như tên gọi của chương trình, chương trình đào tạo địnhhướng ứng dụng tập trung nhiều hơn vào việc giúp cho người học nâng cao kỹ nănghoạt động nghề nghiệp, có năng lực làm việc độc lập, sáng tạo…, phát huy và sửdụng có hiệu quả kiến thực chuyên ngành vào việc thực hiện các công việc cụ thể,phù hợp với điều kiện làm việc thực tế Tuy nhiên, chương trình đào tạo định hướngứng dụng theo quy định của pháp luật hiện hành cũng tạo điều kiện để người học cóthể tiếp tục tham gia chương trình đào tạo tiến sĩ
Xuất phát từ các mục tiêu như trên, theo quy định hiện hành, chương trình đào tạo theo định hướng ứng dụng vẫn phải đáp ứng các yêu cầu áp dụng cho
chương trình đào tạo theo định hướng nghiên cứu bao gồm 60 tín chỉ, gồm 3 khối kiến thức1: kiến thức chung, kiến thức cơ sở và chuyên ngành, luận văn thạc sĩ
(1) Phần kiến thức chung: bao gồm học phần triết học và ngoại ngữ (nếu có) a) Học phần triết học có khối lượng theo quy định của Bộ Giáo dục và Đàotạo;
b) Học phần ngoại ngữ: cơ sở đào tạo quy định khối lượng học tập học phầnngoại ngữ sao cho phù hợp với chương trình đào tạo của mình, căn cứ vào trình độngoại ngữ của người trúng tuyển và yêu cầu về trình độ ngoại ngữ trước khi bảo vệluận văn được quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 27 Quy chế Đào tạo thạc sĩ
(2) Phần kiến thức cơ sở và chuyên ngành: bao gồm các học phần bắt buộc
và học phần tự chọn Trong đó, các học phần tự chọn chiếm tối thiểu 30% khối
1Điều 21 Quy chế đào tạo thạc sĩ ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT
Trang 8lượng chương trình đào tạo Cơ sở đào tạo phải tổ chức xây dựng số học phần tự chọn nhiều hơn số học phần mà học viên phải chọn.
(3) Luận văn: có khối lượng tối thiểu 7 tín chỉ
Mặc dù Khoản 4 Điều 21 Quy chế cho phép cơ sở đào tạo quyết định tỷ lệkiến thức cơ sở, chuyên ngành và luận văn trong chương trình đào tạo đối vớichương trình đào tạo thạc sĩ định hướng ứng dụng, việc quy định khối lượng tín chỉtối thiểu đối với luận văn thạc sĩ khiến cho việc giảm nhẹ phần nghiên cứu trongchương trình đào tạo của các cơ sở đào tạo gặp những khó khăn nhất định Đồngthời, quy định này cũng không tạo ra nhiều lựa chọn cho người học (đặc biệt là cácđối tượng học viên không muốn tiếp tục học lên bậc đào tạo tiến sĩ) trong việc đượcquyền chọn môn học để hoàn thành chương trình thạc sĩ thay cho việc thực hiệnluận văn
Như vậy, việc xây dựng chương trình cao học luật kinh tế định hướng ứngdụng của trường Đại học Luật trước hết phải tuân thủ các quy định mang tính khungcủa Quy chế Đào tạo Thạc sĩ được ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT Khoa Luật Thương mại đã tiến hành xây dựng Chương trình với mục tiêuvừa tuân thủ các quy định khung của pháp luật vừa phải đáp ứng yêu cầu của ngườihọc Vì thế, các môn học cần được lựa chọn và thiết kế theo hướng khai thác khảnăng ứng dụng kiến thức pháp lý vào công việc hàng ngày của người học nhưng ởmức độ hiểu biết sâu hơn so với chương trình đào tạo cử nhân luật, giúp người họcnâng cao khả năng làm việc độc lập và khả năng giải quyết các vấn đề pháp lý phứctạp Ngoài ra, với đối tượng học viên đa dạng, việc lựa chọn các môn học và thiết kếnội dung các môn học của Chương trình đào tạo còn đòi hỏi việc đánh giá tính phổquát của đối tượng đào tạo và nhu cầu công việc của họ
2 Chương trình đào tạo cao học luật kinh tế định hướng ứn g dụng hiện đang được áp dụng tại Đại học Luật TP Hồ Chí Minh
Chương trình cao học luật kinh tế định hướng ứng dụng hiện đang được áp dụngtại Đại học Luật TP Hồ Chí Minh phải tuân thủ các quy định khung của Quy chếĐào tạo thạc sĩ được quy định tại Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT Chương trình đàotạo kéo dài trong 2 năm, bao gồm 60 tín chỉ, chia làm ba nhóm kiến thức: (i) kiếnthức chung; (ii) kiến thức cơ sở và kiến thức chuyên ngành và (iii) luận văn thạc sĩ.Hầu hết các môn học trong chương trình đ ều có 2 tín chỉ Trong chương trươngtrình đào tạo hiện hành, số lượng các tín chỉ bắt buộc chiếm 50% tổng số tín chỉ củachương trình, cụ thể như sau:
Trang 9(1) Các môn cơ bản (14 tín chỉ) gồm 3 môn học:
Môn cơ sở bắt buộc: gồm 4 môn như sau:
- Pháp luật về các tổ chức kinh doanh
- Pháp luật về thương mại trong điều kiện hội nhập
- Pháp luật về nghĩa vụ thuế của doanh nghiệp
- Pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh
Môn cơ sở tự chọn: học viên chọn 4 trong số 6 môn như sau:
- Kinh doanh có điều kiện
- Chống hành vi cạnh tranh không lành mạnh trong kinh doanh
- Giải quyết tranh chấp bằng trọng tài thương mại
- Xác lập quyền sử dụng đất trong hoạt động kinh doanh
- Hợp đồng trong kinh doanh
- Chứng khoán và hoạt động kinh doanh chứng khoán
(3) Các môn chuyên ngành (22 tín chỉ) gồm hai nhóm (i) các môn chuyên ngành bắt buộc và (ii) các môn chuyên ngành tự chọn
Môn chuyên ngành bắt buộc: gồm 4 môn như sau:
- Pháp luật về đầu tư công và đấu thầu
- Pháp luật về chống hạn chế cạnh tranh
- Thị trường bất động sản và những vấn đề pháp lý về kinh doanh bất động sản
- Pháp luật về dịch vụ ngân hàng
Môn chuyên ngành tự chọn: học viên chọn 7 trong số 11 môn như sau:
- Quảng cáo thương mại và dịch vụ kinh doanh quảng cáo
- Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất
- Bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Thuế bổ sung đối với hàng nhập khẩu
- Hợp đồng trong hoạt động xây dựng
- Quản lý, điều tiết giá trong hoạt động kinh doanh
- Quản lý hoạt động ngoại hối trong kinh doanh
Trang 10- Đăng ký đất đai và cấp GCN QSDĐ, QSHNO và tài sản gắn liền với đất
- Bảo đảm tiền vay trong hoạt động tín dụng ngân hàng
- Sáp nhập, mua lại doanh nghiệp
- Quảng cáo thương mại và dịch vụ kinh doanh quảng cáo
(4) Luận văn thạc sĩ: 8 tín chỉ
Chương trình hiện đang áp d ụng tại trường Đại học Luật TP Hồ Chí Minhphù hợp với các yêu cầu về thời lượng, số lượng tín chỉ của các môn học tự chọnvượt mức yêu cầu tối thiểu Các môn học tự chọn được xây dựng tập trung vàocác lĩnh vực hẹp, chuyên sâu Nhiều môn học tự chọn, kể cả các môn cơ sở tựchọn và chuyên ngành tự chọn đ ều hướng đ ến mục đích v ận dụng pháp luậttrong hoạt động nghề nghiệp, và được xây dựng với mục đích đạt được mục tiêucủa chương trình đào tạo đ ịnh hướng ứng dụng Tuy nhiên, với các quy đ ịnhkhung của Quy chế hiện hành, cơ sở đào tạo cũng không được trao nhiều quyềntrong việc xây dựng một chương trình đào t ạo định hướng ứng dụng với trọngtâm giúp người học “sử dụng hiệu quả kiến thức chuyên ngành vào việc thựchiện các công việc cụ thể” và “nâng cao kỹ năng hoạt động nghề nghiệp”
3 Kinh nghiệm của một số trường đại học trên thế giới
Do giới hạn về thời gian, trong bài viết này, người viết chỉ trình bày hai chươngtrình đào t ạo thạc sĩ luật của Đ ại học Tây Anh Quốc (UWE) và Đ ại học Monash(Australia), hai trường đại học mà người viết có điều kiện tìm hiểu kỹ nhất Ngườiviết chọn chương trình thạc sĩ Luật Thương mại làm ví dụ tham khảo cho bài viếtnày vì có tính chuyên ngành gần nhất với ngành Luật kinh tế đang được đào tạo ởtrường ta
3.1 Chương trình đào tạo thạc sĩ chuyên ngành Luật Thương mại của Đại học Tây Anh quốc:
Đại học Tây Anh quốc không phân chia chương trình đào tạo thạc sĩ luật thànhđịnh hướng nghiên cứu và đ ịnh hướng ứng dụng Việc phân chuyên ngành cũngtheo xu hướng chuyên ngành hẹp, ví dụ thạc sĩ Luật Thương mại, thạc sĩ Luật Kinhdoanh và Kinh tế quốc tế, thạc sĩ Luật Tài chính và Ngân hàng quốc tế…Chươngtrình đào tạo được chia thành 3 học kỳ với tổng thời gian đào tạo 1 năm (toàn thờigian) hoặc 1,5 năm đến 2 năm (bán thời gian) với ba môn học bắt buộc, 8 môn học
tự chọn, và luận văn thạc sĩ Rất nhiều môn học đư ợc sử dụng cho nhiều chuyênngành đào tạo để có thể khai thác tối đa chuyên môn của lực lượng giảng viên
Trang 11Sau đây l à yêu cầu cụ thể đối với chương trình đào t ạo thạc sĩ Luật Thương mại:2
Các môn học bắt buộc:
- Cơ sở luận của việc nghiên cứu (Foundation for Research)
- Các phương pháp nghiên cứu (Reseach Method)
- Hợp đồng Thương mại Quốc tế (International Contracts)
Môn tự chọn:
+ Học viên chọn 3 môn học trong danh mục sau:
- Cạnh tranh Quốc tế và Chính sách Pháp luật (International Competition and Law Policy)
- Luật Tài chính và Ngân hàng Quốc tế (International Banking and FinanceLaw)
- Luật Môi trường Quốc tế (International Environmental Law)
- Toàn Cầu hóa và Pháp luật (Globalization and the Law)
+ Học viên chọn 4 môn học trong danh sách các môn học sau:
- Tranh chấp Thương mại Quốc tế (International Commercial Disputes)
- Luật Tài nguyên Thiên nhiên (Natural Resources Law)
- Tội phạm Tài chính Quốc tế (International Financial Crime)
- Luật Vận chuyển Hàng hóa bằng Đường biển (Shipping Law)
- Luật Sở hữu Trí tuệ Quốc tế (International Intellectual Property Law)
- Luật Công nghệ Thông tin (Information Technology Law)
- Luật Lao động Quốc tế (International Employment Law)
- Quản trị Doanh nghiệp và Trách nhiệm Xã hội của Doanh nghiệp
(Corporate Governance and Corporate Social Responsibility)
+ Học viên chọn 1 môn học khác được liệt kê trong danh mục các môn tự chọn
của các chuyên ngành thạc sĩ luật khác.
Viết luận văn:
Trang 12Việc đánh giá luận văn được thực hiện khá đơn giản Luận văn được chấm độclập bởi giáo viên hướng dẫn và một chuyên gia độc lập Điểm số sau đó sẽ được đốichiếu và thống nhất bởi hai người thẩm định nêu trên Học viên không phải bảo vệluận văn trước một hội đồng chấm luận văn.
3.2 Chương trình đào tạo thạc sĩ Luật Thương mại của Đại học Monash (Autralia)
Chương trình đào t ạo thạc sĩ Luật của Đ ại học Monash đư ợc chia thành cácchuyên ngành cụ thể như thạc sĩ Luật Thương mại, thạc sĩ Luật Nhân quyền, thạc sĩLuật Lao đ ộng, thạc sĩ Luật sở hữu trí tuệ và Hệ thống thông tin Chương trìnhthạc sĩ luật của Đại học Monash chia thành chương trình định hướng ứng dụng vàđịnh hướng nghiên cứu Trong chương trình đào t ạo đ ịnh hướng nghiên cứu, họcviên chỉ thực hiện một luận văn thạc sĩ với độ đài 35.000 từ và không phải tích lũytín chỉ thông qua việc tham gia các môn học Chương trình đào t ạo thạc sĩ đ ịnhhướng ứng dụng cho phép học viên lựa chọn tham gia học các môn học và thực hiệnmột luận văn với độ dài khoảng 15.000 từ Nếu học viên chọn không làm luận văn,học viên sẽ chỉ cần tích lũy đủ số lượng tín chỉ cần thiết là được cấp bằng thạc sĩ.Tuy nhiên nếu không thực hiện luận văn, học viên sẽ không thể theo học nghiên cứusinh để được cấp bằng tiến sĩ Chương trình đào t ạo thạc sĩ Luật Thương mại củaĐại học Monash được chia làm hai cấu phần3:
A Phần các kiến thức về Luật thương mại (30 tín chỉ), bao
- Quyền tác giả (Copyright)
3 http://www.monash.edu.au/pubs/handbooks/courses/L6001.html?_ga=2.149861686.1030597922.154808280
5-375234853.1548082805 Truy cập ngày 15/01/2019
Trang 13- Luật lệ và chính sách của liên minh Châu Âu (European union law and policy)
- Luật Kinh doanh quốc tế (International trade law)
- Phá sản Doanh nghiệp (Corporate insolvency)
- An toàn và Sức khoẻ lao động (Occupational health and safety)
- Luật Cạnh tranh (Competition law)
- Luật Môi trường quốc tế (International environmental law)
- Các nguyên tắc của quyền riêng tư và tự do thông tin (Principles of privacy and freedom of information)
- Luật Sở hữu trí tuệ (Intellectual property)
- Chính sách và quy định về người tiêu dùng (Consumer policy and
regulation)
- Các nguyên tắc về Thuế (Principles of taxation)
- Tội phạm Công nghệ Thông tin (Cybercrime)
- Quản trị Công ty và Trách nhiệm của người quản lý (Corporate
governance and directors' duties)
- Tài chính và Ngân hàng quốc tế: Luật lệ và thực tiễn (Internationalbanking and finance: Law and practice)
- Luật Ngân hàng (Banking Law)
- Giải quyết bằng trọng tài các tranh chấp thương mại (Arbitration of international commercial disputes)
- Luật Tài chính Công ty (Corporate finance law)
- Luật Đầu tư Quốc tế (International investment law)
- Luật Tư pháp So sánh (Comparative conflict of laws)
- …
B Các môn tự chọn để mở rộng kiến thức và nghiên cứu: học viên phải tích luỹ đủ 18 tín chỉ từ hai lựa chọn sau đây:
(1) Chọn làm 1 luận văn ngắn (6 tín chỉ) hoặc mở rộng (12 tín chỉ); và
(2) Chọn 6 hoặc 12 tín chỉ từ các môn học của danh mục sau (danh mục này rấtdài, tác giả bài viết chỉ liệt kê một số môn học phổ biến, người đọc có thểtham khảo thêm trên trang thông tin điện tử chính thức của Đại học Monash):
- Các phương thức giải quyết tranh chấp ngoài toà án (Commercial
alternative dispute resolution)
Trang 14- Khía cạnh quốc tế của quyền sở hữu trí tuệ (International aspects of intellectual property)
- Bảo vệ các sáng tạo trong hoạt động thương mại: Bằng sá ng chế và bímật thương mại (Protecting commercial innovation: Patents and trade secrets)
- Những vấn đề về luật thương mại điện tử ( Current issues in electronic commerce law)
- Luật Công ty (Corporate law)
- Luật Tổ chức Thương mại Quốc tế (World Trade Organization (WTO) law)
- Quản trị doanh nghiệp so sánh (Comparative corporate governance)
Thứ nhất, trong ngắn hạn, đ ể đáp ứng yêu cầu tuân thủ các quy đ ịnh hiện
hành (Quy chế ban hành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT) và để gia tăngtính ứng dụng trong chương trình đào tạo, đáp ứng nhu cầu của người học ở các địaphương (không phải là các thành phố lớn) trong việc đào t ạo và học cao học Luậtkinh tế định hướng ứng dụng, Hội đồng Khoa của Khoa Luật Thương mại đã thảoluận về nhu cầu của các địa phương, về tính phù hợp của chương trình đào tạo, nộidung đào tạo và tên gọi các môn học Sau khi trao đổi, bàn bạc, các thành viên hộiđồng Khoa thống nhất đề xuất Chương trình đào tạo dành cho chương trình đào tạocao học Luật Kinh tế - định hướng ứng dụng để áp dụng thí điểm ở các địa phươngngoài thành phố Hồ Chí Minh, có cân nhắc đến các yếu tố đặc thù địa phương vànhu cầu người học như sau:
(1) Không thay đổi tổng thời gian đào tạo và số lượng tín chỉ đối với toàn bộ chương trình và đối với từng khối kiến thức;
(2) Thay thế, điều chỉnh một số môn học bắt buộc và tự chọn theo tiêu chí nâng cao tính ứng dụng và địa phương hóa của chương trình đào tạo, giúp thỏa
Trang 15mãn tốt hơn yêu cầu của người học Tên gọi và nội dung môn học được thiết
kế theo hướng gọn nhẹ, tập trung vào các vấn đề pháp lý hẹp và chuyên mônsâu của các hoạt động nghề nghiệp liên quan Cụ thể:
Môn cơ sở bắt buộc: gồm 4 môn như sau:
- Pháp luật về doanh nghiệp
- Pháp luật về thương mại trong điều kiện hội nhập
- Pháp luật về nghĩa vụ thuế
- Pháp luật về tài nguyên thiên nhiên
Môn cơ sở tự chọn: học viên chọn 4 trong số 6 môn như sau:
- Kinh doanh có điều kiện
- Pháp luật về cạnh tranh trong kinh doanh
- Giải quyết tranh chấp trong thương mại
- Xác lập quyền sử dụng đất trong hoạt động kinh doanh
- Giao kết và thực hiện hợp đồng trong kinh doanh
- Chế tài trong hoạt động kinh doanh
Các môn chuyên ngành (22 tín chỉ) gồm hai nhóm (i) các môn chuyên ngành bắt buộc và (ii) các môn chuyên ngành tự chọn
Môn chuyên ngành bắt buộc: gồm 4 môn như sau:
- Pháp luật đầu tư công và đấu thầu
- Pháp luật về tài sản trong kinh doanh
- Pháp luật về thị trường bất động sản
- Pháp luật về dịch vụ ngân hàng
Môn chuyên ngành tự chọn: học viên chọn 7 trong số 11 môn như sau:
- Pháp luật về quảng cáo trong kinh doanh
- Nghĩa vụ tài chính của người sử dụng đất
Trang 16- Bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi nhà nước thu hồi đất
- Pháp luật về ngân sách địa phương
- Pháp luật về du lịch
- Pháp luật về bảo vệ môi trường trong kinh doanh
- Hợp đồng bảo hiểm
- Pháp luật về giao dịch bảo đảm tiền vay
- Pháp luật về xuất nhập khẩu trong kinh doanh
- Pháp luật về thương mại điện tử
- Đăng ký đất đai và cấp GCN QSDĐ, QSHNO và tài sản gắn liền với đất
Thứ hai, trong dài hạn, cần nghiên cứu đ ề có thể học tập kinh nghiệm của
Đại học Monash (Australia) trong việc hạn chế số lượng các môn học bắt buộc, tiếptục đa đang hoá các môn h ọc tự chọn để tối đa hoá quy ền lựa chọn môn học phùhợp với nhu cầu của người học Tuy nhiên, việc này đòi hỏi phải có sự chuẩn bị vềmặt nhân lực nhằm nâng cao khả năng đảm nhận nhiều môn học khác nhau của độingũ giảng viên Các môn học tự chọn cần tập trung thêm vào các kỹ năng, tăngcường khả năng áp dụng pháp luật của người học
Thứ ba, cần sửa đổi quy định bắt buộc phải có luận văn thạc sĩ trong chương
trình đào tạo cao học định hướng ứng dụng của Quy chế đào tạo thạc sĩ được banhành kèm theo Thông tư 15/2014/TT-BGDĐT Bộ GDĐT cần dành thêm quyền chủđộng cho các cơ sở đào tạo trong việc quy định liên quan đến luận văn Áp dụngkinh nghiệm của Đại học Monash (Australia), chỉ nên đặt ra yêu cầu học viên phảithực hiện luận văn thạc sĩ trong trường hợp người học có nhu cầu tiếp tục làmnghiên cứu sinh Số lượng tín chỉ của luận văn cũng có thể giảm xuống đ ối vớingười học chương trình thạc sĩ định hướng ứng dụng nhưng vẫn có nhu cầu đượchọc chương trình nghiên cứu sinh sau này Trong trường hợp người học chỉ cónguyện vọng nâng cao kỹ năng thực hành pháp luật qua chương trình thạc sĩ địnhhướng ứng dụng, không cần phải làm luận văn mà có thể lựa chọn các môn họckhác để đảm bảo đủ số lượng tín chỉ theo yêu cầu của chương trình
Thứ tư, cần học tập kinh nghiệm của cả Đại học Monash và Đại học Tây Anh
quốc trong việc giảm nhẹ quy trình đánh giá luận văn thạc sĩ, không nên yêu cầu thủtục bảo vệ luận văn trước hội đồng chấm luận văn cao học đối với chương trình đào
Trang 17tạo thạc sĩ định hướng ứng dụng Việc đánh giá luận văn nên được thực hiện bởi hainhà khoa học có học vị tiến sĩ cùng chuyên ngành với đề tài nghiên cứu Để đảmbảo tính khách quan, hai chuyên gia đánh giá luận văn đều phải là chuyên gia độclập, không bao gồm người hướng dẫn./.
Trang 18XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CAO HỌC CHUYÊN NGÀNH
LUẬT KINH TẾ HỆ ỨNG DỤNG THEO NHU CẦU XÃ HỘI
TS Phạm Văn Võ Khoa Luật Thương mại – Trường Đại học Luật TP HCM
Đặt vấn đề
Đào tạo đáp ứng nhu cầu xã hội là nhiệm vụ chính trị, trách nhiệm xã hội và mục đích tự thân của cơ sở đào tạo Trong bối cảnh sự cạnh tranh thu hút người học giữa các cơ sở đào tạo ngày càng quyết liệt, việc đào t ạo gắn với đáp ứng nhu cầu phát triển nguồn nhân lực có chất lượng cao đã và đang là nhi ệm vụ mang tính sống còn của Trường đại học luật TP.HCM Trong thời gian gần đây, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh đã só sự chú trọng đào tạo theo nhu cầu xã hội Tuy nhiên, do nhiều lí do khác nhau mà kết quả đạt được còn chưa đạt yêu cầu đặt ra
Với mong muốn góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo của Trường, bài viếtnày tập trung vào phân tích, đánh giá việc xây dựng chương trình đào tạo caohọc chuyên ngành Luật Kinh tế hệ dụng ở khía cạnh đáp ứng nhu cầu xã hội vớicác nội dung cụ thể sau:
- Xác định nhu cầu xã hội là cơ sở cho việc xây dựng chương trình đào tạo;
- Các cản trở cần khắc phục trong xây dựng chương trình đào tạo cao họcchuyên ngành Luật Kinh tế hệ ứng dụng theo hướng gắn với nhu cầu xã hội
- Mục đích, yêu cầu của Nhà nước đối với đào tạo đại học Cụ thể: “Đào tạongười học có phẩm chất chính trị, đạo đức; có kiến thức, kỹ năng thực hànhnghề nghiệp, năng lực nghiên cứu và phát triển ứng dụng khoa học và côngnghệ tương xứng với trình độ đào tạo; có sức khỏe; có khả năng sáng tạo vàtrách nhiệm nghề nghiệp, thích nghi với môi trường làm việc; có ý thức phục
vụ nhân dân”4
4Điểm b khoản 1 điều 5 của Luật Giáo dục đại học
Trang 19- Nhu cầu thực sự của người học Tham gia khoá đào tạo thạc sĩ không phải là
“bữa ăn miễn phí” theo kiểu cho gì ăn nấy Người học hiện nay phải trả tiền
để có thể tham gia khoá học và họ chỉ trả tiền nếu đạt được nhu cầu củamình Để thu hút người học với tư cách là người sử dụng dịch vụ, là ngườitrả tiền để cơ sở đào tạo tồn tại, phát triển, việc xác định nhu cầu của họ làcông việc các cơ sở đào tạo đặc biệt quan tâm, thậm chí, có cơ sở vì để thuhút người học sẵn sàng bỏ qua mục tiêu chất lượng, tôn chỉ, sứ mệnh củamình để đáp ứng nhu cầu phản giáo dục
Xác định nhu cầu thực sự của người học là công việc khó khăn và phức tạp
và cần phải điều tra, khảo sát Tuy nhiên, trong thời gian qua, chúng ta chưathực sự đầu tư nghiêm túc cho công việc này Chúng ta chưa có bất kì cuộckhảo sát nào để đánh giá nhu cầu của người học Do vậy, việc xác định nhucầu của người học khi xây dựng chương trình đào tạo chủ yếu dựa vào cảmtính mang đậm dấu ấn chủ quan của từng cá nhân xây dựng chương trình vàgây ra không ít chia rẽ về quan điểm của những người đang cùng nhau “bắnsúng trong đêm tối”
Theo quan điểm của người viết, nhu cầu của học viên cao học hiện nay mặc dù rất đa dạng nhưng phổ biến nhất là các nhóm nhu cầu sau:
o Thứ nhất, học cao học để lấy bằng thạc sĩ nh ằm đạt chuẩn về bằng cấp, để lên chức, tăng lương, để duy trì vị trí việc làm… mà không quan tâm đến tích luỹ kiến thức, kĩ năng theo quan điểm “cùng thời gian, kiến thức, kĩ năng rồi sẽ ra đi, chỉ còn bằng cấp là ở lại” Đối với nhóm đối tượng này, chương trình đào tạo không cần phải đảm bảo chất lượng mà chỉ cần đơn giản, dễ hoàn thành (bằng con đường chính đáng hoặc mờ ám)
o Thứ hai, học để lấy bằng đi đôi với tích luỹ, nâng cao kiến thức, kĩnăng Đối với nhóm này, họ quan tâm đến chất lượng chương trình nói riêng, chất lượng giảng dạy nói chung Do đối tượng học cao học
hệ ứng dụng chủ yếu là vừa học vừa làm, nên họ đặc biệt quan tâm đến các kiến thức, kĩ năng gắn với công việc của mình
- Nhu cầu của người quản lí, của người sử dụng lao động Đối với đối tượngnày, nhu cầu mà họ hướng tới chủ yếu là chất lượng nguồn nhân lực được thểhiện qua năng lực của người học Đây là nhóm nhu cầu có tính bền vững vàchuẩn mực vì mục tiêu của người học suy cho cùng là để có việc làm, có thu
Trang 20nhập và họ chỉ có thể đạt được mục tiêu này nếu có kiến thức, kĩ năng Tuynhiên, nhu cầu này chỉ thực sự được gia cố, phát huy trong một thị trườngnguồn nhân lực lành mạnh, cạnh tranh hoàn hảo Và đây cũng chính là xu thếphát triển của thị trường sức lao động nên về lâu dài, ta phải đặc biệt quantâm đến việc đáp ứng nhu cầu này.
2 Các cản trở và hướng khắc phục
Thứ nhất, sự cạnh tranh giữa các cơ sở đào tạo trong thu hút người học ngày
càng quyết liệt tạo sức ép buộc phải cắt giảm số môn, giảm yêu cầu về kiến thức, kĩ năng nhằm giảm tải, giảm chi phí, thời gian đào tạo Đây là cuộc đua xuống đáy nhưng vì nhu cầu trước mắt chúng ta không thể đoạn tuyệt, miễn nhiễm Tuy nhiên, với uy tín đã tạo dựng, vì mục tiêu lâu dài, chúng ta cần giảm thiểu tác động của xu hướng này
Thứ hai, do lĩnh vực hành nghề của người học luật rất rộng, họ có thể làm
luật sư, thẩm phán, chấp hành viên, quản lí doanh nghiệp, kiểm sát viên, cán bộquan lí, chuyên viên trong các cơ quan quản lí nhà nước… mà mỗi công việc lại cónhững đòi hỏi khác nhau về kiến thức, kĩ năng hành nghề nên việc xác định những
kĩ năng nào là cần thiết cần phải đưa vào chương trình đào tạo là công việc khókhăn Theo tôi, khi xây dựng chương trình đào tạo cần ập trung vào các kiến thức, kĩnăng cơ bản mà người hành nghề luật phải có Cần đặc biệt quan tâm đến việc đào
tạo các kĩ năng mềm vì đây là nh ững kĩ năng khơi dậy đư ợc tiềm năng của người
học, kĩ năng để trau dồi, phát huy các kĩ năng khác.
Thứ ba, đào tạo thạc sĩ hệ ứng dụng cần phải chú trọng đào tạo kĩ năng.
Muốn sinh viên nắm được kĩ năng hành nghề, trườc hết người dạy phải có kĩ năngnày vì chất lượng của công tác đào tạo không thể vượt quá tầm của đội ngũ cán bộgiảng dạy Sinh viên không thể có được kĩ năng thông qua đào t ạo nếu người dạykhông có kĩ năng để truyền đạt cho họ Đội ngũ cán bộ giảng dạy tại Trường đại họcluật TP.HCM hiện nay hầu hết chưa có kinh nghiệm thực hành nghề luật ngoài xãhội.5 Theo thống kê của tác giả, số lượng giảng viên của trường đã từng hành nghềluật sư, cán bộ quản lí tại doanh nghiệp, đang là trọng tài viên hiện nay chỉ chiếm5% trên tổng số giảng viên của Trường Hầu hết giảng viên của trường hiện nay đềuđược tuyển dụng từ sinh viên và những người chưa trải qua thực tiễn hành nghề
5Xem lí lịch khoa học của các giảng viên trên website của các khoa thuộc Trường Đại học Luật thành phố
Hồ Chí Minh.
Trang 21Kinh nghiệm của họ chỉ là giảng dạy và nghiên cứu Do không có kinh nghiệm,thiếu thực tiễn nên nhiều giảng viên không dám giảng những lớp thuộc hệ vừa họcvừa làm vì ngại người học nắm thực tiễn, kĩ năng hơn mình, sợ sinh viên cho rằngthầy cô chỉ biết lí thuyết.
Thứ tư, để đáp ứng nhu cầu xã hội, cần phải đa dạng các môn học để người
học lựa chọn trên cơ sở yêu cầu nghề nghiệp, yêu cầu của từng đ ịa phương theohướng cá biệt hoá linh hoạt Tuy nhiên, do đội ngũ cán bộ giảng dạy hạn chế về sốlượng nên việc đa dạng hoá các môn tự chọn còn nhiều hạn chế Để khắc phục hạnchế này, Trường cần phải có chính sách đãi ngộ thoả đáng cho người xây dựng đềcương môn học Về phía Khoa, Bộ môn và người dạy cần phải xây dựng các môn tưchọn có tính thiết thực, có sức thu hút người học ở khía cạnh chuyên môn trên cơ sởnhận thức giảng dạy những cái người học cần chứ không phải những cái mình có
Kết luận
Việc đào gắn với nhu cầu xã hội là xu hướng mang tính tất yếu trong đào tạonguồn nhân lực hiện nay Nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vàkhả năng cạnh tranh của quốc gia cũng như của nhà trường, việc đổi mới chươngtrình đào tạo gắn với nhu cầu xã hội tại Trường đại học luật thành phố Hồ Chí Minh
là nhiệm vụ mang tính sống còn trong bối cảnh hội nhập quốc tế và xã hội hoá côngtác đào tạo
Việc xác định đúng nhu cầu xã hội làm cơ sở cho việc xây dựng chương trìnhđào tạo có ý nghĩa quyết định đến chất lượng chương trình, chất lượng đào tạo Donhu cầu của xã hội đối với công tác đào tạo đa dạng về mục đích, đối tượng nên cầnphải có sự dung hoà, linh hoạt trên cơ sở kết hợp đảm bảo mục tiêu trước mắt vớimục tiêu lâu dài, trách nhiệm xã hội với trách nhiệm tự thân, lợi ích kinh tế với lợiích về chuyên môn, học thuật
Trang 22TĂNG CƯỜNG KỸ NĂNG THỰC HÀNH PHÁP LUẬT CHO HỌC VIÊN CHƯƠNG TRÌNH CAO HỌC LUẬT ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
TS Phan Thị Thành Dương Khoa Luật Thương mại – Trường Đại học Luật TP HCM
1 Đặt vấn đề
Trong xu thế chung hiện nay, các cơ sở giáo dục đã tr ở nên năng đ ộng hơntrong việc cung cấp đa dạng sản phẩm giáo dục - đào tạo nhằm đáp ứng nhu cầu củangười học Trường Đ ại học Luật TP HCM cũng không nằm ngoài xu hướng đó.Việc tạo ra những chương trình đào tạo sát với thực tiễn đời sống, với yêu cầu côngtác của người học là đòi hỏi tất yếu của xã hội Ở góc độ quản lý, việc tạo ra chươngtrình mới còn là cơ sở để đạt đến mục đích tăng quy mô đào t ạo, cho phép ngườihọc có nhiều lựa chọn từ đó tạo ra sức hút để họ đi đến quyết định lựa chọn cơ sởđào tạo phù hợp với nhu cầu của mình Ở góc độ quản trị thương hiệu, việc tạo rachương trình mới là cách khẳng định năng lực đào tạo, trình độ của đội ngũ giảngviên tại cơ sở đào tạo Do vậy, việc hình thành Chương trình Cao học Luật đ ịnhhướng ứng dụng của trường Đ ại học Luật vừa mang tính đ ột phá, vừa là tất yếukhách quan, phù hợp với xu thế chung
Sự khác biệt của Chương trình cao học Luật định hướng ứng dụng với Chươngtrình Cao học Luật định hướng nghiên cứu chính là ở việc tăng cường kỹ năng thựchành pháp luật cho người học
2 Sự cần thiết phải tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho học viên chương trình cao học luật ứng dụng
Thứ nhất, tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật đ ể đáp ứng nhu cầu của người học Các chương trình Cao học Luật khi bắt đ ầu xây dựng đ ều đư ợc đ ịnh
hình theo định hướng nghiên cứu Với định hướng đó, chương trình đ ặt người họctrước những yêu cầu về mặt năng lực, đó là phải có khả năng nghiên cứu, tìm tòi,phát hiện cái mới, khả năng tư duy pháp luật chuyên sâu mà không đ ặt nặng kỹnăng giải quyết vấn đề Từ yêu cầu đó, cấu trúc chương trình, cách thức tổ chức đàotạo, hình thức đánh giá học viên theo tiêu chí đặt năng lực nghiên cứu lên hàng đầu.Chương trình Cao học Luật theo định hướng nghiên cứu, vì thế, sẽ phù hợp hơn vớingười học có khuynh hướng làm các công việc nghiên cứu, giảng dạy cần phát triển
kỹ năng nghiên cứu độc lập, tìm kiếm cái mới và sáng tạo
Trang 23Trong khi đó, m ột bộ phận người học khác muốn nâng cao trình đ ộ chuyênmôn, nghiệp vụ của mình thông qua phát triển kỹ năng thực hành, năng lực vậndụng pháp luật vào công việc mà mình đang đ ảm nhận Với người học có nhu cầunày, thì việc theo đuổi chương trình Cao học Luật định hướng nghiên cứu sẽ khiến
họ cảm thấy hao phí thời gian cho những cái mà họ không hoặc chưa có nhu cầu,thậm chí không thực hiện đư ợc; trong khi kỹ năng họ cần thì chưa đư ợc đáp ứngmột cách chuyên sâu hoặc không được quan tâm đúng mức trong chương trình đàotạo theo định hướng nghiên cứu
Vì vậy, với đối tượng học viên mục tiêu của Chương trình Cao học Luật địnhhướng ứng dụng là người có nhu cầu đào tạo kỹ năng thực hành thì việc tăng cường
kỹ năng thực hành pháp luật là yêu cầu tất yếu mà chương trình phải đảm bảo
Thứ hai, hướng đến mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo thông qua phát triển năng lực cá nhân của người học Phát triển năng lực cá nhân là xu hướng của giáo
dục hiện đ ại Việc tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho người học trongChương trình Cao học Luật đ ịnh hướng ứng dụng cũng chính là hướng đ ến pháttriển năng lực cá nhân của từng người học, một khi người học đã lựa chọn chươngtrình phù hợp với nhu cầu và khuynh hướng phát triển của bản thân
Vì vậy, tăng cư ờng kỹ năng thực hành pháp luật phải là yêu cầu chủ đạo trongchương trình Cao học Luật định hướng ứng dụng Để làm được điều này, nội dungchương trình phải đảm bảo có thể chuyển tải kỹ năng thực hành và phát huy nănglực của người học trong việc vận dụng pháp luật trên thực tế Khi chương trình Caohọc Luật đ ịnh hướng ứng dụng có thể làm đư ợc đi ều này chính là đã hư ớng đ ếnviệc nâng cao chất lượng đào t ạo: tạo nền tảng vững chắc cho người học có thểthích nghi với những biến động của đời sống, của những quy định pháp luật, hìnhthành tư duy pháp lý, tư duy logic, biện chứng, vận dụng hiệu quả pháp luật vào đờisống để có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của xã hội Cách tiếp cận của chương trìnhnhư vậy cũng cho phép người học có thể tự khám phá, nhận diện năng lực riêng biệtcủa mình để có thể phát huy một cách tốt nhất
Chất lượng đào tạo sẽ phần nào được phản ánh trong quá trình người học lĩnhhội tri thức và vận dụng vào công việc của mình Đa d ạng hóa phương pháp, nộidung, mục tiêu để phù hợp với nhu cầu người học, chính là cách để nâng cao chấtlượng đào tạo
Thứ ba, tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho học viên chương trình cao học luật ứng dụng để đáp ứng nhu cầu xã hội Để những kiến thức pháp luật không
Trang 24chỉ là những con chữ khô khan trên giấy, mà nó phải được vần dụng một cách phùhợp, hiệu quả vào công việc và đời sống thông qua người thực hành pháp luật, thìtăng cường kỹ năng thực hành pháp luật không chỉ để đáp ứng nhu cầu người học,
mà nó còn là đòi hỏi của xã hội Bởi lẽ, pháp luật chỉ có thể thực sự thể hiện chứcnăng điều chỉnh các quan hệ xã hội của mình một cách đúng đắn, hiệu quả, bảo đảmthiết lập trật tự xã hội, khi việc thực hành và vận dụng pháp luật vào đời sống phảiphù hợp và chính xác Điều đó ph ụ thuộc rất lớn vào năng lực thực hiện, mức độnhận thức của người áp dụng và thực thi pháp luật
Vì vậy, xã hội cần có đội ngũ chuyên gia pháp lý có trình độ chuyên môn cao,
có kỹ năng vận dụng pháp luật một cách phù hợp đ ể giải quyết và xử lý các tìnhhuống pháp lý một cách hiệu quả; từ đó, tạo ra sự ổn định cho các quan hệ xã hội,
xa hơn là đặt nền móng vững chắc cho việc thiết lập trật tự xã hội bằng pháp luật.Việc tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật trong chương trình Cao học luật địnhhướng ứng dụng, vì thế, cũng là để đáp ứng yêu cầu tất yếu của xã hội
3 Thực hiện tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho học viên chương trình Cao học Luật định hướng ứng dụng
a Xác định môn học cho chương trình cao học luật theo định hướng ứng dụng
Xác định môn học là nội dung đầu tiên cần được định hình trong chương trìnhCao học Luật định hướng ứng dụng Bởi lẽ, môn học gì sẽ cho phép định hình dunglượng, mức độ, mảng kiến thức mà người học sẽ được lĩnh hội thông qua quá trìnhhọc Người học, theo đó , có thể đánh giá mức đ ộ đáp ứng nhu cầu của mình hayphản ánh được yêu cầu của xã hội hay không
Theo Quy chế đào tạo trình đ ộ sau đ ại học, trong kết cấu chương trình sẽ cónhững môn học: cơ bản, cơ sở bắt buộc, cơ sở tự chọn, chuyên ngành bắt buộc,chuyên ngành tự chọn Các môn học cơ bản là không thể điều chỉnh, thay đổi bởi lẽđây được xem là những môn học mang tính nền tảng cho quá trình tiếp nhận tri thức
ở bậc sau đại học (như: triết học, phương pháp luận NCKH) Với môn học cơ sở bắtbuộc, cơ sở tự chọn, chuyên ngành bắt buộc, chuyên ngành tự chọn thì việc quyếtđịnh nội dung kiến thức nào được đưa vào là thuộc quyền tự quyết của cơ sở đào tạo(theo các thủ tục luật định)
Do vậy, theo tôi, những môn học cơ sở bắt buộc sẽ là những môn học mang tínhphổ quát cao và tỉ suất sử dụng trong lớn trong chuyên ngành đào tạo Chẳng hạn,trong chuyên ngành Luật kinh tế, các môn học mang tính tổng quan gắn với hoạtđộng sản xuất, kinh doanh sẽ là những môn học cơ sở bắt buộc như: chủ thể kinh
Trang 25doanh, pháp luật đầu tư, hợp đồng trong kinh doanh, vấn đề giải quyết tranh chấptrong kinh doanh, vấn đề nghĩa vụ tài chính của chủ thể kinh doanh (mà Hội đồngkhoa học có thể quyết định tên gọi cụ thể) Đối với môn cơ sở tự chọn vẫn là nhữngmôn học mang tính phổ quát nhưng tính thông dụng về mặt nội dung sẽ đòi hỏichuyên sâu hơn môn cơ sở bắt buộc: như vấn đ ề kinh doanh có đi ều kiện, cạnhtranh, đất đai
Đặc biệt hơn, các môn chuyên ngành bắt buộc phải là những môn học mang tínhchuyên sâu, đòi hỏi mức độ thuần thục trong thực hành cao hơn, chi tiết hơn, nhưngđồng thời cũng phải là những vấn đề pháp lý phổ biến trong chuyên ngành luật đư
ợc đào t ạo, chẳng hạn: đ ấu thầu; tín dụng-ngân hàng, bất đ ộng sản, môi trườngtrong kinh doanh, chứng khoán
Khi xác định các môn chuyên ngành tự chọn, chúng ta tập trung vào sự chuyênbiệt, đặc thù của một lĩnh vực/ngành nghề hoạt động thuộc chuyên ngành đào tạo,
có thể có nhiều môn, độ phủ trên các lĩnh vực rộng, cho phép người học có nhiềulựa chọn phù hợp với nhu cầu và khả năng tiếp cận của mình Các môn học này nênđược đặt tên gọi theo hướng tạo độ mở cần thiết trong quá trình tiếp cận nhằm giúpngười dạy có thể dễ dàng điều chỉnh nội dung giảng cụ thể để đáp ứng cho các đốitượng học viên có nhu cầu về các vấn đề pháp lý khác nhau liên quan đến công việcđang đảm nhận hoặc học viên ở các địa phương có những đặc thù riêng Ví dụ: đốitượng học viên từ các tổ chức kinh doanh bảo hiểm, sẽ có môn học pháp luật vềkinh doanh bảo hiểm để lựa chọn; học viên làm việc trong ngành ngân hàng sẽ cómôn học liên quan đến các vấn đề pháp lý trong ngành ngân hàng để lựa chọn như:Bảo đảm khoản vay tại tổ chức tín dụng, Hợp đồng tín dụng ngân hàng, sản phẩmdịch vụ ngân hàng Hay như người học ở địa phương thì sẽ có các vấn đề pháp lýthường gặp gắn với địa phương công tác, như: các vấn đề liên quan đến đất đai, hoạtđộng sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực nông nghiệp, lâm nghiệp, pháp luật tronglĩnh vực du lịch, vấn đề môi trường trong các làng nghề
Như vậy, xác định môn học nào đưa vào chương trình Cao học luật định hướngứng dụng cũng đòi hỏi phải có tính thực tiễn và độ phủ trong ứng dụng lớn
b Xác định nội dung/chủ đề tiếp cận trong môn học
Với môn học đã được phê duyệt đưa vào chương trình đào tạo thì việc tiếp theo
là xây dựng đề cương môn học Công việc này sẽ định ra các nội dung cơ bản, đượcxem là “khung” của môn học Tuy nhiên, theo tôi, tùy từng năm và tùy từng đ ốitượng học viên mà vấn đề nào trong nội dung môn học sẽ được người dạy chủ động
Trang 26lựa chọn, quyết định triển khai chi tiết trên lớp nhằm tối đa hóa năng lực và nhu cầucủa người học cũng như đáp ứng đòi hỏi thực tiễn của xã hội.
Các nội dung cụ thể, hoặc chủ đề trong môn học mà người dạy lựa chọn trao đổivới người học nên là những vấn đề mang tính thời sự và tính ứng dụng cao Đó cóthể là những vấn đề đang được tranh luận, hoặc áp dụng không thống nhất, có thể lànhững vấn đ ề mới phát sinh, hoặc cũng có thể là những vấn đ ề xảy ra thườngxuyên, mang tính thông lệ Học viên vừa tiếp nhận các kỹ năng tư duy pháp lý và kỹnăng vận dụng vào việc thực hành các vấn đề pháp lý mang tính thông dụng, phổbiến, nhưng đồng thời cũng được trang bị kỹ năng thực hành/vận dụng pháp luật khi
có những vấn đ ề pháp lý chuyên biệt, không phổ biến, hoặc vấn đ ề mà hiện cónhững ý kiến trái chiều/ chưa thống nhất trong áp dụng pháp luật
Bằng việc chủ động xác định nội dung cụ thể khi giảng dạy, ở một cấp độ caohơn, người dạy có thể định hướng giúp người học phát huy năng lực của mình trongviệc tìm ra các giải pháp pháp lý đa dạng để giải quyết các vấn đề pháp lý đặt ra
c Lựa chọn phương pháp giảng dạy:
Lựa chọn phương pháp giảng dạy phù hợp cho Chương trình Cao học ứng dụng,thiết nghĩ, là vấn đề mang tính quyết định sự thành công của người dạy trong việcđạt đến mục tiêu tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật
Lựa chọn phương pháp nào, theo tôi, cũng do người dạy quyết định để đảm bảochuyển tải các mục tiêu về kiến thức và kỹ năng của môn học Với chương trìnhCao học luật theo định hướng ứng dụng, thì như đã đề cập, kỹ năng thực hành phápluật là kỹ năng mục tiêu, vì lẽ đó các phương pháp giảng dạy phải hướng người họcđến việc đạt đến mục tiêu này Phương pháp thuyết giảng trong trường hợp này sẽđược đặt ở hàng thứ yếu, thậm chí chỉ dùng để kết luận, hoặc tổng hợp, hay kết nốicác vấn đề được đã thảo luận, tranh biện trong quá trình học
Các phương pháp giảng dạy tích cực sẽ được phát huy tối đa trong quá trìnhgiảng dạy, có thể được sử dụng phối hợp để có thể giúp cho người học có được tưduy pháp lý nhạy bén từ đó hình thành kỹ năng giải quyết các vấn đ ề pháp lý.Phương pháp giảng dạy phổ biến sẽ được sử dụng trong chương trình này, đó là:phương pháp tình huống (case studying), phương pháp phân vai (role playing),phương pháp đ ộng não (brain - storming), phương pháp làm việc nhóm (grouplearning), phương pháp làm dự án (project based learning) Tùy thuộc vào thiết kếcủa người dạy mà các phương pháp này có thể được sử dụng đơn lẻ theo từng vấn
đề hoặc được phối kết hợp với nhau để có thể tối ưu hóa mục tiêu đề ra Chẳng hạn
Trang 27như việc phối hợp giữa phương pháp tình huống, với phân vai, và làm việc nhóm để
có những tranh biện giữa các nhóm phân vai khác nhau trong việc xử lý tình huống;hoặc sử dụng phương pháp làm dự án với phương pháp phân vai, hay làm việcnhóm để thực hiện dự án
Các phương pháp này chỉ có thể áp dụng tốt với quy mô lớp nhỏ, từ 30-40học viên Do đó, khi tổ chức lớp học, cơ sở đạo tạo cần lưu ý về quy mô lớp để đảmbảo chất lượng và mục tiêu đặt ra Ngoài ra, bên cạnh việc sử dụng phương phápgiảng dạy tích cực một cách linh động, người dạy có thể mời các chuyên gia để traođổi với học viên về các vấn đề diễn ra trên thực tế, giúp người học có cái nhìn đầy
đủ, toàn cảnh về bức tranh pháp lý liên quan đến vấn đề mà môn học đề cập
d Sử dụng cách thức đánh giá phù hợp
Xuất phát từ mục tiêu của chương trình Cao học luật định hướng ứng dụng làtăng cường kỹ năng thực hành pháp luật, nên việc đánh giá người học cũng phải sửdụng cách thức phù hợp Cách thức đó ph ải phản ánh được mức độ kỹ năng thựchành pháp luật của người học
Như vậy, việc đánh giá người học có thể thực hiện thông qua làm dự án nhóm,
dự án cá nhân, qua giải quyết tình huống, hoặc các bài tư vấn Đánh giá năng l ựcngười học chương trình này sẽ tập trung vào kỹ năng giải quyết vấn đề, và các kỹnăng bổ trợ khác được người học thể hiện trong suốt quá trình học (phát hiện vấn
đề, nhận diện vấn đ ề, kỹ năng phán đoán, kh ả năng tổng hợp, tranh luận/hùngbiện ) Với yêu cầu đó, việc xây dựng đề kiểm tra hoặc cách thức tổ chức kiểm tra,hình thức kiểm tra phải bảo đ ảm đánh giá đư ợc mức đ ộ lĩnh hội kiến thức và kỹnăng giải quyết vấn đề pháp lý đặt ra Kết quả đánh giá nên được nhìn nhận xuyênsuốt quá trình học của người học
Vì tập trung vào phát triển kỹ năng, nên đ ối với người học chương trình Caohọc Luật định hướng ứng dụng thì chỉ cần kết quả đánh giá hoàn thành các môn họctrong chương trình theo quy định mà không cần phải đánh giá thêm bằng một bảnluận văn Bởi lẽ, kết quả đã được đánh giá thông qua từng môn học, cũng như nănglực, cấp độ của người học đã đư ợc phát triển, định hình, rèn luyện xuyên suốt quátrình học tập, theo từng giai đoạn thiết kế chương trình Trong trường hợp chưa thể
bỏ qua việc đánh giá tổng thể bằng bản luận văn cuối khóa, thì cho phép người họcchỉ cần thực hiện báo cáo về một nội dung hoặc một vấn đề pháp lý mà học viên đãthực tế tư vấn, giải quyết hoặc đưa ra giải pháp pháp lý, với dung lượng báo cáo chỉ
Trang 28nên bằng nửa yêu cầu đ ặt ra với học viên theo học chương trình Cao học đ ịnhhướng nghiên cứu.
4 Kết luận
Tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật cho học viên chương trình Cao họcLuật định hướng ứng dụng là yêu cầu mang tính then chốt tạo ra sự khác biệt giữa 2chương trình đào tạo Cao học luật tại Trường Đại học Luật TPHCM Yêu cầu nàyxuất phát từ nhu cầu của người học, của xã hội cũng như sự đa dạng hóa sản phẩmđào tạo của cơ sở đào tạo Thực hiện tăng cường kỹ năng thực hành pháp luật chongười học đ ặt ra một số yêu cầu liên quan đ ến việc xác đ ịnh môn học, nội dungmôn học, phương pháp giảng dạy và cách thức đánh giá phù hợp Giải quyết đượccác yêu cầu cơ bản trên sẽ góp phần tạo ra sản phẩm đào tạo có chất lượng, đáp ứngnhu cầu đa dạng hóa chương trình đào tạo và quan trọng hơn cả là đáp ứng được đòihỏi của xã hội về việc hình thành đội ngũ chuyên gia pháp lý có kỹ năng vận dụngpháp luật vào quá trình giải quyết các vấn đề của đời sống, thiết lập trật tự ổn địnhcho sự phát triển chung của xã hội
Trang 29BÀN VỀ CÁC TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT KINH TẾ
ĐỊNH HƯỚNG ỨNG DỤNG
PGS TS Nguyễn Văn Vân Khoa Luật thương mại – Trường Đại học Luật TP HCM
Đặt vấn đề
Chương trình đào tạo cao học luật kinh tế định h ướng ứng dụng do Khoa Luật
TM xây dựng, Hội đồng KH&ĐT trường thông qua và Hiệu trưởng ban hành năm
2014 Tính đến thời điểm hiện nay đã qua 4 th ực hiện với 3 khóa tốt nghiệp và 01lẩn sửa đổi, bổ sung Chuẩn về nội dung và hình thức áp dụng cho luận văn thạc sỹhiện nay áp dụng tại trường ĐH Luật Tp HCM là bản Hướng dẫn về nội và hìnhthức luận văn thạc sỹ luật, ban hành kèm Quyết định số 1461/QĐ -ĐHL ngày14/7/2016 Thực tiễn thực hiện công việc viết luận văn của HV, hướng dẫn củaGVHD và công tác chấm/đánh giá luận văn của các Hội đồng gặp nhiều v ướngmắc, cần soát xét để tháo gỡ và chỉnh sửa cho hợp lý Tham luận này bao gồm cácđịnh hướng gợi mở để xây dựng hệ thống tiêu chí đánh giá luận văn luật kinh tếđịnh hướng ứng dụng
1 Yêu cầu về nội dung luận văn cao học ứng dụng
Phần lớn học viên nhầm lẫn khi đồng nhất LVCH ứng dụng với giáo trình/tậpbài giảng; họ sử dụng các trang viết của LV để phô bày kiến thức phổ thông, chéplại từ các giáo trình với sứ mệnh chuyển giao truyền tải kiến thức cho người đọc.Một số HV đồng nhất LVCH ứng dụng với báo cáo tổng kết ngành/cơ quan/địaphương, trong đó mô tả liệt kê tình hình hoạt động xét xử, thu nộp thuế, đăng kinhkinh doanh…trong một khoảng thời gian nhất định v ới những số liệu, thông tinnhưng không có bất cứ phân tích, bình luận hay nhận định nào về các thông tin đó;Một số khác đồng nhất LVCH ứng dụng với bình luận án cho nên trong 40 trang LVchỉ cần chép lại nguyên văn 2-3 bản án và kèm theo 2-3 trang bình luận cho mỗi bản
án mà nội dung bình luận không liên quan gì đến đề tài
Theo tôi, LVCH ứng dụng phải là một bản báo cáo tổng thuật kết quả nghiêncứu đúng nghĩa, tức là mô tả, giải trình những kết quả nghiên cứu đạt được từ quátrình nghiên cứu thông qua các nội dung: xác định đối tượng, phạm vi, giải trình cácphương pháp nghiên cứu đã áp dụng và các kết quả nghiên c ứu chính Ở mỗi kếtquả nghiên cứu HV phải giải trình nội dung chính kết quả nghiên cứu đó, HV đã sửdụng quy trình, phương pháp nghiên cứu nào để có kết quả đó Đặc biệt, kết quả
Trang 30nghiên cứu đó phải có tính hữu ích, tức là có thể sử dụng được trong thực tiễn Như vậy, các định dạng của nghiên cứu ứng dụng có thể là một trong các lựa chọn sau:
- Học viên phát hiện và giải quyết những vấn đề cụ thể đặt ra trong thực tiễn ápdụng pháp luật Qua khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật để nhận diện những bấtcập/khiếm khuyết/lạc hậu trong quy trình áp dụng pháp luật; tìm kiếm các giải phápkhắc phục, cải tiến hoặc vá lỗi quy trình;
-Nghiên cứu triển khai nhằm áp dụng các quy định pháp luật đã có hiệu lực vàothực tiễn, bao gồm: i) phân tích để hiểu đúng luật thực định, soát xét các yếu tố vàđiều kiện đ ể pháp luật đư ợc chấp hành/ tuân thủ, áp dụng tại một cơ quan, đ ịaphương, doanh nghiệp cụ thể; b) Xây dựng các mô hình/quy trình/giải pháp để tổchức thực hiện pháp luật một cách hiệu quả và đ ồng bộ mang lại các lợi ích chohoạt động quản lý nhà nước, hoạt động kinh doanh, hoạt động xét xử, hoạt động tưvấn luật…;
- Nghiên cứu đánh giá hiệu quả văn bản pháp luật và hiệu quả công tác tổ chứcthực hiện pháp luật thông qua khảo sát thực tiễn để cung cấp các cơ sở thực tiễn choviệc hoạch định chính sách pháp luật hoặc sửa đổi bổ sung một văn bản pháp luậtlạc hậu;
-Nghiên cứu dự báo tác động của một/một số quy định pháp luật kinh tế đã banhành hành hoặc sẽ ban hành, bao gồm dự báo tác động tiêu cực, tích cực, các nhómđối tượng bị ảnh hưởng, mức độ ảnh hưởng và giải pháp cơ quan, tổ chức, doanhnghiệp để thích ứng;
-Nghiên cứu các hồ sơ, bản án, vụ việc, quy trình hay mô hình pháp luật để tổngkết, đánh giá, kết luận về thực tiễn áp dụng pháp luật;
-Các dạng kết quả nghiên cứu khác nếu kết quả nghiên cứu đó có thể sử dụng trong thực tiễn và mang lại các lợi ích cho nhà nước và xã hội
2 Đối tượng & phạm vi nghiên cứu của đề tài luận văn cao học ứng dụng
-Đối tượng mà học viên chọn để nghiên cứu, khảo sát phải là những hiện tượngpháp luật (quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luật; bao gồm quy định phápluật và thực tiễn áp dụng pháp luật) có thực, tức là đã và đang tồn tại trong thực tiễntại địa phương, cơ quan, tổ chức, đơn vị cụ thể, ví dụ như hiện tượng: đăng ký kinhdoanh, định giá tài sản góp vốn, chuyển giao quyền sở hữu tài sản vốn góp, thựchiện quyền và nghĩa vụ của thành viên góp vốn; chuyển nhượng phần vốn góp…
HV cao học ứng dụng sẽ không nghiên cứu các lý thuyết, học thuyết, lịch sử phápluật hoặc các mô hình lý thuyết của pháp luật
Trang 31-Thời gian thực hiện luận văn và số trang giới hạn, do vậy đối tượng nghiên cứucủa LV phải là 01 vấn đề hẹp, chuyên sâu Thiết nghĩ , hội đồng chấm LV khôngnên yêu cầu HV dẫn nhập dài dòng, không cần tổng quan tình hình nghiên cứu,không cần chép lại kiến thức phổ thông, lý thuyết đã có trong các giáo trình, bàigiảng như các khái niệm, phân loại, vai trò ý nghĩa hay lịch sử phát triển HV đượcquyền tuyên bố các giới hạn về phạm vi nghiên cứu miễn sao việc giới hạn nàykhông ảnh hưởng đến tên đề tài đã duyệt tương thích với kết quả nghiên cứu.
- Khác với LVCH Luật định hướng nghiên cứu, không nên yêu cầu LVCH ứngdụng phải tuyệt đối phù h ợp mã ngành Luật kinh tế bởi lẽ một những hiện tượngpháp lý trong cuộc sống nó tồn tại không theo định ranh của nhà khoa họ c Đốitượng nghiên cứu của LVCH ứng dụng là một hiện tượng pháp luật có thực trongcuộc sống mà hiện tượng đó sẽ điều chỉnh bởi nhiều quy phạm pháp luật khác nhau:hành chính, dân sự, kinh tế…Ngoài ra mục tiêu của nghiên cứu ứng dụng là phải tạora/ cải tiến/ hoàn chỉnh các giải pháp pháp lý, quy trình áp dụng pháp luật do vậyphải sử dụng nhiều lĩnh vực pháp luật khác nhau, sử dụng kiến thức đa ngành, liênngành kể cả kiến thức kinh tế, hành chính, quản lý ….mới có kết quả nghiên cứumong muốn
3 Về mục tiêu và kết quả nghiên cứu
Khác với cao học định hướng nghiên cứu, phần lớn học viên theo học chươngtrình cao học ứng dụng là những người đang/ sẽ làm thực tiễn (ở Tòa, Viện, Cơquan quản lý nhà nước về kinh tế, luật sư tranh tụng, luật sư tư vấn pháp luật kinhdoanh…) do vậy cũng như các môn học trong chương trình đào tạo, mục tiêu củaLVCH, tức sau khi hoàn thành LV cao học luận văn cao học HV được tích lũy kiếnthức, lĩnh hội đ ược các phương pháp nghiên cứu luật học và kỹ năng thực hànhluật
Do vậy khi đặt ra yêu cầu về hình thức và nội dung cho LVCH định hướng ứngdụng phải tính đến đặc thù của đối t ượng người học và mục tiêu của người học.Nhận thức sai lầm khi xây dựng chương trình cao học và xây dựng hệ thống tiêu chí
để đánh giá LVCH định hướng ứng dụng là người xây dựng chương trình đặt ngườihọc (đang làm thực tiễn) vào vị thế của chính mình khi còn học cao học Có sự khácbiệt giữa việc học cao học để tiếp tục làm th ực tiễn và học cao học để giảng dạynghiên cứu
Thiết nghĩ, kết quả nghiên cứu từ LVCH ứng dụng không thể là các kiến nghịban hành, sửa đổi pháp luật bởi lẽ HV bậc cao học không đủ thời gian, kiến thức và
Trang 32phương pháp để làm việc này, kể cả khi nh ững kiến nghị sửa đổi/ ban hành phápluật là hợp lý, đúng nh ưng không ai sử dụng kết quả này vì phương pháp nghiêncứu, cách thức và quy trình nghiên cứu không đáng tin cậy hoặc nh ững kiến nghịnày không được củng cố bởi luận cứ khoa học và thực tiễn, không có đánh giá báocáo tác động ở mọi phương diện…nên không ai “nghe” và chấp nhận những kiếnnghị đại loại như vậy.
4 Yêu cầu về cấu trúc (bố cục) luận văn
Các yêu cầu về cấu trúc luận văn cao luật định hướng ứng dụng trong quy địnhhiện hành là nội dung gây hoang mang cho HV cũng như phát sinh nhiều tranh luậntrong nội bộ các HĐ chấm LVCH
Thiết nghĩ việc quy định bắt buộc về cấu trúc, bố cục của một bản báo cáo khoahọc (LVCH) là việc làm phản khoa học Trước đây, xuất phát từ tâm lý “dị ứng” vớicấu trúc 3 chương truyền thống ( lý luận- thực trạng- hoàn thiện) nên quy chế hiệnhành của trường cấm cấu trúc này, yêu cầu phải theo cấu trúc dọc (tức các chươngphải theo từng vấn đề) Tuy nhiên, không phải đề tài nào cũng có thể chia theo từngvấn đề mà đề tài đó chỉ có 01 vấn đề duy nh ất Vì vậy, không nên luận bàn về đúngsai về bố cục, cũng không nên quy định cứng nhắc phải theo một cấu trúc nào khitrình bày kết quả nghiên cứu mà chỉ đưa ra tiêu chí hợp lý/đảm bảo logic
5 Yêu cầu về tính trung thực & đạo đức
- Đây là tiêu chí mang tính nguyên tắc và bắt buộc, không nên từ bỏ hay “xuêxoa” Chỉ khi tuân thủ triệt để yêu cầu này thì mới mang lại công bằng và cải thiệnnhận thức, quan niệm về lao động trí tuệ Kiến thức của HV có thể chưa hoàn hảo,kết quả nghiên cứu có thể chưa thuyết phục (sẽ tiếp tục bổ sung, khắc phục, cảithiện được) nhưng nếu HĐ bỏ qua hành vi đạo văn của HV sẽ dẫn đến hậu quả khônlường sau này Do vậy, ở khía cạnh đạo đức nghiên cứu trong hệ thống tiêu chí đánhgiá LVCH ứng dụng ( kể cả định hướng nghiên cứu) phải:
- Yêu cầu bắt buộc kết quả nghiên cứu trong luận văn phải là kết quả lao độngcủa chính tác giả, chưa được người khác công bố trong bất cứ một công trình nghiêncứu nào Trường hợp sử dụng, kế thừa, phát triển kết quả nghiên cứu của ngườikhác phải được dẫn nguồn đầy đủ, rõ ràng tại vị trí trích dẫn và tại danh mục tài liệutham khảo
- Khuyến khích các quan điểm, bình luận, phản biện và thể hiện nhận định riêngcủa Học viên nhưng phải khách quan, trên tinh thần tôn trọng và khách quan, khôngxúc phạm nhân thân người khác, không lồng ghép các yếu tố địa phương, dân tộc,