1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chống hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm bóc lột khách hàng theo luật cạnh tranh 2018 (luận văn thạc sĩ luật học)

63 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chống Hành Vi Lạm Dụng Vị Trí Thống Lĩnh Thị Trường Nhằm Bóc Lột Khách Hàng Theo Luật Cạnh Tranh 2018
Tác giả Lê Ngọc Quỳnh
Người hướng dẫn Tiến Sĩ Phạm Hoài Huấn
Trường học Trường Đại Học Luật Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Luật Thương Mại
Thể loại Khóa Luận Tốt Nghiệp Cử Nhân Luật
Năm xuất bản 2020
Thành phố Tp Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 1,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM BÓC LỘT KHÁCH HÀNG (12)
    • 1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (0)
    • 1.2 Các tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh (13)
      • 1.2.1 Thị trường liên quan (13)
      • 1.2.2 Thị phần (18)
      • 1.2.3 Các tiêu chí khác (19)
    • 1.3 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để bóc lột khách hàng phổ biến (21)
      • 1.3.1 Định giá quá đáng (22)
      • 1.3.2 Ấn đinh giá bán lại (24)
      • 1.3.3 Hạn chế sự sản xuất, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển của khoa học kĩ thuật (27)
      • 1.3.4 Định giá phân biệt đối xử (29)
      • 1.3.5 Bán kèm (31)
  • CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM BÓC LỘT KHÁCH HÀNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN (36)
    • 2.1 Vị trí thống lĩnh thị trường theo Luật cạnh tranh 2018 (36)
      • 2.1.1 Khái niệm vị trí thống lĩnh thị trường (36)
      • 2.1.2 Các tiêu chí nhằm xác định vị trí thống lĩnh thị trường (37)
    • 2.2. Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường nhằm bóc lột khách hàng (42)
      • 2.2.1 Áp đặt giá mua, giá bán hàng hóa, dịch vụ bất hợp lý (43)
      • 2.2.2 Ấn định giá bán lại tối thiểu (45)
      • 2.2.2 Hạn chế sản xuất, phân phối hàng hóa, dịch vụ, giới hạn thị trường, cản trở sự phát triển kỹ thuật, công nghệ (46)
      • 2.2.4 Áp đặt điều kiện cho doanh nghiệp khác trong ký kết hợp đồng mua, bán hàng hóa, dịch vụ hoặc yêu cầu doanh nghiệp khác, khách hàng chấp nhận các nghĩa vụ không liên quan trực tiếp đến đối tƣợng của hợp đồng (51)
      • 2.2.5 Áp đặt điều kiện bất lợi cho khách hàng (53)
      • 2.2.6 Lợi dụng vị trí độc quyền để đơn phương thay đổi hoặc hủy bỏ hợp đồng đã giao kết mà không có lý do chính đáng (54)
    • 2.3 Định hướng và các kiến nghị hoàn thiện (57)
  • KẾT LUẬN (35)

Nội dung

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM BÓC LỘT KHÁCH HÀNG

Các tiêu chí xác định vị trí thống lĩnh

Thị trường liên quan là không gian hoạt động của doanh nghiệp, được xác định qua tính liên quan về sản phẩm và khu vực địa lý Vị trí thống lĩnh chỉ tồn tại trong thị trường có sự liên quan nhất định, dẫn đến việc phân chia thành thị trường sản phẩm liên quan và thị trường địa lý liên quan Sự cần thiết và cách phân chia này được nhiều quốc gia công nhận, như trong văn bản “Các hướng dẫn về sáp nhập theo chiều ngang” năm 2010 của Bộ tư pháp.

Trong tác phẩm của Đào Ngọc Báu (2016), tác giả phân tích và luận giải các quy định của Luật cạnh tranh liên quan đến hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và vị trí độc quyền nhằm hạn chế cạnh tranh Nội dung này được trình bày chi tiết trong sách xuất bản bởi NXB Tư pháp, trang 47.

4Đào Ngọc Báu (2016), tlđd(1), tr.26.

Sức mạnh độc quyền và sức mạnh thị trường là hai khái niệm khác nhau; mọi doanh nghiệp đều có sức mạnh thị trường ảnh hưởng đến giá sản phẩm Tuy nhiên, chỉ khi sức mạnh này đạt mức đáng kể và có khả năng gây lũng đoạn thị trường thì mới được coi là sức mạnh độc quyền Theo quy định của pháp luật và Ủy ban thương mại Hoa Kỳ, việc xác định thị trường liên quan bao gồm việc xác định ranh giới thương mại và địa lý, giúp các cơ quan có thẩm quyền xác định các bên tham gia thị trường, tính toán thị phần và mức độ tập trung Thị trường liên quan được xác định dựa trên thị trường sản phẩm và thị trường địa lý, với các phương pháp đo lường cụ thể Phân chia này được áp dụng rộng rãi trong pháp luật cạnh tranh của nhiều quốc gia như Trung Quốc, Singapore và EU Cuối cùng, việc xác định chính xác thị trường liên quan sẽ cho thấy cấu trúc thị trường và số lượng doanh nghiệp cạnh tranh, tạo tiền đề cho việc xác định vị trí của chúng thông qua thị phần.

1.2.1.1 Thị trường sản phẩm liên quan

Thị trường sản phẩm liên quan bao gồm các sản phẩm hàng hóa và dịch vụ có khả năng thay thế cho nhau, được xác định từ cả phía cung và cầu Sự thay thế từ phía cung được đánh giá qua khả năng của nhà cung cấp trong việc chuyển đổi sản xuất khi có sự tăng giá nhỏ mà không gặp rủi ro hay chi phí đáng kể Các doanh nghiệp cạnh tranh trên thị trường không chỉ bao gồm những doanh nghiệp kinh doanh sản phẩm thay thế mà còn có những doanh nghiệp tiềm năng có khả năng thay thế Việc đánh giá thị trường sản phẩm liên quan chủ yếu dựa vào sự thay thế từ phía cầu, dựa trên mối quan tâm của người tiêu dùng về công dụng, mục đích sử dụng và giá cả Ba cơ sở chính để đánh giá tính thay thế của sản phẩm bao gồm đặc tính, mục đích sử dụng và giá cả.

Sản phẩm có tính cạnh tranh thường là những mặt hàng tương tự hoặc có khả năng thay thế lẫn nhau, với đặc tính lý và hóa riêng biệt Phân tích cấu tạo vật chất của sản phẩm giúp đánh giá chúng trên phương diện khoa học, từ đó hiểu rõ hơn về chất lượng và tính cạnh tranh của hàng hóa.

6U.S Department of Justice and the Federal Trade Commission(2010), Horizontal Merger Guidelines, p.7

The Anti-Monopoly Commission of the State Council issued the "Guidelines on the Definition of a Relevant Market" in 2009, which outlines the criteria for defining relevant markets in China These guidelines are essential for understanding market dynamics and ensuring fair competition within the country The document serves as a significant reference for legal and economic analysis related to anti-monopoly practices in China.

Hàng hóa vật chất là những sản phẩm cụ thể, trong khi dịch vụ lại mang tính vô hình, làm cho việc xác định đặc tính của chúng trở nên khó khăn hơn Đặc tính của hàng hóa vật chất thể hiện qua các yếu tố vốn có, trong khi dịch vụ chủ yếu dựa vào những tiện ích vô hình mà chúng tạo ra Thêm vào đó, phương thức hoạt động và cơ sở vật chất được sử dụng trong kinh doanh cũng là những đặc điểm dễ nhận diện và phân tích, chẳng hạn như dịch vụ vận chuyển sử dụng xe cộ làm phương tiện.

Mục đích sử dụng của sản phẩm là yếu tố quan trọng mà khách hàng quyết định, ảnh hưởng đến cách thức và chức năng sử dụng thực tế Dù tính chất sản phẩm có thể không thay đổi, nhưng một nguyên liệu như hạt cà phê có thể được ứng dụng đa dạng, từ việc uống đến làm mỹ phẩm hay túi khử mùi Do đó, mục đích sử dụng cuối cùng và chính yếu nhất của sản phẩm cần được xem xét Bên cạnh đó, thị hiếu của người tiêu dùng cũng là yếu tố cần lưu ý để đánh giá xu hướng tiêu dùng, nhưng đây chỉ nên là tiêu chí bổ sung, vì thị hiếu có thể thay đổi theo thời gian.

Giá cả là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng, liên quan đến công năng, chất lượng và khả năng chi tiêu cá nhân Phân tích thị trường sản phẩm liên quan giúp xác định phản ứng của khách hàng với sự thay đổi giá, từ đó nhận diện các sản phẩm thay thế và khoanh vùng thị trường Phương pháp Độc quyền giả định (HMT) và phép thử SSNIP (tăng giá nhỏ nhưng đáng kể và không tạm thời) là những công cụ hữu ích trong việc xác định thị trường sản phẩm liên quan.

Kì là một phương pháp phổ biến được áp dụng tại nhiều quốc gia như Pháp, Singapore, Trung Quốc và EU Phương pháp này bao gồm hai nội dung chính cần được đảm bảo khi thực hiện tăng giá giả định, điều này được phản ánh ngay trong tên gọi của nó.

Mức tăng giá nhỏ nhưng đáng kể thường được xác định trong biên độ tính toán kinh tế, nhằm xác định ranh giới thị trường một cách chính xác Sự tăng giá này trở nên đáng kể khi nó ảnh hưởng đến tính cạnh tranh của các sản phẩm trong thị trường Theo lý thuyết độ co giãn chéo về cầu, giá sản phẩm cao có thể dẫn đến giảm lượng tiêu thụ do khách hàng chuyển sang sản phẩm cạnh tranh có giá tốt hơn Do đó, mức tăng giá quá cao hoặc bất hợp lý có thể khiến doanh nghiệp không thu được lợi nhuận, trong khi mức tăng quá thấp không đủ để đánh giá nhu cầu thị trường, dẫn đến thu hẹp thị trường Hiện nay, mức tăng giá được khuyến nghị thường nằm trong khoảng 5% đến 10%, được tính toán qua các công cụ kinh tế và thực nghiệm theo phương pháp của pháp luật Hoa Kỳ.

Tăng giá không mang tính nhất thời (non-transitory) có nghĩa là sự tăng giá phải duy trì trong khoảng thời gian tối thiểu một năm để đánh giá tác động trên thị trường Thời gian này đủ dài để người tiêu dùng và nhà sản xuất tìm ra sản phẩm thay thế, mở rộng phạm vi thị trường hàng hóa Phương pháp SSNIP có vai trò quan trọng trong xác định thị trường hàng hóa liên quan nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, do đó phương pháp Critical Loss ra đời để khắc phục Phương pháp này xác định phần trăm tổn thất doanh số cần thiết để hành vi tăng giá không mang lại lợi nhuận Mặc dù giá sản phẩm tăng giúp lợi nhuận trên mỗi đơn vị tăng, nhưng sản lượng bán ra có thể giảm Tính toán thiệt hại đáng kể giúp xác định ngưỡng mà tại đó lợi nhuận vẫn có thể tăng lên, ngay cả khi tổn thất chưa chạm đến mức này So sánh tổn thất thực tế với tỷ lệ thiệt hại đáng kể sẽ cho biết doanh nghiệp có thu được lợi nhuận từ việc tăng giá hay không Nếu tăng giá thành công, nghĩa là khách hàng không tìm được sản phẩm thay thế, thì thị trường giả định được xác định là thị trường hàng hóa liên quan; ngược lại, nếu thất bại, thị trường liên quan sẽ rộng hơn.

Sự đa dạng trong các phương pháp xác định thị trường sản phẩm cho thấy nỗ lực cải tiến và hoàn thiện cách thức xác định một cách chính xác Các phương pháp mới không chỉ bổ sung mà còn giải quyết những khó khăn của phương pháp trước đó Việc xác định thị trường liên quan tuy phức tạp và dễ xảy ra sai sót nhưng lại rất quan trọng trong việc đo lường sức mạnh thị trường của doanh nghiệp, do đó cần sự cẩn thận, chuyên nghiệp và chính xác trong quá trình đánh giá.

1.2.1.2 Thị trường địa lý liên quan

Thị trường địa lý liên quan là khu vực mà các doanh nghiệp cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh Khu vực này được sử dụng để đánh giá các yếu tố như khoảng cách, thời gian, chi phí vận chuyển, chất lượng hàng hóa, và các quy định địa phương Những yếu tố này ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn sản phẩm của khách hàng Dù sản phẩm có khả năng thay thế nhau, người tiêu dùng vẫn có thể không chọn nếu có rào cản địa lý lớn Khoảng cách địa lý có tác động rõ rệt đến quyết định mua hàng của người tiêu dùng.

Người bán phải đối mặt với áp lực từ việc khách hàng có nhiều lựa chọn và khả năng chuyển sang mua hàng từ các đối thủ trong cùng khu vực hoặc khu vực lân cận Điều này ảnh hưởng lớn đến quyết định điều chỉnh giá và chính sách bán hàng Tóm lại, việc phân tích thị trường địa lý là cần thiết để đánh giá khả năng khách hàng chuyển sang sản phẩm tương tự ở khu vực khác khi giá sản phẩm hiện tại tăng đáng kể.

Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh để bóc lột khách hàng phổ biến

Hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường xảy ra khi doanh nghiệp (DN) sử dụng quyền lực thị trường vượt mức cho phép để hạn chế cạnh tranh, củng cố địa vị thống lĩnh và tối đa hóa lợi nhuận Chỉ những DN nắm giữ vị trí thống lĩnh và có sức mạnh thị trường đáng kể mới có thể thực hiện hành vi này, trong khi các đối thủ cạnh tranh và người tiêu dùng là những đối tượng chịu tác động tiêu cực từ hành vi lạm dụng đó.

Khách hàng là những chủ thể quan trọng nhất trong một doanh nghiệp, bao gồm các nhà phân phối, bán lẻ, người tiêu dùng và thậm chí là đối thủ cạnh tranh Họ là những người chi tiền để mua và sử dụng sản phẩm của doanh nghiệp.

Khả năng thao túng về giá là đặc quyền chỉ tồn tại ở những DN thống lĩnh do những

Doanh nghiệp thường quá nhỏ bé để ảnh hưởng đến giá cả thị trường, nhưng việc định giá là một hành vi bình thường trong kinh doanh Do đó, doanh nghiệp có quyền thiết lập, tăng hoặc giảm giá trong các giao dịch hàng hóa và dịch vụ Tuy nhiên, hành vi lạm dụng thể hiện qua việc áp dụng mức giá “quá đáng” Pháp luật EU quy định rằng việc áp đặt “giá mua hoặc giá bán không công bằng” là vi phạm Điều 102(a) của Hiệp ước về hoạt động của Liên minh Châu Âu (TFEU) Chủ thể vi phạm có thể là doanh nghiệp thống lĩnh, đóng vai trò là người bán hoặc người mua.

“quá đáng” đƣợc thể hiện trong mức giá “không công bằng”.

Khi doanh nghiệp thống lĩnh có quyền lực thị trường, giá mua thường không công bằng, thường thấp hơn chi phí sản xuất của người bán Điều này dẫn đến thiệt hại cho bên bán, làm ảnh hưởng đến sự công bằng trong giao dịch thương mại.

Doanh nghiệp thống lĩnh có khả năng gia tăng lợi nhuận bằng cách giảm chi phí đầu vào, trong khi doanh nghiệp khách hàng, với vai trò là người bán, phải gánh chịu tổn thất lợi nhuận do bị ép giá bán ở mức quá thấp.

Khi doanh nghiệp thống lĩnh áp đặt giá bán quá cao, mức giá này không phải là kết quả tự nhiên từ môi trường cạnh tranh hoàn hảo, mà là do doanh nghiệp có khả năng chi phối thị trường đặt ra nhằm tối đa hóa lợi nhuận Biểu đồ dưới đây minh họa sự khác biệt giữa giá trong độc quyền và giá trong cạnh tranh hoàn hảo từ góc độ kinh tế.

Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, mức giá lý tưởng cho người tiêu dùng được xác định qua sự tương tác tự nhiên giữa người mua và người bán Giá cạnh tranh (Pc) và sản lượng (Qc) được xác định tại giao điểm (E) của đường cung (S) và đường cầu, cho phép thị trường tự điều chỉnh để đạt được mức giá và sản lượng tối ưu.

Trong môi trường cạnh tranh hoàn hảo, giá bán được quyết định bởi quy luật cung-cầu, và doanh nghiệp sẽ gặp phải sự quay lưng của khách hàng nếu định giá quá cao Ngược lại, trong trường hợp độc quyền, nhà độc quyền tối đa hóa lợi nhuận bằng cách xác định sản lượng (Qm) dựa trên quy tắc chi phí biên (MR) bằng doanh thu biên (MCm), từ đó ấn định giá (Pm) tương ứng Điều này dẫn đến việc nhà độc quyền sản xuất ít hơn và định giá cao hơn so với cạnh tranh hoàn hảo Hơn nữa, nhà độc quyền không cần phải áp dụng mức giá bằng chi phí biên và không chịu áp lực từ các lực lượng cạnh tranh, cho phép họ kiếm lợi nhuận siêu ngạch một cách vô hạn định Kết quả là, người tiêu dùng phải gánh chịu tổn thất tài chính và phải trả giá cao một cách vô lý cho nhu cầu tiêu dùng của mình, trong khi không có sự lựa chọn thay thế do sự kiểm soát giá của doanh nghiệp thống lĩnh trên thị trường.

Việc xác định giá bán mang tính trục lợi là một thách thức do sự không rõ ràng về lợi nhuận mà tại đó lợi ích của cả hai bên được cân bằng Pháp luật EU phân tích "giá bán quá cao so với giá trị kinh tế của sản phẩm" và xem xét "mức giá đã được áp đặt có công bằng hay không so với các sản phẩm cạnh tranh." Các bước tiến hành cần được thực hiện để đánh giá tính hợp lý của giá bán.

So sánh giá bán với chi phí sản xuất cho thấy chênh lệch giữa hai mức giá là biên lợi nhuận, và tòa án cần xác định mức độ lợi nhuận nào là quá đáng Lợi nhuận cao có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân như hiệu quả kinh tế quy mô, cải tiến kỹ thuật làm giảm chi phí sản xuất, rủi ro trong ngành, vốn đầu tư lớn, và nhu cầu nghiên cứu, cải tiến Giá sản phẩm được coi là “quá đáng” khi biên độ lợi nhuận cao một cách vô lý.

So sánh giá bán và chất lượng sản phẩm với đối thủ cạnh tranh là một phương pháp quan trọng, yêu cầu đánh giá kỹ lưỡng các đặc tính của sản phẩm trên thị trường Điều này giúp xác định sự tương xứng giữa giá cả và chất lượng, cũng như tính tương đồng của các sản phẩm được so sánh Tuy nhiên, việc này không hề đơn giản, vì các doanh nghiệp thường cố gắng tạo sự khác biệt cho sản phẩm của mình nhằm tạo lợi thế cạnh tranh, điều này ảnh hưởng đến khả năng so sánh giữa các sản phẩm.

Chi phí biên là khoản chi phí tăng thêm mà doanh nghiệp phải chịu khi sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm Trong biểu đồ, đường cung phản ánh tổng chi phí biên của tất cả các doanh nghiệp, từ đó tạo thành đường chi phí biên của nhà độc quyền Doanh thu biên đại diện cho sự gia tăng trong tổng doanh thu của doanh nghiệp khi bán thêm một đơn vị hàng hóa.

18 E Thomas Sullivan, “Antitrust Economics”, Understanding antitrust and its economic implication, Chapter

2-(2003)(Mathew Bender), Chương trình giảng dạy kinh tế Fullbright, tr.14.

19 Case 27/76, United Brands v Commission [1978] ECR 207, [1978] 1 CMLR 429, para 250.

Trong vụ án 20 Case 27/76, United Brands v Commission [1978], sự khác biệt về giá bán có thể xuất phát từ nhiều yếu tố như chất lượng, danh tiếng và thị hiếu người tiêu dùng Để có thể so sánh giá một cách hợp lý, mức giá đó cần phải đảm bảo tính hợp lý và trở thành khuôn mẫu trong thị trường.

Khi áp dụng hai phương pháp trên, Tòa án sẽ xem xét nhiều yếu tố bổ sung như khu vực địa lý, thời gian, thời điểm đánh giá và khả năng chi trả của người tiêu dùng.

Việc can thiệp vào giá trên thị trường cần thận trọng, vì sử dụng pháp luật để điều chỉnh có thể ảnh hưởng tiêu cực đến cạnh tranh hiệu quả Giá cao không chỉ biểu thị lợi nhuận mà còn là động lực thúc đẩy cạnh tranh Doanh nghiệp có thể sử dụng lợi nhuận để đầu tư vào phát triển kinh tế, khoa học và công nghệ, cũng như đóng góp cho cộng đồng, tạo ra giá trị cho xã hội Can thiệp điều chỉnh giá chỉ nên thực hiện trong một số điều kiện: 1) khi doanh nghiệp có sức mạnh thị trường gần như độc quyền; 2) khi có rào cản gia nhập thị trường lớn và bền vững; 3) nếu việc can thiệp không ảnh hưởng xấu đến nghiên cứu và đổi mới; 4) khi không có phương pháp can thiệp khác khả thi.

THỰC TRẠNG CHỐNG HÀNH VI LẠM DỤNG VỊ TRÍ THỐNG LĨNH THỊ TRƯỜNG NHẰM BÓC LỘT KHÁCH HÀNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ luật Dân sự (Luật số: 91/2015/QH13), ngày 24 tháng 11 năm 2015 Khác
2. Luật Cạnh tranh ( Luật số: 23/2018/QH14), ngày 12 tháng 6 năm 2018 Khác
3. Luật thương mại ( Luật số 36/2005/QH11) ngày 14 tháng 6 năm 2005 Khác
4. Nghị định số 35/2020/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24 tháng 3 năm 2020 quy định chi tiết một số điều của Luật cạnh tranh Khác
5. Nghị định số 116/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 15 tháng 9 năm 2005 quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật cạnh tranh.B. Tài liệu tham khảo Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w