1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chế độ pháp lý về công ty công nghệ tài chính ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

55 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 568 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích nghiên cứu đề tài Thứ nhất, phân tích những hoạt động của công ty công nghệ tài chính, công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và những quy định củapháp

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

TĂNG BẢO CHÂU

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

CHUYÊN NGÀNH LUẬT THƯƠNG MẠI

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH

KHOA LUẬT THƯƠNG MẠI

-KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT

CHẾ ĐỘ PHÁP LÝ VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

SINH VIÊN THỰC HIỆN:

Khóa: 41

TĂNG BẢO CHÂU MSSV: 1653801011021GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS NGUYỄN THỊ HOÀI THU

TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi cam đoan: Khóa luận tốt nghiệp này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi, đượcthực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của Thạc sĩ Nguyễn Thị Hoài Thu, đảm bảotính trung thực và tuân thủ các quy định về trích dẫn, chú thích tài liệu tham khảo.Tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm về lời cam đoan này

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2020

Tác giả

TĂNG BẢO CHÂU

Trang 4

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

chính

26/11/2014Luật CTCTD 2010 (được Luật Các tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12)

ngày 16/6/2010 được sửa đổi, bổ sung bởi Luật Sửasd,bs bởi Luật CTCTD

đổi, bổ sung một số điều của Luật Các tổ chức tín2017)

16/5/2013 về thương mại điện tử

vụ trung gian thanh toán

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ngày 11/12/2014

Trang 5

hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán

ngày 05/12/2014 quy định về quản lý website thương

mại điện tử

Underbanked Những người có tài khoản ngân hàng nhưng tiếp cận

hạn chế các dịch vụ tín dụng, đầu tư, bảo hiểmVăn bản hợp nhất số 10/VBHN-NHNN của Ngân

về thanh toán không dùng tiền mặt

hàng Nhà nước Việt Nam ngày 09/12/2019 hợp nhấtthông tư hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán

Trang 6

MỤC LỤC

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 5

1.1 Khái niệm công ty công nghệ tài chính 5

1.2 Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính 6

1.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính 9

1.3.1 Đặc điểm chung của công ty công nghệ tài chính 9

1.3.2 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán 12

1.3.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính gọi vốn cộng đồng 16

1.4 Nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính 18

1.4.1 Tác động của công ty công nghệ tài chính đến nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng 18

1.4.2 Tiềm năng và thực trạng thị trường công nghệ tài chính 21

1.1.3 Đặc thù trong hoạt động của công ty công nghệ tài chính 24

1.5 Kinh nghiệm xây dựng khung điều chỉnh pháp lý thử nghiệm cho Việt Nam 25

CHƯƠNG 2 PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG CUNG ỨNG DỊCH VỤ TRUNG GIAN THANH TOÁN VÀ GỌI VỐN CỘNG ĐỒNG, KIẾN NGHỊ ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG GỌI VỐN CỘNG ĐỒNG 29

2.1 Pháp luật điều chỉnh hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính 29

2.1.1 Điều kiện cung ứng và duy trì dịch vụ trung gian thanh toán 30

2.1.2 Các dịch vụ trung gian thanh toán được phép cung ứng 35

2.1.3 Quyền và nghĩa vụ của công ty công nghệ tài chính khi tham gia vào hoạt động trung gian thanh toán 36

2.1.4 Xử lý vi phạm trong hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán 37

2.2 Thực trạng pháp luật điều chỉnh hoạt động vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính và kiến nghị 37

Trang 7

2.2.1 Thực trạng pháp luật về hoạt động gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính 37 2.2.2 Kiến nghị 41

KẾT LUẬN 44

Trang 8

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, công nghệ tài chính hiện đang là đề tài thu hút sự quan tâmcủa giới tài chính nói chung, cũng như các nhà quản lý cộng, đồng khởi nghiệp nóiriêng Công nghệ tài chính dường như cũng là chủ đề được quan tâm nhiều nhấttrong các hội thảo về tài chính cũng như các xu hướng khởi nghiệp Trong xu thếcông nghệ bùng nổ như hiện nay, những ứng dụng công nghệ vào một lĩnh vực cóthể xóa sổ cả một ngành dịch vụ truyền thống Một ví dụ quen thuộc là sự cạnhtranh khốc liệt của các các ứng dụng công nghệ đặt xe như Grab đang khiến chohàng loạt công ty dịch vụ taxi truyền thống đứng bên bờ vực phá sản Điều này càngdấy lên sự quan tâm của cộng đồng khi mà các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tàichính đang ngày càng đa dạng, sự thâm nhập xã hội của các sản phẩm, dịch vụ nàyngày càng lớn Những sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính đang hiện hữu ngaytrong những hoạt động sinh hoạt hàng ngày của người dân Từ dịch vụ thanh toánbằng các ví điện tử nhanh chóng, an toàn chỉ bằng vài lần chạm cho đến nhữngtrang web so sánh sản phẩm tài chính cung cấp thông tin giúp người tiêu dùng lựachọn sản phẩm tài chính phù hợp Vậy, công ty công nghệ tài chính là gì? Nó tácđộng như thế nào đến ngành tài chính? Pháp luật hiện hành điều chỉnh công ty côngnghệ tài chính như thế nào? Để trả lời cho những câu hỏi này, một cái nhìn tổngquát về các công ty công nghệ tài chính là rất cần thiết

Thị trường công nghệ tài chính Việt Nam đang thu hút lượng vốn đầu tưkhổng lồ từ các nhà đầu tư nước ngoài, quy mô của thị trường đang được mở rộngđáng kể so với những năm trước Tuy nhiên, hành lang pháp lý điều chỉnh các công

ty công nghệ tài chính vẫn còn hạn chế, chưa điều chỉnh nhiều sản phẩm, dịch vụcông nghệ tài chính Thiếu rào cản pháp lý đang là rào cản cho các công ty côngnghệ tài chính thu hút vốn đầu tư cũng như không dám ứng dụng công nghệ để pháttriển các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính mới và đưa chúng đến tay ngườitiêu dùng Vì vậy, vấn đề hoàn thiện hành lang pháp lý điều chỉnh các công ty côngnghệ tài chính

Từ những lý do trên, tác giả nhận thấy cần nghiên cứu, phân tích các đặcđiểm của công ty công nghệ tài chính để đưa ra một cái nhìn tổng quát Bên cạnh

đó, việc nghiên cứu, lý giải các quy định của pháp luật hiện hành về hai lĩnh vựcđang tập trung nhiều công ty công nghệ tài chính nhất của Việt Nam là trung gian

Trang 9

thanh toán và gọi vốn cộng đồng (bao gồm cho vay ngang hàng) để có một cái nhìn sâu sắc hơn để có một cái nhìn sâu sắc hơn là điều cần thiết.

2 Tình hình nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, tình hình nghiên cứu ở nước ngoài: Có tương đối các tài liệu

nghiên cứu nước ngoài về các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính nhưng các tàiliệu đánh giá những đặc điểm, đặc thù của công ty công nghệ tài chính thì khôngnhiều:

Bài nghiên cứu “Defining a EU-framework for financial technology (fintech):economic perspectives and regulatory challenge” của hai tác giả Cemal Karakas andCarla Stamegna đăng trên tạp chí Law And Economic Review đưa ra khái niệm vềcông nghệ tài chính và phân tích tác động của công nghệ tài chính từ những khíacạnh về kinh tế và đưa ra những thách thức về mặt xây dựng khung pháp lý điềuchỉnh công nghệ tài chính ở Liên minh Châu Âu

Bài nghiên cứu “Crowdfunding: An Industry Growing Fast” của hai tác giảEleanor Kirby and Shane Worner (2014) đưa ra một cái nhìn tổng quát về các hìnhthức gọi vốn cộng đồng, sau đó đi sâu phân tích các mô hình của hai loại hình gọivốn cộng đồng là cho vay ngang hàng và gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần Hai tác giảcũng đưa ra những lợi ích, rủi ro, xu hướng pháp luật điều chỉnh hoạt động của hailoại hình gọi vốn cộng đồng này trên thế giới

Báo cáo “Fintech in Asean: From Start-up to Scale-up” của UOB, PWC andSFA năm 2019, đã cho thấy sự phát triển của thị trường công nghệ tài chính ở khuvực Đông Nam Á nói chung và Việt Nam nói riêng

Báo cáo “e-Conomy SEA 2019” của Google, TEMASEK vàBAIN&COMPANY tổng hợp những bước phát triển của thị trường công nghệ tàichính Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam Báo cáo này phân tích những lợi thế vềđiều kiện phát triển tài chính toàn diện ở các quốc gia Đông Nam Á, cũng nhưnhững ưu thế của mỗi nhà cung cấp trên thị trường tài chính những năm tới

Thứ hai, tình hình nghiên cứu trong nước: Cũng tương tự như tình hình

nghiên cứu trên thế giới, hầu như không có nghiên cứu về những đặc điểm, đặc thùcủa công ty công nghệ tài chính để xác định công ty công nghệ tài chính là gì Cáctài liệu về trung gian thanh toán thường là một bộ phận của thanh toán không dùngtiền mặt, và cũng chỉ dừng lại ở mức nêu quy định mà không đưa ra những đặctrưng của hoạt động trung gian thanh toán, cũng như không phân tích, lý giải cácquy định này:

Trang 10

Bài nghiên cứu “Hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính ở Việt Nam” củatác giả Nguyễn Trung Anh phân tích, đánh giá sự phát triển của hệ sinh thái côngnghệ tài chính ở Việt Nam.

Bài nghiên cứu “Fintech - Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển củangành tài chính ngân hàng” của tác giả Nghiêm Thanh Sơn đưa ra những cơ hội vàthách thức đối với ngành ngân hàng, tác giả đánh giá sự phát triển của thị trườngcông nghệ tài chính, định hướng giải pháp điều chỉnh công nghệ tài chính bằngkhung pháp lý thử nghiệm

3 Mục đích nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, phân tích những hoạt động của công ty công nghệ tài chính, công

ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và những quy định củapháp luật hiện hành về hoạt động của cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán củacông ty công nghệ tài chính để đưa ra những đặc điểm của các đối tượng này

Thứ hai, phân tích những tác động của công ty công nghệ tài chính, tiềm

năng thị trường công nghệ tài chính và đặc thù trong hoạt động của công ty côngnghệ tài chính để khẳng định nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh cáccông ty công nghệ tài chính và đưa ra một số kinh nghiệm xây dựng giải pháp điềuchỉnh công ty công nghệ tài chính bằng khung pháp lý thử nghiệm

Thứ ba, phân tích, lý giải những quy định hiện hành về hoạt động cung ứng

dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tài chính để có một cái nhìnsâu sắc hơn về đối tượng này Và phân tích những quy định hiện hành về hoạt độngvận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính, kết hợp vớinhững đặc điểm nghiên cứu để đưa ra những kiến nghị xây dựng quy định điềuchỉnh

4 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu đề tài 4.1 Đối tượng nghiên cứu đề tài

Thứ nhất, hoạt động của các công ty công nghệ tài chính, hoạt động vận

hành nền tảng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính trên thực tế

Thứ hai, các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam về hoạt động cung

ứng dịch vụ trung gian thanh toán và hoạt động vận hành nền tảng gọi vốn cộngđồng của công ty công nghệ tài chính

4.2 Phạm vi nghiên cứu đề tài

Trang 11

Thứ nhất, về pháp luật Việt Nam: Phạm vi nghiên cứu của đề tài tập trung

vào các quy định về thành lập và hoạt động của doanh nghiệp trong LDN 2014; hoạtđộng ngân hàng trong Luật CTCTD 2010 (sđ, bs 2017); các quy định về trung gianthanh toán trong Luật NHNNVN, nghị định của Chính phủ về thanh toán khôngdùng tiền mặt và các quy định hướng dẫn về dịch vụ trung gian thanh toán Ngânhàng Nhà nước; các quy định về thương mại điện tử trong các Nghị định của ChínhPhủ, các văn bản hướng dẫn của Bộ công thương; các quy định về môi giới thươngmại trong Luật thương mại (Luật số 36/2005/QH11) ngày 14/6/2005

Thứ hai, về pháp luật nước ngoài: Phạm vi nghiên cứu là các quy định về

khung điều chỉnh pháp lý thử nghiệm của các quốc gia Singapore, Malaysia,Indonesia, Thái Lan, Hong Kong theo trên báo cáo tổng hợp của Baker&Mckenzie

về hướng dẫn xây dựng khung pháp lý thử nghiệm

5 Phương pháp tiến hành nghiên cứu

Khoá này được nghiên cứu theo các phương pháp nghiên cứu truyền thốngnhư phân tích, quy nạp và diễn dịch được thể hiện xuyên suốt qua các chương:

Chương 1: Tác giả đưa ra các đặc điểm của công ty công nghệ tài chính,công ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, công

ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng sau đó phân tích, diễngiải những đặc điểm đó Tiếp đến, tác giả phân tích, diễn giải các tác động, thựctrạng thị trường, đặc thù hoạt động của công ty công nghệ tài chính sau đó tổng hợpđặt ra vấn đề xây dựng khung pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính Cuốicùng, tác giả đưa ra các kinh nghiệm xây dựng khung pháp lý thử nghiệm rồi diễngiải những kinh nghiệm đó

Chương 2: Tác giả phân tích các quy định về trung gian thanh toán; phân tíchcác quy định có thể liên quan đến hoạt động gọi vốn cộng đồng để tổng hợp rút rakết luận

6 Bố cục tổng quát của khóa luận

Khóa luận bao gồm hai chương:

Chương 1: Khái quát về công ty công nghệ tài chính

Chương 2: Pháp luật điều chỉnh hoạt động trung gian thanh toán và hoạtđộng gọi vốn cộng đồng của công ty công nghệ tài chính, kiến nghị đối với hoạtđộng gọi vốn cộng đồng

Trang 12

CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ CÔNG TY CÔNG NGHỆ TÀI CHÍNH 1.1 Khái niệm công ty công nghệ tài chính

Công ty công nghệ tài chính là thuật ngữ được dịch ra từ tiếng Anh Trongtiếng Anh, có nhiều thuật ngữ tương ứng, trong đó phổ biến là “công ty công nghệtài chính” hoặc “công ty công nghệ tài chính firm”

Thuật ngữ công ty công nghệ tài chính được sử dụng rất phổ biến nhưngchưa được định nghĩa trong bất cứ văn bản quy phạm pháp luật nào Điều này cóthể lý giải bởi thành tố “công nghệ tài chính” cũng chưa được định nghĩa một cáchchính thống

Theo Hội đồng vì sự ổn định tài chính (FSB), “công ty công nghệ tài chính làcác công ty có mô hình kinh doanh tập trung vào công nghệ tài chính”1 Trong đó,

“công nghệ tài chính là các sáng tạo trong lĩnh vực tài chính dựa trên nền tảng côngnghệ có thể tạo ra các mô hình kinh doanh, ứng dụng, quy trình hay các sản phẩmmới có ảnh hưởng cụ thể đến việc cung cấp các dịch vụ tài chính”2

Theo Price Water House, thuật ngữ công ty công nghệ tài chính thường ámchỉ các công ty khởi nghiệp, công ty công nghệ, hay thậm chí là các nhà cung cấpnền tảng công nghệ3

Về định nghĩa công ty công nghệ tài chính, hai tác giả Cemal Karakas CarlaStamegna cho rằng thuật ngữ công ty công nghệ tài chính đề cập đến các công ty sửdụng hệ thống nền tảng công nghệ để cung cấp các dịch vụ tài chính và các sảnphẩm một cách trực tiếp hoặc làm cho hệ thống tài chính hiệu quả hơn4

Cho đến nay, có rất nhiều khái niệm về công ty công nghệ tài chính Nhìnchung các khái niệm này đều đề cập đến các công ty không phải là các tổ chức tín1

FSB (2019), Fintech and market structure in financial services: Market developments and potential

5

Trang 13

dụng truyền thống ứng dụng công nghệ trong lĩnh vực tài chính để cung cấp chokhách hàng các dịch vụ tài chính một cách hiệu quả hơn.

Công ty công nghệ tài chính là một khái niệm rất rộng, công ty công nghệ tàichính cung cấp các sản phẩm như gọi vốn cộng đồng (crowdfunding), ví điện tử (e-wallet), xếp hạng và đánh giá tín dụng (credit score), tiền tệ số (cryptocurrency),công nghệ bảo hiểm (insurtech), …Đề tài này chỉ tập trung nghiên cứu hai hoạtđộng là cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán và gọi vốn cộng đồng của công tycông nghệ tài chính

1.2 Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính

Hoạt động của các công ty công nghệ tài chính gắn liền hoạt động cung ứngcác sản phẩm công nghệ tài chính Các sản phẩm, dịch vụ công nghệ tài chính docông ty công nghệ tài chính cung cấp5:

Thứ nhất, lĩnh vực giải pháp thanh toán (payment solutions):

Ví điện tử (e-wallet): Là một loại tài khoản điện tử liên kết với tài khoảnngân hàng được sử dụng để thanh toán các giao dịch trực tuyến, gửi tiền và nhậntiền từ các ví điện tử khác Các tiện ích của ví điện tử khá giống với thẻ ghi nợ(debit card), thẻ tín dụng (credit card) như: thanh toán, chuyển tiền, nhận tiền

POS/mPOS (Point of sale, mobile Point of sale) là các thiết bị, máy chấpnhận thẻ tại điểm bán hàng cho phép khách hàng thanh toán bằng thẻ ngân hàngmột cách đơn giản, nhanh chóng

QR code (Quick Response code) là loại mã vạch hai chiều được sử dụng đểlưu trữ một địa chỉ web (URL) hoặc thông tin về một sản phẩm có thể đọc đượcbằng máy quét mã hoặc máy ảnh của điện thoại thông minh

Thứ hai, lĩnh vực cho vay và huy động vốn (Lending and fundraising):

Gọi vốn cộng đồng: Là việc sử dụng những khoản tiền nhỏ thu được từ một

số lượng lớn các cá nhân, tổ chức để tài trợ cho một dự án, cho vay kinh doanh/ cánhân, hoặc các nhu cầu tài chính khác thông qua một nền tảng dựa trên web trựctuyến6

5EY (2018), Asean Fintech Census, page No 16.

6Eleanor Kirby and Shane Worner (2014), Crowdfunding: An Industry Growing Fast, page No 08

https://www.iosco.org/research/pdf/swp/Crowd-funding-An-Infant-Industry-Growing-Fast.pdf

Trang 14

Cho vay ngang hàng (Peer to peer lending): Là một phương thức tài trợ chophép nhà đầu tư trực tiếp liên lạc, thỏa thuận cho vay với bên đi vay thông qua sựkết nối của công ty vận hành nền tảng gọi vốn mà không cần sự tham gia của một tổchức tài chính làm trung gian Cho vay ngang hàng cũng là một hình thức gọi vốncộng đồng Trong đó, công ty vận hành nền tảng cho vay ngang hàng đóng vai tròtrung gian kết nối bên vay và bên cho vay, đồng thời kiêm luôn nhiệm vụ chấmđiểm tín dụng của bên vay.

Thứ ba, lĩnh vực công nghệ chuỗi khối và tiền mã hoá:

Công nghệ chuỗi khối (Blockchain): Công nghệ chuỗi khối được hiểu nhưmột cuốn sổ cái kế toán công cộng được số hoá lưu trữ các thông tin giao dịch vàocác khối thông tin (block) liên kết với nhau bằng mã hoá7 tạo thành một chuỗi(chain) Chính vì các khối thông tin này liên kết với nhau nên khi muốn thay đổithông tin trong một khối thông tin thì phải thay đổi thông tin trong toàn bộ các khốithông tin còn lại đồng nghĩa với việc tất cả các thành viên trong mạng phải đồngthuận thay đổi thông tin trong các khối đó Điều này hầu như là không thể cho nênkhi một khối thông tin được thêm vào mạng nó không thể sửa đổi, bị làm giả haygian lận Thực chất các khối thông tin này có thể lưu trữ mọi loại dữ liệu chứ khôngchỉ các giao dịch tài chính, chính vì vậy mà công nghệ chuỗi khối đang được ứngdụng trong rất nhiều lĩnh vực chứ không chỉ lĩnh vực tài chính Ứng dụng đầu tiêncủa công nghệ chuỗi khối là tiền mã hoá (Blockchain 1.0), tiếp theo đó là hợp đồngthông minh (Smart contract - Blockchain 2.0) cho phép thực hiện giao dịch tự độnggiữa các bên tham gia hợp đồng Với tính năng của công nghệ chuỗi khối, việc ứngdụng công nghệ này vào hoạt động ngân hàng cho phép lưu trữ và đảm bảo an toànđối với dữ liệu của khách hàng, chống gian lận, các ngân hàng sẽ không cần đến sốlượng lớn nhân sự để vận hành hoạt động của mình, giảm được chi phí cố định

Tiền mã hoá (Cryptocurrency): Tiền mã hoá được tạo ra bằng các thuật toánphức tạp trên nền tảng phần mềm mã nguồn mở Những tính chất đặc trưng của tiền mãhoá là: (i) Tính kỹ thuật số: Tiền mã hóa chỉ tồn tại trên máy tính, không có các đồng

xu (coins) hay giấy ghi nợ (notes) nào (ii) Phi tập trung: Tiền mã hoá được phân bốtrên một mạng lưới phi tập trung, mạng lưới với (thường là) hàng ngàn máy tính màkhông có máy chủ trung tâm, điều này đồng nghĩa với việc không một chủ thể nào cóquyền kiểm soát tiền mã hoá Điều này lý giải tại sao tiền mã hoá không

7 Mã hoá của một khối thông tin bao gồm cả địa chỉ của khối thông tin đó và các khối thông tin trước đó.

“Blockchain là gì? Các ứng dụng liên quan đến blockchain”, la-

gi/#blockchain-la-gi , truy cập 06/6/2020.

Trang 15

chịu sự quản lý của bất kỳ ngân hàng trung ương nào (iii) Tính ngang hàng: Tínhngang hàng ở đây dùng để miêu tả mối quan hệ giữa những người sử dụng một loạitiền mã hoá (các thành viên) Khi một giao dịch được gửi đến mạng của đồng tiền

mã hoá, mọi thành viên đều xử lý nó giống nhau8 Ngoài ra, tính ngang hàng còn cónghĩa là tiền mã hoá có thể được chuyển trực tuyến giữa các thành viên mà khôngcần đến cột bên thứ ba đáng tin cậy như ngân hàng (iv) Tính ẩn danh: Người dùngkhông cần phải cung cấp thông tin cá nhân để sở hữu hay sử dụng tiền mã hoá (v)Được mã hoá: Mỗi người dùng có các mã đặc biệt ngăn chặn thông tin của họ bịngười dùng khác truy cập được gọi là mật mã (crypto) và nó gần như không thểhack được (vi) Tính toàn cầu: Khác với tiền pháp định, tiền mã hoá có thể đượcchuyển đi khắp toàn cầu với thời gian nhanh chóng và chi phí thấp, nó là tiền tệkhông biên giới9 Hiện này, có hơn 5500 loại tiền mã hoá đang được giao dịch trêncác sàn giao dịch tiền mã hoá Trong đó, Bitcoin là đồng tiền mã hoá đầu tiên vàvẫn giữ vị trí thống trị thị trường tiền mã hoá với hơn 64% giá trị vốn hoá thịtrường10 Các loại tiền mã hoá khác ra đời sau sự thành công của Bitcoin được gọi

là altcoin (Alternative coin), các loại tiền này thường thể hiện rằng chúng là sự thaythế tốt hơn cho bitcoin, nhiều altcoin tập trung vào những điểm bị coi là hạn chế củabitcoin và cho ra đời những phiên bản mới hơn với các lợi thế cạnh tranh11 Một sốaltcoin như Ethereum, Tether, XRP, Bitcoin Cash, Bitcoin SV, Litecoin,

Thứ tư, lĩnh vực dữ liệu và hạ tầng cơ sở:

Các trang web so sánh (comparison sites): Các trang web này cung cấpnhững thông tin về các dịch vụ tài chính như so sánh về giá cả, tính chất, xếp hạngchất lượng, Những thông tin này góp phần giúp khách hàng đưa ra quyết địnhphù hợp với khả năng cũng như nhu cầu tài chính của mình

Ứng dụng dữ liệu lớn (Big data): Dữ liệu lớn có được từ việc thu thập thôngtin khách hàng thông qua các lần truy cập trang web, nó cho phép phân tích những

sở thích, yêu cầu của người dùng từ đó đưa ra những gợi ý sản phẩm phù hợp vớikhách hàng từ đó cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng

API (Application Programming Interface): API được tạm dịch là giao diệnlập trình ứng dụng, “giao diện” ở đây là cách mà các phần mềm (ứng dụng, hệ điều

8Andreas M Antonopoulos (2018), Internet của tiền tệ, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, tr 36.

9“What is Cryptocurrency? Your Complete Crypto ABC”, cryptocurrency/#What_is_Blockchain , truy cập ngày 07/6/2020.

https://www.bitdegree.org/tutorials/what-is-10 Số liệu tại https://coinmarketcap.com/, truy cập 08/6/2020.

11 Andreas M Antonopoulos (2018), tlđd (9), tr 25.

Trang 16

hành, ) giao tiếp với nhau và tận dụng năng lực của nhau Các phần mềm cần tậndụng năng lực của nhau bởi môi trường điện toán cần nhiều phần mềm12, để tạo ramột trải nghiệm số chẳng hạn như ứng dụng di động ngân hàng số thì các phầnmềm phải giao tiếp với nhau API cho phép các bên thứ ba giúp ngân hàng tạo nêncác trải nghiệm số (các ứng dụng, các tính năng định danh, ) từ dữ liệu mà ngânhàng chia sẻ.

Thứ năm, các lĩnh vực công nghệ tài chính khác: Lĩnh vực bảo hiểm với

công nghệ bảo hiểm (Insurance technology - Insurtech); lĩnh vực quản lý tài chínhvới quản lý tài sản (wealth management), quản lý tài chính cá nhân (personalfinance);…

1.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính

1.3.1 Đặc điểm chung của công ty công nghệ tài chính

Thứ nhất, công ty công nghệ tài chính là doanh nghiệp Theo đó, công ty

công nghệ tài chính là một tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở, được thành lậptheo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh

Tên của công ty công nghệ tài chính do người sáng lập quyết định và phảithoả mãn một số yêu cầu nhất định về đặt tên doanh nghiệp, cụ thể: Tên công tycông nghệ tài chính phải được viết bằng tiếng Việt và không thuộc các trường hợp

bị pháp luật cấm

+ Tên tiếng Việt của công ty công nghệ tài chính phải có hai thành tố: (i)Loại hình doanh nghiệp; (ii) Tên riêng Trong đó loại hình doanh nghiệp là mộttrong bốn loại hình doanh nghiệp, gồm: Doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần Tên riêng của công ty công nghệ tàichính chỉ cần được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái tiếng Việt, các chữ F,

J, Z, W, chữ số và ký hiệu mà không cần xác định có ý nghĩa hay không

+ Có ba trường hợp bị cấm trong đặt tên doanh nghiệp mà công ty công nghệtài chính phải tuân thủ:

(i) Tên của công ty công nghệ tài chính không được trùng hoặc gây nhầmlẫn với tên các doanh nghiệp khác Nếu tên của công ty công nghệ tài chính đăng kýtrùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của doanh nghiệp đã đăng ký trước đó thì sẽ bị từchối Ngược lại, một doanh nghiệp đăng ký tên trùng hoặc gây nhầm lẫn với tên của

12“Giải ngố về API: Tại sao nói API có ý nghĩa sống còn với cả thế giới điện toán”, pha/giai-ngo-ve-api-vi-sao-noi-api-co-y-nghia-song-con-voi-ca-the-gioi-dien-toan-20160403144419703.chn ,

https://genk.vn/kham-truy cập 06/6/2020.

Trang 17

công ty công nghệ tài chính đã đăng ký với cơ quan đăng ký kinh doanh (bất kể cókinh doanh trong cùng lĩnh vực và khu vực kinh doanh hay không) thì doanh nghiệpđang đăng ký tên vi phạm đó sẽ bị từ chối Điều này đồng nghĩa với việc tên công tycông nghệ tài chính được bảo hộ một cách tự động Tức là cơ quan đăng ký kinhdoanh đã rà soát vi phạm ngay từ thời điểm đăng ký thành lập doanh nghiệp màkhông cần doanh nghiệp bị vi phạm khiếu nại Cơ chế bảo hộ tên doanh nghiệp củapháp luật doanh nghiệp xuất phát từ mục đích bảo vệ những chủ thể chân chính,tránh hành vi trục lợi “ăn theo” tên các doanh nghiệp đã thành danh.

(ii) Tên của công ty công nghệ tài chính không sử dụng từ ngữ, ký hiệu viphạm truyền thống lịch sử, văn hoá, đạo đức và thuần phong mỹ tục của dân tộc.Tiêu chí này được xác định theo hướng dẫn của Bộ văn hoá, thể thao và du lịch

(iii) Công ty công nghệ tài chính không được sử dụng tên cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân, tên của tổ chức chính trị - xã hội,

Công ty công nghệ tài chính có tài sản Tài sản của công ty công nghệ tài chính được hình thành dựa trên ba nguồn:

+ Tài sản do các thành viên, cổ đông đầu tư vào doanh nghiệp (gọi chung là nhà đầu tư)

+ Tài sản do doanh nghiệp huy động

+ Tài sản do doanh nghiệp tạo lập nên trong quá trình hoạt động Tại thờiđiểm công ty công nghệ tài chính được thành lập, chỉ có một nguồn tài sản duy nhất

là từ các nhà đầu tư nên tài sản của công ty công nghệ tài chính vào thời điểm nàychính là vốn điều lệ của công ty công nghệ tài chính

Công ty công nghệ tài chính có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theoquy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh Trụ sở giao dịch là địa điểm liênlạc của công ty công nghệ tài chính trên lãnh thổ Việt Nam còn mục đích kinhdoanh là mục đích tìm kiếm lợi nhuận hợp pháp13

Thứ hai, công ty công nghệ tài chính không phải là tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạtđộng ngân hàng Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyênmột hoặc một số nghiệp vụ nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toánqua tài khoản Trong đó, nhận tiền gửi là hoạt động nhận tiền nhàn rỗi từ các cá

13 Phạm Hoài Huấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình

(2016), Luật doanh nghiệp Việt Nam Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, tr

12 - 25.

Trang 18

nhân, tổ chức Thực chất, đây là một hoạt động cho vay với chủ nợ là cá nhân, tổchức gửi tiền còn tổ chức tín dụng nhận tiền gửi là bên vay Quan hệ cho vay nàydẫn đến hệ quả là tổ chức tín dụng có quyền sở hữu tiền gửi bao gồm quyền chiếmhữu, sử dụng, định đoạt tiền gửi Cấp tín dụng là việc sử dụng vốn huy động được

để cho các cá nhân, tổ chức vay Các đặc điểm của các hoạt động nhận tiền gửi vàcấp tín dụng: (i) Tiền là đối tượng duy nhất của các giao dịch (ii) Người gửi tiềnnhận được toàn bộ tiền gốc và tiền lãi phát sinh từ tiền gốc (iii) Tổ chức tín dụng

có quyền quyết định việc sử dụng tiền của người gửi tiền (cho ai vay, cho vay vớiđiều kiện gì,…) miễn là người gửi tiền nhận lại được cả tiền gốc và lãi phát sinh từtiền gốc Cung ứng dịch vụ thanh toán là việc thực hiện ghi có và ghi nợ vào tàikhoản thanh toán của khách hàng mở tại tổ chức tín dụng Các hoạt động của công

ty công nghệ tài chính nêu trên không đáp ứng những đặc điểm của hoạt động ngânhàng, chúng không phải là hoạt động ngân hàng Do đó, công ty công nghệ tài chínhkhông phải là tổ chức tín dụng

Trong xu thế công nghệ bùng nổ, tác động đến hầu như mọi ngóc ngách củađời sống Các tổ chức tín dụng cũng không ngừng nâng cao hoạt động của mìnhbằng ứng dụng công nghệ thông tin Các hoạt động của một tổ chức tín dụng gồmhoạt động ngân hàng và các hoạt động khác Một tổ chức tín dụng có thể cung ứngsản phẩm công nghệ tài chính (ví dụ như ví điện tử) nhưng điều đó không đồngnghĩa với việc nó là một công ty công nghệ tài chính Bởi hoạt động chính của một

tổ chức tín dụng là hoạt động ngân hàng, việc cung cấp sản phẩm công nghệ tàichính là “hoạt động khác”, mang tính phụ trợ Hoạt động cung cấp sản phẩm côngnghệ tài chính của một tổ chức tín dụng đó được gọi là ứng dụng công nghệ thôngtin trong hoạt động tài chính

Thứ ba, người dùng cuối mà hướng tới là các tổ chức tài chính truyền thống

và khách hàng

Nếu như ngành tài chính truyền thống chỉ có hai chủ thể là các tổ chức tàichính và khách hàng (các tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ tài chính) thì nay cóthêm một chủ thể khác tham gia là các công ty công nghệ tài chính Những dịch vụ

mà công ty công nghệ tài chính cung cấp hướng tới người dùng cuối là khách hàng

và các tổ chức tài chính Hai nhóm người dùng cuối mà công ty công nghệ tài chínhhướng tới này làm hình thành hai nhóm công ty công nghệ tài chính:

+ Nhóm công ty công nghệ tài chính độc lập: Nhóm này gồm các công ty ứngdụng công nghệ tạo ra các dịch vụ tài chính mới, và cung cấp trực tiếp các dịch vụ đócho khách hàng Nhóm các công ty này cung cấp các dịch vụ ở hầu hết các lĩnh

Trang 19

vực tài chính truyền thống như thanh toán, cho vay, huy động vốn, quản lý tài sản, huy động vốn, đánh giá tín dụng, bảo hiểm14.

+ Nhóm các công ty công nghệ tài chính hỗ trợ công nghệ: Nhóm này gồmcác công ty công nghệ tài chính đóng vai trò hỗ trợ công nghệ cho các tổ chức tàichính truyền thống Nhóm các công ty này tạo ra sự đổi mới cho các dịch vụ tàichính nhưng không cung cấp trực tiếp dịch vụ đó cho khách hàng mà thông quađịnh chế tài chính truyền thống Sự hợp tác này mang đến cho khách hàng nhữngdịch vụ tài chính hiệu quả hơn, tiết kiệm hơn

Thứ tư, công ty công nghệ tài chính cung cấp sản phẩm, dịch vụ công nghệ

tài chính tài chính: Dịch vụ công nghệ tài chính là đặc trưng của các công ty côngnghệ tài chính Những dịch vụ công nghệ tài chính được nêu tại mục 1.2

1.3.2 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Thứ nhất, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh

toán được thành lập theo một trong ba loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần,công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh

Một trong những điều kiện cung ứng và duy trì dịch vụ trung gian thanh toán

là vốn điều lệ tối thiểu (vốn pháp định) Vốn điều lệ là tổng giá trị tài sản do cácthành viên đã góp hoặc cam kết góp khi thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty hợp danh; là tổng giá trị mệnh giá cổ phần đã bán hoặc đã được đăng kýmua khi thành lập doanh nghiệp đối với công ty cổ phần Điều này có nghĩa là công

ty công nghệ tài chính được thành lập theo một trong ba loại hình doanh nghiệp cóvốn điều lệ là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh thìmới có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Công ty công nghệ tài chính phải được thành lập theo một trong ba loại hìnhdoanh nghiệp trên mới có thể cung ứng dịch vụ trun gian thanh toán vì:

+ Cả ba loại hình doanh nghiệp công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữuhạn, công ty hợp danh đều có tư cách pháp nhân Việc quy định doanh nghiệp có tưcách pháp nhân cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán sẽ loại bỏ những rủi ro liênquan đến nhân thân người bỏ vốn thành lập ra doanh nghiệp (chẳng hạn như cánhân chết)

14

Fintechnews Vietnam (2019), “Fintech Vietnam Startup Map 2019”, fintech-startups/ , truy cập 11/6/2019.

Trang 20

https://fintechnews.sg/vietnam-+ Bản thân trung gian thanh toán là một lĩnh vực “đòi hỏi trách nhiệm tài sản

của doanh nghiệp cao”15 Điều này có nghĩa là doanh nghiệp phải đảm bảo khả năng trả

nợ khi rủi ro xảy ra Trong khi đó, vốn điều lệ là một nguồn tài sản của công ty, vàothời điểm doanh nghiệp được thành lập vốn điều lệ chính là tài sản của công ty “Bảnchất của vốn điều lệ của công ty là yếu tố bảo đảm cho các bên thứ ba trong

giao dịch với công ty Khi xảy ra rủi ro, công ty phải lấy tài sản của mình ra để trảnợ”16 Cho nên mục đích quy định doanh nghiệp có vốn điều lệ tối thiểu nhằm đáp ứng yêu cầu về khả năng trả nợ của doanh nghiệp

Doanh nghiệp tư nhân không thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán vì:+ Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân Điều này đồng nghĩavới việc hoạt động của doanh nghiệp tư nhân gắn liền với nhân thân của chủ doanhnghiệp tư nhân Những biến cố gắn với cá nhân (chẳng hạn như cá nhân chết) thìkhông thể lường trước được Trong khi trung gian thanh toán là hoạt động có liênquan đến hoạt động ngân hàng, một ngành dịch vụ có vai trò quan trọng trong nềnkinh tế quốc gia nên loại bỏ rủi ro ngay từ khi công ty trung gian thanh toán đượcthành lập bằng cách loại trừ loại hình doanh nghiệp tư nhân là hợp lý

+ Tài sản của doanh nghiệp tư nhân không tách bạch với tài sản của chủdoanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp tư nhân không có vốn điều lệ chỉ có vốn đầu

tư của chủ doanh nghiệp tư nhân Pháp luật rất khó để kiểm soát được tài chính củamột cá nhân nên việc cho phép doanh nghiệp tư nhân cung ứng dịch vụ trung gianthanh toán sẽ mang lại những rủi ro về khả năng trả nợ khi rủi ro xảy ra

Như vậy, một công ty công nghệ tài chính phải thành lập theo một trong bahình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợpdanh thì mới có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Thứ hai, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

là doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề có điều kiện17

Hoạt động trung gian thanh toán chịu sự quản lý của Ngân hàng Nhà nước18,một doanh nghiệp phải được Ngân hàng Nhà nước chấp thuận thì mới có thể cungứng dịch vụ trung gian thanh toán

15 Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản

Trang 21

Trung gian thanh toán không phải là một hoạt động ngân hàng nhưng vẫn chịu sự điều chỉnh của pháp luật ngân hàng Điều này có thể lý giải bởi:

+ Một trong những nhóm quan hệ xã hội chịu sự điều chỉnh của pháp luậtngân hàng là các hoạt động liên quan đến hoạt động ngân hàng của các tổ chức tíndụng Hoạt động ngân hàng bao gồm: (i) Nhận tiền gửi; (ii) Cấp tín dụng; (iii) Cungứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản19

+ Trung gian thanh toán là hoạt động làm trung gian kết nối, truyền dẫn và xử

lý dữ liệu điện tử các giao dịch thanh toán giữa tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán

và người sử dụng dịch vụ thanh toán20 Hay nói cách khác trung gian thanh toánchính đóng vai trò hỗ trợ cho dịch vụ thanh toán, dịch vụ thanh toán ở đây bao gồmdịch vụ thanh toán qua tài khoản - một hoạt động ngân hàng Như vậy, trung gianthanh toán là một hoạt động có có liên quan đến hoạt động ngân hàng Điều đó đồngnghĩa với việc hoạt động trung gian thanh toán thuộc phạm vi điều chỉnh của phápluật ngân hàng

Bên cạnh đó, cũng xuất phát từ vai trò hỗ trợ cho dịch vụ thanh toán, hoạtđộng trung gian thanh toán có khả năng ảnh hưởng đến an ninh tiền tệ quốc gia, trật

tự hoạt động ngân hàng và lợi ích của khách hàng Điều này lý giải tại sao các chủthể phải đáp ứng những điều kiện nhất định khi thực hiện hoạt động này

Những điều kiện mà một công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán phải đáp ứng như vốn pháp định, nhân sự, hạ tầng cơ sở,

Không phải doanh nghiệp nào đăng ký cung ứng dịch vụ trung gian thanhtoán đều được chấp thuận mà tùy từng trường hợp cụ thể (case by case), Ngân hàngNhà nước xét cấp Giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán hay không.Tính đến ngày 05/5/2020, trong tổng số khoảng 150 công ty công nghệ tài chínhhoạt động ở Việt Nam có 34 tổ chức không phải là Ngân hàng được Ngân hàngNhà nước đã cấp Giấy phép hoạt động cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

Thứ ba, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán

có thể cung cấp một hoặc nhiều dịch vụ trung gian thanh toán

Dịch vụ trung gian thanh toán được chia thành hai nhóm: Nhóm thứ nhất làdịch vụ cung ứng hạ tầng thanh toán điện tử, gồm: Dịch vụ chuyển mạch tài chính;Dịch vụ bù trừ điện tử; và Dịch vụ cổng thanh toán điện tử Nhóm thứ hai là Dịch

18 Khoản 3 Điều 5 Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt.

19 Khoản 12 Điều 4 Luật CTCTD 2010 (sđ, bs 2017).

20 Khoản 10 Điều 6 Luật NHNNVN 2010.

Trang 22

vụ hỗ trợ dịch vụ thanh toán, gồm: Dịch vụ hỗ trợ thu hộ, chi hộ; Dịch vụ hỗ trợchuyển tiền điện tử; Dịch vụ ví điện tử21 Dịch vụ thanh toán không được địnhnghĩa nhưng được liệt kê như sau: (i) Dịch vụ thanh toán qua tài khoản thanh toáncủa khách hàng gồm: cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanhtoán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tíndụng, chuyển tiền, thu hộ, chi hộ; các dịch vụ thanh toán khác (ii) Dịch vụ thanhtoán không qua tài khoản thanh toán của khách hàng gồm: Dịch vụ chuyển tiền, thu

hộ, chi hộ

Công ty công nghệ tài chính có thể đăng ký một hoặc nhiều dịch vụ trunggian thanh toán trong các dịch vụ trong các dịch vụ nêu trên Tuy nhiên, như đã nêutrên việc cấp Giấy phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán với phạm vi cungứng dịch vụ trung gian như thế nào sẽ do Ngân hàng nhà nước xét duyệt

Phạm vi cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán của công ty công nghệ tàichính cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán rộng hơn so với nhóm tổ chức cungứng dịch vụ trung gian thanh toán là ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàngnước ngoài Cụ thể, công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch vụ trung gian thanhtoán có thể cung ứng nhiều dịch vụ trung gian thanh toán thì ngân hàng thương mại,chi nhánh ngân hàng nước ngoài chỉ được cung cấp duy nhất một dịch vụ trunggian thanh toán là dịch vụ ví điện tử22 Điều này cho thấy sự chuyên môn hoá trongquá trình cung ứng dịch vụ thanh toán: Công ty công nghệ tài chính cung ứng dịch

vụ trung gian thanh toán có hoạt động chủ yếu là cung cấp dịch vụ trung gian thanhtoán còn Ngân hàng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cung cấp dịch vụ thanh toán

là chính Sự chuyên môn hoá này sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của quy trìnhthanh toán

21 Việc phân loại này có ý nghĩa pháp lý trong việc xác định quyền và nghĩa vụ của từng nhóm.

22 Điểm b khoản 1 Điều 1 Nghị định số 80/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 sửa đổi, bổ sung một số Điều của Nghị định số 101/2012/NĐ-CP ngày 22/11/2012 về thanh toán không dùng tiền mặt.

Bản chất của ví điện tử là lưu trữ giá trị tiền thật dưới hình thức điện tử, mỗi ví điện tử phải liên kết với một tài khoản ngân hàng mà tài khoản ngân hàng là do ngân hàng cung cấp nên việc ngân hàng vừa mở tài khoản ngân hàng vừa cung cấp dịch vụ ví điện tử là hợp lý.

Trong ba loại hình ngân hàng: ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã những chỉ

có ngân hàng thương mại có thể cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán vì tính chất và mục tiêu hoạt động của các loại hình ngân hàng này Theo đó, ngân hàng thương mại hoạt động vì mục đích lợi nhuận, ngân hàng chính sách hoạt động vì mục tiêu thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội của Nhà nước còn ngân hàng hợp tác xã hoạt động vì mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.

Trang 23

1.3.3 Đặc điểm của công ty công nghệ tài chính gọi vốn cộng đồng

Ngoài đặc điểm chung của các hoạt động gọi vốn cộng đồng của công tycông nghệ tài chính, mục này còn đề cập đến mô hình kinh doanh của công ty côngnghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng

Gọi vốn cộng đồng có 4 hình thức cơ bản23:

+ Gọi vốn cộng đồng quyên góp (Donation-based crowdfunding)24: Nhà tàitrợ quyên góp tiền cho dự án hoặc người thụ hưởng mà không nhất thiết nhận lạihàng hóa hay dịch vụ Hình thức gọi vốn này được sử dụng chủ yếu trong lĩnh vựcphi lợi nhuận vì nhiều mục đích khác nhau (xã hội, môi trường, chính trị, từ thiện)

+ Gọi vốn cộng đồng nhận phần thưởng (Reward-based crowdfunding)25:nhà tài trợ đóng góp cho các chiến dịch để đổi lấy phần thưởng là hàng hóa haydịch vụ vật chất hoặc phi vật chất (chữ ký của nghệ sĩ, đề cập tên của nhà tài trợ, áophông, phiếu giảm giá sử dụng hàng hoá, dịch vụ của chính dự án gọi vốn,…)tương ứng với mỗi cấp độ đóng góp;

+ Cho vay ngang hàng (Peer-to-peer Lending)26: nhà đầu tư trực tiếp liên lạc,thỏa thuận cho vay với bên đi vay thông qua sự kết nối của công ty vận hành nềntảng gọi vốn;

+ Gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần (Equity-based crowdfunding)27: nhà đầu tưđầu tư một khoản tiền vào một doanh nghiệp mới để đổi lấy cổ phần/ phần vốn gópcủa doanh nghiệp đó, giống như mua cổ phần/ phần vốn góp

Có thể rút ra đặc điểm của hoạt động gọi vốn cộng đồng như sau:

+ Đối tượng của giao dịch là tiền, hàng hoá, dịch vụ

+ Nhà đầu tư tự đánh giá và quyết định đầu tư cho các cá nhân/ công ty khởinghiệp/ dự án cụ thể, nhà đầu tư quản lý và kiểm soát cách sử dụng tiền của họ Cáccông ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng chỉ là bên thứ bacung cấp nền tảng để kết nối giữa các nhà đầu tư và khởi nghiệp

23 Eleanor Kirby and Shane Worner (2014), tlđd (7), page No 8.

24 Tính đến tháng 5 năm 2019, Kindmate là nền tảng gọi vốn cộng đồng quyên góp duy nhất ở Việt Nam Nguyễn Trung Anh (2019), “Hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính ở Việt Nam”, Hình 1,

http://tapchinganhang.gov.vn/he-sinh-thai-công ty công nghệ tài chính-tai-viet-nam.htm , truy cập 02/3/2020

25 Tính đến tháng 5 năm 2019, Việt Nam có sáu nền tảng gọi vốn cộng đồng nhận phần thưởng: Firstep,

Fundme.vn, Fundstart, Comicola, Betado, Funding.vn.

Nguyễn Trung Anh (2019), tlđd (23).

26 Cho vay ngang hàng còn có tên gọi khác là gọi vốn cộng đồng cho vay (Lending - based

crowdfunding).

27 Việt Nam chưa có nền tảng gọi vốn cộng đồng lấy cổ phần nào Điều này có thể lý giải bởi pháp luật Việt Nam chưa đủ phát triển để tiếp cận mô hình này.

Trang 24

Mô hình kinh doanh của công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng chovay ngang hàng: Cho vay ngang hàng được sử dụng để cho vay với nhiều mục đíchkhác nhau từ tiêu dùng cá nhân cho đến cho vay kinh doanh Mô hình kinh doanhcủa công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng rất đa dạng,tùy thuộc vào hệ thống các quy định điều chỉnh hoạt động này cũng như cácnguyên tắc hoạt động của chính nền tảng cho vay ngang hàng Các công ty côngnghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng hoạt động theo các mô hìnhkinh doanh chính sau:

+ Mô hình tài khoản khách hàng tách riêng (Client segregated accountmodel): Bên vay cá nhân sẽ được kết hợp với bên vay cá nhân thông qua nền tảngcho vay ngang hàng, một hợp đồng vay sẽ được giao kết bởi bên vay Công ty côngnghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng không phải là một bên củahợp đồng vay này Bên cho vay có thể cho vay một phần hoặc toàn bộ khoản vay.Toàn bộ tiền từ bên vay và bên cho vay được tách biệt khỏi bảng cân đối kế toáncủa công ty vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng và được giữ ở một tài khoảnkhách hàng tách riêng hợp pháp28 Công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảngcho vay ngang hàng sẽ thu phí từ một hoặc cả hai bên cho vay và bên vay Đối vớibên cho vay, các phí này có thể là phí quản lý, phí đánh giá khả năng trả nợ của bênvay, Đối với bên vay, các phí này có thể là phí khởi tạo, phí quản lý

+ Mô hình công chứng (Notary model): Mô hình này cũng tương tự như các

mô hình cho vay ngang hàng khác, trong đó công ty vận hành nền tảng gọi vốncộng đồng đóng vai trò kết nối bên vay và bên cho vay, bên cho vay lựa chọn chovay một phần hoặc toàn bộ khoản vay Nhưng khác biệt là mô hình này ngoài bêncho vay và bên vay còn có sự tham gia của ngân hàng Trong đó, ngân hàng sẽ chobên vay vay sau đó chính ngân hàng sẽ khởi tạo khoản vay trên nền tảng cho vayngang hàng Công ty công nghệ tài chính vận hành nền tảng cho vay ngang hàng sẽphát hành cho bên cho vay một phiếu ghi chú (được gọi là công chứng, phiếu ghichú này thay cho hợp đồng vay) ghi nhận số tiền mà bên cho vay đầu tư29 Theo đó,rủi ro không hoàn trả khoản vay sẽ chuyển sang bên cho vay mà không phải là ngânhàng Các loại phí của mô hình cho vay ngang hàng này giống với phí của mô hìnhtài khoản khách hàng tách riêng

28 Tài khoản khách hàng tách riêng là tài khoản dùng để giữ tiền của khách hàng (bên cho vay và bên vay) tách biệt với tiền của công ty Công ty sẽ mở hai tài khoản ngân hàng, một tài khoản giữ tiền của công ty và một tài khoản giữ tiền của khách hàng Tài khoản tách riêng này sẽ bảo vệ khách hàng trước các rủi ro từ công ty vận hành nền tảng gọi vốn cộng đồng như sập nền tảng cho vay ngang hàng hay công ty sử dụng tiền của khách hàng vào hoạt động kinh doanh của công ty,

29 Pháp luật của nhiều nước xem đây là một loại chứng khoán.

Trang 25

+ Mô hình đảm bảo hoàn trả (“Guaranteed” return model)30: Mô hình nàycho phép bên cho vay đầu tư vào các khoản vay ngang hàng thông qua nền tảng chovay ngang hàng với một tỷ lệ hoàn vốn đầu tư được đảm bảo bởi công ty vận hànhnền tảng cho vay ngang hàng Một biến thể của mô hình này là mô hình cho vayđảm bảo hoàn trả ngoại tuyến (Offline Guaranteed Return Model) Khía cạnh ngoạituyến ở đây đề cập đến việc nhân sự của công ty cho vay ngang hàng mời chào vàđánh giá khả năng trả nợ của người vay trực tiếp (face to face) Mô hình này rất phổbiến ở Trung Quốc cho đến khi lệnh cấm mô hình này được ban hành gần đây31.

Cho vay ngang hàng là hình thức gọi vốn cộng đồng phát triển nhất trong cáchình thức gọi vốn cộng đồng ở Việt Nam với khoảng 40 công ty đang hoạt động32

Mô hình cho vay ngang hàng của Việt Nam hiện nay có những điểm tương đồngcũng như những điểm riêng: Công ty cho vay ngang hàng đóng vai trò là bên trunggian kết nối bên cho vay và bên vay, bên vay có thể lựa chọn mức cho vay - toàn bộhay một phần của khoản vay Bên vay và bên cho vay tự thỏa thuận các điều khoảncủa hợp đồng vay, công ty cho vay ngang hàng không phải là một bên của hợp đồngcho vay và cũng không giữ bất kỳ khoản tiền nào của bên cho vay và bên vay Một

số công ty cho vay ngang hàng tính phí đối với bên cho vay, bên vay một số khácthì không

1.4 Nhu cầu xây dựng hành lang pháp lý điều chỉnh công ty công nghệ tài chính

1.4.1 Tác động của công ty công nghệ tài chính đến nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng

Như đã đề cập trên, thị trường tài chính thay vì chỉ có hai chủ thể là các tổchức tài chính và khách hàng thì nay có thêm sự tham gia của các công ty công nghệtài chính Công ty công nghệ tài chính mang lại những tác động tích cực và hàmchứa cả những rủi ro cho nền kinh tế nói chung và thị trường tài chính nói riêng

1.1.1.1 Những tác động tích cực

30 Công ty cho vay ngang hàng trong trường hợp này đóng vai trò như một bên bảo lãnh cho bên vay, phạm

vi bảo lãnh chỉ là một phần của khoản vay, khi bên vay không thể

31 Eleanor Kirby and Shane Worner (2014), tlđd (7), page No 16 - 19.

32 Nghiêm Thanh Sơn (2020), “Nuôi dưỡng hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính Việt Nam”,

https://doimoisangtao.vn/news/nui-dng-h-sinh-thi-công ty công nghệ tài chính-vit-nam , truy cập 02/02/2020.

18

Trang 26

Thứ nhất, các dịch vụ công nghệ tài chính thúc đẩy xu hướng đầu tư thay vì

tiết kiệm và nâng cao hiệu quả đầu tư của khách hàng33

Sự phong phú các loại sản phẩm công nghệ tài chính, sự đa dạng trong lựachọn mức vốn đầu tư kích thích nhu cầu đầu tư sinh lời thay vì tiết kiệm của kháchhàng Nguồn vốn nhàn rỗi của khách hàng dù lớn hay nhỏ vẫn có thể đem đầu tư,điều này tận dụng tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế, góp phần sử dụngđồng tiền hiệu quả hơn, tạo ra nhiều giá trị hơn34

Sự xuất hiện của các sản phẩm công nghệ tài chính đơn giản, hiệu quả, tiếtkiệm, nhanh chóng góp phần nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư Sự đa dạngtrong lựa chọn kênh đầu tư sẽ góp phần giúp khách hàng phân tán rủi ro đầu tư.Đồng thời các dịch vụ tư vấn đầu tư, các giải pháp so sánh thông tin sản phẩm tàichính, phân tích dữ liệu tài chính sẽ giúp cho khách hàng nâng cao hiểu biết về tàichính, có cái nhìn đa chiều, góp phần giúp khách hàng đưa ra những quyết định đầu

tư phù hợp35

Thứ hai, hoạt động của các công ty công nghệ tài chính đẩy nhanh quá trình

đạt được mục tiêu tài chính toàn diện36 Các dịch vụ công ty công nghệ tài chínhđược xây dựng và phát triển trên nền tảng công nghệ thông tin và dữ liệu mạnh mẽkhông phụ thuộc vào các cơ sở phân phối vật lý như chi nhánh hay phòng giao dịchtạo nên lợi thế tiếp cận khách hàng không kể phạm vi địa lý Bất kể khách hàng sinhsống ở nông thôn hay thành thị, vùng sâu vùng xa, biên giới hải đảo, giờ đây chỉ vớichiếc điện thoại thông minh và kết nối internet, mọi khách hàng đều có thể sử dụngcác dịch vụ tài chính hiệu quả, nhanh chóng Cũng chính bởi lợi thế công nghệ,công ty công nghệ tài chính cung cấp những dịch vụ tài chính với giá cả phải chăngphù hợp với túi tiền của người có thu nhập thấp

33 Phạm Văn Hiếu (2019), “Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính”,

nam-314938.html , truy cập 05/6/2020.

http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-thi-truong-dich-vu-tai-chinh-viet-34 Phạm Văn Hiếu (2019), tlđd.

35 Phạm Văn Hiếu (2019), tlđd.

36 “Tài chính toàn diện là tất cả việc cung cấp các dịch vụ tài chính chính thức (thanh toán, chuyển tiền, tiết kiệm, tín dụng, bảo hiểm) một cách thuận tiện, phù hợp với nhu cầu và với chi phí hợp lý tới tất cả người dân Tài chính toàn diện không chỉ giới hạn trong việc cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng mà bao gồm cả nâng cao hiểu biết về tài chính cho người dân và bảo vệ người tiêu dùng”.

Trần Thị Hà (2019), “Tài chính toàn diện: Kinh nghiệm quốc tế và khuyến nghị cho Việt Nam”,

https://www.mof.gov.vn/webcenter/portal/tttc/r/o/nctd/nctd_chitiet;jsessionid=GD2TlDCgozi1XhrUSI1KQ8 sWTCaJTTXYO_mE-V53x351TExJnKVp!-74503794!- 1162797817?

dDocName=MOFUCM149088&dID=155484&_afrLoop=101700180073067827#!%40%40%3 FdID

%3D155484%26_afrLoop%3D101700180073067827%26dDocName%3DMOFUCM149088%26_adf state%3Da8jck5a09_4 , truy cập 06/6/2020.

ctrl-19

Trang 27

Thứ ba, sự tham gia của các công ty công nghệ tài chính vào thị trường dịch

vụ tài chính làm gia tăng cạnh tranh giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính

Xu thế hợp tác giữa ngân hàng nói riêng và các tổ chức tín dụng nói chungvới công ty công nghệ tài chính trở nên phổ biến nhưng cũng có rất nhiều trườnghợp các công ty công nghệ tài chính cạnh tranh với các tổ chức tài chính truyềnthống (các công ty cho vay ngang hàng là một ví dụ tiêu biểu) Sự cạnh tranh nàyđặt ra yêu cầu các tổ chức tài chính phải đổi mới, ứng dụng công nghệ để bắt kịp xuthế phát triển của thị trường, tăng tính hiệu quả của các dịch vụ tài chính, nâng caotrải nghiệm khách hàng Như đã nêu trên, có hai nhóm công ty công nghệ tài chính,trong đó các công ty công nghệ tài chính hỗ trợ công nghệ (back - office) sẽ hỗ trợcông nghệ cho các công ty công nghệ tài chính, sự hợp tác này góp phần nâng caokhả năng cạnh tranh của các tổ chức tài chính truyền thống

Ví dụ như ngành ngân hàng, nếu như trước đây hệ thống ngân hàng bị giớihạn bởi hệ thống phân phối vật lý kém linh hoạt và không tập trung vào khách hàngthì đến nay việc ứng dụng các giải pháp công nghệ tài chính cho ra đời các ngânhàng kỹ thuật số trên cơ sở tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng, thuận tiện, phùhợp với điều kiện và nhu cầu của khách hàng37

1.1.1.2 Rủi ro

Thứ nhất, rủi ro an toàn thông tin mạng: Các sản phẩm của công ty công

nghệ tài chính được xây dựng trên cơ sở ứng dụng công nghệ, hoạt động trên môitrường mạng dẫn đến nguy cơ cao về việc bị tấn công mạng Trong xu thế hợp tácgiữa công ty công nghệ tài chính và ngân hàng ngày càng phổ biến, tính liên kếtgiữa các bên tham gia sẽ ngày càng cao, việc chia sẻ dữ liệu giữa các bên là điềuhiển nhiên, thông tin càng được chia sẻ thì mức độ rủi ro bảo mật càng cao kéo theokhả năng gây thiệt hại đến hệ thống ngân hàng gia tăng

Thứ hai, rủi ro bảo vệ dữ liệu riêng tư của khách hàng: Trong quá trình cung

cấp dịch vụ cho khách hàng, công ty công nghệ tài chính nắm giữ những thông tin

cá nhân của khách hàng gia tăng rủi ro không tuân thủ các quy định về dữ liệu riêng

tư của khách hàng

Thứ ba, rủi ro về gian lận, lừa đảo, rửa tiền hay các hành vi phạm tội khác:

Rủi ro này xuất phát từ tình trạng thiếu khung pháp lý điều chỉnh đối với phần lớn

37 Nghiêm Thanh Sơn (2019), “Fintech - Cơ hội và thách thức đối với sự phát triển của ngành tài chính ngân

hàng”, chinh-ngan-hang.htm , truy cập 05/6/2020.

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
15. Andreas M. Antonopoulos (2018), Internet của tiền tệ, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Internet của tiền tệ
Tác giả: Andreas M. Antonopoulos
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân
Năm: 2018
16. Phạm Hoài Huấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình (2016), Luật doanh nghiệp Việt Nam Tình huống - Dẫn giải - Bình luận, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luật doanh nghiệp Việt Nam Tình huống - Dẫn giải - Bình luận
Tác giả: Phạm Hoài Huấn (chủ biên), Nguyễn Thị Thanh Lê, Đặng Quốc Chương, Trần Thanh Bình
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2016
17. Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh (2012), Giáo trình pháp luật chủ thể kinh doanh, Nhà xuất bản Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình pháp luật chủ thể kinh doanh
Tác giả: Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức
Năm: 2012
18. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2014), Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hoá và dịch vụ, Nhà xuất bản Hồng Đức.Tài liệu từ internet Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Pháp luật về thương mại hàng hoá và dịch vụ", Nhà xuất bản Hồng Đức
Tác giả: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Hồng Đức."Tài liệu từ internet
Năm: 2014
19. Nguyễn Trung Anh (2019), “Hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính ở Việt Nam”, Hình 1, http://tapchinganhang.gov.vn/he-sinh-thai-công ty công nghệ tài chính-tai-viet-nam.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính ở ViệtNam
Tác giả: Nguyễn Trung Anh
Năm: 2019
20. Fintechnews Vietnam (2019), “Fintech Vietnam Startup Map 2019”, https://fintechnews.sg/vietnam-fintech-startups/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Fintech Vietnam Startup Map 2019
Tác giả: Fintechnews Vietnam
Năm: 2019
21. Google, TEMASEK and BAIN&COMPANY (2019), “e-Conomy SEA 2019”, October 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “e-Conomy SEA 2019”
Tác giả: Google, TEMASEK and BAIN&COMPANY
Năm: 2019
23. Phạm Văn Hiếu (2019), “Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụ tài chính”, http://tapchitaichinh.vn/su-kien-noi-bat/thuc-trang-va-giai-phap-phat-trien-thi-truong-dich-vu-tai-chinh-viet-nam-314938.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp phát triển thị trường dịch vụtài chính
Tác giả: Phạm Văn Hiếu
Năm: 2019
24. Việt Hƣng, “công ty công nghệ tài chính Việt Nam đang đi nhanh so với khu vực”, https://theleader.vn/fintech-viet-nam-dang-di-nhanh-so-voi-khu-vuc-1577531520729.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: công ty công nghệ tài chính Việt Nam đang đi nhanh so với khuvực
25. KPMG and H2 Venture (2018), 2018 công ty công nghệ tài chính 100, https://home.kpmg/content/dam/kpmg/at/pdf/presse/công ty công nghệ tài chính100-2018-report.pdf Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2018 công ty công nghệ tài chính 100
Tác giả: KPMG and H2 Venture
Năm: 2018
28. Nghiêm Thanh Sơn (2020), “Nuôi dƣỡng hệ sinh thái công ty công nghệ tài chính Việt Nam”, https://doimoisangtao.vn/news/nui-dng-h-sinh-thi-công ty công nghệ tài chính-vit-nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi dƣỡng hệ sinh thái công ty công nghệ tàichính Việt Nam
Tác giả: Nghiêm Thanh Sơn
Năm: 2020
29. UOB, PWC and SFA (2019), “Fintech Asean: From Start-up to Scale-up”, https://www.uobgroup.com/techecosystem/news-insights-fintech-in-asean-2019.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Fintech Asean: From Start-up to Scale-up”
Tác giả: UOB, PWC and SFA
Năm: 2019
30. We are social and Hootsuite (2020), “Digital 2020 Vietnam”, https://www.slideshare.net/DataReportal/digital-2020-vietnam-january-2020-v01 . 31. “Blockchain là gì? Các ứng dụng liên quan đến blockchain”,https://topdev.vn/blog/blockchain-la-gi/#blockchain-la-gi . 32. “Công ty công nghệ tài chính Vietnam Startup Map 2019”, https://fintechnews.sg/vietnam -công ty công nghệ tài chính-startups/ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Digital 2020 Vietnam”, https://www.slideshare.net/DataReportal/digital-2020-vietnam-january-2020-v01 . 31. “Blockchain là gì? Các ứng dụng liên quan đến blockchain”, https://topdev.vn/blog/blockchain-la-gi/#blockchain-la-gi . 32. “Công ty công nghệ tài chính Vietnam Startup Map 2019
Tác giả: We are social and Hootsuite
Năm: 2020
34. Giải ngố về API: Tại sao nói API có ý nghĩa sống còn với cả thế giới điện toán”, https://genk.vn/kham-pha/giai-ngo-ve-api-vi-sao-noi-api-co-y-nghia-song-con-voi-ca-the-gioi-dien-toan-20160403144419703.chn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải ngố về API: Tại sao nói API có ý nghĩa sống còn với cả thế giới điệntoán
38. Baker & McKenzie (2020), A guide to regulatory fintech sandboxes internationally Sách, tạp chí
Tiêu đề: Baker & McKenzie (2020)
Tác giả: Baker & McKenzie
Năm: 2020
39. FSB (2019), Fintech and market structure in financial services: Market developments and potential financial stability implications, 14 February 2019 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FSB (2019), "Fintech and market structure in financial services: Market developments and potential financial stability implications
Tác giả: FSB
Năm: 2019
40. FSB (2017), Financial Stability Implications from fintech: Supervisory and Regulatory Issues that Merit Authorities’ Attention, 27 June 2017 Sách, tạp chí
Tiêu đề: FSB (2017), Financial Stability Implications from fintech: "Supervisory andRegulatory Issues that Merit Authorities’ Attention
Tác giả: FSB
Năm: 2017
42. Cemal Karakas and Carla Stamegna (2018), “Defining a EU-framework for financial technology (fintech): economic perspectives and regulatory challenge”, Law And Economic Review, Volume 7 - Part 1 – 2018 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cemal Karakas and Carla Stamegna (2018), "“Defining a EU-framework forfinancial technology (fintech): economic perspectives and regulatory challenge”
Tác giả: Cemal Karakas and Carla Stamegna
Năm: 2018
44. Eleanor Kirby and Shane Worner (2014), Crowdfunding: An Industry Growing Fast Sách, tạp chí
Tiêu đề: Eleanor Kirby and Shane Worner (2014)
Tác giả: Eleanor Kirby and Shane Worner
Năm: 2014

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w