1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo vệ người tố cáo thực trạng và giải pháp (luận văn thạc sĩ luật học)

81 30 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (9)
    • 1.1 Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết bảo vệ người tố cáo (9)
      • 1.1.1 Khái niệm, đặc điểm bảo vệ người tố cáo (9)
      • 1.1.2 Sự cần thiết bảo vệ người tố cáo (15)
    • 1.2 Sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo (21)
    • 1.3 Nội dung, phạm vi và phương thức bảo vệ người tố cáo (27)
      • 1.3.1 Nội dung bảo vệ người tố cáo (27)
      • 1.3.2 Phạm vi bảo vệ người tố cáo (31)
      • 1.3.3 Phương thức bảo vệ người tố cáo (33)
    • 1.4 Đối tƣợng đƣợc bảo vệ và chủ thể có trách nhiệm bảo vệ (37)
      • 1.4.1 Đối tượng được bảo vệ (0)
      • 1.4.2 Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo (38)
    • 1.5 Thủ tục bảo vệ người tố cáo (39)
      • 1.5.1 Căn cứ yêu cầu bảo vệ (39)
      • 1.5.2 Thủ tục yêu cầu bảo vệ (39)
      • 1.5.3 Thủ tục tiếp nhận, xử lý và tiến hành bảo vệ người tố cáo (40)
  • CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM (42)
    • 2.1 Thực trạng bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay (42)
      • 2.1.1 Những tiến bộ và hạn chế trong quy định của pháp luật về bảo vệ người tố cáo (42)
      • 2.1.2 Thực tiễn thực thi pháp luật bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay (53)
    • 2.2 Một số kiến nghị góp phần bảo đảm hiệu quả bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam (63)
      • 2.2.1 Hoàn thiện pháp luật về bảo vệ người tố cáo (63)
      • 2.2.2 Nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam (67)
  • PHỤ LỤC (73)

Nội dung

CƠ SỞ LÝ LUẬN, PHÁP LÝ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Khái niệm, đặc điểm và sự cần thiết bảo vệ người tố cáo

1.1.1 Khái niệm, đặc điểm bảo vệ người tố cáo

 Khái niệm bảo vệ người tố cáo

Tố cáo là một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong xã hội và được hiểu ở nhiều khía cạnh khác nhau, góc độ khác nhau, cụ thể:

Theo từ điển Tiếng Việt, "tố cáo" được định nghĩa là hành động báo cho mọi người hoặc cơ quan có thẩm quyền biết về những người hoặc hành động phạm pháp Nó còn có nghĩa là vạch trần những tội ác để lên án và ngăn chặn Tố cáo thể hiện sự bất bình của một cá nhân và nhằm thông báo cho các cơ quan chức năng có biện pháp giải quyết thích hợp.

Tố cáo là quyền công dân được quy định trong Hiến pháp, cho phép mọi người khiếu nại về các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Quyền này không chỉ giúp công dân giám sát hoạt động của bộ máy nhà nước mà còn bảo vệ quyền lợi của bản thân, nhà nước và xã hội.

Tố cáo không chỉ được quy định trong Hiến pháp mà còn trong nhiều văn bản pháp luật khác Theo Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, tố cáo được định nghĩa là hành động của công dân thông báo cho cơ quan, tổ chức, hoặc cá nhân có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật gây thiệt hại hoặc đe dọa lợi ích của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức.

Kế thừa Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, tại khoản 1 Điều 2 Luật Tố cáo

Năm 2011, khái niệm tố cáo được quy định rõ ràng: “Tố cáo là hành động của công dân thông qua quy trình luật định để thông báo cho cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ tổ chức, cá nhân nào, gây thiệt hại hoặc đe dọa đến lợi ích của Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức.”

1Hoàng Phê (Chủ biên) (2002), “Từ điển tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng, tr.1008.

2Khoản 1 Điều 30 Hiến pháp năm 2013.

3Khoản 2 Điều 2 Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998.

Luật tố cáo năm 2011 đã cụ thể hóa quy định của Hiến pháp về quyền tố cáo của công dân và trách nhiệm của các cơ quan, tổ chức trong việc giải quyết tố cáo Luật này phân chia thành hai nhóm hành vi vi phạm pháp luật: thứ nhất, quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với cán bộ, công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ; thứ hai, quy định về tố cáo và giải quyết tố cáo đối với các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong quản lý nhà nước.

Công dân có quyền tố cáo hành vi vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, viên chức trong quá trình thực hiện nhiệm vụ và công vụ Việc này nhằm thông báo cho các cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân có thẩm quyền về những hành vi sai trái, góp phần nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong hoạt động công vụ.

Tố cáo hành vi vi phạm pháp luật trong quản lý nhà nước là hành động của công dân thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về các hành vi vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân liên quan đến việc thực hiện quy định pháp luật Điều này bao gồm tất cả các hành vi vi phạm, không phân biệt nguồn gốc, từ cán bộ, công chức đến tổ chức, cá nhân nước ngoài hoạt động tại Việt Nam Việc tố cáo này có vai trò quan trọng trong việc duy trì kỷ cương pháp luật và đảm bảo sự chấp hành nghiêm túc các quy định trong các lĩnh vực quản lý nhà nước.

Người tố cáo được định nghĩa trong Luật Tố cáo 2011 là công dân thực hiện quyền tố cáo Theo Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, chỉ cần cá nhân mang quốc tịch Việt Nam sẽ trở thành người tố cáo khi thực hiện quyền này Do đó, không cần xác định năng lực hành vi dân sự hay năng lực pháp luật của người tố cáo, miễn là họ là công dân Việt Nam.

Việc thực hiện quyền tố cáo thể hiện mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, trong đó công dân thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của các tổ chức, cá nhân, gây thiệt hại hoặc đe dọa đến lợi ích của Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của cộng đồng.

4Khoản 2 Điều 2 Luật tố cáo năm 2011

Theo Khoản 3 Điều 2 Luật Tố cáo năm 2011, quyền tố cáo chỉ được thực hiện bởi công dân, không thừa nhận tổ chức hay tố cáo nặc danh Người tố cáo phải trình bày trung thực và chịu trách nhiệm pháp lý về nội dung tố cáo, bao gồm cả việc bồi thường thiệt hại nếu tố cáo sai sự thật Quy định này nhằm ngăn chặn việc lợi dụng quyền tố cáo để gây thiệt hại cho người khác và đảm bảo trách nhiệm cá nhân Việc quy định chủ thể thực hiện quyền tố cáo là công dân còn nhằm bảo vệ công bằng xã hội và ổn định kinh tế, chính trị của quốc gia Nếu cho phép cơ quan, tổ chức tố cáo, sẽ phát sinh nhiều vấn đề phức tạp liên quan đến xác minh thông tin, bảo vệ bí mật và trách nhiệm của người tố cáo trong trường hợp tố cáo sai.

Khoản 1 Điều 3 Luật Tố cáo năm 2011 quy định rằng cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam có quyền tố cáo, trừ khi có điều ước quốc tế quy định khác Để đảm bảo trách nhiệm, pháp luật chỉ công nhận tố cáo của những cá nhân này Khi thực hiện quyền tố cáo, họ phải cung cấp thông tin như họ tên và địa chỉ, đồng thời chịu trách nhiệm về nội dung tố cáo, đảm bảo tính chính xác về hành vi vi phạm pháp luật Do đó, cá nhân nước ngoài cư trú tại Việt Nam sẽ được công nhận là người tố cáo theo quy định hiện hành Ngược lại, nếu cá nhân nước ngoài không cư trú tại Việt Nam mà cung cấp thông tin về hành vi vi phạm, thì thông tin đó chỉ được coi là kiến nghị, phản ánh và sẽ được cơ quan nhà nước tiếp nhận để phục vụ công tác quản lý.

Thuật ngữ “bảo vệ” trong từ điển Tiếng Việt được định nghĩa là hành động chống lại mọi sự xâm phạm nhằm giữ gìn sự nguyên vẹn, đồng thời bênh vực bằng lý lẽ để đảm bảo quyền lợi và sự an toàn cho cá nhân hoặc tập thể.

Theo Điều 9 Luật Tố cáo năm 2011, bảo vệ được hiểu là hành động chống lại sự hủy hoại hoặc xâm phạm từ bên ngoài nhằm đảm bảo cho đối tượng bị xâm phạm được nguyên vẹn, hoặc giữ vững quan điểm mà mình cho là đúng Lịch sử Việt Nam cho thấy, trong quá khứ, ông cha ta đã anh dũng đấu tranh để bảo vệ độc lập dân tộc và lãnh thổ Hiện nay, Đảng và Nhà nước ta duy trì chính sách an ninh quốc phòng vững chắc, kết hợp với chiến lược ngoại giao linh hoạt để giữ gìn hòa bình và phát triển Người dân cũng chủ động xây dựng hệ thống đê điều để ngăn lũ lụt và trồng cây xanh nhằm bảo vệ môi trường Trong các buổi thuyết trình, người trình bày thường sử dụng lý lẽ và luận cứ xác thực để bảo vệ quan điểm của mình.

Luật Tố cáo năm 2011 đã quy định rõ ràng trong chương V về việc bảo vệ người tố cáo, đặc biệt tại Điều 34, nhấn mạnh rằng việc bảo vệ này áp dụng ở tất cả các địa điểm có thể ảnh hưởng đến họ như nơi cư trú, công tác, học tập và các tài sản cá nhân Đối tượng được bảo vệ không chỉ bao gồm người tố cáo mà còn cả gia đình họ như vợ, chồng, con cái và cha mẹ Thời gian bảo vệ sẽ do cơ quan có thẩm quyền quyết định dựa trên tình hình thực tế và mức độ nghiêm trọng của hành vi xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người cần được bảo vệ.

Luật xác định rõ trách nhiệm của người giải quyết tố cáo trong việc bảo vệ người tố cáo, đồng thời quy định quyền và nghĩa vụ của họ Các nội dung cơ bản về bảo vệ người tố cáo bao gồm bảo vệ bí mật thông tin, bảo vệ tại nơi công tác, nơi làm việc và nơi cư trú Ngoài ra, luật cũng đảm bảo bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm và uy tín của người tố cáo.

Sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo

Việc bảo vệ người tố cáo là vô cùng cần thiết để tạo điều kiện cho họ dám lên tiếng chống lại các hành vi vi phạm pháp luật và tiêu cực Người tố cáo thường cảm thấy e dè, sợ hãi vì lo ngại về sự an toàn của bản thân và gia đình trước những hậu quả có thể xảy ra Do đó, sự quan tâm và bảo vệ từ các cơ quan có thẩm quyền là rất quan trọng để đảm bảo quyền bất khả xâm phạm về tính mạng, sức khỏe, danh dự và nhân phẩm của công dân Bảo vệ người tố cáo không chỉ giúp họ tránh khỏi sự đe dọa, trả thù mà còn thể hiện trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, từ đó khuyến khích nhiều người dũng cảm đứng ra tố cáo những hành vi sai trái và ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật.

1.2 Sự hình thành và phát triển của quy định pháp luật về bảo vệ người tố cáo

Kể từ khi giành độc lập vào năm 1945, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng đến việc giải quyết hiệu quả các khiếu nại, tố cáo Việc thực hiện quyền tố cáo được coi là một phương thức thể hiện dân chủ trực tiếp, giúp nhân dân tham gia vào quản lý Nhà nước và xã hội, đồng thời bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mình.

Hai lão nông dân Nguyễn Công Uẩn và Nguyễn Tiến Lãng ở Bắc Ninh đã bị cô lập và trả thù vì dám phanh phui những tiêu cực trong quản lý đất đai và hồ sơ thương binh giả Họ đã nhiều lần tố cáo tham nhũng, nhưng phải đối mặt với sự đe dọa và bạo lực từ những kẻ liên quan Dù gặp khó khăn, cả hai vẫn kiên quyết không rút đơn và tiếp tục đấu tranh vì lợi ích của Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của công dân Quyền tố cáo được công nhận trong Hiến pháp Việt Nam, thể hiện sự cần thiết trong việc chống tham nhũng và bảo vệ công lý.

Hiến pháp năm 1946, mặc dù không quy định cụ thể về quyền tố cáo và giải quyết tố cáo của công dân, nhưng đã tạo ra một thể chế dân chủ vững chắc Điều này đã góp phần hình thành quyền tố cáo của công dân trong thực tiễn, mặc cho việc thiếu cơ chế bảo vệ người tố cáo.

Kế thừa tư tưởng dân chủ của Hiến pháp 1946, Điều 29 Hiến pháp 1959 lần đầu tiên ghi nhận quyền tố cáo của công dân, khẳng định quyền lợi và trách nhiệm của người dân trong việc bảo vệ lợi ích chung của xã hội.

Công dân Việt Nam có quyền khiếu nại và tố cáo các hành vi phạm pháp của nhân viên cơ quan Nhà nước tới bất kỳ cơ quan nào, và các khiếu nại này cần được xem xét và giải quyết kịp thời Người bị thiệt hại cũng có quyền yêu cầu bồi thường Đây là lần đầu tiên khái niệm tố cáo được ghi nhận trong văn bản pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, hiện tại vẫn chưa có cơ chế bảo vệ cho người tố cáo, mà chỉ nêu rõ quyền và trách nhiệm liên quan đến việc tố cáo.

Hiến pháp năm 1980 đã củng cố quyền tố cáo của công dân tại Điều 73, cho phép công dân khiếu nại về những hành vi trái pháp luật của cơ quan Nhà nước và cá nhân liên quan Quy định yêu cầu các khiếu nại và tố cáo phải được xem xét nhanh chóng, đồng thời bảo vệ quyền lợi chính đáng của công dân, bao gồm quyền được bồi thường cho người bị thiệt hại Đặc biệt, quy định nghiêm cấm việc trả thù người tố cáo lần đầu tiên thể hiện sự bảo vệ của Hiến pháp đối với người tố cáo, mặc dù chưa có chế tài cụ thể Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của người tố cáo và khuyến khích tinh thần tố cáo trong xã hội.

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi bổ sung năm 2001, đã củng cố và phát triển quyền tố cáo của công dân, cho phép họ khiếu nại về các hành vi vi phạm pháp luật của cơ quan Nhà nước, tổ chức kinh tế, xã hội, đơn vị vũ trang và cá nhân Các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm xem xét và giải quyết khiếu nại, tố cáo trong thời hạn pháp luật quy định, đồng thời xử lý nghiêm minh mọi hành vi xâm phạm lợi ích Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của công dân Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường vật chất và phục hồi danh dự.

Nghiêm cấm hành vi trả thù đối với người khiếu nại, tố cáo và cấm lợi dụng quyền khiếu nại để vu khống, làm hại người khác Hiến pháp nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo vệ người tố cáo, tuy nhiên, vẫn chỉ dừng lại ở việc cấm các hành vi trả thù.

Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận sự tiến bộ trong việc bảo vệ nhân quyền và dân quyền, đặc biệt là quy định về quyền tố cáo và bảo vệ người tố cáo Cụ thể, khoản 3 Điều 30 quy định nghiêm cấm việc trả thù đối với người khiếu nại, tố cáo, đồng thời cấm lợi dụng quyền này để vu khống hoặc làm hại người khác.

Hiến pháp khẳng định tầm quan trọng của quyền tố cáo và vai trò của công dân trong việc phòng, chống tội phạm cũng như các hành vi vi phạm pháp luật Quyền tố cáo được xem là quyền chính trị cơ bản, và người tố cáo sẽ được pháp luật bảo vệ, đồng thời nghiêm cấm mọi hành vi trả thù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật từ sau Cách mạng Tháng Tám 1945, như Pháp lệnh năm 1981 và Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, nhằm thể chế hóa quyền tố cáo, bảo vệ người tố cáo và phát huy dân chủ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân.

17 Điều 74 Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001

Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 có hiệu lực từ ngày 01 tháng 01 năm 1999, và đã được Chính phủ ban hành Nghị định 67/1999/NĐ-CP vào ngày 07/8/1999 để hướng dẫn thi hành Nghị định 62/2000/NĐ-CP sau đó đã sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 67/1999/NĐ-CP Để nâng cao hiệu quả giải quyết khiếu nại, tố cáo trong bối cảnh hội nhập, Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998 đã được sửa đổi và bổ sung một số điều.

Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, đã được sửa đổi, bổ sung vào năm 2004 và 2005, công nhận quyền bảo vệ người tố cáo và quy định trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc bảo vệ họ Điều này nhằm đảm bảo rằng công dân có thể tự do và sẵn sàng tố cáo các hành vi sai trái, tiêu cực trong xã hội.

Pháp luật nghiêm cấm mọi hành vi cản trở quyền khiếu nại, tố cáo, bao gồm đe dọa, trả thù, trù dập người khiếu nại; tiết lộ thông tin cá nhân của người tố cáo; không giải quyết hoặc giải quyết trái pháp luật các khiếu nại; bao che người bị khiếu nại; can thiệp trái pháp luật vào quá trình giải quyết khiếu nại; cũng như kích động, cưỡng ép, dụ dỗ người khác tố cáo sai sự thật Ngoài ra, các hành vi đe dọa, xúc phạm người có trách nhiệm giải quyết khiếu nại và lợi dụng khiếu nại để xuyên tạc, vu khống, gây rối trật tự cũng bị nghiêm cấm.

Người tố cáo có quyền gửi đơn hoặc trực tiếp tố cáo đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Họ có thể yêu cầu giữ bí mật thông tin cá nhân như họ, tên, địa chỉ và bút tích Ngoài ra, người tố cáo còn có quyền yêu cầu được thông báo về kết quả giải quyết tố cáo và yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền bảo vệ mình khi bị đe dọa, trù dập hoặc trả thù.

Nội dung, phạm vi và phương thức bảo vệ người tố cáo

1.3.1 Nội dung bảo vệ người tố cáo

Dựa trên quy định tại chương V của Luật Tố cáo năm 2011 và Nghị định 76/2012/NĐ-CP, có thể tổng hợp các nội dung bảo vệ người tố cáo và người thân thích của họ như sau: Các biện pháp bảo vệ bao gồm việc giữ bí mật thông tin cá nhân, ngăn chặn hành vi trả thù, và đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho người tố cáo Những quy định này nhằm khuyến khích người dân dũng cảm tố cáo hành vi vi phạm pháp luật mà không lo sợ bị đe dọa hay phân biệt đối xử.

Thứ nhất là bảo vệ bí mật thông tin người tố cáo trong quá trình tiếp nhận, thụ lý, giải quyết tố cáo.

Thông qua tố cáo của người dân, cơ quan nhà nước có thể phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật Tuy nhiên, việc này có thể dẫn đến tình trạng người bị tố cáo trả thù hoặc trù dập người tố cáo Do đó, để bảo vệ người tố cáo và tạo sự yên tâm cho họ, cơ quan nhà nước cần giữ bí mật thông tin cần thiết trong quá trình giải quyết tố cáo Điều này được quy định rõ ràng trong Điều 4 Luật Tố cáo, nhấn mạnh nguyên tắc đảm bảo an toàn cho người tố cáo.

Thông tin về người tố cáo, bao gồm tên, tuổi, nghề nghiệp, giới tính, địa chỉ và bút tích, cần được bảo mật để tránh việc lộ danh tính, dẫn đến nguy cơ bị trả thù hoặc trù dập Để bảo vệ bí mật này, pháp luật tố cáo đã có những quy định cụ thể nhằm đảm bảo an toàn cho người tố cáo.

Cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền cần đảm bảo bảo mật thông tin cho người tố cáo trong tất cả các giai đoạn, từ việc tiếp nhận và xử lý thông tin tố cáo đến xác minh và kết luận xử lý Điều này bao gồm cả việc bảo vệ bí mật ngay cả khi công khai kết luận và quyết định xử lý liên quan đến hành vi vi phạm bị tố cáo.

Khi tiếp nhận và thụ lý giải quyết tố cáo, các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền cần nghiên cứu kỹ nội dung vụ việc và xác định thông tin có thể gây bất lợi cho người tố cáo Việc này nhằm áp dụng các biện pháp phù hợp để bảo vệ bí mật thông tin của người tố cáo.

Trong quá trình xử lý tố cáo, nếu cần làm việc trực tiếp với người tố cáo và các bên liên quan, người giải quyết tố cáo cần sắp xếp thời gian, địa điểm và phương thức làm việc hợp lý để bảo đảm bảo mật thông tin cho người tố cáo.

Khi phát hiện người không có thẩm quyền thu thập thông tin về người tố cáo, người giải quyết tố cáo phải áp dụng biện pháp ngăn chặn hoặc kiến nghị người có thẩm quyền xử lý vi phạm.

Thứ hai là bảo vệ tính mạng, sức khỏe của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo

Khi người tố cáo có lý do để tin rằng việc tố cáo có thể đe dọa đến tính mạng hoặc sức khỏe của bản thân hoặc người thân, họ có quyền yêu cầu các cơ quan có thẩm quyền, bao gồm cả công an, thực hiện các biện pháp bảo vệ cần thiết.

Nếu đề nghị của người tố cáo là chính đáng và có căn cứ, người giải quyết tố cáo hoặc cơ quan công an cần kịp thời áp dụng các biện pháp bảo vệ Trong quá trình giải quyết tố cáo, nếu phát hiện nguy cơ gây thiệt hại đến tính mạng hoặc sức khỏe của người tố cáo và người thân của họ, người giải quyết tố cáo có trách nhiệm chỉ đạo hoặc phối hợp với các cơ quan liên quan để đảm bảo an toàn cho những người được bảo vệ.

23 Điều 36 Luật tố cáo năm 2011

Theo Điều 12 Nghị định 76/2012/NĐ-CP, công an có trách nhiệm thực hiện các biện pháp bảo vệ cho người được bảo vệ tại nơi cư trú, làm việc, học tập hoặc tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền Đồng thời, công an cũng phải thông báo cho người được bảo vệ về các biện pháp này.

Trong trường hợp hành vi xâm hại người được bảo vệ đang diễn ra hoặc có nguy cơ xảy ra ngay lập tức, người có thẩm quyền cần phải chỉ đạo hoặc phối hợp với cơ quan công an địa phương, cũng như các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền khác để thực hiện ngay các biện pháp bảo vệ phù hợp, tùy thuộc vào tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi xâm hại.

Sau khi ngăn chặn hành vi xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của người được bảo vệ, người có thẩm quyền sẽ chỉ đạo và phối hợp với cơ quan công an nơi người được bảo vệ sinh sống, làm việc hoặc học tập Họ sẽ áp dụng các biện pháp xử lý thích hợp hoặc đề nghị xử lý đối với những người có hành vi xâm hại theo thẩm quyền.

Khi xác định có nguy cơ tái diễn xâm phạm tính mạng và sức khỏe của người được bảo vệ, cần ra quyết định bảo vệ và xây dựng kế hoạch bảo vệ Kế hoạch này phải bao gồm các nội dung chính như: danh tính người được bảo vệ, biện pháp bảo vệ cụ thể, thời hạn bảo vệ, lực lượng bảo vệ tham gia, cũng như trách nhiệm và hình thức phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức liên quan, cùng với kinh phí bảo vệ.

Dựa trên tính chất, mức độ và khả năng xảy ra thực tế của hành vi xâm hại đến tính mạng và sức khỏe của người được bảo vệ, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét và áp dụng các biện pháp bảo vệ theo quy định của Luật Tố cáo và các Nghị định hướng dẫn liên quan.

Thứ ba là bảo vệ tài sản của người tố cáo và người thân thích của người tố cáo.

Nghị định số 76/2012/NĐ-CP quy định rõ ràng các biện pháp bảo vệ tài sản của người tố cáo và người thân thích của họ.

Đối tƣợng đƣợc bảo vệ và chủ thể có trách nhiệm bảo vệ

1.4.1 Đối tƣợng đƣợc bảo vệ

Theo quy định của pháp luật tố cáo hiện hành, cụ thể Điều 34 Luật Tố cáo năm

Năm 2011, quy định về phạm vi và đối tượng được bảo vệ đã được nêu rõ, trong đó Điều 2 khoản 2 chỉ rõ rằng đối tượng bảo vệ bao gồm: a) Người tố cáo; b) Người thân thích của người tố cáo.

Người tố cáo, theo phân tích trước đó, có thể là công dân Việt Nam hoặc cá nhân nước ngoài đang sinh sống tại Việt Nam, khi họ thực hiện quyền tố cáo của mình.

Theo Nghị định 76/2012/NĐ-CP, người thân thích của người tố cáo không được quy định cụ thể trong Luật Tố cáo, nhưng bao gồm 33 đối tượng khác nhau.

- Bố đẻ, mẹ đẻ, bố nuôi, mẹ nuôi, bố mẹ bên vợ hoặc bên chồng;

- Anh ruột, chị ruột, em ruột của người tố cáo.

Quy định bảo vệ không chỉ người tố cáo mà còn cả gia đình và người thân thích của họ là hợp lý, vì những người này có mối quan hệ huyết thống hoặc thân thiết với người tố cáo và đóng vai trò quan trọng trong cuộc sống của họ Thực tế cho thấy, nhiều trường hợp xảy ra việc xâm phạm đến gia đình của người tố cáo nhằm trả thù hoặc đe dọa, gây ảnh hưởng tiêu cực đến cuộc sống bình thường của họ.

32 Điều 18 Nghị định 76/2012/NĐ-CP

33 Điều 3 Nghị định 76/2012/NĐ-CP

1.4.2 Chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo

Khoản 1 Điều 5 Luật tố cáo xác định trách nhiệm chính trong việc bảo vệ người tố cáo thuộc về cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong tiếp nhận, giải quyết tố cáo Bên cạnh đó còn quy định trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền.Theo quy định tại Nghị định 76/2012/NĐ-CP, cơ quan, tổ chức, cá nhân tiếp nhận, giải quyết tố cáo có trách nhiệm áp dụng các biện pháp cần thiết hoặc yêu cầu các cơ quan có liên quan như cơ quan quản lý người tố cáo tại nơi công tác, ủy ban nhân dân địa phương nơi người tố cáo cư trú hoặc cơ quan công an có thẩm quyền áp dụng các biện pháp bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, nhân phẩm của người tố cáo.

Các cơ quan, tổ chức và cá nhân có thẩm quyền tiếp nhận thông tin về người tố cáo phải đảm bảo giữ bí mật thông tin này, bất kể có yêu cầu từ người tố cáo hay không Nếu nhận được thông tin về việc người tố cáo bị đe dọa, trả thù hoặc trù dập, người giải quyết tố cáo cần chủ động phối hợp với cơ quan công an hoặc các cơ quan có thẩm quyền khác để thực hiện biện pháp kịp thời nhằm bảo vệ người tố cáo Các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo bao gồm các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên quan.

Một là, cơ quan có trách nhiệm giải quyết tố cáo;

Hai là, cơ quan công an nơi người tố cáo, người thân thích của người tố cáo cư trú, học tập và làm việc;

Ba là, cơ quan công an nơi có tài sản của người tố cáo, người thân thích của người tố cáo;

Bốn là, tổ chức công đoàn cơ sở, cơ quan quản lý lao động, hoặc cơ quan có thẩm quyền khác ở địa phương;

Năm là, sự phối hợp giữa các cơ quan này với nhau và với các cơ quan có thẩm quyền liên quan khác.

Các chủ thể có trách nhiệm bảo vệ người tố cáo cần thực hiện tốt công tác này, bám sát thực tế và nắm rõ quy định pháp luật liên quan Họ phải dám nhìn nhận khuyết điểm, lắng nghe và ghi nhận ý kiến để quy định được áp dụng hiệu quả, từ đó giúp việc thực thi pháp luật trở nên dễ dàng hơn.

Thủ tục bảo vệ người tố cáo

1.5.1 Căn cứ yêu cầu bảo vệ

Theo Nghị định 76/2012/NĐ-CP, khi người tố cáo có lý do cho rằng việc tố cáo của mình có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, uy tín, danh dự, nhân phẩm của bản thân hoặc người thân, hoặc có thể dẫn đến trù dập, phân biệt đối xử tại nơi làm việc hoặc học tập, họ có quyền yêu cầu các cơ quan chức năng áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ mình.

Nguy cơ xâm phạm đến người tố cáo và người thân của họ có thể xuất phát từ hành động tố cáo, bao gồm cả việc thực tế đã xảy ra hoặc chỉ là hành vi đe dọa từ đối phương Khi có hành vi tấn công nhằm trả thù hoặc trù dập, đây là căn cứ rõ ràng để yêu cầu bảo vệ Đối với những đe dọa chưa xảy ra thực tế, mức độ nguy hiểm của chúng cần phải được đánh giá là có thực và đáng kể để xác định sự cần thiết của việc bảo vệ.

1.5.2 Thủ tục yêu cầu bảo vệ

Việc bảo mật thông tin của người tố cáo là điều cần thiết trong quá trình giải quyết tố cáo Ngay từ khi tiếp nhận đơn, các cơ quan có thẩm quyền cam kết đảm bảo sự riêng tư của người tố cáo theo quy định của pháp luật.

Trong các trường hợp có nguy cơ xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự, uy tín, nhân phẩm, hoặc cơ hội việc làm, người tố cáo cần có "căn cứ" để yêu cầu sự bảo vệ từ các cơ quan chức năng Theo quy định của pháp luật tố cáo, các yêu cầu bảo vệ phải được trình bày bằng văn bản Trong tình huống khẩn cấp, khi phát hiện nguy cơ xâm hại đến bản thân hoặc người thân, người tố cáo có thể yêu cầu bảo vệ trực tiếp bằng miệng hoặc qua các phương tiện thông tin khác, nhưng sau đó vẫn phải nộp văn bản Văn bản là hình thức cần thiết để đảm bảo quyền yêu cầu bảo vệ trong quá trình tố cáo hành vi vi phạm pháp luật.

1.5.3 Thủ tục tiếp nhận, xử lý và tiến hành bảo vệ người tố cáo

Khi tiếp nhận và thụ lý tố cáo, người giải quyết cần cân nhắc bảo vệ thông tin của người tố cáo để tránh ảnh hưởng tiêu cực Trong quá trình này, cơ quan có thẩm quyền sẽ thực hiện các biện pháp cần thiết nhằm đảm bảo rằng những thông tin quan trọng liên quan đến người tố cáo không bị tiết lộ.

Khi nhận được yêu cầu bảo vệ từ người tố cáo, cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét và nếu có căn cứ cho thấy có nguy cơ cho người được bảo vệ, sẽ áp dụng các biện pháp bảo vệ cần thiết Đối với yêu cầu bảo vệ vị trí công tác của người tố cáo hoặc người thân thích, trong vòng 05 ngày làm việc kể từ ngày nhận đơn, cơ quan có thẩm quyền phải tiến hành kiểm tra, xác minh Thời hạn cho việc kiểm tra, xác minh cũng là 05 ngày làm việc Nếu có đủ căn cứ chứng minh cần bảo vệ người tố cáo, các biện pháp bảo vệ sẽ được thực hiện.

Tố cáo là hành động tích cực của cá nhân trong việc chống tham nhũng và vi phạm pháp luật, thể hiện sự dũng cảm và trách nhiệm Người tố cáo cần chịu trách nhiệm về hành động của mình, đặc biệt nếu tố cáo sai sự thật Tuy nhiên, khi tố cáo với thiện ý nhằm bảo vệ lợi ích Nhà nước và quyền lợi hợp pháp của mọi người, họ có thể đối mặt với nguy cơ bị trả thù Do đó, cần có cơ chế pháp luật bảo vệ thông tin cá nhân, tính mạng, sức khỏe và danh dự của người tố cáo và gia đình họ, giúp họ yên tâm thực hiện quyền của mình Người tố cáo cũng là công dân, có quyền bất khả xâm phạm về tính mạng và sức khỏe.

Theo Điều 17, 18 Nghị định 76/2012/NĐ-CP, danh dự và nhân phẩm là những quyền cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác Mỗi công dân đều được bảo vệ trước nguy cơ xâm hại quyền và lợi ích hợp pháp của mình Đồng thời, quy định pháp luật bảo vệ người tố cáo thể hiện rõ sức mạnh và trách nhiệm của Nhà nước đối với công dân, đồng thời thúc đẩy tính tích cực trong cộng đồng và xã hội.

Nhận thức rõ tầm quan trọng của người tố cáo, Đảng và Nhà nước Việt Nam đã chú trọng đến việc bảo vệ họ Pháp luật về tố cáo ngày càng hoàn thiện, bắt đầu từ những ngày đầu độc lập khi chưa có quy định cụ thể Qua thời gian, với tinh thần dân chủ và định hướng phát triển, cơ chế bảo vệ người tố cáo đã được ghi nhận trong các Điều luật Hiện nay, pháp luật bảo vệ người tố cáo đã được quy định thành một chương trong Luật tố cáo, kèm theo các văn bản hướng dẫn thi hành cụ thể từ Chính phủ.

THỰC TRẠNG VÀ KIẾN NGHỊ BẢO ĐẢM HIỆU QUẢ BẢO VỆ NGƯỜI TỐ CÁO Ở VIỆT NAM

Ngày đăng: 23/06/2021, 14:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Phạm Thị Kim Dung, Bùi Anh Thơ (2004), Tìm hiểu Luật Khiếu nại, tố cáo, NXB Lao động Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phạm Thị Kim Dung, Bùi Anh Thơ (2004), "Tìm hiểu Luật Khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Phạm Thị Kim Dung, Bùi Anh Thơ
Nhà XB: NXB Lao động
Năm: 2004
2. Mai Văn Duẩn (2016), “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mai Văn Duẩn (2016), “Pháp luật về bảo vệ người tố cáo ở Việt Nam hiện nay”, "Luận án tiến sĩ
Tác giả: Mai Văn Duẩn
Năm: 2016
3. Hồ Chí Minh (2000), “Bàn về Nhà nước và pháp luật”, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Chí Minh (2000), “Bàn về Nhà nước và pháp luật
Tác giả: Hồ Chí Minh
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
Năm: 2000
4. Đinh Văn Minh (2000), “Hỏi và đáp pháp luật khiếu nại, tố cáo”, NXB Chính trị Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đinh Văn Minh (2000), “"Hỏi và đáp pháp luật khiếu nại, tố cáo”
Tác giả: Đinh Văn Minh
Nhà XB: NXB Chính trị Quốc gia
Năm: 2000
5. Hoàng Phê (Chủ biên) (2002), “Từ điển Tiếng Việt”, Nhà xuất bản Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàng Phê (Chủ biên) (2002), “Từ điển Tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê (Chủ biên)
Nhà XB: Nhà xuất bản ĐàNẵng
Năm: 2002
6. Trần Thanh Thủy (2014), “Bảo vệ người tố cáo: Những vấn đề lý luận và thực tiễn”, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trần Thanh Thủy (2014), “Bảo vệ người tố cáo: Những vấn đề lý luận vàthực tiễn”, "Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật
Tác giả: Trần Thanh Thủy
Năm: 2014
7. Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Luật Hà Nội (2005), "Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2005
8. Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo, NXB Công an nhân dân Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Luật Hà Nội (2007), "Giáo trình thanh tra và giải quyết khiếu nại, tố cáo
Tác giả: Trường Đại học Luật Hà Nội
Nhà XB: NXB Công an nhân dân
Năm: 2007
9. Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2010), Tập bài giảng về thanh tra khiếu nại tố cáo Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh (2010)
Tác giả: Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2010
1. Nghị quyết số 04/NQ-TW năm 2006 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, chống lãng phí Khác
2. Nghị quyết số 48/2005/NQ-TW ngày 24 tháng 5 năm 2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020.II. VĂN BẢN PHÁP LUẬT Khác
1. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1980 Khác
2. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 Khác
3. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 Khác
4. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1946 Khác
5. Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa năm 1959 Khác
6. Luật Khiếu nại, tố cáo năm 1998, sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005 Khác
7. Luật Quốc tịch Việt Nam số 24/2008/QH12, sửa đổi, bổ sung năm 2014 Khác
9. Nghị định 38-HĐBT ngày 28 tháng 1 năm 1991 của Hội đồng Bộ trưởng về việc thi hành pháp lệnh khiếu nại, tố cáo của công dân Khác
10. Nghị định 53/2005/NĐ-CP ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w