1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

Đánh giá hoàn thiện thể chế với lĩnh vực khoa học công nghệ 10 năm từ 2005 2016

9 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 241,45 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

 Các quyền đối với một tác phẩm tác giả có thể độc lập với chủ sở hữu các vật thể định hình tác phẩm: Điều này được cụ thể hoá trong các Điều 37-42 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009

Trang 1

DANH SÁCH THÀNH VIÊN NHÓM

1 Phạm Thị Ngọc Anh

2 Lại Phương Anh

3 Lương Quỳnh Anh

4 Lê Tú Anh

5 Ngô Thị Mỹ Hạnh

ĐỀ BÀI ĐÁNH GIÁ VIỆC HOÀN THIỆN THỂ CHẾ ĐỐI VỚI THỊ TRƯỜNG KHOA

HỌC CÔNG NGHỆ TRONG 10 NĂM QUA ( 2006 – 2016 )

1 Đối với các quy định về quyền tác giả

1.1 Một số văn bản pháp luật đã được ban hành

- Nghị định 85/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 100/2006/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan

 Về thù lao cho tác giả: Tại Nghị định 85/2011/NĐ-CP sửa đổi Nghị định 100/2006/NĐ-CP hướng dẫn Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan, đã bổ sung Điều 45a vào sau Điều 45 về nguyên tắc và phương thức thanh toán tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất

- Luật sở hữu trí tuệ 2005, sửa đổi bổ sung 2009 và Luật Dân sự 2015

 Việc coi quyền tác giả là tập hợp các quyền về một tác phẩm nhất định, điều này đã được quy định trong Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009: Quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và tại Điều 738 Bộ Luật dân sự 2015, trong nội dung quyền tác giả, bộ luật quy định gồm quyền nhân thân và quyền tài sản đối với tác phẩm

 Các quyền đối với một tác phẩm tác giả có thể độc lập với chủ sở hữu các vật thể định hình tác phẩm: Điều này được cụ thể hoá trong các Điều 37-42 Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009 quy định Chủ sở hữu quyền tác giả có thể là chính tác giả; là các đồng tác giả; là tổ chức, cá nhân giao nhiệm vụ cho tác giả hoặc giao kết hợp đồng với tác giả; là người thừa kế ;là người được chuyển giao quyền hoặc là Nhà nước

 Các quyền tác giả phải được thiết kế trên cơ sở phân loại các tác phẩm thành một số nhóm theo những tiêu chí nhất định: Điều này đã được cụ thể hoá tại Điều 14 Luật SHTT 2005 về các loại hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả

cuu duong than cong com

Trang 2

 Đối với việc sử dụng thương mại tác phẩm đã công bố: Luật SHTT sửa đổi năm

2009 quy định rằng các tổ chức phát sóng phải trả tiền thù lao, nhuận bút cho chủ sở hữu quyền tác giả kể từ khi sử dụng Mức thù lao và phương thức trả thù lao sẽ do các bên thỏa thuận, nếu không thỏa thuận được sẽ áp dụng theo quy định của Chính phủ hoặc kiện ra Tòa án có thẩm quyền (Khoản 1 Điều 26 và khoản 1 Điều 33)

1.2 Nhận xét

Nhìn chung, những khía cạnh nêu trên đều đã được luật hoá nhưng vẫn còn một vài điểm hạn chế, chẳng hạn như:

Trong Luật SHTT đã coi quyền tác giả là tập hợp các quyền tuy nhiên không phân nhóm quyền tác giả này cho từng lĩnh vực riêng nhất định Sự phân chia theo cách nêu ra trong luật gây lủng củng và bất lợi cho việc theo dõi các luật, do nội dung sắp xếp không quy lại về một nhóm mà dàn trải ra từng phần nhỏ lĩnh vực ở các quyền như quyền liên quan Điều luật đã được sửa đổi và bổ sung thêm tuy nhiên vẫn còn nhiều bất cập, như tại điều

20 luật SHTT quyền biểu diễn tác phẩm trước công chúng là một cách thức truyền đạt tác phẩm tới công chúng, vì vậy, không nhất thiết phải tách ra quy định thành một quyền riêng Ngoài ra các quyền tác giả chưa được thiết kế trên cơ sở phân loại các tác phẩm ra thành 1 số nhóm theo những tiêu chí nhất định Như trong điều 23 và 24 có sự trùng lặp nội dung và đối tượng với nhau, ngoài ra tiêu chí sắp xếp các đối tượng trong điều 24 cũng không lien quan tới nhau và không lô gic Tại điều 14 đã được sửa đổi và bổ sung vào năm 2009, có thêm về một số lĩnh vực được bảo hộ tuy nhiên các lĩnh vực này không

có sự khác biệt rõ ràng

Thực tế thì quyền tác giả ngày nay vẫn bị xâm phạm nghiêm trọng đòi hỏi pháp luật và nhà nước cần có những quy định siết chặt vấn đề xâm phạm quyền tác giả

2 Đối với các quy định về đối tượng bảo hộ sở hữu công nghiệp

2.1 Một số văn bản pháp luật đã được ban hành

Năm 2009, căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992

đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật sở hữu trí tuệ:

Điều 3 được sửa đổi và bổ sung như sau:

+ Đối tượng quyền sở hữu công nghiệp bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp,tín hiệu vệ tinh mang chương trình đã được mã hóa, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý

cuu duong than cong com

Trang 3

+ Đối tượng quyền đối với giống cây trồng là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch

Điều 4 có bổ sung thêm giải thích từ ngữ:

+ Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh

+ Quyền đối với giống cây trồng là quyền của tổ chức, cá nhân đối với giống cây trồng mới do mình chọn tạo hoặc phát hiện và phát triển hoặc được hưởng quyền sở hữu

2.2 Nhận xét

Hiện nay nước ta đang trong quá trình hội nhập, hiện đại hóa, công nghiệp hóa Mỗi ngày đều có những phát minh và sáng tạo mới được tạo ra Việc bắt nhịp kịp thời với tiến bộ khoa học công nghệ là điểm mấu chốt không thể thiếu Năm 2006 Quốc hội ban hành Luật SHTT trong đó có đề cập đến các đối tượng được bảo hộ về quyền sở hữu như tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa Tuy nhiên những đối tượng này còn chung chung và không cụ thể gây khó khăn cho việc xác định đối tượng trong phạm vi được bảo hộ Năm 2009, đối tượng về bảo hộ công nghiệp được bổ sung thêm: Thiết kế vi mạch tích hợp, tín hiệu vệ tinh mang chương trình

đã được mã hóa, các giống mới về vật nuôi, cây trồng Đây là những đối tượng quan trọng và xuất hiện cùng với tiến bộ khoa học công nghệ, có ảnh hưởng quan trọng tới kinh tế của đất nước ta Việc bổ sung thêm những đối tượng này giúp giải quyết những bất cập của quy định cũ, rõ ràng trong việc xác định đối tượng và đảm bảo quyền lợi cho những chủ sở hữu đối tượng này

3 Đối với cơ chế bảo hộ quyền của tác giả hoặc chủ sở hữu các đối tượng sở hữu công nghiệp

3.1 Một số văn bản pháp luật được ban hành

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Sở hữu trí tuệ năm 2009 ( Luật số

36/2009/QH12 ) với một số điều chỉnh liên quan:

+ Về quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả: Thời gian bảo hộ được sửa đổi tăng từ 50 năm (Khoản 2 Điều 27 của Luật SHTT năm 2005) lên 75 năm kể từ khi tác

cuu duong than cong com

Trang 4

phẩm được công bố lần đầu tiên đối với tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng

dụng, tác phẩm khuyết danh Đối với các tác phẩm điện ảnh, nhiếp ảnh, mỹ thuật ứng

dụng chưa được công bố trong thời hạn 25 năm kể từ khi được định hình, thời hạn bảo hộ

sẽ là 100 năm kể từ khi tác phẩm được định hình Sửa đổi này nhằm khuyến khích các tác

giả và chủ sở hữu công bố tác phẩm sớm hơn

+ Về quyền sở hữu công nghiệp: Thay đổi quan trọng nhất trong lĩnh vực quyền sở

hữu công nghiệp là điều chỉnh thời hạn thẩm định đơn đăng ký sở hữu công nghiệp Theo

đó, thời hạn thẩm định nội dung đối với đơn đăng ký sáng chế được kéo dài thành không quá 18 tháng (tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 là 12 tháng); đối với đơn đăng ký nhãn hiệu là không quá 9 tháng (tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 là 6 tháng) và không quá 7 tháng đối với kiểu dáng công nghiệp (tại Luật sở hữu trí tuệ 2005 là 6 tháng) Việc điều chỉnh này, theo quan điểm của cơ quan chức năng là cần thiết nhằm tránh tình trạng hồ sơ đăng ký bị tồn đọng, không đáp ứng được thời hạn theo luật định

Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 trong Điều 90 cũng quy định rằng nguyên tắc nộp đơn đầu tiên (first-to-file principle) sẽ được áp dụng khi có nhiều đơn đăng ký cho cùng một đối tượng Việc tách quy định về nguyên tắc nộp đơn đầu tiên đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp và nhãn hiệu thành các điều khoản riêng biệt giúp việc hiểu

và thực hiện quy định này chuẩn xác hơn, tránh các hiểu nhầm từ cả người nộp đơn cũng như cơ quan xử lý đơn

Luật sở hữu trí tuệ sửa đổi năm 2009 cũng quy định rằng ngày nộp đơn hoặc ngày

ưu tiên, tuỳ theo trường hợp áp dụng, của một đơn đăng ký sáng chế hoặc kiểu dáng công nghiệp là ngày mà quyền sử dụng trước đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp đó được xác lập, thay cho ngày công bố hiện đang được áp dụng (Điều 143.1 của Luật sở hữu trí tuệ năm 2005) Đây là một điều chỉnh hợp lý để luật của Việt Nam phù hợp với Điều 4B của Công ước Pa-ri về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp, theo đó không một hành động nào của một bên thứ ba có thể gây tổn hại đến quyền của người nộp đơn trong thời gian

ưu tiên

3.2 Nhận xét

Đối với yêu cầu chung theo quy định của WTO và các điều ước quốc tế khác mà Việt Nam kí kết, Việt Nam đã có các quy định về thủ tục, chế tài, kể cả biện pháp khẩn cấp tạm thời Các thủ tục đều đúng đắn, công bằng, cũng không quá phức tạp và không quá tốn kém, mọi quy định xử lý đều dựa vào bản chất vụ việc và được làm thành văn

bản quyền khiếu nại hành chính

Tuy nhiên, cơ chế bảo đảm thực thi chưa hoàn thiện, chưa đáp ứng nhu cầu của thực tế

cuu duong than cong com

Trang 5

4 Đối với thủ tục đăng ký hợp đồng về chuyển giao quyền sở hữu và quyền sử dụng sáng chế, giải pháp hữu ích, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu hàng hoá

4.1 Một số văn bản pháp luật được ban hành

- Nghị định số 103/2006/NĐ- CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ về sở hữu công nghiệp

- Nghị định 67/NQ- CP ngày 11/1/2011 về Đơn giản hóa thủ tục hành chính thuộc phạm vi chức năng của Bộ Khoa học và Công nghệ thực hiện thông qua Thông tư số 01/2007/TT-BKHCN bao gồm:

+ Đối với việc nộp đơn đăng ký sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, nếu

người nộp đơn không tự phân nhóm, phân loại hoặc phân nhóm, phân loại không chính xác thì Cục Sở hữu trí tuệ sẽ thực hiện việc này và người nộp đơn phải nộp phí dịch vụ phân nhóm, phân loại;

+ Đối với đơn PCT, bản sao đơn đầu tiên không cần phải có xác nhận của cơ quan

nhận đơn đầu tiên;

+ Bổ sung quy định về thời hạn và thủ tục xem xét yêu cầu duy trì hiệu lực văn

bằng bảo hộ sáng chế;

+ Bổ sung quy định về thủ tục gia hạn: Bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp có

thể được gia hạn đối với tất cả hoặc một số phương án, trong đó phải có phương án

cơ bản và Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu có thể được gia hạn đối với toàn bộ hoặc môt phần danh mục hàng hóa, dịch vụ;

+ Đối với thủ tục đăng ký kiểu dáng công nghiệp, phần mô tả kiểu dáng được sửa

đổi theo hướng “mềm hóa”, không bắt buộc phải mô tả chi tiết; giảm số bộ ảnh chụp, bản vẽ phải nộp xuống còn 04 bộ;

+ Đối với việc nộp đơn đăng ký nhãn hiệu giảm số mẫu nhãn hiệu xuống còn 05

bộ;

+ Yêu cầu 01 bản hợp đồng đối với thủ tục đăng ký hợp đồng chuyển giao quyền

sở hữu công nghiệp và 01 bộ Hồ sơ đối với yêu cầu cấp Chứng chỉ hành nghề dịch

vụ đại diện sở hữu công nghiệp, Hồ sơ đăng ký dự kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp;

+ Tổ chức kiểm tra nghiệp vụ đại diện sở hữu công nghiệp định kỳ 02 năm một lần

và kết quả kiểm tra có giá trị trong thời hạn 05 năm

4.2 Nhận xét

cuu duong than cong com

Trang 6

Mặt hạn chế đó là chủ yếu vẫn vướng mắc trong khâu thực thi Cụ thể:

- Công tác xử lí đơn đăng kí sở hữu công nghiệp còn chậm, thời hạn xử lí dài

- Quá trình, thủ tục và việc ứng dụng công nghệ thông tin trong xử lí công việc còn hạn chế, chậm đổi mới

5 Đối với các quy định về chuyển giao công nghệ

5.1 Một số văn bản pháp luật được ban hành

- Luật Dân sự 2015

- Luật chuyển giao công nghệ 2006

5.2 Nhận xét

Căn cứ Luật chuyển giao công nghệ 2006 quy định về trách nhiệm quản lý nhà nước đối với hoạt động chuyển giao công nghệ thì sự can thiệp của nhà nước vào các hợp đồng chuyển giao công nghệ vẫn chưa thể khẳng định rằng đang dần được hạn chế

Tuy nhiên Luật chuyển giao công nghệ mới đang được trình Quốc hội xem xét thông qua, được xây dựng trên cơ sở đổi mới tư duy và phương thức quản lý nhà nước về hoạt động chuyển giao công nghệ phù hợp với bối cảnh mới, xu thế phát triển công nghệ mới để ứng phó được với các tác động của tự do hóa thương mại và hội nhập toàn cầu; giảm thiểu thủ tục hành chính với doanh nghiệp; bảo đảm tính hiệu quả, khả thi, đồng bộ

và thống nhất của hệ thống pháp luật hiện hành Luật hướng tới mục đích cuối cùng là tạo môi trường thuận lợi nhất cho hoạt động chuyển giao công nghệ trong nước và từ nước ngoài vào Việt Nam để cải thiện trình độ công nghệ quốc gia và năng lực hấp thụ công nghệ của doanh nghiệp; từ đó giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của sản phẩm, dịch vụ; duy trì và phát huy lợi thế cạnh tranh để trụ vững trên thị trường nội địa, vươn tới thị trường khu vực và quốc tế

=> Do đó mà việc giảm tối đa sự can thiệp của nhà nước vào các hợp đồng chuyển giao công nghệ, khắc phục bên chuyển giao lợi dụng vị thế của mình chèn ép bên nhận chuyển giao công nghệ sẽ được quan tâm và điều chỉnh phù hợp

6 Đối với quy định về kiểm tra, giám sát của Nhà nước với hoạt động chuyển giao công nghệ

6.1 Một số văn bản pháp luật được ban hành

cuu duong than cong com

Trang 7

Nghị định số 64/2013/NĐ-CP của Chính phủ : Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động khoa học và công nghệ, chuyển giao công nghệ có quy định về Thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính của Thanh tra chuyên ngành về khoa học công nghệ, của Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện và Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, của Công an Nhân dân, của Hải quan, Cơ quan Thuế và Thanh tra chuyên ngành khác

6.2 Nhận xét

Bộ máy quản lý nhà nước trong việc chuyển giao công nghệ hiện nay còn cồng kềnh tuy nhiên đã có nhiều chuyển biến tích cực so với năm 2006 Quyền xử phạt của các

cơ quan thanh tra, kiểm tra đã được cắt giảm, giảm gánh nặng cho chuyển giao công nghệ và tránh tiêu cực, hối lộ Tuy nhiên luật chuyển giao công nghệ đã có từ năm

2001, và 2005 có bổ sung sửa đổi mà đến tận 2009 mới có nghị định hướng dẫn thực hiện và tổ chức thực hiện Đấy là 1 sự thiếu sót cũng như chậm trễ đáng chê trách của các cơ quan thanh tra, kiểm tra Tình trạng thanh tra kiểm tra hiện nay tuy có cải thiện nhưng còn rất nhiều tiêu cực và bất cập

7 Đối với quy định về bảo hộ bí mật kinh doanh và “bí quyết”

7.1 Một số văn bản pháp luật được ban hành

- Luật Dân sự 2005

- Luật SHTT 2005, sửa đổi bổ sung 2009 và một số văn bản hướng dẫn thực hiện Luật SHTT

Theo quy định của các văn bản pháp luật hiện hành, việc bảo hộ quyền sở hữu công nghệ đối với bí mật kinh doanh tập trung vào một số nội dung cơ bản sau:

+ Phạm vi và điều kiện bảo hộ

+ Thời điểm làm phát sinh, chấm dứt quyền sở hữu công nghiệp (SHCN) đối với bí mật kinh doanh

+ Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu bí mật kinh doanh

7.2 Nhận xét

So với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên cũng như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật nước ta về bảo hộ BMKD vẫn chưa đầy đủ, đang bộc lộ những hạn chế nhất định cần tiếp tục hoàn thiện Bởi việc bảo hộ

cuu duong than cong com

Trang 8

quyền SHCN đối với BMKD là một lĩnh vực còn rất mới và thực sự chưa được chú trọng tại Việt Nam Trong một thời gian dài chúng ta mới chỉ tập trung vào một số đối tượng được xem là “nóng” của quyền SHTT, như: bản quyền, nhãn hiệu hàng hoá, sáng chế, kiểu dáng công nghiệp… còn các đối tượng khác, trong đó có BMKD hầu như không được chú ý tới

- Về cơ bản, các điều kiện bảo hộ theo quy định của pháp luật nước ta đã thể hiện được ba đặc điểm chính của bí mật kinh doanh là: tính bí mật; có giá trị; và được chủ

sở hữu bảo mật Tuy nhiên, so sánh với quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia, chúng ta thấy có một số điểm khác biệt Ngoài ra, pháp luật nước ta cũng chưa nêu cụ thể các biện pháp bảo mật mà chủ sở hữu BMKD được quyền áp dụng; những tiêu chuẩn để xác định những lợi thế mà BMKD mang lại cho chủ sở hữu dẫn đến việc xác định BMKD được bảo hộ trên thực tế gặp rất nhiều khó khăn

- Khác với các đối tượng khác của quyền SHCN, quyền SHCN đối với BMKD của các chủ sở hữu không được xác lập thông qua hình thức cấp văn bằng bảo hộ mà được bảo hộ “tự động” Có nghĩa là quyền SHCN đối với BMKD sẽ phát sinh khi đáp ứng đầy đủ các quy định của pháp luật mà không cần thông qua bất cứ một thủ tục đăng ký nào “Quyền SHCN đối với BMKD được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp BMKD và thực hiện việc bảo mật BMKD đó” (điểm c, Khoản 3, Điều 6 Luật SHTT) Điều này hoàn toàn phù hợp với tính chất đặc thù của BMKD cũng như các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Tuy nhiên, thời điểm chấm dứt quyền SHCN đối với BMKD lại chưa được pháp luật Việt Nam đề cập tới dẫn đến nhiều khó khăn cho việc giải quyết các tranh chấp, khiếu kiện liên quan đến BMKD

- So với các quy định của Hiệp định TRIPs, quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu BMKD

đã được pháp luật Việt Nam quy định tương đối cụ thể Điều này tạo điều kiện thuận lợi để các chủ sở hữu sử dụng và khai thác hiệu quả BMKD của mình Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm, vẫn có một số điểm không rõ, chưa đầy đủ, ví dụ như trong các quyền của chủ sở hữu BMKD, pháp luật Việt Nam chưa đề cập tới quyền được ngăn chặn các chủ thể khác bộc lộ bất hợp pháp BMKD của mình Trong khi đó, đây là một trong những quyền thể hiện tính đặc thù của việc bảo hộ đối với BMKD đã được Hiệp định TRIPs và pháp luật các nước quy định rất cụ thể

cuu duong than cong com

Trang 9

8 Đối với việc tham gia và thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ

Tính đến nay, Việt Nam đã tham gia ký kết rất nhiều Điều ước quốc tế về sở hữu trí tuệ

- Công ước Paris năm 1883 về Bảo hộ Sở hữu công nghiệp;

- Công ước Berne năm 1886 về bảo hộ tác phẩm văn học và nghệ thuật;

- Công ước Stockholm năm 1967 thành lập tổ chức SHTT thế giới (WIPO);

- Thỏa ước Madrid năm 1891 về đăng ký quốc tế về nhãn hiệu và Nghị định thư liên quan đến thỏa ước năm 1989;

- Hiệp ước hợp tác quốc tế về bằng sáng chế (PCT) năm 1970;

- Công ước Rome năm 1961 về bảo hộ người biểu diễn, nhà xuất bản, ghi âm và tổ chức phát sóng;

- Công ước Brussel năm 1974 về bảo hộ tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa;

- Công ước Geneva năm 1971 về bảo hộ nhà xuất bản, ghi âm chống việc sao chép không được phép;

- Hiệp ước Washington năm 1989 về Sở hữu trí tuệ đối với mạch tích hợp

- Công ước UPOV năm 1961 về bảo hộ giống cây trồng mới;

- Hiệp định Việt Nam - Hoa Kì năm 1997 về thiết lập quan hệ quyền tác giả;

- Hiệp định Việt Nam - Thụy Sĩ năm 1999 về sở hữu trí tuệ và hợp tác trong lĩnh vực

sở hữu trí tuệ;

- Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ (BTA) năm 2000;

- Hiệp định TRIPs về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ năm 1994 trong khuôn khổ các văn kiện của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO)

cuu duong than cong com

Ngày đăng: 23/06/2021, 13:53

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w